1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TỐI ƯU ACID LINOLEICVÀ ACID LINOLENIC TRONG THỨC ĂN CHO CÁ GIÒ GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM

52 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TỐI ƯU, ACID LINOLEIC VÀ LINOLENIC, TRONG THỨC ĂN, CHO CÁ GIÒ, GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II

PHÂN VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MINH HẢI

TRẠI THỰC NGHIỆM THỦY SẢN BẠC LIÊU

-BÁO CÁO HẾT TẬP SỰ

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TỐI ƯU ACID LINOLEIC

VÀ ACID LINOLENIC TRONG THỨC ĂN CHO

CÁ GIÒ (Rachycentron canadum)

GIAI ĐOẠN THƯƠNG PHẨM

Bạc Liêu, 04/2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II

và đơn vị cơ quan em đang công tác – Trại thực nghiệm thủy sản Bạc Liêu – đã cho

em có điều kiện thực hiện chuyên đề nghiên cứu, việc này giúp em được học hỏi và

mở mang kiến thức rất nhiều

Kế đến, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Vũ Anh Tuấn, ngườihướng dẫn báo cáo tập sự cho em, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong công tácchuẩn bị, quá trình thực hiện thí nghiệm cũng như trong thời gian viết báo cáo Đồngthời, xin gửi lời cảm ơn đến chị Mai Thị Bích Hạnh, Ks Lê Hữu Hiệp, Ks NguyễnThúy An và các anh em đồng nghiệp khác trong cơ quan đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thựchiện tốt nghiên cứu tập sự này

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, em cũng đã nhận được sự giúp đỡ rấtnhiều từ gia đình Nhân đây, con xin gửi lời cảm ơn ba mẹ đã không ngừng động viên

và tạo điều kiện thật tốt cho con làm việc

Do thời gian thực hiện thí nghiệm còn hạn chế nên bài báo cáo này chắc chắnkhông tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, anh chị

để có thể hoàn chỉnh hơn nữa trong thời gian tới

Xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

TÓM TẮT

Sự phát triển của thức ăn công nghiệp cho cá Giò, Rachycentron canadum, hiện

nay phụ thuộc vào sự hiểu biết nhiều hơn về nhu cầu dinh dưỡng cho loài cá này Nhucầu khẩu phần của cá Giò đối với acid linoleic (LOA, 18:2n-6) và acid linolenic (LNA,18:3n-3) được xác định trong một thí nghiệm 2 yếu tố với những khẩu phần chứa các

tỷ lệ tăng dần của LOA (0,8 %; 1,5 %; 2,2 % của khẩu phần thức ăn) và LNA (0,6 %;1,1 %; 1,6 %; 2,1 % của khẩu phần thức ăn) Khảo sát sự khác nhau về tăng trọng, tốc

độ lớn và hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các nghiệm thức Khẩu phần thức ăn chứa tỷ

lệ LOA : LNA là 1,5 : 0,6 cho kết quả tăng trọng và tốc độ lớn cao hơn so với nhữngkhẩu phần khác, đồng thời cá ăn khẩu phần này có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất

Tỷ lệ sống đạt trên 89 % và không khác biệt giữa các nghiệm thức Những kết quả nàycho thấy rằng cá Giò cần được cung cấp một tỷ lệ LOA/LNA hợp lý để có thể đạt tăngtrọng tối ưu

ABSTRACT

The development of more pellet feeds for cobia, Rachycentron canadum, need

to understand better on nutrient requirements of this species The dietary specificationratio for linoleic acid (LOA) and linolenic acid (LNA) of cobia was examined in a 2factorial experiment, with diets containing incrementally increasing propotions ofLOA (0,8 %; 1,5 %; 2,2 % of diet) and LNA (0,6 %; 1,1 %; 1,6 %; 2,1 % of diet).Differences in growth, specific growth rate and feed conversion ratio were observedamong the dietary treatments The diet with the ratio 1,5 % : 0,6 % (LOA : LNA)promoted greater growth and specific growth rate than the others In addition, fisheshad lowest feed conversion ratio Survival was over 89 % in all treatments and did notvary significantly with treatment These results show that cobia need a supplementwith reasonable ratio for optimum growth

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

TÓM TẮT 3

MỤC LỤC 4

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ 6

DANH SÁCH CÁC BẢNG 6

Chương 1 MỞ ĐẦU 7

1.1 Đặt Vấn Đề 7

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8

1.3 Nội dung nghiên cứu 8

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

2.1 Sơ lựợc về cá Giò 10

2.1.1 Vị trí phân loại 10

2.1.2 Phân bố 10

2.1.3 Đặc điểm sinh học 11

2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá 12

2.2 Giới thiệu về thức ăn công nghiệp trong nuôi trồng thủy sản 13

2.3 Xu hướng làm thức ăn công nghiệp cho động vật thủy sản 14

2.4 Xây dựng công thức thức ăn 15

2.5 Giới thiệu về lipid trong thức ăn thủy sản 16

2.5.1 Acid béo 16

2.5.2 Các tính chất của acid béo 16

2.5.3 Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản 16

2.5.4 Nhu cầu acid béo thiết yếu 18

2.6 Các nghiên cứu về nhu cầu lipid và avid béo thiết yếu 20

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

Trang 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu 23

3.3 Vật liệu thí nghiệm 23

3.3.1 Trang thiết bị dùng trong thí nghiệm 23

3.3.2 Nguyên liệu làm thức ăn 23

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Chuẩn bị cá giò thịt thí nghiệm 24

3.4.2 Hệ thống thí nghiệm 24

3.4.3 Thiết kế thí nghiệm 24

3.4.4 Chuẩn bị thức ăn cho cá thịt 25

3.4.5 Cho ăn và thu thức ăn dư 26

3.4.6 Thu thập số liệu 26

3.4.7 Phân tích thống kê 27

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

І Kết quả nghiên cứu 28

4.1 Chất lượng nước thí nghiệm 28

4.2 Kết quả về tăng trọng và tốc độ tăng trọng 29

4.3 Kết quả về hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống 31

4.3.1 Hệ số chuyển hoá thức ăn (FCR) 32

4.3.2 Tỷ lệ sống 32

II Thảo luận 32

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 35

5.1 Kết luận 35

5.2 Đề xuất ý kiến 35

TÀI LIỆU THAM THẢO 36

PHỤ LỤC 39

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang 6

Bảng 4.1 Tăng trọng trung bình và tốc độ tăng trưởng của cá Giò thịt ở các mức acid linoleic / acid linolenic (LOA / LNA) khác nhau trong khẩu phần ăn thí nghiệm 29

Bảng 4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ sống của cá Giò thịt cho ăn thức ăn chứa các mức acid linoleic / acid linolenic (LOA / LNA) khác nhau trong khẩu phần ăn thí nghiệm 30

