1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÁO CÁO NGÀNH PHÂN BÓN Ngành nghề không tăng trưởng nhưng tỷ lệ cổ tức cao, P/E thấp

15 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 695,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO NGÀNH PHÂN BÓN, Ngành nghề không tăng trưởng,nhưng tỷ lệ cổ tức cao, P/E thấp

Trang 1

Báo cáo ngành phân bón Ngành nghề không tăng trưởng nhưng tỷ lệ cổ tức cao, P/E thấp

16 tháng 9, 2015

Tóm tắt báo cáo

Phân bón được là ngành khó có sự tăng trưởng đột biến do quỹ đất dành cho phát triển nông nghiệp gần như không thể mở rộng Tuy nhiên, đứng trên góc

độ doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy các công ty sản xuất phân bón, đặc biệt

là nhóm các công ty dẫn đầu vẫn có sự hấp dẫn tương đối để đầu tư Trong số

đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới hai doanh nghiệp là DPM và LAS:

DPM - Hiện đang được hưởng lợi do giá dầu ở mức thấp

Ngành phân đạm có tính tập trung cao khi DPM và DCM chiếm 72% thị phần toàn ngành Urea nhập khẩu hiện chỉ chiếm 3% thị phần cả nước sau khi thuế nhập khẩu tăng và nguồn cung trong nước đủ đáp ứng nhu cầu DPM hiện giữ vai trò dẫn dắt thị trường urea với giá bán cao nhất Lợi nhuận năm 2015 của DPM dự báo có thể tăng 38% so với 2014 do giá khí đầu vào thấp, trong khi

đó DCM không được hưởng lợi nhiều khi giá khí đang được hỗ trợ để đảm bảo lợi nhuận ở mức 12% trên vốn chủ sở hữu

Trước đây DPM vốn được đánh giá không cao do thị trường urea dư cung và rủi ro về giá khí khi PVN có thể chủ quan tăng giá để hỗ trợ DCM Tuy nhiên, hiện tại sau gần 3 năm khi DCM và Đạm Ninh Bình đi vào hoạt động, thực tế cho thấy sản lượng tiêu thụ của DPM không bị ảnh hưởng mà phần sụt giảm chủ yếu của phân đạm nhập khẩu DPM cũng không còn rủi ro bị áp đặt giá khí khi hiện tại giá khí đầu vào được thả nổi theo giá thế giới, và giá dầu được

dự báo sẽ ở mức thấp trong các năm 2015-2016 sẽ là yếu tố hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của DPM Hiện tại, P/E forward 2015 của DPM ở mức 7,4 lần, thấp hơn 19% so với DCM

LAS - Cơ hội đầu tư tốt nhất trong ngành phân lân

Trong tương quan cả 4 doanh nghiệp phân lân đã niêm yết bao gồm LAS, NFC, VAF và SFG, LAS là cơ hội tốt nhất để xem xét đầu tư dựa trên các yếu tố: vị thế dẫn đầu ngành phân lân và NPK, tỷ lệ cổ tức cao (cổ tức 2013 là 50%, 2014 là 40%) và có khả năng duy trì trên 30%/năm trong các năm tới, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định với biên lợi nhuận thuần luôn duy trì ở mức 7% - 9%, P/E forward 2015 ở mức 6,85 lần, thấp hơn 7,5% so với bình quân ngành phân bón (7,4 lần)

Chuyên viên phân tích

Chế Thị Mai Trang

(84 4) 3928 8080 ext 621

chethimaitrang@baoviet.com.vn

Trang 2

Thị trường phân bón và các phân khúc

Các loại phân bón Việt Nam đang sản xuất hiện nay bao gồm: phân đạm, phân lân, DAP và NPK Nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất phân đạm và phân lân có hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi nhất do thị trường chỉ có ít nhà sản xuất, đồng thời được hỗ trợ về giá nguyên liệu đầu vào (giá khí đối với urea

và giá quặng apatit đối với phân lân) do đó có khả năng cạnh tranh cao và không

lo ngại hàng nhập khẩu NPK là loại phân bón chịu cạnh tranh cao nhất khi có

cả trăm doanh nghiệp sản xuất, và phân DAP hiện đang khó khăn khi không tiêu thụ được sản phẩm do chất lượng thấp hơn so với phân bón nhập khẩu

