Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tương tác tại Việt Nam 23 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS MẠC VĂN TRANG
Hà Nội, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các dữ liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa đượccông bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP 8
1.1 Các công trình nghiên cứu tương tác ở nước ngoài 8
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tương tác tại Việt Nam 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 30
2.1 Lý luận về tương tác 30
2.2 Hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên 34
2.3 Tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ
3.2 Phương pháp nghiên cứu 69
3.4 Tiêu chí đánh giá và thang đo 75
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU
Bảng 3.1: Khách thể nghiên cứu là sinh viên 61
Bảng 3.2: Khách thể là giảng viên = 100 61
Bảng 3.3 Đặc điểm khách thể khảo sát thử sinh viên =171 65
Bảng 3.4 Độ tin cậy của thang đo tương tác của sinh viên 66
Bảng 3.5: Thang đánh giá thực trạng tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh 80
Bảng 4.1: Thực trạng chung của tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh. .84
Bảng 4.2: Biểu hiện tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động lập kế hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 88
Bảng 4.3: So sánh biểu hiện tương tác trực tiếp giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động lập kế hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 90
Bảng 4.4: So sánh biểu hiện tương tác gián tiếp qua điện thoại, email, facebook giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động lập kế hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 91
Bảng 4.5: Biểu hiện tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện tích lũy đủ tín chỉ và các học phần đã lựa chọn 94
Bảng 4.6: So sánh biểu hiện tương tác trực tiếp giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện tích lũy đủ tín chỉ và các học phần đã lựa chọn 96
Trang 8Bảng 4.7: So sánh biểu hiện tương tác gián tiếp qua điện thoại, email,
facebook giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện tích lũy đủ tín chỉ
và các học phần đã lựa chọn 97 Bảng 4.8: Biểu hiện tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập
theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về kiểm tra và đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn 99 Bảng 4.9: So sánh tương tác trực tiếp giữa sinh viên với sinh viên trong
học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động kiểm tra và đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn theo các biến 101 Bảng 4.10: So sánh tương tác gián tiếp qua điện thoại, email, facebook
giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh về hoạt động kiểm tra và đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn theo các biến.
102
Bảng 4.11: Thực trạng sự thay đổi nhận thức, thái độ, kỹ năng của sinh
viên về các hoạt động tích lũy đủ tín chỉ 105 Bảng 4.12: Biểu hiện của sự thay đổi nhận thức của sinh viên trong hoạt
động lập kế hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 106 Bảng 4.13: Biểu hiện của sự thay đổi nhận thức của sinh viên trong hoạt
động thực hiện tích lũy đủ tín chỉ và các học phần đã lựa chọn.
109
Bảng 4.14: Biểu hiện của sự thay đổi nhận thức của sinh viên trong hoạt
động kiểm tra và đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần
đã lựa chọn 111
Trang 9Bảng 4.15: Thực trạng thay đổi thái độ của sinh viên về hoạt động lập kế
hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 113 Bảng 4.16: Thực trạng thay đổi thái độ trong hoạt động thực hiện tích lũy
đủ tín chỉ và các học phần đã lựa chọn 115 Bảng 4.17: Thực trạng thái độ của sinh viên về kiểm tra và đánh giá kết
quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn 117 Bảng 4.18: Thực trạng thay đổi kỹ năng của sinh viên trong hoạt động lập
kế hoạch tích lũy đủ tín chỉ và các học phần quy định 119 Bảng 4.19: Thực trạng đổi kỹ năng của sinh viên về hoạt động kiểm tra và
đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn 121 Bảng 4.20: Thực trạng sự thay đổi kỹ năng của sinh viên trong hoạt động kiểm
tra và đánh giá kết quả tích lũy tín chỉ và học phần đã lựa chọn 123 Bảng 4.21: Sự ảnh hưởng của nhu cầu tương tác với bạn trong học tập
của sinh viên đến tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh 125 Bảng 4.22: Sự ảnh hưởng của hoạt động của cố vấn học tập đến tương tác
giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh 127 Bảng 4.23: Sự ảnh hưởng của hoạt động của môi trường học tập đến tương
tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh 129 Bảng 4.24: Tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tương
tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh 130
Bảng 4.25: Dự báo mức độ tác động đến quá trình tương tác giữa sinh viên
với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố
Hồ Chí Minh 131
Trang 11mà còn có cả kiến thức thực tiễn từ kinh nghiệm của thầy cô, bạn bè, người họckhông thể không đọc nhiều sách; người học không thể không nghe giảng, khôngtrao đổi bài vở với thầy cô và người học càng không thể không chia sẻ, khôngtrao đổi, không học hỏi từ những kinh nghiệm của bạn bè Nói cách khác, đểhoạt động học tập có kết quả cao là người học phải tương tác với kiến thức, thầy
cô và bạn học
Các nhà khoa học nước ngoài đã dành rất nhiều thời gian và công sức đểnghiên cứu vấn đề trên Từ những thập niên 80 của thế kỷ trước, N M Webb(1982, 1989) đã quan tâm và nghiên cứu về tương tác giữa người học với ngườihọc trong học tập [118] [117], M G Moore (1989, 1993) nghiên cứu và đưa racác loại tương tác trong học tập [103] [102], Felder & Brent (1994, 2007) nghiêncứu về học tập hợp tác trong nhóm và nhóm nhỏ [88] [89]…
Bên cạnh đó, vấn đề tương tác trong dạy học (còn gọi là sư phạm tươngtác) được hình thành và trở nên phổ biến Các nhà tâm lý học, giáo dục học tìmhiểu và xác định cụ thể về vai trò, cách thức tương tác giữa giảng viên và sinhviên, giữa sinh viên và sinh viên cũng như những yêu cầu của việc xây dựng môitrường thuận lợi cho sự tương tác trong dạy học [115] [12] [113]
Không chỉ ở nước ngoài, trong nước cũng đã có một số công trình nghiêncứu về tương tác nhưng đa phần thuộc lĩnh vực dạy học và giáo dục Chẳng hạn
Trang 12như, những công trình nghiên cứu về “dạy học tương tác” “sư phạm tương tác”của các tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2005), Tạ QuangTuấn (2010), PhạmQuang Tiệp (2013) Nghiên cứu về tương tác giữa sinh viên với sinh viên ở ViệtNam khá hạn chế nhất là dưới góc độ tâm lý học.
Trong các công trình của các tác giả kể trên, tương tác chỉ được nghiêncứu dưới góc độ là phương tiện, là điều kiện để dạy học và giáo dục hiệu quả.Tương tác chưa phải là đối tượng chính trong các công trình nghiên cứu này Vìvậy, cần có nhiều hơn nữa các công trình nghiên cứu về tương tác giữa sinh viênvới sinh viên trong học tập dưới góc độ Tâm lý học, để hệ thống hóa về lý luận
và đi sâu vào bản chất tâm lý của tương tác, đặc biệt là tương tác với bạn tronghọc tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
1.2.Về thực tiễn
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, đặc biệt là hoạt động cùngnhau Dân gian khẳng định điều này qua câu ca dao: “Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Hoạt động học tập cũng không ngoại lệ
Theo kinh nghiệm của người xưa, hoạt động cùng nhau giữa những ngườibạn đồng học có ý nghĩa rất quan trọng và đôi khi còn có giá trị hơn so với hoạtđộng giữa thầy và trò Chính vì vậy, người xưa đã đúc kết: “Học thầy không tàyhọc bạn” “Học bạn” trở thành yếu tố, điều kiện không thể thiếu của người đihọc, đặc biệt là sinh viên
Hoạt động học tập của sinh viên là một hoạt động nhận thức độc đáo.Hoạt động này “diễn ra với nhịp độ căng thẳng, đòi hỏi sự nỗ lực trí tuệ cao, hoạtđộng mang tính tích cực, độc lập, sáng tạo” [25] và hoạt động này luôn cần có sự
Trang 13của giáo viên trên lớp, sinh viên phải có ít nhất có hai tiết tự chuẩn bị bài, tự học
mà không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Điều này đòi hỏi sinh viênkhông chỉ có kỹ năng tìm kiếm tài liệu, đọc sách, phân tích, tổng hợp thông tin trong học tập mà còn cần phải biết trao đổi, thảo luận với bạn bè cùng lớp, cùngkhóa Nói cách khác, biết cách hợp tác, tương tác với bạn bè trong học tập là điềukhông thể thiếu để sinh viên đạt kết quả cao trong học tập theo học chế tín chỉ
Bên cạnh đó, học chế tín chỉ cho phép sinh viên tự chọn môn học, thờigian học, người giảng dạy nên hình thức “lớp học” với tính tổ chức và cố kếtchặt chẽ không còn tồn tại Thay vào đó là “nhóm học” do sinh viên đăng ký từnhiều ngành, nhiều khoa khác nhau Sinh viên học chung một học phần, họcchung một giảng viên, ngồi gần nhau trong một hội trường và chỉ ngồi gần nhau
ở môn học đó, nhóm học đó Hết tiết, sinh viên lại di chuyển đến phòng họckhác, môn học khác … theo thời khóa biểu cá nhân Sinh viên không có nhiềuthời gian để làm quen, kết bạn Tuy nhiên, do đặc thù của học chế tín chỉ, sinhviên phải học tập theo nhóm Điểm thảo luận của các môn học có trọng số từ30% đến 40% Sinh viên cũng thích ứng bằng cách thảo luận nhóm tức là tươngtác với bạn trong học tập Vấn đề đặt ra là sinh viên tương tác với nhau đến mức
độ nào? Biểu hiện có đúng bản chất tương tác trong học tập theo học chế tín chỉkhông? Điều đó ảnh hưởng như thế nào đến kết quả học tập của sinh viên nóiriêng và quá trình rèn luyện ở trường đại học của sinh viên nói chung? Có thể cónhững biện pháp nào nâng cao hiệu quả của hoạt động ấy?