Trang 7

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt Vấn Đề

Cá Giò (Rachycentron canadum) loài duy nhất trong họ Rachycentridae (bộ

Perciformes) là loài ăn nổi, có tập tính di cư Sống ở vùng nước mặn hoặc nước lợ venbiển, rạn san hô cho đến vùng biển khơi Cá Giò thuộc loại cá dữ, ăn thịt động vật,thức ăn tự nhiên gồm cua, tôm, ốc và các loại cá con Cá phân bố rộng ở vùng biểnnhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới Đối với nghề nuôi, cá Giò là đối tượngtương đối mới, nó có nhiều ưu điểm để phát triển thành đối tượng nuôi công nghiệp cógiá trị cao Cá Giò có sức tăng trưởng nhanh, có khả năng chống chịu được điều kiệnsóng gió tốt, là đối tượng tiềm năng cho phát triển nuôi lồng xa bờ và những vùng biển mở.Việt Nam được xem là nước đứng thứ ba về phát triển nuôi và sản xuất giống cáGiò Nghề nuôi cá Giò đã phát triển tương đối mạnh và nhanh trong khoảng bốn nămtrở lại đây ở các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh (khu vực phía Bắc); Vũng Tàu, KiênGiang (khu vực phía nam) Tuy nhiên, việc nuôi cá Giò hiện nay đang gặp phải nhữngkhó khăn do thức ăn dùng để nuôi cá Giò chủ yếu là cá tạp Cá tạp có những hạn chếnhư bảo quản khó, giá tăng và gây ô nhiễm môi trường nuôi Trong khi thức ăn côngnghiệp ngoại nhập cho kết quả tốt nhưng giá thành ương nuôi cao, việc mua và vậnchuyển chưa thuận lợi Vì thế việc nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp để nuôi cáGiò thâm canh là một giải pháp thiết yếu Song song qua đó, sự phát triển của thức ănmang tính “hiệu quả - kinh tế” còn phụ thuộc vào sự hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡngcủa loài cá này

Tầm quan trọng của nguồn lipid khẩu phần ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và pháttriển của cá Giò đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu (Chou và ctv, 2001; Faulk

và ctv, 2003; Turner và ctv, 2005; Wang và ctv, 2005) Cũng như nhiều loài cá biểnkhác, cá Giò có một khả năng giới hạn để tổng hợp những acid béo chưa bão hòa caophân tử (PUFA – Polyunsaturated fatty acid) - 18:4n-3, 20:4n-6, 20:5n-3, 22:4n-6,22:5n-3, 22:6n-3 ) vì thế cần được cung cấp các acid béo này trong khẩu phần (Owen

và ctv, 1975) Nhu cầu về các acid béo thiết yếu PUFA (Polyunsaturated fatty acid)của cá Giò đã được thí nghiệm bởi Turner và Rooker (2005) cho thấy sự cần thiết khi

sử dụng một hàm lượng PUFA thích hợp cho loài cá này Một số tác giả khác báo cáorằng cùng với acid linoleic (LOA, 18:2n-6), acid linolenic (LNA, 18:3n-3), một vài

Trang 8

HUFA điển hình như acid eicosapentaenoic (EPA, 20:5n-3) và acid docosahexaenoic(DHA, 22:6n-3) có những tính chất thúc đẩy tăng trưởng đặc biệt đối với cá (Chou vàctv, 2001; Sargent và ctv, 1989).

Một bước quan trọng đầu tiên khi cần tối ưu hóa nhu cầu acid béo thiết yếu là xácđịnh nhu cầu khẩu phần của LOA và LNA Cá có khả năng kéo dài chuỗi những acidbéo chưa bão hoà 18 carbon, do đó 2 acid linoleic và linolenic cũng là tiền chất củanhững acid béo chưa bão hoà cao phân tử (HUFA), trong khi HUFA là những acid béokhông thể thiếu đặc biệt đối với cá biển (Owen và ctv, 1975) Ngược lại, HUFA có thểđược bão hòa và bẻ nhánh bởi tiến trình β oxy hóa để tạo ra LOA và LNA, mặc dù sựchuyển đổi này ít xảy ra (Sargent và ctv, 1993; Smith và ctv, 1983) Vì thế, việcnghiên cứu về nhu cầu 2 loại acid béo LOA và LNA không chỉ hữu ích trong việc xácđịnh đầy đủ các nhu cầu acid béo thiết yếu, mà có lẽ còn giúp giảm thiểu nhu cầu vềHUFA

Mặc dù đã có một vài nghiên cứu nhận thấy tầm quan trọng của các acid béo nóichung , n6/n3 PUFA nói riêng đối với sự tăng trưởng và chất lượng thịt cá Giò, nhưngcác nghiên cứu này giới hạn ở việc chỉ nhận thấy nhu cầu cần phải bổ sung acid béotrong khẩu phần chứ không xác định tỷ lệ là bao nhiêu Trong nghiên cứu này, chúngtôi báo cáo về nhu cầu số lượng của 2 acid béo LOA và LNA trong khẩu phần cho cáGiò ở giai đoạn thương phẩm, nghiên cứu này là một phần của đề tài cấp nhà nướcKC06.15/06-10, đang được Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2 chủ trì thực

hiện : “Nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi thương phẩm cá chẽm (Lates calcarifer), cá giò (Rachycentron canadum) phục vụ xuất khẩu”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ kết hợp tối ưu LOA và LNA trong thức ăn để cá Giò thịt đạt tăngtrọng, tốc độ lớn, tỷ lệ sống cao nhất, đồng thời có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất

1.3 Nội dung nghiên cứu

Bố trí thí nghiệm với các tỷ lệ khác nhau của acid linoleic và acid linolenic trongthức ăn cá giò thương phẩm nhằm tìm ra tỷ lệ kết hợp tối ưu để giúp cá đạt tăng trọng

và tỷ lệ sống cao nhất, đồng thời có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất

Trang 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Loài:Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)

Đây là loài cá duy nhất trong họ Rachycentridae (Shaffer và ctv, 1989)

Cá Giò có rất nhiều tên Tên tiếng Việt là cá Giò, cá bớp biển Tên tiếng Anh phổbiến của cá Giò là Cobia, Ling, Lemonfish, Crab-eater (U.S.A), Black kingfish(Australia, India, Pakistan), Runner (East-Africa), Sugi (Japan) (Shaffer và ctv, 1989).Ngoài ra nó còn có những tên khác như Jaman (Malaysia), Cobie (Tây Ban Nha),Peixe-sargento (Bồ Đào Nha), Mafou (Pháp), Okakala (Phần Lan), Rachika (Ba Lan)

2.1.2 Phân bố

Cá Giò là loài di cư, phân bố ở vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng nước

ấm của biển ôn đới Trong tự nhiên, cá Giò sống ở vùng nước mặn hoặc nước lợ venbiển, rạn san hô cho đến vùng biển khơi, phân bố rộng rãi trên toàn thế giới

Chúng sống chủ yếu ở vùng nước ấm nhiệt đới, cận nhiệt đới và những vùng biển

có nhiệt độ ấm như: Novascotia (Canada), biển Caribe, Nam Argentina, Nam vịnhChesapeake (Mỹ), vịnh Mexico, phía Nam Florida, ở phía đông Ấn Độ Dương Cá Giòphân bố từ Maroc đến Nam Phi và Ấn Độ