1 Phân đạm (Urea)

Cung cầu Tổng công suất sản xuất hiện đạt 2,66 triệu tấn, vượt 27% so với

nhu cầu (2,1 triệu tấn) sau khi Đạm Hà Bắc hoàn thành mở rộng tăng công suất

từ 180.000 tấn lên 500.000 tấn/năm cuối tháng 6/2015

Ngành có tính tập trung cao Cả nước hiện có 4 doanh nghiệp sản xuất đạm,

trong đó 2 doanh nghiệp thuộc PVN và 2 doanh nghiệp thuộc Vinachem (Tập đoàn hóa chất Việt Nam) Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau có lợi thế về công nghệ sản xuất, khi mới đi vào hoạt động đều được PVN hỗ trợ về giá khí đầu vào và

có lợi thế về vị trí địa lý đặt tại miền Nam (có nhu cầu phân bón gấp gần 2,5 lần

so với miền Bắc và 3 lần so với miền Trung) do đó nhanh chóng chiếm được thị phần và đạt 72% thị phần urea của cả nước

Nguồn: BVSC tổng hợp

Danh sách nhà máy sản xuất urea

Nhà máy Công suất Năm hoạt động

Đạm Phú Mỹ 800,000 2003 Đạm Cà Mau 800,000 2012 Đạm Hà Bắc 500,000 1965 (mở rộng 2015) Đạm Ninh Bình 560,000 2012

Urea nhập khẩu chỉ chiếm 3% thị phần Sau khi trong nước bắt đầu dư cung

và Chính phủ tăng thuế nhập khẩu urea từ 3% lên 6%, sản lượng nhập khẩu giảm mạnh Hiện urea nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 3% thị phần trong nước mặc

dù có giá bán thấp hơn so với urea Phú Mỹ

Tình trạng dư cung khiến giá urea thế giới được dự báo giảm Các báo cáo

của Fertercon và IFA (Hiệp hội phân bón thế giới) đều nhìn nhận khá tiêu cực

về giá urea trong các năm tới do tình trạng dư thừa công suất Khoảng 60 nhà máy urea mới sẽ hoàn thành trong vòng 5 năm tới, đưa tổng công suất sản xuất urea tăng thêm 21% từ nay đến 2019, lên 252 triệu tấn Nguồn cung được dự báo sẽ dư thừa bình quân khoảng 8,5 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2015-2019,

39%

33%

8%

17%

3%

Thị phần tiêu thụ urea 2014

Đạm Phú Mỹ Đạm Cà Mau Đạm Hà Bắc Đạm Ninh Bình Urea nhập khẩu

Trang 3

tương đương 4% công suất Với áp lực dư cung, giá urea thế giới được dự báo

sẽ theo chiều hướng giảm trong các năm tới

Tuy nhiên giá trong nước thường ổn định hơn giá thế giới do thị trường

có tính tập trung cao Mặc dù giá thế giới được dự báo giảm, tuy nhiên chúng

tôi cho rằng giá trong nước sẽ ổn định hơn và mức giảm sẽ thấp hơn so với giá thế giới Nguyên nhân chính là do thị trường urea trong nước mang tính độc quyền nhóm khi chỉ có 4 nhà sản xuất, trong đó DPM giữ vai trò dẫn dắt thị trường Với thị phần tiêu thụ 39% và thị trường mang tính tập trung cao với số

ít doanh nghiệp sản xuất, DPM có quyền lực khá lớn về giá Urea Phú mỹ luôn

có giá cao nhất và được coi là tham chiếu cho các doanh nghiệp khác và urea Trung Quốc nương theo để điều chỉnh giá Trong các đợt giảm giá urea thế giới trong 5 năm trở lại đây, giá urea trong nước đều có mức điều chỉnh giảm thấp hơn, thậm chí nhiều thời điểm mặc dù giá thế giới giảm, giá trong nước vẫn tăng khi tới mùa vụ Điển hình như trong nửa đầu năm 2015, mặc dù giá urea thế giới giảm khoảng 10% so với nửa đầu 2014, tuy nhiên giá urea Phú Mỹ bình quân vẫn giữ được mức tương đương với cùng kỳ năm 2014 (khoảng 7,5 triệu VNĐ/tấn)