Từ các lý do trên, vấn đề “Tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh” được chọn làm đề
tài nghiên cứu khoa học cho luận án tiến sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng tương tác giữa sinh viên với sinh viêntrong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một
Trang 14số biện pháp tác động nhằm cải thiện kết quả tương tác của sinh viên, góp phầnnâng cao kết quả học tập của sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ.
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ và biểu hiện tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tậptheo học chế tín chỉ
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Sinh viên: 352 người
- Giảng viên: 100 người
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về tương tác giữa sinh viên với
sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ
4.2 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về tương tác giữa sinh viên với
sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ
4.3 Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác của
sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh
4.4 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp cải thiện tương tác giữa
sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ
5 Giả thuyết khoa học
5.1 Có nhiều công trình nghiên cứu về tương tác trong học tập trên thế
giới, tuy nhiên, tiếp cận nó dưới góc độ tâm lý và trong học tập của sinh viên thìchưa nhiều Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tương tác giữa sinh viênvới sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ càng hiếm hoi hơn
5.2 Thực trạng tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo
học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là chưa cao Điều này thểhiện ở mức độ và biểu hiện tương tác chỉ ở mức trung bình
5.3 Có nhiều yếu tố chính ảnh hưởng đến tương tác giữa sinh viên vớisinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh Tuynhiên, có lẽ Nhu cầu tương tác với bạn trong học tập của sinh viên; Hoạt động
Trang 15của cố vấn học tập và Môi trường học tập của sinh viên là những yếu tố ảnhhưởng nhiều.
5.4.Nếu cố vấn học tập giúp sinh viên tăng cường các nhu cầu tương tác
với bạn trong học tập và tạo bầu không khí học tập cởi mở, thân thiện, tôn trọnglẫn nhau sẽ cải thiện được kết quả tương tác giữa sinh viên với sinh viên tronghọc tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1.Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
- Đề tài tiến hành nghiên cứu ở sinh viên hệ đại học hình thức chính quy,không nghiên cứu ở sinh viên hệ cao đẳng và các hình thức đào tạo khác như:Vừa làm, vừa học, liên thông, đào tạo từ xa
- Đề tài tiến hành nghiên cứu 756 sinh viên đang theo học nhiều ngànhkhác nhau thuộc 3 khối: Kinh tế và Sư phạm, không nghiên cứu ở các ngành,khối khác
6.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
- Đề tài chỉ nghiên cứu tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong họctập theo học chế tín chỉ dưới hình thức học tập theo nhóm không có sự hướngdẫn trực tiếp của giảng viên thông qua các tiêu chí tần số và kết quả tương tác
- Tương tác có nhiều dạng, trong luận án này chỉ nghiên cứu tương tác giữasinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ ở dạng tương tác tâm lý
6.3.Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu sinh viên của 2 trường: Trường Đại học Kinh tế thànhphố Hồ Chí Minh và trường Đại học Sài Gòn
7 Nguyên tắc tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Nguyên tắc tiếp cận
7.1.1 Tiếp cận nhân cách – hoạt động – giao tiếp
Dưới góc độ tiếp cận này, sinh viên được xem là chủ thể của sự tương tác
và sinh viên tương tác với nhau trong học tập thông qua hoạt động và giao tiếp
Trang 16Cụ thể là trong quá trình học tập cùng nhau, sinh viên tương tác với nhau bằngcách trao đổi, thảo luận, góp ý, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ cho nhau.Qua đó mối quan hệ liên nhân cách được phát triển và chất lượng tương tác giữasinh viên với sinh viên được cải thiện.
7.1.2 Tiếp cận hệ thống
Cuộc sống của sinh viên đan xen vô vàn những hoạt động và những mốiquan hệ xã hội Nghiên cứu tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập làcần phải nghiên cứu chúng trong hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ học tậpcủa sinh viên để xác định những mối quan hệ học tập, các yếu tố chủ quan vàkhách quan ảnh hưởng đến tương tác mà đề tài nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng,các biện pháp, hệ thống các câu hỏi đều được xem xét theo quan điểm hệ thống
7.1.3 Tiếp cận xã hội – lịch sử
Quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tác động của tương tác đối vớisinh viên, luôn đặt sinh viên trong bối cảnh xã hội – lịch sử cụ thể gắn liền vớiđời sống, học tập, sinh hoạt của sinh viên ở từng trường tại thành phố Hồ ChíMinh hiện nay Đặc biệt cần quan tâm đến môi trường tâm lý – xã hội ảnh hưởngđến các mối quan hệ và sự tương tác giữa các sinh viên trong quá trình học tập
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn bao gồm phỏng vấn sâu, phỏng vấn cá nhân
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
- Phương pháp xử lý thông tin
8 Đóng góp mới của đề tài
Về lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa lý luận về tương tác giữa sinhviên với sinh viên trong học tập theo học chế dưới góc độ tâm lý học; xác định rõkhái niệm tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín
Trang 17chỉ là: Tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ
là sự tác động qua lại lẫn nhau một cách trực tiếp hay gián tiếp giữa các sinhviên trong hoạt động học tập theo học chế tín chỉ dẫn tới thay đổi nhận thức, thái
độ, kỹ năng của sinh viên Từ khái niệm này, phát hiện những biểu hiện cụ thểcũng như xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến tương tác giữa sinh viên vớisinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ Kết quả này góp phần làm sáng tỏhơn lý luận về tương tác trong học tập nói chung và tương tác giữa sinh viên vớisinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ nói riêng
Về thực tiễn, luận án đã chỉ ra thực trạng tương tác giữa sinh viên với sinhviên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ ở mức độtrung bình Trong đó, biểu hiện của tương tác gián tiếp qua facebook là cao nhất
và tương tác gián tiếp qua email là thấp nhất
Luận án là một tài liệu tham khảo tốt cho những người liên quan đến vấn
đề giảng dạy, tổ chức, quản lý sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ nhưgiảng viên trực tiếp giảng dạy, cố vấn học tập, chuyên viên phòng Đào tạo, Hộisinh viên, Đoàn thanh niên
9 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm: mở đầu, 4 chương, kết luận, kiến nghị và danh mục cáccông trình công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN
TRONG HỌC TẬP 1.1 Các công trình nghiên cứu tương tác ở nước ngoài
Trên thế giới, có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về tương tác Có thểkhái quát một số hướng nghiên cứu chính như sau:
1.1.1 Hướng nghiên cứu về tương tác xã hội
Từ những năm đầu của thế kỷ 20, Elton Mayo cùng các cộng sự của mình
đã bỏ ra 5 năm (từ 1927 đến 1932) để tiến hành một nghiên cứu về tương tácgiữa công nhân với công nhân, công nhân với nhà quản lý tại Hawthorne Works(một nhà máy lắp ráp có 40.000 công nhân làm việc) Kết quả của công trìnhnghiên cứu này cho biết rằng năng suất lao động bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi yếu
tố hợp tác và giao tiếp cùng nhau Trên cơ sở đó, tác giả kêu gọi các lãnh đạonhà máy khuyến khích sự tương tác giữa các nhân viên và tìm cách thúc đẩy tìnhbạn thân thiết cũng như tạo ra một cộng đồng có tinh thần hợp tác hơn là kiểmsoát và ra lệnh [dẫn theo 42] Đó chính là giải pháp hữu hiệu nhất, an toàn nhất,