Ở phía tây Thái Bình Dương, cá Giò phân bố từ Đông Phi và Nhật Bản đếnAustralia Không thấy cá Giò xuất hiện ở đông Thái Bình Dương và Địa Trung Hải(Shaffer và ctv, 1989) nhưng ở biển Đỏ và kênh đào Suez có sự phân bố tự nhiên.(Goloni và Ben-Tuvina, 1986) Tây Bắc Đại Tây Dương thấy xuất hiện ở thềm lục địaScottian- Canada (trích Shaffer và ctv, 1989)

Hình 2.1 Cá Giò (Rachycentron canadum)

Trang 10

Hầu hết trứng và ấu trùng cá Giò được tìm thấy ở vùng nước xa bờ Đến giaiđoạn trưởng thành chúng chuyển vào vùng biển gần bờ, vùng cửa sông, vịnh…Ở giaiđoạn trưởng thành, chúng sống ven bờ và thềm lục địa Là loài cá nổi nhưng chúngvẫn xuất hiện ở những vùng nước có độ sâu 50 m, thậm chí còn tìm thấy ở những nơi

có độ sâu 1.200 m, chúng sống ở những vùng có nền đáy bùn, đá cát và những vùng córạn đá san hô

2.1.3 Đặc điểm sinh học

Nhiệt độ: Là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phân bố của cá Giò Nhiệt độ

thích hợp cho cá Giò từ 24.3 tới 31.8 °C (Daniel và ctv, 2008)

Hàm lượng oxy hòa tan (DO): DO có vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng

và phát triển của cá Giò, hàm lượng oxy hòa tan thích hợp cho cá Giò>4mg/L,nếu hàm lượng oxy hòa tan thấp hay nhỏ hơn 2,5mg/L nếu kéo dài có thể làmcho cá chết (theo số liệu theo dõi ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Bạc Liêu)

Độ mặn (‰): Độ mặn thích hợp cho cá Giò phát triển tốt từ 15-30 (‰) và cá có

từ 3-100 con, săn mồi trong khi di cư ở vùng nước nông dọc theo bờ

Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cá

Cá Giò là loài cá có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, nó có thể đạt đến chiều dài 2 m,trọng lượng 68 kg (Shaffer và ctv, 1989) Kích cỡ trung bình của cá là 23 kg, chiều dài

có thể đạt đến 90-120 cm Trong điều kiện nuôi cá có thể tăng từ 4-6 kg/năm, 2 nămđạt 8-10 kg

Trang 11

Một nghiên cứu ở Mexico đã chỉ ra rằng cá Giò tăng trưởng nhanh đến tuổi thứ 2sau đó giảm dần (Franks và ctv, 1999) Tuổi thọ lớn nhất của cá khoảng 15 năm đốivới cá sống ở trong khu vực ôn đới và khoảng 10 năm đối với cá sống ở vùng ấm hơn(ACE, 2003) Cá cái có kích thước lớn hơn và tăng trưởng nhanh hơn cá đực (Kaiser,

G, 2005)

Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá Giò, theo một số báo cáo là khá thấp, FCR =2,5-4,87 tuỳ thuộc vào một số loài cá tạp (Nguyễn Xuân Hiệp, 2006) Theo Mai ÁnhQuỳnh (2006) thì FCR = 2,26- 2,27 đối với thức ăn chế biến từ Xilo, FCR = 1,12-1,13đối với thức ăn khô Theo báo cáo của Công ty Ngọc Trai – Nha Trang thì hệ sốchuyển đổi thức ăn cho cả quá trình nuôi thức ăn tổng hợp 40-42 % protein FCR =1,4-1,8, cá tạp FCR = 3,5-5,5

2.1.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá

Cá Giò là một loại cá ăn thịt nên có nhu cầu protein trong thức ăn cao Các kếtquả thử nghiệm cho thấy nhu cầu protein tối ưu dao động trong khoảng 40-53 %(Chou và ctv, 2001) Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do một số nhân tố trong các thínghiệm khác như: kích cỡ, độ tuổi, nhiệt độ, mật độ, chất lượng protein trong thức ăncũng như nguồn gốc protein Khi sử dụng thức ăn viên (45,5 % Protein và 16 % Lipid)thì hệ số thức ăn của cá Giò nuôi lồng là tương đối thấp khoảng 1,6-1,8 Thịt cá Giòthơm ngon, có hàm lượng acid béo không no EPA, DHA… cao hơn nhiều so với cácđối tượng nuôi khác (Su và ctv, 2000)

Như đã biết khả năng tổng hợp các chất béo không no của cá biển nói chung và

cá Giò nói riêng là không có Vì vậy đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡngcho những đối tượng nuôi biển này Các công trình nghiên cứu cho thấy nhu cầu dinhdưỡng của cá biển về các acid béo không no với mức cao như: Arachidonic acid(ARA, 20: 4n-6), EPA và DHA Ngoài ra acid béo không no C18 và acid amin trongkhẩu phần thức ăn cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của một sốloài cá biển Nhu cầu acid béo không no omega 3 cho ấu trùng cá biển khoảng 0,5-2,0

% trong tổng số các acid béo Ấu trùng cá biển thiếu acid béo không no trong khẩuphần là nguyên nhân gây ra bệnh và giảm tỷ lệ sống

Trang 12

2.2 Giới thiệu về thức ăn công nghiệp trong nuôi trồng thủy sản

Theo Jerome Bosmans và Jonh Humphrey (2007) thì thức ăn công nghiệp trongnuôi trồng thủy sản có những ưu điểm và nhược điểm sau đây:

Ưu điểm

 Luôn chủ động về nguồn cung cấp Thức ăn viên có thể được mua với số lượnglớn, và nếu được bảo quản đúng cách, có thể sử dụng trong nhiều tháng với một

sự giảm đi rất nhỏ về chất lượng thức ăn

 Chất lượng luôn đảm bảo Chất lượng dinh dưỡng và tiêu chuẩn của viên thức

ăn được kiểm tra ở nhà máy trước khi được chuyển đến người nuôi

 Dễ dàng cho ăn Không cần sự chuẩn bị thức ăn theo yêu cầu trước khi cho ăn

 Thức ăn viên có thể cho ăn với máy cho ăn tự động, giảm chi phí công lao động

 Bởi vì thức ăn được xử lý nhiệt trong suốt quy trình sản xuất nên những mốinguy về mầm bệnh hầu như được loại trừ

 Thức ăn được đóng gói để cất giữ một cách dễ dàng

 Công thức thức ăn được thiết lập dựa trên sự thích nghi với từng loài, từng giaiđoạn phát triển sao cho cá có tốc độ tăng trưởng cao

Nhược điểm

 Giá khá đắt Một trong những nguyên liệu chính trong thức ăn viên là bột cá

Đa số bột cá được sử dụng hiện nay là nhập khẩu từ nước ngoài với giá cao Giáthức ăn tăng lên nhanh chóng trong khi nguồn cung của bột cá hầu như bất biến

mà nhu cầu thì ngày một tăng

 Nhà máy thức ăn thường ở xa vùng nuôi nên chi phí vận chuyển cũng làm tăngthêm chi phí thức ăn

 Công thức thức ăn có thể vẫn còn được xem xét trong chiến lược phát triển

 Trong mùa mưa, thức ăn phải được trữ trong điều kiện lạnh hoặc có máy điềuhoà hoặc phải sử dụng ngay sau khi nhập về để ngăn ngừa sự phát triển củanấm độc trong bao bì

 Cũng còn có một số tranh cãi về ảnh hưởng của thức ăn viên đến hương vị của

cơ thịt cá Những thực nghiệm đã cho thấy rằng đây là một vấn đề thực sự cóthể nhận biết

Tại sao phải làm thức ăn công nghiệp cho nuôi trồng thủy sản?

