1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả lâm nghiệp cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên thần Sa Phượng Hoàng

16 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 107,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả, lâm nghiệp cộng đồng ,tại khu bảo tồn thiên nhiên, thần Sa Phượng Hoàng

Trang 1

BÀI ÁO CÁO GiỮA KỲ

Đánh giá hiệu quả lâm nghiệp cộng đồng tại khu bảo tồn

thiên nhiên thần Sa Phượng Hoàng

CHỦ ĐỀ

Trang 2

Nội dung chính

I Giới thiệu qua về khu bảo tồn

II nội dung.

III kết luận

Trang 3

Sảng Mộc là một     xã   thuộc   huyện  Võ Nhai, tỉnh  Thái Nguyên ,  Việt Nam

Xã có diện tch 98,13 km², dân số năm 1999 là 2369 người,   [1] mật độ dân số đạt 24 người/km²  

Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, xã Sảng Mộc có diện tch 107,56 km², dân số là  

2474 người thuộc 4 dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao, mật độ dân số đạt 23 người/km², đây là xã có diện tch lớn nhất và mật độ dân số thấp nhất của tỉnh Thái Nguyên Sảng Mộc hiện được chia thành 10 xóm

là Bản Chương, Nà Ca, Phú Cốc, Khuổi Mèo, Bản Chấu, Nà Lay, Khuổi Chạo, Tân Lập, Khuổi Uốn, Nghinh Tác.[2]

Đây là xã cực bắc của huyện Võ Nhai và có  sông Nghinh Tường   cùng các con suối phụ lưu của nó chảy trên địa bàn

Trang 4

Sảng Mộc tếp giáp với các xã  Bình Văn, Yên Hân,  Yên Cư   thuộc huyện  Chợ Mới   và xã  Liêm Thủy thuộc   huyện Na Rì đều thuộc tỉnh    Bắc Kạn   ở phía tây bắc, bắc và đông bắc; giáp với xã Nghinh Tường ở phía đông, giáp với hai xã Vũ Chấn và Thượng Nung ở phía nam và giáp với xã Thần Xa ở phía tây nam

Tuyến đường Vũ Chấn - Nghinh Tường - Sảng Mộc dài 24 km đã được nâng cấp vào năm 2010 với tổng số   vốn đầu tư trên 72 tỷ đồng [3]   Năm 2000 năng suất lúa bình quân chỉ đạt 32 tạ/ha, năm 2007 là gần 40tạ/ha Trong ba năm 2004-2006, Sảng Mộc đã trồng được 201,90ha rừng, trong đó có 50ha là trồng cây hồi cho giá trị kinh tế cao Nhiều diện tch đất nông nghiệp trong xã đã được cải tạo để có thể canh tác được hai vụ.

Trang 5

Diện tích đất lâm nghiệp của xã Sảng Mộc là 9.107,74 ha chiếm 94,38% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã, đất sản xuất nông nghiệp là 235,59 ha chiếm 2,52% diện tích đất nông nghiệp, đất trồng lúa nước là 102,71 ha chiếm 43,59% so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp - Nhóm lao động ở độ tuổi 25-50 tuổi chiếm 55,72% tổng lao động, đây là lực lượng lao động chính của gia đình, nhóm lao động ở độ tuổi

>50 vì họ là những người có rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức lấy các loại cây trong rừng về làm thuốc, nhóm lao động ở độ tuổi 16 – 25 cũng là những đối tượng có tác động mạnh vào rừng, nam giới có thể đi khai thác gỗ cùng những người có tuổi trong gia đình, làng xóm còn nữ giới chủ yếu là vào rừng lấy măng và lấy củi, còn lại là nhóm

<16 tuổi thì ít tác động vào rừng hơn do còn đang đi học, thời gian hạn hẹp.

Trang 6

lượng lại mỏng nên tình hình xâm hại tài nguyên rừng rất mạnh và phổ biến Có thể thấy được tình hình vi phạm cụ thể qua các đợt truy quét từ ngày 01/01/2011 đến ngày 20/12/2011 trên diện rộng đã phát hiện và xử lí: Số vụ vi phạm: 132 vụ, tịch thu phương tiện: 28 xe máy, 12 cưa xăng, nhiều xe đạp Tịch thu gỗ xẻ quý hiếm: 24,3 m3, gỗ tròn quý hiếm là: 4,4 m3 Tổng thu ngân sách nhà nước:

403.783.000vnđ Trong đó: xử lí vi phạm hành chính: 17.283.000vnđ; Tiền bán lâm sản tịch thu: 386.500.000vnđ So sánh với năm 2010 thấy số vụ vi phạm có giảm,

số lượng các phương tiện thu giữ, lượng lâm sản tịch thu đều giảm hơn Số lượng các vụ vi phạm giảm một mặt do sự quản lí chặt chẽ của Ban và các cấp quản lí Mặt khác cũng do sự cấu kết, thủ đoạn tinh vi của lâm tặc nên nhiều khi không bắt được đối tượng Đây vẫn là vấn đề cần phải được quan tâm nhiều hơn để công tác quản lí đem lại hiệu quả Không chỉ rừng bị tàn phá, nhiều khu vực của Khu bảo tồn cũng bị “vàng tặc” bới tung Trong đó, bãi vàng Bản Ná từng từng thu hút cả nghìn người đổ về Địa điểm này tuy đã được giao cho một doanh nghiệp quản lý nhưng hiện nay nạn khai thác vàng trái phép vẫn rất sôi động, trong năm 2011, Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên đã tiến hành 2 đợt truy quét chống chặt phá rừng và khai thác lâm sản, thu hàng trăm mét khối gỗ cùng phương tiện khai thác, vận chuyển; tiêu hủy 01 giàn máy nổ và máy phát điện để khai thác vàng tại địa bàn xã Thần Sa… Nhưng bao nhiêu nỗ lực dường như vẫn chưa đủ để hạn chế tình trạng khai thác tài nguyên này

Trang 7

 4.2 Khai thác tài nguyên rừng theo độ tuổi lao động Đề tài đã điều tra,

phỏng vấn về tình hình khai thác tài nguyên rừng của người dân và kết quả tổng hợp theo độ tuổi lao động được chia ra thành 4 nhóm: - Người già: >50 tuổi Họ là những người mà sức khỏe lao động yếu nhưng lại có kinh nghiệm trong lao động sản xuất và thu hái lâm sản Các sản phẩm thu hái chủ yếu là thu hái cây thuốc, lấy rau và thức ăn gia súc…các công việc đó không phải đi sâu vào rừng, tốn ít công sức nhưng đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết trong việc thu hái Thường chủ yếu khai thác là nam giới, nữ giới thường tham gia lấy rau, măng, thu hái cây thuốc,… Trung niên: 25- 50 tuổi Đây là đối

tượng chính tham gia vào thu hái lâm sản trong rừng Đây là đối tượng chính tác động chủ yếu đến tài nguyên rừng Các sản phẩm họ thu hái mang tính chất nặng nhọc như khai thác gỗ, săn bắt động vật, lấy củi…những công việc này chủ yếu là đàn ông tham gia, phụ nữ thường tham gia vào lấy củi, măng, rau Thanh niên: 16-25 tuổi Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nhưng số người tham gia vào thu hái lâm sản là khá nhiều và chủ yếu là nam giới - Trẻ em: <16 tuổi Nhóm tuổi này chưa có kinh nghiệm trong lao động sản xuất do chủ yếu các em còn trong độ tuổi đi học, tác động vào rừng chủ yếu của các em là lấy củi và lấy măng hộ gia đình Kết quả điều tra phỏng vấn người dân xã Sảng Mộc về sự phân

Trang 8

công lao động theo độ tuổi được tổng hợp qua bảng sau: Bảng 4.1 Thống kê độ tuổi lao động ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên rừng Hoạt động Phân công lao động (%) > 50 tuổi 25 - 50 tuổi 16 - 25 tuổi < 16 tuổi Khai thác gỗ 23,8 54,8 21,4 0 Săn bắt động vật 25 66,7 8,3 0 Lấy củi 17,5 50 28,75 3,75 Lấy rau, măng 18,2 50,6 28,6 2,6 Thu hái cây thuốc 28,3 52,2 19,5 0 Cây cảnh 20 60 20 0 TB 22,13 55,72 21,1 1,05 ( Theo bảng số liệu phỏng vấn người dân) Theo bảng tổng hợp các phiếu điều tra các hộ gia đình trong xã có thể thấy được sự phân công lao động có tác động đến tài nguyên rừng như sau: - Đối với công việc khai thác gỗ, đây là một công việc nặng nhọc và rất nguy hiểm vì vậy mà đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe, chủ yếu là nam giới trung niên và thanh niên thường xuyên tham gia hoạt động khai thác, hai nhóm người này chiếm tỷ lệ khoảng 76,82% tổng lực lượng lao động Nhóm người trên 50 tuổi, và dưới 16 tuổi tham gia hoạt động này rất ít chiếm khoảng 23,18% - Săn bắt động vật: nhóm tuổi trên 50 tuổi tham gia săn bắt với số lượng chiếm khoảng 25% còn lại 75% là nhóm tuổi trung niên và thanh niên.