rẻ tiền nhất để tăng năng suất lao động cũng như giúp công nhân gắn bó với nhàmáy lâu dài hơn
Từ đó trở đi, tương tác được các nhà tâm lý học quan tâm và nghiên cứudưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, K Lewin đã tiếp cận tương tác từ góc
độ lý thuyết về trường vật lý và động thái nhóm Tác giả cho rằng các hành vi cánhân được hình thành không phải theo cơ chế phát triển từ các đặc tính bên trong
mà là do sự tương tác với các cá nhân khác giống như tương tác trong trường vật
lý [112] A.N Leonchiev, cho rằng sự phát triển tâm lý là kết quả của quá trình
cá nhân tương tác với các đối tượng khác nhau trong hoạt động chủ đạo ở từnggiai đoạn lứa tuổi Cụ thể ở giai đoạn hài nhi (từ 2 đến 12 tháng tuổi) trẻ tươngtác trực tiếp với người lớn – người chăm sóc gần gũi như cha mẹ; giao đoạn ấunhi (từ 12 tháng đến 36 tháng) trẻ tương tác trực tiếp với đồ vật thông qua hoạt
Trang 19động với đồ vật; giai đoạn tuổi mẫu giáo (từ 3 tuổi đến 6 tuổi) trẻ tương tác vớibạn, với các nhân vật trong hoạt động vui chơi, đặc biệt là trò chơi sắm vai cóchủ đề… [38] Cùng quan điểm với A N Leochiev, Đ B Enconhin cũng thừanhận: “Chỉ có những yếu tố nào của môi trường mà trẻ tích cực quan hệ, tích cựctác động qua lại với chúng mới tạo thành các điều kiện cụ thể có ảnh hưởng đến
sự phát triển của trẻ.” [dẫn theo 23, tr 30] Ông gọi đấy là mối quan hệ tương táctích cực của trẻ với các yếu tố trong môi trường và là điều kiện không thể thiếu
để trẻ phát triển tâm lý G Piagie đã quan niệm “Thao tác trí tuệ không có sẵntrong đầu đứa trẻ, cũng không nằm trong đối tượng khách quan, mà nằm ngaytrong mối tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, thông qua hành động”[45] Điều này có nghĩa là trẻ tự xây dựng cấu trúc trí tuệ cho mình thông quatương tác Trẻ nào tương tác tích cực hơn, tương tác với nhiều loại đối tượng hơnthì trí tuệ sẽ phát triển nhanh hơn, phong phú hơn Trong thuyết Phát sinh nhậnthức, G Piagie thừa nhận vai trò của sự tương tác xã hội là yếu tố chủ yếu và cầnthiết để phát triển trí tuệ Ở đấy, sự xã hội hóa là quá trình sơ đồ hóa, trong đó cánhân nhận được những khuôn mẫu trí tuệ xã hội tương ứng với sự tương tác củatrẻ với xã hội trong từng lứa tuổi và tác động xã hội chỉ có tác dụng khi có sựđồng hóa tích cực của trẻ em Như vậy, lý thuyết này khẳng định tương tác xãhội là quá trình điều chỉnh các chức năng tâm lý theo 2 cơ chế: Đồng hóa và điềuứng Chính cơ chế này góp phần làm rõ bản chất của tương tác xã hội: Một mặt
là tương tác từ phía chủ thể với môi trường xung quanh Mặt khác, bản thân chủthể diễn ra quá trình tương tác với chính mình (tương tác bên trong) để tiếp nhận
và phát triển trí tuệ
Dù không cùng quan điểm với các nhà tâm lý trên, S Freud – cha đẻ củatrường phái Phân tâm học cũng đã thừa nhận vai trò của tương tác xã hội trongquá trình hình thành và phát triển tâm lý Ông cho rằng “cái tôi” là kết quả của
sự tương tác giữa “cái ấy” và sự đáp ứng của môi trường theo cơ chế trì hoãn,gián tiếp Chính sự trì hoãn, không thoả mãn kịp thời “cái ấy” trong quá trình
Trang 20tương tác xã hội đã làm cho những căn bệnh tâm thần xuất hiện [20] Điều đócho thấy cá nhân tương tác được với các yếu tố trong môi trường vẫn chưa đủ, cánhân cần có kỹ năng tương tác tốt, tương tác hiệu quả trong quá trình hoạt độngmới đảm bảo tính an toàn, thuận lợi cho sự phát triển tâm lý.
Không chỉ hoạt động mang bản chất của tương tác mà giao tiếp cũng cóbản chất là tương tác Torres, F A (1995) cho rằng sự tương tác giữa con người -con người là sự giao tiếp giữa con người với nhau Tương tác như là một khả năngđặc biệt, một phương tiện cần thiết cho cuộc trò chuyện lý tưởng [126] B Ph.Lomov quan niệm rằng giao tiếp là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lạigiữa người này với người khác Trong quá trình đó, chủ thể bộc lộ “thế giới nộitâm” cùng các chủ thể khác và đồng thời cũng yêu cầu, đòi hỏi những tác động,những phản ứng giúp cho “thế giới nội tâm” tồn tại Như vậy, theo B Ph Lomov,cùng với hoạt động có đối tượng, tương tác giữa chủ thể với chủ thể trong quátrình giao tiếp là phương thức tồn tại và biểu hiện lối sống của mỗi cá nhân [40]
Nhiều nhà tâm lý học đã phát hiện ra tương tác xã hội là một trong nhữngnhu cầu cơ bản của con người Trong tháp nhu cầu của A Maslow (1943), tươngtác xã hội nằm ở bậc thứ 3 Đó chính là nhu cầu được giao tiếp, được giao lưu,được tương tác với người khác, được trở thành thành viên của một nhóm [113].Trong học thuyết Tồn tại, Quan hệ thân thiết và Phát triển (E.R.G) của Alderger(1969), nhu cầu của con người có 3 loại: Nhu cầu tồn tại là nhu cầu thiết yếu củacon người như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn; nhu cầu về các quan hệ thânthiết là nhu cầu giao tiếp với những người khác như gia đình, bạn bè, cấp trên…
và nhu cầu phát triển là nhu cầu được sáng tạo, được cống hiến, được khẳng định[8, tr 242] Trong đó, có thể hiểu nhu cầu về các quan hệ thân thiết là nhu cầuđược tương tác với các thành viên khác trong các quan hệ xã hội mà cá nhân làthành viên Có thoả mãn nó, cá nhân mới nảy sinh nhu cầu phát triển bản thân vàđiều này không chỉ thúc đẩy quá trình hoàn thiện tâm lý, ý thức, nhân cách màcòn thúc đẩy xã hội phát triển Ngược lại, khi con người không thỏa mãn nhu cầu
Trang 21tương tác, không thiết lập được sự cân bằng trong mối quan hệ cá nhân, có thểdẫn đến những khủng hoảng [84].
Một số nhà xã hội học quan tâm đến tương tác như G.H Mead, HerbertBlumer với lý thuyết Tương tác biểu trưng (Symbolic interctionism), E.Goffman với lý thuyết kịch (hay lý thuyết vai trò) [dẫn theo 28a, 28b); G.Homans với lý thuyết Trao đổi xã hội và H Garfinkel với Phương pháp luận dântộc học về tương tác xã hội [dẫn theo 7] Các lý thuyết này đã vạch rõ bản chấttương tác xã hội là quá trình hành động và hành động đáp lại giữa chủ thể vớinhau; khẳng định tương tác phải dựa trên quan hệ xã hội đồng thời tương tác bịchi phối bởi các quy luật như sự trao đổi giá trị xã hội, vai trò xã hội, tính dântộc trong tương tác và tính biểu trưng trong tương tác Điều này có nghĩa rằngtương tác xã hội không chỉ bị chi phối bởi những yếu tố cá nhân mà còn bị ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố môi trường xã hội như sự tác động qua lại lẫn nhau,phong tục tập quán, văn hóa…
Nghiên cứu về chức năng của tương tác xã hội, Paul A Kirchner và J V.Bruggen (2004) đã đưa ra mô hình 2 chức năng: Chức năng nhận thức và chứcnăng tình cảm – tâm lý xã hội [110] Mô hình này khá phù hợp với tương tác củasinh viên trong học tập theo nhóm Trong thực tế, sinh viên tương tác với nhautrong học tập không chỉ để có thêm kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ mà cònhiểu nhau về tâm tư tình cảm, nảy sinh tình cảm và gắn bó với nhau Điều đó chothấy tương tác trong học tập không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà cònảnh hưởng đến đời sống tâm lý của sinh viên
Trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản của tâm lý học xã hội”, Fischer
đã đề cập tới các vấn đề lý luận về liên kết xã hội, giao tiếp xã hội, tương tác xãhội và ảnh hưởng xã hội Trong đó, tác giả nhìn nhận tương tác xã hội thiên về
sự trao đổi xã hội có tính ngang bằng giữa các cá nhân [19]
Ngoài các tác giả trên, còn có một số tác giả khác nghiên cứu về tương táctrong lao động như: G Moreno nghiên cứu về vai trò của sự tương hợp tâm lý
Trang 22đối với tăng năng suất lao động trong ê kíp làm việc của công nhân; G.C.Homans, P Blau nghiên cứu về sự trao đổi giữa các cá nhân; S.A Asch nghiêncứu về sự thống nhất trong nhận thức và tình cảm trong các thành viên của nhómlàm việc [28a, 28b] Các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của cácnhà khoa học trên đã làm sáng tỏ vai trò và cơ chế của sự tương tác và sự tươnghợp trong tương tác của các cá nhân trong nhóm và giữa các nhóm; các quy luật