Trang 13

Ngày nay sự phát triển của nuôi trồng thủy sản trên thế giới chủ yếu dựa vào các

mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh, vì thế những nghiên cứu về dinh dưỡngcủa động vật thủy sản trở nên hết sức cần thiết Các chất dinh dưỡng của các loài thủysinh có thể được phân thành năm nhóm: Protein, lipid, cacbohydrate, vitamin vàkhoáng chất (Tacon, 1990a)

Việc cung cấp thức ăn công nghiệp và hệ thống ao nuôi có hai mục đích chính:một là giúp cho tôm cá sử dụng trực tiếp nguồn thức ăn được cung cấp, hai là nhằmphát triển nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi để tôm cá sử dụng gián tiếp nguồnthức ăn này

Trong hệ thống nuôi quảng canh và bán thâm canh, việc sử dụng nguồn thức ăn

tự nhiên có vai trò quan trọng cho sự sinh trưởng của vật nuôi Điều này tương phản rõnét đối với hệ thống nuôi thâm canh, nơi mà thức ăn tự nhiên chỉ đóng vai trò thứ yếu

Sự phát triển của vật nuôi phần lớn dựa vào thức ăn có nguồn gốc công nghiệp đượccung cấp vào Do đó, tùy vào mô hình nuôi nên lựa chọn nguồn thức ăn sao cho phùhợp với sự phát triển của vật nuôi (Tacon, 1990a)

Hình 2.2 Vai trò của dinh dưỡng trong thức ăn tự nhiên hay thức ăn công nghiệp với

các hệ thống ao nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh (Tacon, 1990a)

2.3 Xu hướng làm thức ăn công nghiệp cho động vật thủy sản

Trong vài thập kỷ qua, nuôi trồng thủy sản là nghành cung cấp thực phẩm đạt tốc

độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng trung bình 11,6 % /năm từnăm 1984, so với 3,5 % của nghành chăn nuôi và 1.8% đối với nghành đánh bắt thủysản đạt được từ năm 1984 đến 1999 Tổng sản lượng nghành nuôi trồng thủy sản thế

Vật nuôi bằng thức ăn công nghiệp

Vật nuôi bằng thức ăn tự nhiên

Mật độ nuôi

Quảng canh

Bán thâm canh

Thâm canh

Trang 14

giới 1996 đạt 34,1 triệu tấn và đạt doanh thu 46,5 tỉ USD Hơn thế nữa sản lượng nuôitrồng và đánh bắt thủy sản của thế giới tăng gấp đôi từ 11,4 % lên 26,3 % tổng sảnlượng năm 1996 (FAO, 1996)

Ngày nay, nghành nuôi trồng thủy sản cung cấp 33 % tổng nhu cầu thực phẩmtrên thế giới, để theo kịp với nhu cầu tiêu thụ hải sản bình quân hiện nay là 16kg/người trong 1 năm, thì đòi hỏi nghành thủy sản trên thế giới phải mở rộng sản xuấtnuôi trồng 50 triệu tấn vào năm 2050 (Tacon, 1990a) Tuy nhiên, sự gia tăng nhanhchóng của nghành nuôi trồng thủy sản thế giới đang đặt ra áp lực cho nghành sản xuấtthức ăn thủy sản cả về mặt chất lượng lẫn số lượng

Theo Tacon (1998) thì xu hướng chung của ngành công nghiệp thức ăn cho cáGiò hiện nay là: Thay thế nguồn nguyên liệu truyền thống (bột cá, dầu cá) bằng nguồnnguyên liệu rẻ tiền (bột đậu nành, bột gia súc, gia cầm) Tuy nhiên, khẩu phần thức ănhằng ngày này không có bột cá và dầu cá Vì vậy, chúng nên được cân bằng các acidamin thiết yếu và các acid béo (Watababe và ctv, 1983) nhằm giảm chi phí thức ăn,đem lại lợi nhuận cao cho người nuôi trồng thủy sản

Giảm ô nhiễm môi trường: Quản lý chế độ cho ăn hợp lý, sử dụng thức ăn chấtlượng cao, dễ tiêu hóa và ổn định có thể làm giảm lượng chất thải rắn, nitơ(Cho và Bureau, 2001) và phosphorus (Watababe và ctv, 1983)

Thiết lập sự cân bằng: Thức ăn phải phù hợp với loài, hệ thống nuôi trồng Ví dụ,

hệ thống nuôi trồng quảng canh và bán thâm canh với mật độ thấp, thức ăn tự nhiên lànguồn cung cấp chủ yếu Ngoài ra, mỗi loài nuôi cần xác định được nhu cầu các chấtdinh dưỡng cần thiết để tránh lãng phí và gây ô nhiễm hệ thống ao nuôi

2.4 Xây dựng công thức thức ăn

Mục tiêu chính của việc xây dựng một công thức thức ăn là đáp ứng đựơc nhucầu dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển, tăng trưởng và sức khỏe của động vật thủysinh mà vẫn đảm bảo được chi phí mà chúng ta có thể chấp nhận được Việc thiết lậpnên một công thức phải phù hợp với khẩu vị của vật nuôi và không chứa chất khángdinh dưỡng vượt quá mức cho phép Một công thức thức ăn phải tương đối ổn địnhtrong nước và đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường nước, điều này có ý nghĩa vôcùng to lớn đối với hệ thống nuôi trồng thủy sản (National Research Council, 1993).Trong một công thức thức ăn, các thành phần dinh dưỡng phải được sử dụng phùhợp với nhu cầu sinh lý và đảm bảo mức tăng trưởng tối đa (Moran, 1988) Thức ăn

Trang 15

công nghiệp thường bao gồm các thành phần sau: protein, lipid, năng lượng, vitamin,chất khoáng, và các thành phần khác (Houser và Akiyama, 1992).

