1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG tư LIỆU HIỆN vật tại bảo TÀNG dân tộc học VIỆT NAM TRONG dạy học LỊCH sử VIỆT NAM (từ NGUỒN gốc – GIỮA TK XIX) lớp 10 THPT

73 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 787,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘIKHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP CHUYÊN MÔN Tên đề tài: SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC – GIỮA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA LỊCH SỬ

BÀI TẬP CHUYÊN MÔN

Tên đề tài:

SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

(TỪ NGUỒN GỐC – GIỮA TK XIX) LỚP 10 THPT

Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội 2

Hà Nội 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA LỊCH SỬ

BÀI TẬP CHUYÊN MÔN

Tên đề tài:

SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC

VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM

(TỪ NGUỒN GỐC – GIỮA TK XIX) LỚP 10 THPT

Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội 2

Họ và tên sinh viên: Trần Thị Hằng Dân tộc: Kinh

Lớp: K66_CLC Năm thứ: 3/4 năm đào tạo Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Thế Bình

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị ThếBình, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình tìmhiểu và thực hiện bài tập chuyên môn của mình

Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luônđộng viên, cổ vũ, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể tập trung nghiêncứu và hoàn thành đề tài này

Tuy có nhiều cố gắng nhưng trong bài tập chuyên môn này của em khôngtránh khỏi những thiếu sót nhất định Em kính mong cô tiếp tục đóng góp ý kiến,giúp đỡ để bài tập chuyên môn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Trần Thị Hằng

MỤC LỤ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu 8

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Đóng góp của đề tài 8

8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9

9 Cấu trúc của đề tài 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10

1.1 Cơ Sở lý luận 10

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 10

1.1.2 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học và khả năng khai thác sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THPT 15

1.1.3 Ưu thế của tư liệu hiện vật tại bảo tàng Dân tộc học trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX) 18

1.1.4 Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT 21

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT 23

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT 31

1.2.1 Thực trạng việc khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử 31

1.2.2 Nguyên nhân và định hướng khắc phục những hạn chế 38

Tiểu kết chương 1 40

Trang 5

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG DẠY HỌC

LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 41

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam 41

2.1.1 Vị trí 41

2.1.2 Mục tiêu 41

2.1.3 Nội dung cơ bản 42

2.2 Khảo sát nguồn tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học đáp ứng việc dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX) 43

2.3 Một số hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học trong dạy học lịch sử 44

2.3.1 Trong giờ học nội khóa 44

2.3.2 Trong giờ học ngoại khóa 50

Tiểu kết chương 2 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 66

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Pestalogi_ nhà cải cách giáo dục người Thụy Sĩ đã từng nhận định rằng:

“Giáo dục là ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái

từng nhận định: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để

thay đổi cả thế giới”2 Hiện nay, với sự thay đổi không ngừng của tình hình thếgiới do sự tác động của nhiều yếu tố đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học côngnghệ 4.0 đãvà đang tác động đến đội ngũ tri thức, đặc biệt là đội ngũ thầy côgiáo hiện nay đang đứng trên bục giảng Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế, giáo dục cho học sinh trở thành một nội dung quan trọng được tất

cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Ở nước ta hiện nay, Đảng và nhànước luôn quan tâm đến giáo dục, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là chìakhóa mở cửa tiến vào tương lai

Theo nhịp độ đổi thay của thế giới, nền giáo dục Việt Nam cũng đượcđiều chỉnh, đổi mới cho phù hợp Một trong những quan điểm đổi mới giáo dục

và đào tạo được nêu trong Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI của

BCHTW là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng

hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức các hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” 3 Điều đó cho thấy hiện

nay Đảng và nhà nước ta đặc biệt nhấn mạnh đến đổi mới hình thức và phương

1 http://khotangdanhngon.com/tac-gia/pestalogi

2 https://vnwriter.net/nhan-vat/20-cau-noi-truyen-cam-hung-cua-huyen-thoai-nelson-mandela.html

3 Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo, tr.2.

Trang 7

pháp dạy học theo hướng hiện đại Trong nhà trường phổ thông, mỗi môn họcvới những đặc trưng riêng nhưng đều có chung nhiệm vụ đó là góp phần đào tạohọc sinh một cách toàn diện Trong đó, Lịch sử là một môn học có vai trò rấtquan trọng việc giáo dục con người mới Bởi lịch sử chính là bản thân của cuộcsống, lịch sử là cô giáo của cuộc sống.

Lịch sử là những sự việc đã xảy ra, có thật, nó tồn tại khách quan trongquá khứ Do đó, không thể phán đoán, suy luận hay tưởng tượng để nhận thứclịch sử Nhận thức lịch sử phải thông qua những “dấu tích” của quá khứ, nhữngchứng cứ về sự tồn tại của các sự vật đã diễn ra Trong dạy học lịch sử, lời nóicủa người thầy có vai trò quan trọng để tạo biểu tượng, hình thành khái niệmlịch sử cho học sinh nhưng dù sao cũng không thể thay thế hoàn toàn cho việc

sử dụng đồ dùng trực quan Trong dạy và học lịch sử, phương pháp trực quangóp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sựkiện và khắc phục tình trạng hiện đại hóa lịch sử của học sinh Nhà giáo dục học