tự nhiên ảnh hưởng đến tương tác giữa các cá nhân trong nhóm; mối quan hệ tácđộng qua lại giữa các nhóm với các cá nhân
1.1.2 Hướng nghiên cứu về tương tác tâm lý
Tương tác tâm lý là một phần của tương tác xã hội trong quá trình conngười hoạt động cùng nhau Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới khẳngđịnh tương tác tâm lý là một yếu tố không thể thiếu để cá nhân phát triển tâm lýbình thường, khoẻ mạnh
Trong sách chuyên khảo Các thực nghiệm trong Tâm lý học xã hội, tác giảTrần Thị Minh Đức trình bày khá nhiều những thực nghiệm của các nhà thựcnghiệm trên thế giới (như Spitz và Wolf, Goldfarb, Anna Freud và Sophie Dann, )
về vai trò của tương tác đối với quá trình phát triển tâm lý người, đặc biệt là tươngtác của trẻ nhỏ với người chăm sóc Các thực nghiệm được tiến hành ở những thờiđiểm khác nhau, trên đối tượng khác nhau nhưng kết quả tương tự nhau Đó làmức độ tương tác, tần số tương tác, nội dung tương tác, cách thức tương tác giữatrẻ nhỏ và người chăm sóc hoặc cha mẹ sẽ quyết định sự khác biệt cá nhân, khảnăng liên kết xã hội, chỉ số IQ và động cơ thành đạt của trẻ [15]
Tác giả L X Vưgotxki – nhà tâm lý học Nga, cha đẻ của học thuyết vềcác chức năng tâm lý cấp cao ở người – đã chỉ ra tương tác xã hội là quy luật tấtyếu của sự hình thành và phát triển các chức năng tâm lý cấp cao ở trẻ em, cụ thể
là sự tương tác của trẻ em với người lớn Sự tương tác này khi hướng trẻ vàovùng phát triển gần nhất tạo ra sự tương tác phát triển – là một trong nhữngphương thức thúc đẩy sự phát triển tâm lý của trẻ em [73]
Trang 23Không thể không kể đến các công trình của J.Bowlby và cộng sự nghiêncứu về sự gắn bó giữa trẻ nhỏ và mẹ (hoặc người chăm sóc) Với các thựcnghiệm của mình, họ đã kết luận sự gắn bó mẹ con như là một “cơ sở an toàn”
để trẻ có thể an tâm khám phá thế giới và phát triển tâm lý bình thường [83]
Một số tác giả nghiên cứu về sự tương tác của trẻ với bạn ngang hàng nhưN.Eisenberg & P.Mussen (1989); D J Laible, G Carlo, and S.C Roesch (2004).Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra rằng khả năng đồngcảm và hành vi xã hội của sinh viên bị ảnh hưởng bởi quan hệ bạn bè của họ Cụ thể
là sinh viên nào thiết lập được những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp thì khả năng đồngcảm tăng lên và giảm những hành vi gây hấn và ngược lại Điều này cho thấy, sinhviên tương tác tốt với bạn bè sẽ tránh được hành vi gây hấn, bạo lực [92] [111]
Ngoài hướng nghiên cứu vai trò của tương tác tâm lý, các nhà nghiên cứucòn nghiên cứu tương tác tâm lý dưới góc độ quan hệ liên cá nhân G Miller và
M Steinberg cho rằng tương tác là điều kiện để hình thành mối quan hệ liên cánhân Nhóm tác giả đã chia tương tác thành 3 cấp độ: Cấp độ tương tác văn hóa,cấp độ tương tác xã hội, cấp độ tương tác tâm lý và cho rằng mối quan hệ liên cánhân chỉ thực sự diễn ra khi các tương tác phải tuân theo quy tắc chuyển dịch từcấp độ tương tác văn hóa đến tương tác tâm lý [115] Như vậy, có thể nói, tương tácgiữa người học với người học vừa là tương tác xã hội, vừa là tương tác tâm lý
Tiếp cận dưới góc độ chức năng nhóm, các tác giả B Tuckman (1965), J
E Jones (1973), A G Banet (1976) đã đưa ra quy trình hoạt động nhóm gồm 4bước thực hiện song song 2 nhiệm vụ: Giải quyết vấn đề và xây dựng mối quan
hệ liên cá nhân Nhiệm vụ giải quyết vấn đề bao gồm:
* Định hướng vấn đề
* Tổ chức các điều kiện để tiến hành các hoạt động
* Trao đổi thông tin
* Giải quyết vấn đề
Trang 24Nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ liên cá nhân bao gồm:
* Thăm dò và lệ thuộc
* Giải quyết xung đột bên trong nhóm
* Cố kết nhóm
* Tương thuộc [129] [101] [80]
Tác giả R J Bryni và J Lie (2005) đã phân tích mối quan hệ giữa các cấp
độ liên cá nhân và phương thức tương tác Nhóm tác giả đã đo mức độ quan hệliên cá nhân của 3 phương thức tương tác: Tương tác thống trị, Tương tác cạnhtranh, Tương tác hợp tác Kết quả là phương thức Tương tác hợp tác có mức độquan hệ liên cá nhân giữa các thành viên là cao nhất [87] Điều đó cho thấytương tác chỉ đạt kết quả cao nhất khi các chủ thể chia đều các cơ hội cũng như
có khả năng chi phối và lệ thuộc lẫn nhau
1.1.3 Hướng nghiên cứu về tương tác trong học tập
Các công trình nghiên cứu về tương tác trong lĩnh vực học tập có thể chiathành 2 nhóm: Nhóm tác giả nghiên cứu các loại tương tác chung trong học tập
và nhóm nghiên cứu về tương tác giữa người học với người học trong học tập
Ở nhóm thứ nhất, trong loại hình học tập truyền thống (học tập trên lớp,thầy trò, người học luôn tiếp xúc trực tiếp với nhau) có các công trình nghiêncứu theo hướng dạy học tương tác, sư phạm tương tác như A Bandura (1977a),
J M Denomine & M Roy (2000) và G Brouseau và C Comiti, M Artigue,Rdoedy và C Marygolinas
Theo “Thuyết dạy học xã hội” của Abert Bandura (1977a) học tập có thểdiễn ra trên cơ sở quan sát hành vi của người khác và hậu quả của hành vi đó Từcăn cứ này, tác giả đề xuất mô hình học tập bằng mô hình hoặc bằng quan sát(thậm chí quan sát khi đối tượng không xuất hiện trực tiếp mà quan sát gián tiếpthông qua biểu tượng của trí nhớ) [81] Đây chính là hình thức tương tác giántiếp bằng tưởng tượng (Vicarious Interaction) – loại tương tác thứ năm do Sutton(2001) đề xuất sau này
Trang 25Nhóm tác giả J M Denomine & M Roy (2000) đã nghiên cứu và thựcnghiệm thành công đường hướng tổ chức dạy học mới trong hoạt động sư phạmgọi là “Sư phạm tương tác” Các tác giả theo hướng này nhìn nhận:
- Cấu trúc của hoạt động dạy học bao gồm 3 yếu tố trung tâm, cơ bản:Người dạy – Người học – Môi trường
- Vai trò riêng biệt của từng yếu tố:
* Người dạy là người tổ chức, hướng dẫn, kích thích, tạo môi trường,điều kiện cho người học hoạt động, tự lĩnh hội
* Người học là nhân tố trung tâm, là chủ thể tích cực tương tác thầy cô,tương tác với bạn bè trong nhóm nhỏ để tự lĩnh hội đối tượng hoạt động và cùngchia sẻ với nhau Người học có thể tham gia vào nhiều hình thức học khác nhaunhư: Các hình thức tương tác trên lớp là làm việc cặp đôi, thảo luận nhóm,thuyết trình, chia sẻ tranh luận với các nhóm khác; các hình thức tương tác ngoàilớp như làm bài tập nhóm, làm dự án, nghiên cứu, thảo luận theo nhóm…
* Môi trường của lớp học, của nhóm nhỏ phải đảm bảo sự dân chủ, bìnhđẳng, thân thiện, cởi mở Mọi thành viên đều được trình bày ý kiến và đượctranh luận, chia sẻ với tinh thần tôn trọng, hợp tác Môi trường học tập có nhiềuloại: môi trường vật chất, môi trường tinh thần, môi trường bên ngoài, môitrường bên trong
- Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trong hoạt động sư phạm vàtương tác giữa các bộ phận trong từng yếu tố
- Các thành phần không thể thiếu của sư phạm học tương tác là sư phạmhứng thú, sư phạm hợp tác, sư phạm thành công và các khâu của hoạt động dạyhọc (lập kế hoạch, tổ chức hoạt động và hợp tác) [12]
Kết quả trên cho thấy, nhóm tác giả không chỉ thừa nhận dạy học là quá trìnhtương tác giữa 3 thành tố: Người dạy, người học và môi trường mà còn xác định vaitrò quan trọng của tương tác trong dạy học Chính sự tương tác giúp người học cómột tâm thế học tập chủ động, tích cực cũng như nâng cao kết quả học tập
Trang 26Cùng quan điểm sư phạm tương tác nói trên, nhóm tác giả Guy Brouseau