2.5 Giới thiệu về lipid trong thức ăn thủy sản

Lipid là một hợp chất hữu cơ, có chức năng và thành phần hóa học khác nhau,được ly trích từ động và thực vật nhờ các dung môi hữu cơ như: ether hay acetone.Người ta phân biệt lipid với các chất khác dựa vào đặc tính hòa tan Lipid bao gồmnhiều nhóm hóa học và chưa có sự thống nhất trong việc phân loại các lipid TheoMacDonald và ctv (1988), lipid được xếp thành hai nhóm khác nhau, dựa vào đặc tínhchứa và không chứa glycerol Trong nhóm lipid chứa glycerol, lipid được xếp thànhnhóm đơn giản và nhóm phức tạp Lipid đơn giản là ester của các acid béo vớiglycerol, trong khi lipid phức tạp bao gồm nhiều nhóm khác như: phospholipid,glycolipid…

2.5.1 Acid béo

Acid béo là thành phần chính trong lipid, chứa cacboxyl và đầu methyl Mỗiacid béo được đặc trưng bởi chiều dài chuỗi cacbon, số nối đôi và vị trí nối đôi trênchuỗi cacbon Các acid béo tự nhiên thường hiện diện dưới dạng ester trong các lipid

2.5.2 Các tính chất của acid béo

Những chuỗi acid béo ngắn có điểm nóng chảy cao hơn, nên ảnh hưởng đếntính bền vững của lipid Trong khi những acid béo dài có điểm nóng chảy thấp hơn,tạo nên dầu mỡ đặc ở nhiệt độ thông thường Những acid béo bão hòa có chuỗi cacbonnối nhau chỉ bằng nối đơn Acid béo không no có một hay nhiều nối đôi trên chuỗicacbon Nối đôi có tác dụng hạ thấp điểm nóng chảy của acid béo Do đó, những acidbéo không no ở thể lỏng tại nhiệt độ bình thường Số nối đôi được xác định bằng chỉ

số iod Càng không bão hòa chỉ số iod càng tăng

Các acid béo thường được gọi tên bằng nhiều cách khác nhau : tên hóa học, tênthông thường và tên gọi omega hay tên thu gọn Ví dụ dodecanoic acid là tên hóa học,tên thong thường là lauric acid và tên gọi omega là 12:0

2.5.3 Sinh tổng hợp acid béo của động vật thủy sản

Động vật thủy sản có khả năng sinh tổng hợp palmitic acid từ nguồn acetate(nguồn acetate chủ yếu từ glucose) Tiếp theo đó, chúng có thể tổng hợp các acid béokhác bằng cách kéo dài hay thu ngắn chuỗi cacbon., để tạo ra các acid béo no như :myristic hay stearic acid Ngoài ra, chúng cũng có khả năng gắn them các nối đôi vào

Trang 16

các palmitic acid, stearic và myristic acid ở các vị trí n-5, n-7 và n-9, để tạo nên cácacid béo monoenoic acid (có một nối đôi) Người ta ghi nhận những loài thủy sản có

hệ thống enzyme delta-9-desaturase giúp chúng có thể sinh tổng hợp các acid béo họn-5, n-7 và n-9 từ glucose hay từ các thành phần khác của thức ăn, thông qua biếndưỡng trung gian Sinh tổng hợp các acid béo được trình bày theo sơ đồ sau :

Hinh 2.3 : Sơ đồ sinh tổng hợp các acid béo trên cá và động vật thủy sản (Castell, 1979)

Như vậy, acid béo họ n5, n7, n9 có thể được các loài thủy sản sinh tổng hợp từtiền chất có trong thức ăn hay từ các sản phẩm trung gian trong quá trình biến dưỡng.Ngược lại, một số acid béo không bão hòa, không thể sinh tổng hợp, nếu như tiền chất

không có trong thức ăn Ở cá Hồi (Oncorhynchus tshawytscha), nếu tiền chất không có

trong thức ăn, màu sắc cá sẽ thay đổi và cá chậm lớn Các thử nghiệm chứng tỏlinoleic acid (18:2n-6) và linolenic acid (18:3n-3) rất quan trọng đối với cá và là tiềnchất cho sự tổng hợp các acid béo khác, thuộc họ n3 và n6 Đó là acid béo thiết yếuphải được cung cấp từ thức ăn

Hình 2.3 cho thấy : từ hai tiền chất 18:2n-6 và 18:3n-3, động vật thủy sản có thểsinh tổng hợp một loạt các acid béo họ n3 và n6 bằng cách : kéo dài thêm hai đơn vịcacbon hay tăng số nối đôi lên nhịp CH=CH-CH2-CH=CH về phía đầu methyl Nhưvậy, nhu cầu về hai acid béo thiết yếu linoleic acid và linolenic ở động vật thủy sản làrất cần thiết Chúng phải lấy hai loại acid béo kể trên từ thức ăn Những linoleic acid

và linolenic acid được gọi tên là PUFA (polyunsaturated fatty acid) Những acid béotrong hai họ trên có chuỗi cacbon dài trên 20 như : 20:3n-3, 22:4n-3, 20:2n-6, 22:3n-6

Trang 17

được gọi tên là HUFA (highly unsaturated fatty acid) Những HUFA và PUFA hiệndiện rất phổ biến và phong phú trong chuỗi thức ăn thủy sinh Do đó, trong dinh dưỡngthủy sản, hai họ acid béo n3 và n6 đặc biệt được chú ý, vì chúng chỉ có thể kéo dàichuỗi cacbon hay tăng nối đôi từ hai tiền chất 18:2n-6 và 18:3n-3 Nhiều thí nghiệmcho thấy : vai trò của các acid béo thiết yếu rất quan trọng trong biến dưỡng Nếu thiếucác acid béo thiết yếu sẽ dẫn đến giảm tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn thấp.Ngoài ra, acid béo thiết yếu còn ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của ấu trùng cácloài thủy sản trong ương nuôi.

Khả năng tăng nối đôi và kéo dài chuỗi cacbon không giống nhau giữa các loàithủy sản Đặc biệt là khả năng chuyển đổi C18 sang các acid béo HUFA Khả năngnày rất cao ở các loài cá nước ngọt và rất hạn chế đối với cá biển Nguyên nhân là do

cá biển thiếu enzyme chuyển đổi, hay lượng enzyme thấp so với cá nước ngọt(Guillaume và ctv, 1999)

Bảng 2.1 : Khả năng chuyển đổi sinh học của 18:3n-3 (Kanazawa và ctv, 1977)

Bảng 2.1 cho thấy cá Hồi (Oncorhynchus mykiss) có khả năng chuyển đổi

18:3n-3 sang các acid béo HUFA cao nhất, vì cá sống chủ yếu ở nước ngọt Còn các

loài cá nước lợ hay cá biển như cá Chình (Anguilla anguilla), cá Vền biển (Chrysophrys major) khả năng chuyển đổi thấp hơn, chỉ tương đương 20 % và 15 %

của cá Hồi Do cá biển có khả năng sinh tổng hợp các HUFA một cách hạn chế, việc

sử dụng các nguồn chất béo như dầu cá biển, là yêu cầu bắt buộc đối với thức ăn

2.5.4 Nhu cầu acid béo thiết yếu

Các acid béo thiết yếu rất cần thiết cho động vật thủy sản Đây là những acid cơ thểsinh vật không tổng hợp được và phải lầy từ thức ăn Vai trò của các acid béo thiết yếu gồm:

 Thành phần cấu tạo chính của phospholipid cấu tạo nên màng tế bào và chấtchuyển vận lipoprotein, giúp sự hấp thụ lipid Sự thiếu hụt acid béo thiết yếu trong

Trang 18

khẩu phần thức ăn không những gây ảnh hưởng tức thời đến sự sản sinh các mô

mà còn ảnh hưởng đến việc tái cấu trúc của cơ thể Vì vậy, nó sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến triglyceride và sau đó đến cấu trúc các phospholipid

 Acid béo thiết yếu có vai trò như chất nền cho việc sinh tổng hợp các hormonenhư prostaglandin và các hợp chất như: leukotrien và tromboxane Các hợp chấttác động lên hệ thần kinh, mạch máu, tiêu hóa và cơ quan sinh sản Quan trọngnhất là ảnh hưởng đến quá trình sinh sản (kích thích rụng trứng) và điều hòa ápsuất thẩm thấu ở mang

Việc xác định nhu cầu acid béo thiết yếu rất khó và thường đạt mức chính xáckhông cao Trước hết, tiêu chuẩn tăng trưởng không nhạy với sự thay đổi các thànhphần acid trong thức ăn Kế đến, có sự hỗ tương giữa các acid béo Nếu xác định nhucầu một loại acid béo riêng lẻ sẽ cho kết quả khác với nhu cầu của acid béo đó khicùng hiện diện với các acid béo khác Ngoài ra, do khả năng chuyển đổi giữa các acidbéo trong cơ thể, việc xác định nhu cầu acid béo thiết yếu là tương đối Bảng 2.2 trìnhbày nhu cầu acid béo thiết yếu của một số loài cá Nhu cầu trong khoảng 0,5-1,0 %lượng thức ăn

Bảng 2.2 : Nhu cầu acid béo thiết yếu của một số loài cá (tổng hợp theo

Glencross và Smith, 2001; Guillaume, 1999)

Cá Chình (A anguilla) 18:2n-6 và 18:3n-3 1,0 và 1,0

Cá da trơn (I punctatuc) 18:2n-6 hay

PUFA n3

1,0 – 2,00,5 – 0,7

Cá Vền (Chysophrys major) 20:5n-3 hay 22:6n-3 0,5

Qua bảng 2.2 ta thấy rằng động vật thủy sản cần cả hai loại acid béo không nolinoleic và linolenic ở các mức độ khác nhau Cá biển cần nhu cầu linolenic acid caohơn cá nước ngọt, và cá ở xứ lạnh có nhu cầu cao linolenic acid Những acid béo chưabão hòa của họ linolenic acid, đặc biệt 22:6n-3 là tối cần thiết, có tác dụng ngăn cảnnhững triệu chứng tạo ra do thiếu acid béo thiết yếu, giúp cá tăng trọng nhanh, sử dụngthức ăn hiệu quả hơn và đảm bảo chức năng sinh sản tốt

Trang 19

Để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu khi thiết lập công thức thức ăn, nhà sảnxuất phải biết nhu cầu acid béo họ n3 hay n6 và khả năng sinh tổng hợp của acid béonày Cá biển và tôm có nhu cầu cao n3 HUFA, đặc biệt là EPA và DHA Dầu cá biển

và dầu nhuyễn thể có tỷ lệ cao 2 acid béo này, lần lượt là 10 % và 12 % EPA và DHA.Bột cá thường chứa 8-10 % chất béo, cũng là một nguồn cung cấp quan trọng EPA vàDHA Dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu bắp chứa tỷ lệ cao n6 PUFA và n6 HUFA

mà các loài cá nước ngọt nhiệt đới có nhu cầu thiết yếu Việc phối hợp dầu cá và dầuđậu nành trong thức ăn để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu là yêu cầu mà người thiếtlập công thức thức ăn phải đáp ứng

Theo Owen (1975), một phần nhỏ của acid eicosapentaenoic (EPA) trong cơ thể

cá được tổng hợp từ acid linolenic (LNA), còn acid arachidonic (AA) là một chuyểnhóa chất của acid linoleic (LOA) Vì vậy, việc cung cấp LOA và LNA vào khẩu phầnthức ăn là cần thiết để góp phần vào sự tăng trưởng và sức khỏe của tôm cá

Tuy nhiên, trong quá trình biến dưỡng, cả LOA và LNA đều sử dụng chungmột số enzyme, vitamin (B3, B6, C, E) và các chất khoáng (Mg, Zn) Nếu LOA quánhiều, nó sẽ chiếm lấy hết các enzyme và vitamin khiến LNA không thể hoạt độngmột cách hoàn hảo được Trong trường hợp chỉ sử dụng LNA có thể dẫn đến sự thiếuhụt acid arachidonic (20:4n-6, AA) hoặc acid docosapentaenoic (22:5n-6, DPA) Vìthế, việc kết hợp hai acid béo này trong khẩu phần sẽ cho hiệu quả tích cực hơn so vớiviệc sử dụng riêng lẻ (Crawford, 2009) Tỷ lệ kết hợp giữa LNA và LOA cũng là vấn

đề rất quan trọng Theo khuyến cáo của WHO/FAO (1978) thì tỷ lệ n6/n3 không đượcvượt quá 5 : 1 Tất nhiên tùy theo mỗi loài cá mà tỷ lệ n6/n3 sẽ thay đổi, một tỷ lệ kếthợp tối ưu sẽ cho hiệu quả tối ưu

2.6 Các nghiên cứu về nhu cầu lipid và acid béo thiết yếu

Một nghiên cứu của Craig và ctv (2006) đánh giá tăng trọng của cá Giò khi cho

ăn với thức ăn gồm hai mức protein (40 và 50%) và ba mức lipid (6, 12 và 18%) cungcấp 344, 360 và 396 kcal/100g thức ăn Kết quả thí nghiệm cho thấy thức ăn có 50 %protein thô và 12 % lipid cho tăng trưởng cao nhất, mặc dù ảnh hưởng của yếu tốprotein đơn lẻ thì không có ý nghĩa

Ji-Teng Wang và ctv (2005) đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả sử dụng của lipidcho sự phát triển của cá Giò giống (7,7 gram/con) Khẩu phần ăn được phối trộn với bamức lipid (5 %, 15 % và 25 %) và một mức protein thô 47 % Sau sáu tuần tiến hành

Trang 20

thí nghiệm ghi nhận ở hai mức lipid 5 % và 15 % cá phát triển tốt hơn 25 % lipid.Khẩu phần thức ăn chứa 15 % lipid thì cá tăng tưởng cao nhất (tương ứng với mứcprotein 47 %).