DPM là daonh nghiệp có nhiều lợi thế

Trong ngành phân đạm, chỉ có DPM và DCM đã niêm yết trên sàn HOSE Xét

về các yếu tố cơ bản, DPM hiện đều vượt trội hơn DCM: ít rủi ro hơn khi giá khí đầu vào đã được thả nổi theo giá thế giới, giá bán luôn cao hơn từ 3-5%, trong khi chi phí khấu hao thấp, không có vay nợ, lợi nhuận 2015 tăng trưởng tốt do được hưởng lợi từ giá dầu giảm mạnh cùng triển vọng 2016 có thể duy trì được mức lợi nhuận tương đương 2015 khi giá dầu được dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp

Một số chỉ tiêu so sánh giữa Đạm Phú Mỹ & Đạm Cà Mau

Tiêu chí DCM DPM Diễn giải

Thị phần 33% 39%

Suất vốn

đầu tư

887,5

USD/tấn

556,3 USD/tấn

Nhà máy DCM và DPM có công suất tương đương (800.000 tấn/năm) tuy nhiên DCM có vốn đầu tư 710 triệu USD, cao gấp 1,6 lần của DPM (445 triệu USD)

Giá bán Thấp hơn Cao hơn Trong nhiều năm trở lại đây, với vị thế là người dẫn đầu, DPM luôn xác lập giá

bán cho toàn thị trường và sản phẩm urea Phú Mỹ luôn có giá cao nhất Để giành thị phần, DCM xác định giá bán thấp hơn khoảng 3%-5% so với DPM

Chi phí

khấu hao

1.300 tỷ

VNĐ/năm

250 tỷ VNĐ/năm

Trong những năm đầu đi vào hoạt động, DPM áp dụng chính sách khấu hao nhanh với thời gian khấu hao máy móc thiết bị chỉ từ 3-6 năm, do đó toàn bộ máy móc đầu tư ban đầu đã khấu hao hết từ cuối năm 2010 Chi phí khấu hao hàng năm của DPM hiện chỉ khoảng 250 tỷ/năm Trong khi đó, DCM có vốn đầu tư cao hơn trong khi công suất tương đương, do đó chi phí khấu hao hàng năm của DCM cao hơn nhiều so với DPM, vào khoảng 1.300 tỷ VNĐ/năm

Trang 4

Vay nợ Cao hơn Thấp hơn Tính đến cuối 2014, tổng nợ vay dài hạn và ngắn hạn của DCM còn khoảng

8.500 tỷ VNĐ Trong khi DPM gần như không có vay nợ dài hạn Bên cạnh đó, DCM cũng chịu rủi ro về tỷ giá khi toàn bộ khoản vay dài hạn đều bằng đồng USD Trong Q3/2015, nếu tỷ giá ngày 16/09/2015 được giữ nguyên đến cuối Q3, DCM có thể phải ghi nhận khoảng 220 tỷ VNĐ lỗ tỷ giá trong quý

Giá khí Được hỗ trợ Thả nổi theo

giá thế giới

Giá khí của DPM đã được thả nổi theo giá dầu FO thế giới trong khi giá khí của DCM trong giai đoạn 2015-2018 được bảo hộ để đảm bảo lợi nhuận đạt 12% trên vốn chủ sở hữu Để đảm bảo ROE đạt 12%, chúng tôi ước tính giá khí đầu vào của DCM trong giai đoạn 2015-2018 bình quân sẽ vào khoảng 4 USD/mmBTU, mức này sẽ thấp hơn khoảng 10% so với giá khí được thả nổi của DPM Chi phí khí chiếm khoảng 50% giá thành của DCM, do đó nếu sau năm 2018 giá khí của DCM không còn được hỗ trợ mà thả nổi theo giá thế giới

và chỉ cần tăng 10%, lợi nhuận của DCM sẽ bị ảnh hưởng mạnh

Cổ tức Thấp hơn

8% cổ

tức/mệnh

giá

Dividend

yield ~ 6,3%

Cao hơn 25-30% cổ tức/mệnh giá

Dividend yield ~ 8,3%

DPM có chính sách cổ tức khá hấp dẫn khi tỷ lệ cổ tức năm 2013 và 2014 lần lượt là 50% và 30%, toàn bộ bằng tiền mặt Với mức EPS bình quân trong giai đoạn 2015-2018 khoảng 4.000 VNĐ/cổ phần theo ước tính của chúng tôi dựa trên dự báo giá dầu của Bloomberg, việc duy trì tỷ lệ cổ tức ở mức 25-30% là hoàn toàn khả thi đối với DPM