và Clowde Comiti, M Artigue, Rdoedy và C Marygolinas…thuộc viện đào tạogiáo viên IUSM ở Grenoble (Pháp) quan niệm: Dạy học là hoạt động tương tácgiữa 4 yếu tố: Người dạy – Người học – Nội dung – Môi trường Điểm khácbiệt của nhóm tác giả này là thừa nhận yếu tố Nội dung như là một thành phầntrong cấu trúc hoạt động sư phạm Nội dung không tồn tại bên ngoài, khôngkhô cứng mà trở nên linh hoạt, sáng tạo Giá trị nội dung giảng dạy cũng nhưnội dung học tập phụ thuộc vào sự tương tác giữa người dạy với nội dung dạy,giữa người học với nội dung học tập Nội dung dạy học chỉ thật sự trở thànhnội dung học tập khi người dạy và người học có sự tương tác tốt với nhau vàtương tác tốt với môi trường [14]
Đối với loại hình Giáo dục từ xa, học online thì tương tác được nghiêncứu khá nhiều Có lẽ vì điều kiện tương tác mặt đối mặt (face to face) rất hạn chếnên các nhà giáo dục, các nhà tâm lý quan tâm nghiên cứu nhiều và sâu đếntương tác để cung cấp cơ sở cho việc thiết kế chương trình học thuận lợi nhất,hiệu quả nhất Trong lĩnh vực này, khi nói đến tương tác không thể không đề cậpđến M G Moore (1989, 1993) Trong các nghiên cứu từ năm 1989 đến 1993, tácgiả đã xác định được ba loại tương tác trong học tập như sau:
- Tương tác giữa người học với nội dung là quá trình tương tác giữa trítuệ với kiến thức mà kết quả là những thay đổi về sự hiểu biết, quan điểm hoặccác cấu trúc nhận thức trong tâm trí của người học Theo cách giải thích của tácgiả, có thể hiểu loại tương tác này xảy ra trong quá trình tự học của người học.Người học dùng chính kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân tương tácvới thông tin, kiến thức, nội dung mới để mở rộng, nâng cao kiến thức của bảnthân Tác giả đã khẳng định đây là một đặc trưng của giáo dục, không có nókhông thể có giáo dục
- Tương tác giữa người học với người hướng dẫn Người hướng dẫnđược hiểu là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, báo cáo chuyên đề, làm bài
Trang 27tập… hoặc người hướng dẫn tự học, tự làm bài tập, tự thực hành trong giáo dục
từ xa Quá trình tương tác này diễn ra ở các công đoạn sau:
* Lên kế hoạch và thiết kế chương trình, nội dung giảng dạy: Trong quátrình lập kế hoạch, thiết kế chương trình, nội dung giảng dạy, người hướng dẫntương tác với người học thông qua việc tạo ra các yếu tố kích thích, duy trì sựquan tâm của người học; tăng cường, nâng cao lợi ích cho người học và đặc biệt
là làm sao cho người học tự định hướng và tự tạo động lực trong suốt quá trìnhhọc tập
* Hướng dẫn người học thực hiện kế hoạch, nội dung, chương trình đãthiết kế: Có thể người học và người hướng dẫn tương tác trực tiếp hoặc gián tiếpdưới các hình thức giảng dạy trên lớp, thuyết trình, thảo luận, làm đề tài, trìnhbày mô hình…
* Hướng dẫn người học ứng dụng, thực hành những nội dung, thông tin
đã tiếp thu được
* Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ở người học
* Hướng dẫn, cung cấp tư vấn, hỗ trợ và khuyến khích mỗi người học
- Tương tác giữa người học với người học là tương tác giữa những ngườihọc chung với nhau Tương tác này có thể diễn ra giữa người học này với người họckhác, giữa cá nhân người học với nhóm học và giữa nhóm học với nhóm học mà cóthể có hoặc không có sự hiện diện của một người hướng dẫn [116] [117]
Cách phân chia này nhận được sự đồng tình của rất nhiều nhà nghiên cứu
vì cách phân chia tương đối rõ ràng, thiết thực, dựa trên cơ sở lấy học sinh làmtrung tâm Ba loại tương tác này không chỉ mang lại hiệu quả ở góc độ học tập
mà còn mang lại trạng thái tâm lý có lợi cho người học theo hình thức giáo dục
từ xa, học online
Trong giáo dục từ xa, học online, người học thường xuyên tiếp xúc vớiphương tiện truyền thông, vì vậy, Hillman, Willis, và Gunawardena (1994) đãchú tâm nghiên cứu và đề xuất loại tương tác thứ tư: tương tác giữa người học và
Trang 28giao diện [91] Giao diện được hiểu là các phương tiện truyền thông (cụ thể tạithời điểm nghiên cứu là máy tính, ngày nay là học qua truyền hình, radio, đĩa
CD, báo chí…) phục vụ học tập trong giáo dục từ xa Người học thường xuyêntiếp xúc với các loại phương tiện công nghệ trên nên người học phải có kinhnghiệm, kỹ năng tiếp cận, sử dụng chúng hiệu quả Theo nhóm tác giả, “Ngườihọc có tương tác được với phương tiện công nghệ thì mới tương tác được với nộidung, người hướng dẫn, và tương tác với người học khác” [98, tr.33]
Cùng quan điểm phân loại tương tác dựa vào các yếu tố của học tập, V.Thurmond & K Wamback (2004) thừa nhận mô hình dạy học từ xa có 4 kiểutương tác: Người học tương tác với Nội dung, Người học tương tác với Ngườidạy, Người học tương tác với Người học và Người học tương tác với Giao diện.Nhóm tác giả đã phân tích lợi ích cũng như nêu ra các điều kiện, rào cản trongcác hình thức tương tác nhằm kêu gọi các nhà thiết kế chương trình học dànhcho loại hình giáo dục từ xa và học trên Web tăng tính tương tác với người họcnhiều hơn nữa [127]
Vừa đồng tình với các quan điểm trên, vừa nhận thấy chưa thỏa đáng,Sutton (2001) đã bỏ công nghiên cứu hiện tượng người học học tập bằng cáchquan sát người khác Tác giả đã đề xuất loại tương tác thứ năm có tên gọi là
“tương tác gián tiếp” Loại tương tác này được hình thành dựa trên "nguyên tắctăng cường thành tích và sự hài lòng có thể xảy ra ngay cả khi người học khôngtương tác trực tiếp với bất kỳ ai hay bất kỳ vật gì" [124, tr.224) Tác giả đã nhấnmạnh vai trò của hình thức học tập thông qua quan sát, “đặc biệt là người họctích cực quan sát quá trình tương tác trực tiếp giữa hai người học khác hoặc giữabạn học và người hướng dẫn” [110, tr.227]
Bên cạnh phân loại tương tác dựa vào các yếu tố trong hoạt động học tập,Anderson (2003b) đề xuất thêm 3 loại tương tác dựa vào hoạt động dạy của giáoviên, bao gồm:
- Tương tác giữa giáo viên và giáo viên là loại tương tác diễn ra khigiáo viên tiếp xúc, trao đổi với đồng nghiệp về nội dung, phương pháp, cách
Trang 29thức dạy học và theo tác giả, điều này sẽ giúp cho giáo viên tương tác với ngườihọc tốt hơn và giúp cho hoạt động học tập của người học có hiệu quả cao hơn.
- Tương tác giữa giáo viên với nội dung là tương tác giữa giáo viên vớithông tin (phục vụ giảng dạy) khi giáo viên tìm kiếm tài liệu, soạn bài, đọc tàiliệu và giảng dạy, truyền đạt nội dung đó cho người học
- Tương tác giữa nội dung với nội dung là tương tác giữa các thông tin,tài liệu trên mạng máy tính thông minh tạo ra nguồn tài nguyên tri thức sinhđộng, vô tận và luôn phát triển [76]
Như vậy, theo Anderson, trong dạy học có đến 6 loại tương tác và ôngkhẳng định 6 loại tương tác này đều có ở hình thức đào tạo từ xa và đào tạo trênlớp học Một điểm khác nữa của Anderson là đã chỉ rằng các hình thức tương tácgiữa người học với giảng viên, giữa giảng viên với giảng viên thực chất là tươngtác giữa người học với nội dung nên tác giả đã đưa ra Định lý tương tác tươngđương Trong định lý này, tác giả cho rằng người học chỉ cần sử dụng tốt 1 loạihình tương tác là có thể “học tập sâu sắc” Trong đó, ưu tiên cho tương tác giữangười học với nội dung Tác giả cũng cho rằng tương tác giữa giảng viên vớingười học, tương tác giữa người học với người học có bản chất tương tự nhưtương tác giữa người học với nội dung
Nhìn nhận tương tác trong học tập dưới góc độ đáp ứng nhu cầu củangười học, Wanger (1997) đề nghị 12 loại tương tác: Tương tác để được thamgia, để được là thành viên của nhóm nào đó; Tương tác để thông tin tăng lên,phát triển hơn; Tương tác để nhận được ý kiến nhận xét, thông tin phản hồi;Tương tác để xây dựng và duy trì; Tương tác để tự điều chỉnh bản thân và điềuchỉnh bạn học; Tương tác để tăng thêm động lực; Tương tác để bàn bạc, thảoluận (về vấn đề mình hiểu biết); Tương tác để xây dựng đội ngũ gắn bó hơn;Tương tác để được khám phá; Tương tác để khai thác (bản thân và người khác);Tương tác để làm sáng tỏ sự hiểu biết và Tương tác để kết thúc (buổi thảo luận)[130] Cách phân loại này tuy có vẻ phức tạp nhưng rất chi tiết, cụ thể, cho thấy
Trang 30tương tác giữa người học với người học với nhau có thể giúp thỏa mãn rất nhiềunhu cầu của con người.