Trang 9

 Hoạt động săn bắt xảy ra hầu hết ở các bản người Mông sinh sống như Khuổi Mèo Các sản phẩm từ săn bắt chủ yếu là: các loài chim, rắn, gà rừng, sóc và thỉnh thoảng còn bắt hay bẫy được hươu, cầy vòi, dúi, chồn…Đa số họ sử dụng để làm thực phẩm phục

vụ cho sinh hoạt của mình, có một số ít đem đi bán Theo người dân thì 1kg rắn hổ

mang bành có giá: 120.000/kg, rắn ráo có giá: 30.000/kg… Người dân ở đây thường đi săn theo nhóm hoặc thỉnh thoảng đi một mình - Lấy củi: Do hầu hết các hộ gia đình trong xã sử dụng nhiên liệu chính là gỗ củi nên hàng ngày các hộ vẫn tiến hành đi lấy củi đều đặn và thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của gia đình Các hộ gia đình thường

đi lấy cây gẫy, cành khô… Nhóm thanh niên, trung niên là những người thực hiện công việc lấy củi chính trong gia đình họ chiếm khoảng 78,75% tổng lực lượng lao động,

ngoài ra được sự hỗ trợ một phần của người già và trẻ nhỏ - Lấy rau, măng: công việc không đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và không nặng nhọc nên các thành viên trong gia đình đều có thể làm được Việc thu hái măng đem lại thu nhập khá cho người dân, bình quân khoảng 8.000 – 12.000đ/kg măng - Thu hái cây thuốc: Thường thì chỉ có những người chuyên bốc thuốc nam hoặc những người già nhận biết được các loại cây thuốc trong xã là người có nhiều kinh nghiệm trong việc thu hái cây thuốc hơn cả mới lấy được thuốc chiếm khoảng 80% là thuộc độ tuổi người già và trung niên - Cây cảnh trong địa bàn xã tiến hành nghiên cứu thì có ít sự tác động, các cây chủ yếu là lấy về chơi chứ ít mang bán Các loại cây cảnh thường được lấy về là: phong lan, si rừng, xanh rừng…và nhóm tuổi hay đi lấy cây cảnh là những người thuộc độ tuổi già và trung niên Như vậy có thể thấy rằng đối tượng tác động mạnh nhất đến tài nguyên rừng là nhóm lao động ở độ tuổi 25-50 tuổi chiếm 55,72% tổng lao động, đây là lực lượng lao động chính của gia đình do tình trạng thiếu việc làm nên thời gian rảnh rỗi họ thường vào rừng để khai thác lâm sản Nam giới thì vào rừng khai thác gỗ, săn bắt…

Trang 10

những công việc đòi hỏi sức khỏe, nữ giới thì vào rừng

lấy củi, lấy măng, lấy rau và các thực phẩm khác từ rừng Sau đó đến nhóm lao động ở độ tuổi >50 vì họ là những người có rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức về cây thuốc

vì thế họ thường vào rừng lấy củi, lấy thức ăn cho gia súc, lấy các loại cây trong rừng về làm thuốc Nhóm lao động

ở độ tuổi 16 – 25 cũng là những đối tượng có tác động mạnh vào rừng, nam giới có thể đi khai thác gỗ cùng

những người có tuổi trong gia đình, làng xóm còn nữ giới chủ yếu là vào rừng lấy măng và lấy củi Còn lại là nhóm

<16 tuổi thì ít tác động vào rừng hơn do còn đang đi học, thời gian hạn hẹp, còn thiếu kinh nghiệm trong lấy thuốc, chưa có đủ sức để khai thác gỗ Nhóm này chỉ thường đi lấy măng và lấy củi để phụ giúp gia đình

Trang 11

Theo số liệu về trồng mới rừng của xã Sảng Mộc như sau: Năm 2010: toàn xã trồng mới được 107,70 ha Năm 2011: toàn xã trồng được 57,40 ha Năm 2012: toàn xã trồng được 12,10 ha Và diện tích được trồng mới tại các xóm như sau: Bảng 4.3 Diện tích trồng mới rừng xã Sảng Mộc trong 2 năm 2010 - 2011 Bản Chấu Nà Ca Nà Lay Phú Cốc Bản Chương Năm 2010 59,30 ha 9,60 ha 16,10 ha 9,60 ha 13,10 ha Năm 2011 18,70 ha 6,50 ha 10,20 ha 10 ha 12,00

ha Các hoạt động trồng rừng nhằm tăng độ che phủ của rừng cùng với đó một phần diện tích đất trống đồi núi trọc

đã được sử dụng có hiệu quả, tạo việc làm tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, định canh định cư cho đồng bào sống trong và gần rừng Cũng thông qua trồng rừng các loài cây trồng được phát triển thuận lợi nhờ các hoạt động như phát dọn dây leo, bụi rậm, tỉa thưa đã tạo điều kiện cho cây mục đích tái sinh phát triển vượt khỏi sự chèn