DCM có số lượng cổ phiếu cao hơn 40% so với DPM Với tỷ lệ LN trên vốn chủ sở hữu trong giai đoạn 2015-2018 ở mức 12%, chúng tôi ước tính DCM

có mức EPS bình quân khoảng 1.500 VNĐ/cổ phần Do khoản nợ vay dài hạn lớn, tỷ lệ cổ tức của DCM có thể chỉ dưới 10%/năm

Lợi nhuận

2015

Giảm Tăng trưởng

38%

Năm 2015, lợi nhuận của DPM có thể tăng trưởng khoảng 38% đạt 1.560 tỷ VNĐ, tương ứng EPS đạt 4.100 VNĐ/cổ phần Lợi nhuận tăng trưởng do giá khí đầu vào giảm mạnh theo giá dầu thế giới

Về DCM, trong nửa đầu năm 2015, DCM đã ghi nhận 458 tỷ VNĐ LNST tuy nhiên, đây là lợi nhuận tính dựa trên cơ sở giá khí tạm tính ở mức 3,81 USD/mmBTU và cuối năm 2015 mới tính lại giá khí chính thức để hạch toán lợi nhuận Mức này thấp hơn nhiều so với mức giá khí của DPM được thả nổi theo giá dầu trong nửa đầu năm 2015 là 4,85 USD/mmBTU, do đó nhiều khả năng trong nửa cuối năm giá khí của DCM sẽ tăng và lợi nhuận sụt giảm Nếu đảm bảo lợi nhuận đạt tương đương 12% vốn chủ sở hữu, lợi nhuận 2015 của DCM có thể sẽ chỉ đạt 745 tỷ VNĐ, giảm 9% so với 2014

P/E 9,09x 7,4x P/E forward 2015 của DPM đang thấp hơn 19% so với DCM

2 Phân lân

Cung cầu Phân lân gồm 2 loại là supe lân và phân lân nung chảy Hiện tại có

5 doanh nghiệp sản xuất với tổng nguồn cung đạt 2,05 triệu tấn, bao gồm 1,15 triệu tấn phân supe lân và 900.000 tấn phân lân nung chảy, đáp ứng đủ nhu cầu

là 1,8 triệu tấn/năm

Trang 5

Các doanh nghiệp sản xuất phân lân

Supe lân

Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao (LAS) 750.000 tấn/năm

Phân lân nung chảy

Phân lân nung chảy Văn Điển (VAF) 300.000 tấn/năm Phân lân nung chảy Ninh Bình (NFC) 300.000 tấn/năm Supe Phốt phát và hóa chất Lâm Thao (LAS) 300.000 tấn/năm

Không phải cạnh tranh với Trung Quốc Trong tất cả các loại phân bón trên

thị trường hiện nay, phân lân là loại duy nhất không phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu Nguyên nhân chính là do:

 L ợi thế về nguồn nguyên liệu giá rẻ Nguyên liệu chính để sản xuất phân

lần là quặng apatit (chiếm 50% cơ cấu nguyên liệu của supe lân và 38% giá thành phân lân nung chảy) Hiện tại Việt Nam có mỏ quặng apatit Lào Cai có trữ lượng qua khảo sát rất lớn (778 triệu tấn) thuộc quản lý của Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam Công ty này lại thuộc 100% vốn của Vinachem Theo quy định của Chính phủ, quặng apatit không được phép xuất khẩu mà chỉ có thể tiêu thụ nội địa, và khách hàng chính

sử dụng loại quặng này chỉ có các doanh nghiệp sản xuất phân lân và DAP Trong cả 5 công ty sản xuất phân lân, ngoại trừ Supe Lân Apromaco Lào Cai, toàn bộ đều là công ty con của Vinachem, do đó Vinachem bán giá apatit rất thấp và tương đối ổn định, gần như vài năm mới điều chỉnh tăng giá một lần và giá bán thấp hơn nhiều so với giá thế giới