Khi nói đến tương tác giữa người học với người học, nhiều tác giả chorằng đây là một hình thức tương tác mang lại hiệu quả cao nhất cho học tập bậccao (học ở đại học) như N M Webb (1982); Johnson, Johnson & Smith (1998);Springer, Stanne & Donovan (1999); Anderson (2003a, 2007)…
Trong các công trình nghiên cứu của N M Webb (1982, 1989, 1995,1996), tương tác của sinh viên trong nhóm học tập có mối tương quan đến thànhtích học tập của cá nhân Sinh viên nào tích cực trong việc thực hiện hành vigiúp đỡ và nhận được nhiều hành vi giúp đỡ từ người khác trong nhóm thì thànhtích học tập cao và ngược lại Hành vi giúp đỡ được tác giả định nghĩa là “dạykèm ngang hàng” tức là hành vi giúp nhau học tập Điều này nói lên mức độ, tần
số tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo nhóm Tác giả cũngnêu ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tương tác của sinh viên trong học tập theonhóm nhỏ Đó là tần số thực hiện hành vi giúp đỡ, sự tưởng thưởng của nhómđối với hành vi cá nhân, kỹ năng học tập, biện pháp tổ chức của nhóm, đặc điểmtâm lý của sinh viên và chủ đề thảo luận của nhóm Mặt khác, tác giả cũng cảnhbáo về việc “thảo luận ngoài công việc” tức là chủ đề tương tác không phục vụcho việc học tập sẽ làm phương hại đến thành tích học tập của cá nhân và cả nhóm.Như vậy, tác giả không chỉ xác định được những yếu tố cần thiết để tương tác gópphần nâng cao kết quả học tập cho người học mà còn nêu cả những yếu tố tạo ratương tác bất lợi cho thành tích học tập [117] [118] [119] [120]
Đồng quan điểm “dạy kèm ngang hàng” trong quá trình học tập cùng nhaucủa Webb là A S Palincsar & A Brown (1984) Hai tác giả này đã đưa ra “lýthuyết dạy học lẫn nhau” [105] Trong đó nhấn mạnh đến quy trình chuyển dịchvai trò của người dạy sang người học Kết quả là người học trở thành “ngườithầy giáo nhỏ” để dạy lại các bạn trong nhóm tương tác Mỗi thành viên trongnhóm học tập trở thành thầy giáo của mỗi lĩnh vực khác nhau và điều này không
Trang 31chỉ giúp kết quả học tập của bản thân trở nên sâu sắc, bền vững mà còn giúpđược bạn học tốt như mình Như vậy, để kết quả học tập được nâng cao, ngườihọc cần đa dạng hóa vai trò của mình trong quá trình tương tác lẫn nhau trongnhóm học tập Người học không nên chỉ tương tác ngang hàng với nhau mà còntương tác bằng vị thế mới: Người dạy với người học Điều này tương tự như hiệntượng “Học thầy không tày học bạn” ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu của D W Johnson & R T Johnson từ nhữngnăm 1988 đã góp phần làm rõ hơn về học tập hợp tác (Cooperative Learning)trong nhóm nhỏ (mỗi lớp học có nhiều nhóm nhỏ), mà thực chất là một dạng củatương tác giữa bạn cùng học với nhau trong nhóm nhỏ Nhóm tác giả đã chorằng học tập hợp tác không chỉ đơn giản là một từ đồng nghĩa với hiện tượngngười học làm việc theo nhóm, mà học tập hợp tác chỉ được hình thành khinhóm học tập hội đủ những yếu tố sau:
- Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực: Các thành viên trong nhóm
có nghĩa vụ phải dựa vào nhau để đạt đến mục tiêu Nếu bất kỳ thành viên nàotrong nhóm không thực hiện nhiệm vụ của họ thì cả nhóm sẽ cùng chịu hậu quả
- Tinh thần trách nhiệm cá nhân: Tất cả thành viên trong nhóm đều cónhiệm vụ riêng và chịu trách nhiệm thực hiện phần nhiệm vụ của mình, đó lànhiệm vụ phải làm chủ được tất cả tài liệu được học
- Nổ lực tương tác trực tiếp (mặt đối mặt): Mặc dù có một số công việc,nhóm có thể bị tách ra và các thành viên phải thực hiện nhiệm vụ một mình, cácthành viên vẫn phải cố gắng liên lạc, tương tác với nhau bằng cách gặp nhau đểbàn bạc, đóng góp ý kiến, phản biện về bài làm của nhau, nhất là hỗ trợ, hướngdẫn và khuyến khích nhau
- Sử dụng các kỹ năng hợp tác thích hợp: Trong quá trình học tập hợptác theo nhóm, các thành viên được khuyến khích và giúp đỡ để thực hành vàphát triển niềm tin xây dựng, lãnh đạo, ra quyết định, giao tiếp và kỹ năng quản
lý xung đột
Trang 32- Cùng nhau quản lý nhóm: Các thành viên trong nhóm thiết lập mụctiêu nhóm, định kỳ đánh giá những gì làm được và chưa được, đồng thời xácđịnh và tiến hành các thay đổi cần thiết cho hoạt động nhóm hiệu quả hơn trongtương lai [103] [104].
Trong những điều kiện trên, nhóm tác giả đã cho rằng yếu tố “phụ thuộclẫn nhau một cách tích cực” là yếu tố mang tính quyết định Các tác giả gọi đây
là sự tương thuộc xã hội và đã đưa ra thuyết Tương thuộc xã hội (Socialinterdependence theory) như là một cơ sở lý thuyết giải thích về sự tương tác củacác thành viên trong nhóm học tập Tương thuộc xã hội không chỉ là điều kiện đểhọc tập hợp tác đạt kết quả mà còn là mục tiêu của tương tác giữa các thành viêntrong nhóm [105] Đây là một đóng góp quan trọng của nhóm tác giả vào lĩnhvực giáo dục Dựa vào mô hình học tập hợp tác, giáo viên lẫn người học có thểnhận ra những việc cần làm, những yếu tố cần có để hoạt động dạy học và họctập đạt hiệu quả cao, Tuy nhiên, nhóm tác giả vẫn chưa đi sâu vào các yếu tố tâm
lý cần thiết để tương tác có diễn ra đến mức cao, giúp các thành viên trong nhóm
có thể tương thuộc vào nhau cùng học tập tốt Hơn nữa, các nghiên cứu này chỉgiới hạn và đề cao tương tác trực tiếp (mặt đối mặt), trong khi hiện nay với sựphát triển của công nghệ, tương tác thông qua các phương tiện liên lạc có thểmang lại hiệu quả không kém gì tương tác mặt đối mặt
Trong các nghiên cứu của mình D W Johnson & R T Johnson đã phânloại tương tác giữa người học với người học thành 3 loại: Hợp tác, Tranh đua và
cá nhân [103] Nhóm tác giả đã phát hiện ra nghịch lý là lúc nào giáo viên cũngmuốn người học tự học một mình, tự làm bài của mình trong khi người học chỉ
có thể đạt đến hiệu quả học tập cao nhất khi họ học tập hợp tác cùng nhau.Nhóm tác giả đã khẳng định chính quá trình tương tác cùng nhau trong nhómhọc tập (học tập hợp tác) là điều kiện tối ưu để người học nâng cao hiệu quả tíchlũy kiến thức, thực hành kỹ năng xã hội [106]
Trang 33Trong môi trường học tập có sự hỗ trợ của máy tính và truyền thông đaphương tiện, R M Bernard và các cộng sự đã chia tương tác giữa người học vớingười học thành 2 loại: Tương tác trực tiếp mặt đối mặt và tương tác gián tiếpthông qua các phương tiện truyền thông như máy tính có nối mạng Internet,video clip, điện thoại…[82] Holden & Westfall (2006) thì phân biệt tương tácđối xứng và tương tác bất đối xứng, tương tác đồng bộ và không đồng bộ Tươngtác đối xứng và đồng bộ là tương tác diễn ra 2 chiều trong cùng 1 một thời điểm.