Turner và Rooker (2005) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của acid béo đếncác mô cơ của ấu trùng cá Giò và cá Giò giống Các dữ liệu thí nghiệm sau khi so sánhvới các nghiên cứu khác cho thấy PUFA trong khẩu phần được chuyển hóa một cáchhiệu quả nhanh chóng với ấu trùng cá Giò và cá Giò giống Tuy nhiên, nghiên cứu nàychỉ giới hạn với cá Giò giống và không thí nghiệm trên cá trưởng thành, vì thế mối liênquan giữa tỷ lệ của hợp phần PUFA trong khẩu phần và tỷ lệ tăng trưởng cần phảiđược xác định trước đó Tỷ lệ tăng trưởng của ấu trùng cá Giò trong thí nghiệm vàokhoảng 1,23 mm/ ngày từ ngày thứ 49 đến 64, trong khi tỷ lệ tăng trưởng của cá Giòtrưởng thành (2-3 năm tuổi) được dự đoán vào khoảng 0,35-0,50 mm/ngày

Xiao-ying Tan và cộng sự (2009) nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ lệ acidlinoleic/acid linolenic đến tăng trưởng và cơ chế biến dưỡng ở cá da trơn Trung Quốc

(Pelteobagrus fulvidraco) Kết quả tăng trọng tốt nhất với cá được cho ăn các khẩu

phần chứa tỷ lệ LNA/LOA là 1,17 và 2,12 (P<0,05), đồng thời tỷ lệ chuyển đổi thức

ăn cũng thấp nhất ở hai khẩu phần này Kết quả còn cho thấy tỷ lệ LNA/LOA có tácđộng đến một vài enzyme liên quan đến cơ chế biến dưỡng ở gan như : lipoproteinlipase, hepatic lipase, lactate dehydrogenase, do đó tỷ lệ LNA/LOA cũng có ảnhhưởng đến cơ chế biến dưỡng trong gan

Justi và ctv (2003) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của acid béo thiết yếu đến tăng

trưởng của cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) với thí nghiệm kéo dài 30 ngày Cá

được cho ăn năm khẩu phần thức ăn có chứa năm loại acid béo là : palmitic (C16:0),stearic (C18:0), oleic (C18:1n-9), linoleic (C18-2n-6) và α-linolenic (C18:3n-3) Sauthí nghiệm nhận thấy cá tăng trọng tốt nhất ở nghiệm thức thứ 5 cùng với sự vượt trộicủa acid α-linolenic, từ đó tác giả đã chỉ ra lợi ích của việc dùng dầu lanh (flaxseed oil)trong thức ăn viên vì có tác dụng hiệu quả đến cấu hình acid béo

Williams và Barlows (1999) đã nghiên cứu về tỷ lệ acid béo LNA/LOA đối với

cá Chẽm và ảnh hưởng của nhiệt độ nước đến nhu cầu acid béo Kết quả nghiên cứucho thấy rằng tỷ lệ LNA/LOA tối ưu với cá Chẽm là 1,5-1,8 : 1, đồng thời nhu cầuacid béo có xu hướng tăng khi nhiệt độ cao hơn

Trang 21

Nhìn chung, đối với những nghiên cứu kể trên, một số đã thử nghiệm và tìm ra tỷ

lệ acid béo LOA/LNA nhưng trên những đối tượng nuôi khác chứ không phải trên cáGiò Với các nghiên cứu trên đối tượng cá Giò đề cập đến vấn đề nhu cầu hay ảnhhưởng của acid béo đều nhận thấy tầm quan trọng của các acid béo nói chung, n6/n3PUFA nói riêng đối với sự tăng trưởng và chất lượng thịt của cá Thế nhưng cácnghiên cứu này giới hạn ở chỗ chỉ nhận thấy được nhu cầu cần phải bổ sung acid béotrong khẩu phần thức ăn cho cá Giò chứ không xác định tỷ lệ thích hợp là bao nhiêu.Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện việc xác định tỷ lệ tối ưu của acid linoleic(LOA) và acid linolenic (LNA) với cá Giò ở giai đoạn thương phẩm Vấn đề này đượcthảo luận trong mối liên quan đến dinh dưỡng và cơ chế biến dưỡng của cá Giò

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 26 tháng 10 năm 2009 đến 17 tháng 12 năm

2009 ở Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Bạc Liêu - Phân Viện nghiên cứu thủy sản MinhHải - Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2

Trang 22

Địa chỉ: 18/7 Cao Văn Lầu, Phường Nhà Mát, Tx Bạc Liêu.

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cá Giò được nuôi trong giai đến khi đạt kích cỡ trung bình mỗi con trên 200gthì tiến hành tuyển chọn bắt lên dùng cho thí nghiệm Cá được chọn là những con cókích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không dị tật, màu sắc đẹp

216 cá được nuôi trong 36 bể thí nghiệm (6 con cá mỗi bể x 3 lần lặp cho mỗinghiệm thức x 12 nghiệm thức)

3.3 Vật liệu thí nghiệm

3.3.1 Trang thiết bị dùng trong thí nghiệm

 36 bể composite 1500m3.

 Máy bơm nước (EABRA - Italy)

 Ống nhựa PVC, van khóa nước các loại (Bình Minh - Tp HCM)

 Máy sục khí (HAILEA - Trung Quốc)

 Đá bọt và ống khí (Omega - Đài loan)

 Máy ép đùn (máy xay thịt)

 Tủ sấy

 36 vợt có mắt lưới 70 micro

 Máy đo Oxy, nhiệt độ (Hanna - Romania)

 Máy đo pH (Hanna - Romania)

 Cân đồng hồ (Cty Nhơn Hòa - Tp.HCM)

3.3.2 Nguyên liệu làm thức ăn

Bột cá Cà Mau, bột huyết, bột bắp, bột tôm, bột đậu nành trích ly Ấn Độ, chấtkết dính (wheat gluten), vitamin, enzyme, chất chống mốc (fungistop), DL- Methionin,Lysine, mỡ bò, mỡ heo, dầu hạt hướng dương và dầu lanh

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chuẩn bị cá giò thịt thí nghiệm

Cá Giò có trọng lượng lớn hơn 200 g được đem đi nuôi thí nghiệm, tổng số 216con, chọn ra các con có kích cỡ đồng đều cho vào các bể Tổng cộng có 36 bể thínghiệm, mỗi bể chứa 6 con cá giò thịt Cá được tắm bằng cách dùng formol 150-200ppm trong 30 phút trước khi cho cá vào mỗi bể Cuối thí nghiệm, cá ở mỗi bể đượccân và đếm số lượng

Trang 23

3.4.2 Hệ thống thí nghiệm

Hệ thống thí nghiệm được đặt ngoài trời gồm 36 bể composite có dung tích

1500 lít/bể Các bể được bố trí thành 3 dãy, mỗi dãy có 12 bể composite và được gắnbảng chứa số thứ tự của công thức thức ăn lên trên từng bể Nước biển được bơm liêntục để cấp vào hệ thống bể composite thí nghiệm từ hệ thống ao lắng ở Trại ThựcNghiệm Thủy Sản Bạc Liêu, với lưu tốc nước là 0,2 m3/giờ Nước biển ở ao lắng trướckhi cấp được tẩy trùng bằng hóa chất TCCA 90% với liều 1ppm và để sau 5 ngày thìbắt đầu cấp