 Phân lân có giá bán th ấp do đó hàng nhập khẩu không thế cạnh tranh được Phân lân là loại phân bón có giá thấp nhất trong các loại, chỉ

khoảng 2,5 triệu VNĐ/tấn Do đó nếu phân nhập khẩu tính thêm chi phí

50%

40%

10%

Cơ cấu giá thành supe lân Lâm Thao

Quặng apatit

Lưu huỳnh

Khác

38%

28%

7%

1%

26%

Cơ cấu giá thành phân lân nung chảy Ninh

Bình

Quặng apatit Than cục Quặng secpentin Quặng sa thạch Khác

Trang 6

vận chuyển và thuế nhập khẩu (6%) thì không thể cạnh tranh được với giá phân lân nội địa

Nguồn: BVSC tổng hợp

Các doanh nghiệp trong ngành có tính ổn định cao và chính sách cổ tức tốt Trong 5 doanh nghiệp sản xuất phân lân, ngoài Apromaco Lào Cai chưa

niêm yết, các doanh nghiệp còn lại đã niêm yết trên sàn, trong đó VAF và SFG niêm yết trên HOSE và NFC, LAS trên HNX

Về dài hạn, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này tương đối ổn định, đều là công ty con của Vinachem, đã hoạt động được 40-60 năm, xây dựng được thương hiệu tương đối vững chắc trên thị trường và bức tranh thị phần khó có thể thay đổi Biên lợi nhuận gộp luôn được duy trì ổn định ở mức khoảng 20%, ngoại trừ SFG có tỷ trọng doanh thu từ NPK lớn hơn so với các doanh nghiệp khác trong khi NPK có biên lợi nhuận thấp khiến biên gộp toàn công ty chỉ đạt khoảng 11%-13% Đồng thời, do là công ty con của Vinachem, các công

ty này thường trả cổ tức khá cao và tỷ lệ cổ tức/thị giá luôn cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng

Biên lợi nhuận gộp các doanh nghiệp sản xuất phân lân

Công ty 2011 2012 2013 2014

Máy móc thiết bị khá cũ và công nghệ đơn giản Đây là điểm trừ đối với các

doanh nghiệp sản xuất phân lân Máy móc thiết bị chính của các nhà máy này đều đã có tuổi đời lâu năm, nhiều thiết bị sử dụng trong lò cao đã được hơn 30 năm, chủ yếu là máy móc thiết bị của Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô Điều này có thể giúp chi phí khấu hao của các nhà máy này đều ở mức thấp, tuy nhiên gây nên rủi ro về công nghệ và khả năng hỏng hóc, ngừng hoạt động

2450

4100

10450

Phân lân Lâm Thao

SA Trung Quốc Kali Isralen trắng Urea Hà Bắc DAP Trung Quốc

xanh hồng hà

Giá các loại phân bón trên thị trường Hà Nội (VNĐ/kg)

Trang 7

VAF sẽ gặp khó khăn khi phải di dời nhà máy Trong 4 doanh nghiệp, chúng

tôi đánh giá trong thời gian tới VAF sẽ khó khăn nhất khi nhà máy hiện tại có thể phải di dời do nằm trong nội đô Hà Nội VAF đã nghiên cứu xây dựng nhà máy mới tại Thanh Hóa có công suất 500.000 tấn phân lân/năm và 200.000 tấn NPK/năm, vốn đầu tư khoảng 1.300 tỷ VNĐ Chúng tôi đánh giá hoạt động kinh doanh của VAF sẽ khó khăn do 2 nguyên nhân chính:

 Máy móc thiết bị của nhà máy hiện tại ở Văn Điển có thể được chuyển

về Thanh Hóa để tận dụng tại nhà máy mới, và quá trình này có thể khiến hoạt động kinh doanh của Công ty bị gián đoạn, ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận

 Nhà máy mới sẽ có chi phí khấu hao cao hơn (nhà máy hiện tại đã hết khấu hao máy móc chính), cùng gánh nặng lãi vay trong quá trình xây dựng khiến giá vốn cao Trong khi sản lượng tiêu thụ của Công ty khó

có thể gia tăng do nhu cầu của thị trường đã bão hòa và giá bán không thể tăng lên tương đồng để bù đắp chi phí do VAF không có quyền lực tác động đến giá, khiến lợi nhuận sẽ bị sụt giảm về dài hạn