Ví dụ như tương tác mặt đối mặt, trò chuyện qua điện thoại, chatroom…Còntương tác bất đối xứng và không đồng bộ là tương tác chỉ diễn ra một chiều nhưngười học đọc sách, người học gởi thông tin đi nhưng chưa có người nhận…
Tóm lại, các tác giả nước ngoài nghiên cứu rất nhiều về tương tác tronghọc tập Tuy nhiên, đa phần các công trình này chỉ mới dừng lại ở việc nghiêncứu các hình thức tương tác, chưa đi sâu vào bản chất tương tác tâm lý của nó.Một số công trình dài hơi có đi sâu vào bản chất tương tác tâm lý nhưng phầnnhiều lại tiến hành trên học sinh nhỏ Tương tác giữa sinh viên với sinh viêntrong học tập chưa thật sự được quan tâm đúng mức
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tương tác tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề tương tác chưa được nghiên cứu nhiều dưới góc độtâm lý Nó được quan tâm nhiều hơn trong lĩnh vực xã hội học và giáo dục học
1.2.1 Hướng nghiên cứu tương tác xã hội
Các tác giả Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng trong tác phẩm Xã hội học đã
đề cập đến vấn đề tương tác xã hội và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu vềvấn đề này Theo nhóm tác giả, tương tác xã hội có thể coi là quá trình hànhđộng đáp trả lại của một chủ thể này với một chủ thể khác [7, tr.144]
Nguyễn Hải Như với nghiên cứu: “Tương tác giữa các nhà khoa học và sựphát triển nhận thức khoa học” đã chỉ ra bản chất của tương tác khoa học là sựtác động qua lại, xâm nhập lẫn nhau [49]
Trang 34Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy (1998) tương tác xã hội là “Khái niệm chỉmối quan hệ tương hỗ, lệ thuộc vào nhau của những con người xã hội” [31, tr.43]
và tương tác xã hội không tách rời quá trình xã hội hóa của cá nhân và “qua đó,
cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và những phươngthức cần thiết để hội nhập với xã hội” [31, tr.110] Cùng quan điểm này, tác giảBùi Văn Huệ (1995) cũng cho rằng: tương tác là điều kiện xã hội hóa cá nhân.Tác giả viết: “Đứa trẻ bước vào mối quan hệ xã hội từ những tương tác đối với
mẹ Những tương tác này cho phép trẻ dần dần hòa nhập vào thế giới xã hội”[29, tr 45] Có lẽ, đây là một trong những tác giả viết về tương tác một cách cụthể, rõ ràng nhất Tác giả cho rằng tương tác có những đặc điểm sau:
* Những người tham gia hoạt động ở cùng không gian và thời gian Nhưvậy các cá nhân trực tiếp tác động qua lại lẫn nhau để trao đổi những thông tin,
tư tưởng, tình cảm lẫn nhau
* Có mục đích chung và có lợi ích chung cho mọi thành viên
* Có tổ chức, có lãnh đạo, có sự phân công giữa các thành viên
* Trên cơ sở hoạt động đồng thời, hình thành mối quan hệ liên nhâncách [29, tr.48)
Từ những đặc điểm đó, có thể thấy, tác giả chỉ đề cập đến tương tác trựctiếp mà chưa nhận ra giá trị, tầm quan trọng của tương tác gián tiếp Tác giả chỉmới nhận ra tương tác hợp tác mà chưa nghiên cứu đến tương tác cạnh tranh
1.2.2 Hướng nghiên cứu tương tác tâm lý
Trong các tài liệu giáo khoa Tâm lý học đều đề cập đến sự tương tác dướigóc độ giao tiếp Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là mối quan
hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người vớingười, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, trigiác lẫn nhau và ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau” [72, tr 65] Nói cách khác,giao tiếp cũng là tương tác Trong các tài liệu viết về Giao tiếp của tác giảNguyễn Thị Oanh (1993), Hoàng Anh (2004), Nguyễn Văn Đồng (2009), sự
Trang 35tương tác không chỉ thể hiện trong quá trình giao tiếp, chức năng giao tiếp (đặcbiệt là chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau) mà còn là kết quả của giaotiếp Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của tương tác đối vớiquá trình hình thành và phát triển tâm lý của con người [52] [1] [13].
Cũng dưới góc độ giao tiếp, tác giả Huỳnh Văn Sơn (2011) đã cho rằng:
“Quá trình giao tiếp là quá trình TT giữa cho và nhận” [58 tr 82] Từ quan điểmnày, tác giả đã nêu ra 4 kiểu cho trong giao tiếp: (1) Cho chuẩn mực (2) Chogiáo dưỡng (3) Cho khủng bố (4) Cho cứu tinh và 4 kiểu nhận trong giao tiếp:(1) Nhận thích nghi (2) Nhận phục tùng (3) Nhận nổi loạn (4) Nhận tự do Sự kếthợp giữa 4 kiểu cho – nhận trong giao tiếp trên tạo ra 256 sắc thái tương tác khácnhau giữa các chủ thể và điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả tương tác
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2008) góp phần khẳng định vai trò củatương tác trong các tài liệu viết về tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non Theo tácgiả, ở từng độ tuổi, trẻ lớn lên bằng cách tương tác với những đối tượng khácnhau như: ở độ tuổi sơ sinh, hài nhi, trẻ tương tác trực tiếp với cha mẹ (ngườinuôi dưỡng); ở độ tuổi ấu nhi, trẻ tương tác với đồ vật để học cách sử dụng; ởtuổi nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ tương tác với bạn cùng tuổi qua trò chơi sắm vai đểhọc cách gia nhập mối quan hệ liên nhân cách…[70] Trong các tài liệu này luôncho thấy mức độ tương tác của trẻ với người lớn, với bạn bè, với đồ vật, với môitrường xung quanh tỉ lệ thuận với sự phát triển tâm lý của trẻ Vấn đề đặt ra là tỉ lệnày còn đúng đối với lứa tuổi sinh viên, nhất là trong lĩnh vực học tập?
Khi nghiên cứu về cơ sở tâm lý học trong quản lý và ê kíp lãnh đạo, tác giả
Vũ Dũng đã xác định được hai thành tố cơ bản của một ê kíp lãnh đạo là sự tươnghợp tâm lý và sự phối hợp hành động giữa các thành viên của nhóm lãnh đạo màthực chất là các tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tương tác giữa các thành viêntrong nhóm [8] Tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc đã cho rằng: “Hoạt động tương tác là sựtác động lẫn nhau giữa các cá nhân nhằm thực hiện những hoạt động đồng thời vớimục đích nào đó của nhóm” [54, tr.40] Như vậy, đối với 2 tác giả trên, tương táctâm lý là chất keo gắn kết các thành viên nhóm trong hoạt động chung
Trang 36Tác giả Trần Thị Minh Đức đã trình bày các thực nghiệm của mình và củacác tác giả nổi tiếng trên thế giới về những vấn đề liên quan trực tiếp tới sựtương tác như vấn đề về “Cái tôi” và quá trình xã hội hoá Có thể nói, quyểnsách: “Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội” cung cấp rất nhiều thông tinquý và bổ ích về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan tới tương tác [15]
Tác giả Lê Minh Nguyệt đã nghiên cứu về “Mức độ tương tác giữa cha
mẹ và con tuổi thiếu niên” vào năm 2010 và đây là một trong số rất ít công trìnhkhoa học chọn tương tác làm đối tượng chính để nghiên cứu Tác giả đã tích hợptương tác xã hội, tương tác tâm lý để đưa ra khái niệm tương tác tâm lý – xã hội.Tác giả đã phân loại và nêu ra những yếu tố tâm lý cá nhân được thể hiện trongtương tác tâm lý – xã hội như: Nhu cầu tương tác, sự hiểu biết lẫn nhau trongtương tác, sự tương hợp tâm lý, sự ảnh hưởng lẫn nhau trong tương tác và kỹnăng tương tác [46] Tiếp nối công trình này và gần đây nhất là luận án tiến sĩtâm lý học của tác giả Cao Thị Nga (2016): “Tương tác tâm lý trên lớp học giữagiảng viên và sinh viên ở trường đại học” Trong luận án này, tác giả đã khẳngđịnh “Tương tác tâm lý là quá trình tác động qua lại về mặt tâm lý giữa các chủthể, biểu hiện qua nhu cầu tương tác, sự tương hợp tâm lý, sự phối hợp, qua tần
số tương tác và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể” [43a, tr 26] Tác giảcũng đã lý luận nêu bật vai trò của tương tác tâm lý giữa giảng viên với sinh viênđối với kết quả học tập cũng như chỉ ra thực trạng tương tác tâm lý giữa giảngviên với sinh viên hiện nay Tuy nhiên, có lẽ vì quá tập trung để làm rõ tương tácgiữa giảng viên với sinh viên mà tác giả không hề nhắc gì đến tương tác giữasinh viên với sinh viên
1.2.3 Nghiên cứu tương tác trong học tập
Ở Viêt Nam, có khá nhiều tác giả đề cập đến tương tác giữa người học vớingười học trong học tập
Trước hết, những tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học hiện đại