Hệ thống thí nghiệm được cấp và thoát nước liên tục (mỗi bể composite có vancấp và van thoát nước) để tạo môi trường trong sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho sựtăng trưởng và phát triển bình thường của cá

3.4.3 Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 2 nhân tố :

Nhân tố 1 là 3 mức acid linoleic khác nhau : 0,8 %, 1,5 % và 2,2 %

Nhân tố 2 là 4 mức acid linolenic khác nhau : 0,6 %, 1,1 %, 1,6 % và 2,1 %

Thí nghiệm sẽ có 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp có 6 con cá Các nghiệm thức được

bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên – RCB (Randomized Complete BlockDesign)

Mô tả công thức thí nghiệm :

Trang 24

3.4.4 Chuẩn bị thức ăn cho cá

Phân tích thành phần sinh hóa của các nguyên liệu làm thức ăn về: độ ẩm,protein, lipid, tro, can xi, phốt pho, chất xơ (tại Trung Tâm Công Nghệ Sau ThuHoạch, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 2, Quận 1, Tp HCM), acid béo thiếtyếu (tại Trung Tâm Dịch Vụ Phân Tích Thí Nghiệm, Quận 1, Tp HCM)

Thức ăn được phối trộn từ các thành phần chính gồm: bột cá Cà Mau, bộthuyết, bột bắp, bột tôm, bột đậu nành trích ly Ấn Độ, chất kết dính (wheat gluten),vitamin, enzyme, chất chống mốc (fungistop), DL- Methionin, Lysine

Bốn nguyên liệu giàu lipid gồm mỡ bò, mỡ heo, dầu hướng dương và dầu lanhđược dùng để thiết lập các tỷ lệ khác nhau của acid linoleic và acid linolenic

12 công thức thức ăn sẽ được dùng để thí nghiệm bao gồm 3 mức acid linoleic(0,8; 1,5 và 2,2 %) cùng với 4 mức acid linolenic (0,6; 1,1; 1,6 và 2,1 %)

Tất cả các công thức sẽ có cùng hàm lượng về protein (54 %), chất béo (11 %),chất tro (14 %) và năng lượng (19 MJ/kg)

Dựa vào kết quả phân tích các thành phần sinh hóa của nguyên liệu làm thức

ăn, thức ăn thí nghiệm được phối trộn các tỷ lệ LOA/LNA bằng phần mềm phối trộnBrill Feed Formulation để cho ra các mức acid linoleic và acid linolenic như trongthiết kế thí nghiệm

Các nguyên liệu sau khi được phối trộn các thành phần lại với nhau, thêm nướcvào với tỷ lệ thích hợp giúp tăng khả năng kết dính của viên thức ăn Thức ăn được épviên bằng máy ép đùn (máy xay thịt) với đường kính viên thức ăn là 4 mm Sau khithức ăn ẩm được ép đùn ra sẽ được sấy khô ở nhiệt độ 50-600C trong thời gian 24 giờ

và để nguội rồi cho vào bao nilon để bảo quản

Trong suốt thời gian thí nghiệm, thức ăn được cho vào các hộp nhựa tương ứngvới các nghiệm thức Thức ăn mỗi lần cho vào hộp đều được ghi nhận lại trọng lượng

Trang 25

Thức ăn sau khi sấy và để nguội lấy mẫu 100 gram đem đi phân tích về độ ẩm, thànhphần sinh hóa (tại Trung Tâm Công Nghệ Sau Thu Hoạch, Viện Nghiên Cứu NuôiTrồng Thủy Sản 2, Quận 1, Tp HCM)

Hình 3.1 Thức ăn được ép viên bằng máy ép đùn Hình 3.2 : Tủ sấy thức ăn

3.4.5 Cho ăn và thu thức ăn dư

Cá được cho ăn hai lần trong ngày (lúc 7.00h và lúc 16.00h) đến mức chúngkhông ăn nữa thì dừng lại Thức ăn thừa trong bể được thu lại bằng cách siphon saukhi cho cá ăn khoảng 30 phút và được gom theo từng bể cho vào hộp bảo quản trong

tủ đông ở nhiệt độ - 20oC Khi hoàn tất thí nghiệm, thức ăn thừa sẽ được sấy khô trong

tủ sấy ở nhiệt độ 105oC trong thời gian 16-24 giờ để xác định độ ẩm Khối lượng củathức ăn thừa được dùng để tính toán lượng thức ăn mà cá ăn vào thật sự

3.4.6 Thu thập số liệu

Hằng ngày theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu chất lượng nước như: hàm lượngoxy hòa tan (DO), độ mặn (S ‰), nhiệt độ, pH

Cá được cân theo định kỳ 30 ngày/lần để xác định tốc độ tăng trưởng

Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm = 100 x (số lượng cá còn lại/số lượng cá ban đầu)Các chỉ tiêu tăng trọng trung bình (AWG), tốc độ tăng trưởng riêng (SGR), hiệuquả chuyển hóa thức ăn (FCR) được tính toán theo Tacon (1990 a)

 Tăng trọng trung bình (Average Weight Gain - AWG)

Trọng lượng cuối cùng (Wf) – Trọng lượng ban đầu (Wi)

AWG (%) = 100 *

Trọng lượng ban đầu (Wi)

 Tốc độ tăng trưởng (Specific Growth Rate - SGR)

Trang 26

SGR (%/ ngày) = 100 *( LnWf - LnWi)/ (T2 – T1)

Với T1 là thời gian bắt đầu thí nghiệm (T1 = 0)

T2 là thời gian kết thúc thí nghiệm

 Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio - FCR)

FCR = Lượng thức ăn sử dụng/ Tăng trọng cá thí nghiệm

Lượng thức ăn sử dụng (g) = khối lượng thức ăn cho cá ăn – khối lượng thức ăn dưXác định độ ẩm và trọng lượng thức ăn sử dụng trước và sau thí nghiệm, độ ẩm

và trọng lượng thức ăn thừa thu được qua quá trình siphon để tính FCR

Những con cá chết trong lúc tiến hành thí nghiệm do không ăn, bệnh tật được vớt

ra và cân trọng lượng ngay lúc đó, trọng lượng được cộng vào lần cân cá cuối cùng đểtính hệ số thức ăn

3.4.7 Phân tích thống kê

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 2 nhân tố Các sốliệu phần trăm được chuyển đổi Arsin trước khi phân tích ANOVA ở mức ý nghĩa nhỏhơn hoặc bằng 0.5 So sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức bằng LSD test Toàn

bộ các chỉ số thống kê được thực hiện trên phần mềm STATISTICA 9.0 của công tyStatsoft, USA

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Chất lượng nước thí nghiệm

Sự biến thiên về nhiệt độ nước và độ mặn được thể hiện trong đồ thị 4.1 Nhiệt

độ nước trong suốt quá trình thí nghiệm dao động từ 27,26-28,54 oC và độ mặn daođộng từ 20-25 ppt Khoảng biến thiên này phù hợp cho sự phát triển của cá giò thịt(Kaiser và ctv, 2005)

Ngày đăng: 28/09/2019, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w