LAS là cơ hội đầu tư tốt nhất trong ngành phân lân Trong tương quan cả 4

doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy LAS là cơ hội tốt nhất để xem xét đầu tư dựa trên các yếu tố:

 Vị thế dẫn đầu ngành phân lân và NPK: thị phần cao nhất trong ngành với 43% thị phần phân lân và 22% thị phần NPK

 Cổ tức cao (tỷ lệ cổ tức 2014 trên thị giá ở mức 13,9% - cao hơn nhiều

so với lãi suất ngân hàng)

 Mặc dù lợi nhuận 2015 có thể sụt giảm so với 2014 tuy nhiên P/E forward vẫn ở mức 6,85 lần thấp hơn 7,5% so với bình quân ngành phân bón

 Thanh khoản tốt hơn nhiều so với NFC và VAF

Trang 8

So sánh các doanh nghiệp sản xuất phân lân

Công suất 750.000 tấn NPK/năm

750.000 tấn supe lân/năm 300.000 tấn lân nung chảy/năm

300.000 tấn lân nung chảy/năm 150.000 tấn NPK/năm

300.000 tấn lân nung chảy/năm 150.000 tấn NPK/năm

200.000 tấn supe lân/năm 720.000 tấn NPK/năm

Thị phần 43% thị phần phân lân

22% thị phần NPK

14% thị phần phân lân 1,5% thị phần NPK

20% thị phần phân lân 1,4% thị phần NPK

12% thị phần phân lân 6,1% thị phần NPK

Dự án đầu tư Hiện tại các dây chuyền NPK của

LAS đã hoạt động tối đa và vượt 10% so với công suất (sản lượng NPK 2014: 826.680 tấn) LAS đang lên kế hoạch đầu tư dây chuyền NPK 200.000 tấn/năm (200 tỷ VNĐ)

Không có Nhà máy hiện tại của VAF ở trong

nội đô Hà Nội, do đó sẽ phải di dời

đi VAF đang dự kiến sẽ xây nhà máy mới tại Thanh Hóa sản xuất phân lân nung chảy công suất 500.000 tấn/năm, chia làm 2 giai đoạn, tổng vốn đầu tư khoảng 1.300

tỷ VNĐ

- Giai đoạn 1: từ Q2/2015- Q4/2016 xây dựng nhà máy công suất 300.000 tấn/năm

- Giai đoạn 2: từ Q2/2017-Q2/2018:

nhà máy công suất 200.000 tấn/năm

Không có

Trang 9

Chỉ tiêu LAS NFC VAF SFG

Cổ tức 2014: 40% tiền mặt (tỷ lệ cổ tức/thị

giá: 13,9%) 2015: ≥ 20%

2014: 25% tiền mặt (tỷ lệ cổ tức/thị giá: 10,8%)

2015: ≥ 15%

2014: 15% tiền mặt (tỷ lệ cổ tức/thị giá: 8,9%)

2014: 18% tiền mặt (tỷ lệ cổ tức/thị giá: 13,1%)

Triển vọng 2015 Lợi nhuận năm 2015 dự báo có thể

giảm khoảng 19% so với 2014, đạt

353 tỷ VNĐ Do Q4/2014, nhận định giá phân bón có thể tăng lên sau khi luật thuế 71 quy định phân bón là mặt hàng không đánh thuế VAT được áp dụng từ 1/1/2015, các nhà phân phối của LAS đã đẩy mạnh nhập hàng tích trữ trong Q4/2014, khiến doanh thu lợi nhuận của Q1/2015 chỉ ở mức thấp, ảnh hưởng đến KQKD của cả năm 2015

Lợi nhuận 2015 dự báo có thể giảm 10% so với 2014, đạt 33 tỷ VNĐ LNST do giá bán giảm, trong khi luật

số 71 quy định thuế VAT khiến chi phí đầu vào tăng

Lợi nhuận 2015 dự báo có thể giảm khoảng 26% so với 2014, đạt khoảng 63 tỷ VNĐ lợi nhuận sau thuế do: năm 2014 VAF ghi nhận khoản thu nhập khác khoảng 21 tỷ VNĐ do hồi tố chi phí thuê đất đã nộp trong các năm trước Khoản thu nhập khác này sẽ không còn trong năm 2015 Ngoài ra, chính sách thuế VAT theo nghị định 71 khiến chi phí đầu vào tăng, trong khi giá phân bón