Trang 37như Phan Trọng Ngọ (2005) [45], Đặng Thành Hưng (2007) [33], Nguyễn ThịHương (2012) [34a] đều đề cập đến tương tác giữa Thầy – Trò, giữa học trò –học trò như những phương pháp dạy học, phương pháp học tập hiện đại, hiệuquả Bên cạnh việc nêu ra tầm quan trọng, giá trị của tương tác giữa thầy – trò,giữa trò – trò, các tác giả còn nêu những điều kiện cần thiết để tương tác có thểdiễn ra một cách hiệu quả nhất Một trong những điều kiện đó là sinh viên phải
có nhu cầu tương tác, phải có động lực, phải có hứng thú khi tương tác với bạntrong học tập
Tác giả Nguyễn Thị Huệ (2004), Nguyễn Đức Sơn (2009) đã cho rằngtương tác là một trong những đặc trưng của nhóm nhỏ học tập Nhờ tham giahoạt động tương tác này mà các thành viên trong nhóm nhỏ thực hiện hoạt độnghọc tập cùng nhau, từ đó, làm tăng mức độ cố kết nhóm [60] hoặc xác định vị thếcủa học sinh trong nhóm [30] Cả 2 yếu tố này đều có quan hệ tỉ lệ thuận với kếtquả học tập của người tham gia vào tương tác
Tác giả Tạ Quang Tuấn (2010), Phạm Quang Tiệp (2013) và một số tácgiả khác đã tiến hành nghiên cứu và vận dụng tương tác giữa người học – ngườihọc vào tổ chức hoạt động dạy học nói chung hoặc một môn học cụ thể Theo tácgiả Tạ Quang Tuấn (2010), “Tương tác giữa người học – người học trong dạyhọc là quá trình ảnh hưởng, tác động, trao đổi lẫn nhau về mặt thông tin, ýtưởng, quan điểm ở bên trong và giữa các chủ thể người học với nhau nhằm thựchiện tốt nhiệm vụ học tập” [69, tr.13] Theo định nghĩa này, có thể nhận biết biểuhiện cụ thể của tương tác giữa người học với người học là “tác động” qua lại, là
“trao đổi” lẫn nhau với mục đích là thực hiện tốt nhiệm vụ học tập Nói cáchkhác, tương tác giữa người học – người học gắn liền với nhiệm vụ học tốt và tácgiả xem tương tác giữa người học với người học là một trong những biện phápgiúp sinh viên học tốt Tác giả không chọn tương tác giữa người học với ngườihọc làm đối tượng nghiên cứu trong luận án của mình
Tác giả Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2012) quan niệm tương tác là một điều
Trang 38kiện của hợp tác bởi vì theo tác giả: “Hợp tác là phải có sự tác động qua lại lẫnnhau giữa các thành viên theo hướng tích cực nhằm thực hiện những hoạt độngđồng thời với mục đích nào đó của nhóm Đó là quan hệ phối hợp, giúp đỡ lẫnnhau trong hành động.” [24, tr 29] Theo tác giả này, trong học tập hợp tác, giữacác thành viên có sự tương tác trực tiếp Quá trình tương tác trực tiếp này đượcthể hiện qua những hành vi cụ thể: Giúp đỡ, hỗ trợ nhau; Giải thích cho nhau;Kiểm tra mức độ hiểu bài lẫn nhau; Thảo luận về nội dung học tập; Ủng hộ,khích lệ, tạo điều kiện cho các cá nhân có cơ hội trình bày ý kiến của mình;Thuyết phục lẫn nhau; Biện hộ, bảo vệ ý kiến của cá nhân; Bổ sung những chỗthiếu hụt cho nhau, [24] Như vậy, dù đề tài của tác giả chủ yếu là nghiên cứu
về kỹ năng học tập hợp tác nhưng tác giả đã nêu khá nhiều những biểu hiện tâm
lý của tương tác trong học tập của sinh viên
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) cũng nghiên cứu kỹ năng họchợp tác trong hoạt động nhóm Tác giả đã chỉ ra cơ chế nhóm của nhóm học tập
là cơ chế tương tác tâm lý lẫn nhau, cơ chế nhóm hóa cá nhân và cơ chế cá nhângia nhập vào các quan hệ nhóm Trong đó, tác giả cho rằng cơ chế tương tác tâm
lý lẫn nhau là “tâm lý của các thành viên sẽ tác động qua lại, gây ảnh hưởng vàquy định lẫn nhau.” [55, tr.17] Tác giả gọi đó là sự tương tác tâm lý tích cực vàđiều này giúp cho sinh viên rèn luyện được những kỹ năng học tập
Từ kết quả các công trình nghiên cứu trên cho thấy, hầu như khi nghiêncứu về nhóm, các tác giả luôn nhắc đến tương tác giữa các thành viên trongnhóm, đặc biệt là nhóm được hình thành nhằm mục đích học tập tốt Tương tácgiữa người học – người học được đề cập đến bản chất, chức năng, biểuhiện nhưng vẫn chỉ là một nội dung dùng minh họa cho những yếu tố khác.Tương tác giữa người học với người học mà cụ thể là tương tác giữa sinh viên –sinh viên chưa thực sự trở thành đối tượng chính của nghiên cứu khoa học nào,tính đến thời điểm hiện nay
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ những công trình nghiên cứu tương tác ở nước ngoài bao gồm nhữngnghiên cứu về tương tác xã hội, tương tác tâm lý nói chung khá phong phú; cònnhững nghiên cứu tương tác trong học tập chủ yếu dưới góc độ Sư phạm học làchính Trong đó, phần lớn là nghiên cứu về các loại tương tác và vai trò, ảnhhưởng của các loại tương tác đến kết quả học tập và tâm lý người học
Ở nước ta đã có một số công trình đề cập đến sự tương tác ở nhiều góc độ
xã hội học, tâm lý học và sư phạm học
- Dưới góc độ xã hội học, các tác giả đã chỉ ra tương tác là quá trình tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội và kết quả của quá trình này là gâyảnh hưởng lên nhau tạo ra những biến đổi xã hội Một số tác giả đã quan niệmtương tác xã hội như là điều kiện của quá trình xã hội hóa cá nhân
- Dưới góc độ tâm lý học, tương tác được xem như một thành phầnkhông thể thiếu của giao tiếp và hoạt động, đặc biệt, một số tác giả còn xemtương tác như là giao tiếp trong hoạt động chung, là mối quan hệ liên nhân cáchgiữa mẹ - con, giữa các thành viên trong nhóm, trong ê kíp lãnh đạo giữa trẻ
em với môi trường trong quá trình xã hội hóa
- Dưới góc độ sư phạm học, tương tác giữa Thầy – trò, giữa người học– người học, giữa người học – kiến thức được xem xét như là những phươngpháp dạy học tích cực Một số tác giả đã cho rằng giữa người học với người học
là điều kiện để tăng cố kết nhóm hoặc nâng vị thế người học trong nhóm học tậplên và cả 2 yếu tố này đề góp phần nâng cao kết quả học tập của người học Một
số tác giả khác đã xem xét kỹ năng học tập hợp tác – một dạng của kỹ năngtương tác trong học tập và điểm chung của các tác giả này là đều nhấn mạnh vaitrò của học tập hợp tác với kết quả học tập của sinh viên nhất là học tập theo họcchế tín chỉ
Trang 40CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 2.1 Lý luận về tương tác
2.1.1 Khái niệm tương tác
Tương tác là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trong đời sống xã hộinhư tương tác thuốc, tương tác gen, tương tác người và máy, tương tác giữakhách hàng với người bán hàng, tương tác thầy và trò… Dễ dàng nhận thấy rằng,tương tác luôn diễn ra trong mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau,giữa con người với các sự vật, hiện tượng và giữa người với người
Đối với tương tác giữa người với người, các nhà nghiên cứu cho rằng đó là
sự tác động qua lại lẫn nhau Chẳng hạn như tác giả Vũ Dũng đã viết: “Tương tác
là sự tác động qua lại, tác động lên nhau” [10, tr.973]; tác giả Nguyễn Như Ý thìcho rằng: “Tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau” [75, tr.1769]; Nguyễn HảiNhư khẳng định tương tác là sự tác động qua lại, xâm nhập lẫn nhau [49]; trong
“Từ điển Anh – Việt”, tương tác (Interaction) là sự liên kết các hoạt động, hànhđộng giữa người này với người khác hay chính là những tác động hai chiều lẫnnhau [50, tr.1061] Các quan niệm trên cho thấy tương tác là một hoạt động đượcthực hiện bằng hành động hướng đến đối tượng và được đối tượng hành động đáptrả, phản hồi Nếu không có hành động đáp trả, phản hồi, tác động chỉ diễn ra mộtchiều thì quá trình tương tác không diễn ra Nói cách khác, khi nói đến tương tácgiữa người và người là nói đến sự tác động mang tính chất 2 chiều của các chủthể tương tác như: Thảo luận, nhận xét, trao đổi, chia sẻ, tranh luận, phản hồi
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về tương tác, một số tác giả quan tâm đến kếtquả của tương tác, đó là “sự ảnh hưởng lẫn nhau” của các yếu tố tương tác Wagner(1997) cho rằng: “Tương tác xảy ra khi các đối tượng và các sự kiện cùng có ảnhhưởng đến nhau” [131, tr.20] Tác giả Nguyễn Khắc Viện (2001) nhấn mạnh rằng:
“Tương tác là cái này tác động lên cái kia, cái kia tác động trở lại cái này, hai cái