ép của các cây khác Qua điều tra và tiến hành phỏng vấn người dân được biết hiện nay trong xã đã có khoảng 15

hộ gia đình tự mua giống và gây trồng tre bát độ với quy mô mỗi hộ từ 0,5 – 1 ha Trồng khoảng 1.000 cây/ha từ năm 2011 với mong muốn tạo thêm thu nhập từ lâm nghiệp Về cơ bản hộ đã nắm được phương pháp trồng và có điều kiện để thực hiện Về cây thuốc trong xã thì bình quân mỗi thôn có khoảng hai gia đình tham gia trồng các cây thuốc thành vườn và rất hay sử dụng do các gia đình này có nghề bốc thuốc

Trang 12

 Còn lại thì chỉ thấy một số hộ trong xã có trồng một vài loài cây thuốc trong vườn gia đình (Bình vôi, bông mã đề, cây huyết dụ, cây phao, đinh lăng,…) với số lượng nhỏ với mục đích phục vụ mọi người trong nhà khi bị đau ốm Một

số hộ gia đình trong xã đã áp dụng các mô hình NLKH có hiệu quả kinh tế cao Việc gắn kết giữa bảo vệ rừng và

phát triển kinh tế hộ có hiệu quả cao đã và đang thu hút được nhiều người dân hưởng ứng tham gia Xây dựng mô hình NLKH sẽ giúp thu nhập của người dân ổn định cùng với đó các biện pháp nhằm cải tạo đất chống xói mòn và việc bảo vệ cây rừng lâu năm sẽ hạn chế được tình trạng chặt phá rừng Hiện nay tại xã đang áp dụng 2 mô hình NLKH đó là mô hình RVAC và mô hình RVC-Rg

.

Trang 13

Trong đó cây lâm nghiệp được người dân lựa chọn trồng chủ yếu là Keo và Mỡ bởi 2 loại cây này thích hợp với đất nghèo kiệt và thời gian kinh doanh ngắn hơn các loại cây trồng khác Ngoài trồng rừng thì các hoạt động trồng các loại lâm sản ngoài gỗ, cây thuốc, cây thức ăn gia súc, các loại rau của người dân trong xã vẫn còn rất ít Vì vậy việc người dân tác động vào rừng vẫn diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ 4.4.2 Tác động tiêu cực tới tài nguyên rừng 4.4.2.1 Tình hình khai thác và sử dụng gỗ củi Những năm trước kia trữ lượng gỗ của xã Sảng Mộc còn khá nhiều, nhưng do nhu cầu sử dụng gỗ của người dân ngày càng tăng, đồng thời do sự bảo vệ của các ban ngành còn chưa tốt mà những năm gần đây trữ lượng gỗ đã giảm cả về số lượng và chất lượng Các loại gỗ thường bị khai thác nhiều là: Nghiến, Trai lý, Lát hoa, Lim, Chò chỉ…,tập chung nhiều ở các thôn: Khuổi Mèo, Phú Cốc, Bản Chấu, Khuổi Uốn… người dân khai thác gỗ về làm nhà do tập quán ăn ở hầu hết các hộ trong xã đều làm nhà sàn để ở

Trang 14

 Ban đầu họ chỉ khai thác Trầm Hương nhưng rồi Trầm Hương cũng cạn kiệt dần thì họ chuyển sang xẻ thớt để bán (mỗi thớt nghiến khoảng từ 40-50cm có giá từ 300.000 – 350.000đ/cái) tiếp tay cho lâm tặc chính là đồng bào dân tộc thiểu số, những người dân sinh sống trên địa bàn có

rừng Chúng tung tiền ra thuê đồng bào với giá từ 200 nghìn đồng đến

500.000 đồng cho mỗi ngày công chặt phá, hoặc chúng mang máy cưa lốc vào rừng hạ những cây gỗ nghiến rồi thuê người dân vận chuyển, vác gỗ cho chúng Mỗi chuyến vác gỗ được trả 70.000đ/chuyến Đây chính là

nguyên nhân thúc đẩy nhanh việc tàn phá tài nguyên rừng trên địa bàn xã Sảng Mộc cũng như trong toàn bộ Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa Là một dấu hỏi lớn đối với những cơ quan chức năng, ban ngành chịu trách nhiệm quản lý rừng làm sao có thể dung hòa được vừa đảm bảo nhu cầu đời sống của người dân vừa tránh được những tác động tiêu cực gây ảnh hưởng rất lớn đến rừng của người dân.

Trang 15

KẾT LUẬN

Trang 16

CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE

Ngày đăng: 28/09/2019, 11:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w