ở mức thấp khiến lợi nhuận 2015 có thể sụt giảm mạnh so với 2014

Lợi nhuận 2015 dự báo có thể giảm nhẹ (-4%) so với 2014, đạt 96 tỷ VNĐ LNST do giá bán giảm, trong khi chính sách thuế VAT khiến chi phí đầu vào tăng

EPS 2015 4.537 VNĐ/cổ phần 3.173 VNĐ/cổ phần 2.175 VNĐ/cổ phần 2.207 VNĐ/cổ phần

Thanh khoản Trung bình Khối lượng giao dịch

bình quân 10 ngày gần nhất 118.631

cổ phần

Rất thấp, gần như không có giao dịch

Thấp Khối lượng giao dịch bình quân 10 ngày gần nhất 9.416 cổ phần

Trung bình Khối lượng giao dịch bình quân 10 ngày gần nhất 180.578

cổ phần

Trang 10

3 Phân DAP

Cung chưa đáp ứng đủ cầu Nhu cầu của cả nước khoảng 900.000 tấn/năm

Trong nước hiện tại có 2 nhà máy sản xuất phân DAP, toàn bộ đều thuộc Vinachem là DAP Vinachem (mã DDV niêm yết trên UPCOM) và DAP 2 (chưa niêm yết), công suất mỗi nhà máy là 330.000 tấn/năm, đưa tổng công suất cả nước là 660.000 tấn/năm DAP 2 mới đi vào hoạt động từ tháng 12/2014 do đó năm 2015 có thể chỉ đạt khoảng 50% công suất

Vị trí đặt nhà máy bất hợp lý khiến chi phí vận chuyển cao Điều bất hợp lý

là thị trường tiêu thụ phân DAP chủ yếu tập trung tại miền Nam (chiếm khoảng 85% nhu cầu) trong khi miền Bắc và miền Trung chỉ tiêu thụ khoảng 15% nhu cầu phân DAP Trong khi 2 nhà máy DAP đều đặt tại miền Bắc (Hải Phòng và Lào Cai) khiến chi phí vận chuyển sản phẩm vào miền Nam khá cao Mặc dù ban đầu Vinachem chủ định đặt nhà máy tại miền Bắc để gần nguồn nguyên liệu chính là mỏ quặng apatit Lào Cai, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy apatit chỉ chiếm khoảng 42% giá thành sản xuất DAP, do đó ngay từ đầu nếu đặt nhà máy tại miền Nam và vận chuyển nguyên liệu quặng vào sẽ tiết kiệm chi phí hơn nhiều

so với hiện nay

Doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với Trung Quốc mặc dù giá bán thấp hơn Chúng tôi không có nhiều thông tin về nhà máy DAP 2 mới

đi vào hoạt động, tuy nhiên đối với DDV thì hoạt động của Công ty hiện khá khó khăn Mặc dù với lợi thế về giá quặng apatit được ưu đãi thấp hơn so với giá thế giới, khiến giá thành sản xuất của DDV tương đối cạnh tranh so với hàng nhập khẩu, tuy nhiên Công ty vẫn chưa tìm được chỗ đứng tại thị trường nội địa Số liệu nửa đầu năm 2014 của Agromonitor và Bộ công thương cho thấy, chỉ 1/3 sản lượng của DDV được tiêu thụ trong nước và 2/3 phải xuất khẩu, và giá xuất khẩu thậm chí thấp hơn tới 15% so với giá bán trong nước

Một trong những nguyên nhân chính khiến sản phẩm của DDV không được ưa chuộng tại thị trường trong nước là do chất lượng không đồng đều, hàm lượng dinh dưỡng (tổng tỷ lệ 2 thành phần Nitơ và phốt pho) chỉ đạt 61%, thấp hơn so với mức 64% của hầu hết các loại phân bón Trung Quốc khác Giá bán của DDV

Quặng apatit 42%

NH3 25%

Lưu huỳnh 31%

Khác 2%

Cơ cấu nguyên liệu sản xuất DAP

Ngày đăng: 28/09/2019, 11:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w