K.D Usinxki từng khẳng định: “Hình ảnh được lưu giữ đặc biệt vững chắc

trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng trực

hàng trăm bảo tàng, di tích lịch sử tại Việt Nam Bảo tàng là cơ quan giáo dụccộng đồng, là nơi lưu giữ kí ức của các dân tộc Là cơ quan văn hóa – giáo dụcthực hiện chức năng giáo dục, tuyên truyền, bảo tàng đã đang và sẽ góp phầngiáo dục nhằm nâng cao dân trí, tăng cường sự hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào

về truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng đất nướcngày càng phát triển Cùng với nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, rạp chiếu phim

và các khu vui chơi giải trí khác, bảo tàng thuộc hệ thống giáo dục ngoài nhàtrường, có chức năng giáo dục quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện nhân cáchcon người Nhiệm vụ giáo dục con người là nhiệm vụ chung cho toàn xã hội Do

đó, tất cả các bảo tàng đều có trách nhiệm trong việc giáo dục công dân mà cụthể ở đây là các em học sinh

4 “Lịch sử là gì” của N.A Erophêep – NXB giáo dục Hà Nội 1991, tr.7

Trang 8

Hà Nội – nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước Mỗi bảo tàng đều

có nội dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng trong công tác dạy vàhọc tập môn lịch sử Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâmKhoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia với một khối lượng đồ sộ những tư liệuhiện vật được sưu tầm, bảo quản Nhờ vậy, bảo tàng đã góp phần quan trọng vàoviệc bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời trở thành một trung tâm thông tin, tư liệuđặc thù, cho phép tất cả mọi người trực tiếp quan sát, nghiên cứu các dân tộctrên mọi miền đất nước ngay tại Thủ đô Hà Nội Các hiện vật trưng bày tại Bảotàng Dân tộc học trước hết giúp học sinh hiểu thêm những sự kiện về đời sốngvăn hóa của các dân tộc mà các em chưa có điều kiện tiếp cận trong chươngtrình, sách giáo khoa Đồng thời, việc quan sát các tư liệu hiện vật đang đượctrưng bày tại bảo tàng cũng góp phần giúp các em hiểu được toàn cảnh về đờisống văn hóa, vật chất cũng như đời sống tinh thần của 54 dân tộc trên lãnh thổViệt Nam

Tuy nhiên, hiện nay do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên việc sửdụng nguồn tư liệu hiện vật tại bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam nói riêng trong dạy học lịch sử vẫn chưa được tiến hành một cách thườngxuyên và rộng rãi Xuất phát từ thực tiễn đó và từ việc nhận thức được chứcnăng của Bảo tàng trong dạy học lịch sử cho học sinh trung học phổ thông,

chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX)” lớp 10 THPT làm đề tài nghiên cứu cho bài tập chuyên môn của mình.

tư liệu hiện vật tại bảo tàng

Trang 9

2.1 Tài liệu nước ngoài

T.A Cudrinoi với tác phẩm: “Bảo tàng và trường phổ thông” (Matxcơ va

– NXB Giáo dục – 1985) đã nêu rõ lịch sử phát triển của các ngành bảo tàng nóichung, chức năng của bảo tàng Xô viết nói riêng và tính giai cấp của chúng Đặcbiệt, tác giả nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục của bảo tàng đối với học sinh và nêu rõmột số phương pháp sử dụng bảo tàng trong dạy học

A.E.Xaynhenxki, trong quyển “Bảo tàng giáo dục thế hệ trẻ” (Matxcơ va

– NXN Giáo dục – 1988) đã trình bày khái quát lịch sử phát triển của bảo tàngchính trị - xã hội ở nhà trường Xô viết, cách xây dựng bảo tàng phổ thông và tổchức hoạt động của chúng Tác giả nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng bảotàng trong giờ học nội khóa, ngoại khóa của giáo viên với việc sử dụng bảo tàng

2.2 Tài liệu trong nước

Trong cuốn sách “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên chủ

biên (NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2010) đã đề cập đầy đủ vị trí, ý nghĩa củahoạt động ngoại khóa, các hình thức tổ chức và cách tiến hành những hoạt độngngoại khóa trong dạy học lịch sử Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh đến việc tổchức hoạt động tham quan bảo tàng, khu di tích lịch sử - văn hóa

Trong cuốn sách “Phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường trung học

phổ thông” do Vũ Quang Hiền – Hoàn Thanh Tú chủ biên (NXB Đại học Quốc

Gia Hà Nội, 2014) đã khái quát vị trí, ý nghĩa của hình thức dạy học tại bảo tàng

và hoạt động ngoại khóa Lịch sử Đồng thời, tác giả đề xuất các biện pháp vàhình thức tiến hành dạy học và tổ chức hoạt động ngoại khóa phù hợp tại bảotàng cho học sinh ở trường THPT

Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch

sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội,

2006) đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tham quan học tập ở nhàbảo tàng lịch sử, cách mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử cho học sinh ởtrường trung học phổ thông Tác giả khẳng định, thông qua các hiện vật trưngbày hoặc đồ phục chế về quá khứ giúp học sinh được trực quan sinh động những

Trang 10

sự kiện lịch sử, làm giàu cho các em những biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗdựa để hình thành các kết luận khoa học Đặc biệt, học sinh được liên hệ kiếnthức lý luận và thực tiễn, gắn nhà trường với xã hội.

Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” do

Nguyễn Thị Côi chủ biên (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011) đã đề cập đến

ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa, rèn luyện năng lực tổ chức và cách thức tiếnhành tổ chức hoạt động ngoại khóa Trong đó, đặc biệt tác giả có đưa ra ví dụxây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Cuốn sách “Bảo tàng di tích nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học Lịch sử

cho học sinh phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thành (NXB Giáo dục

Việt Nam, 2014) đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ hỗ trợ giữaviệc truyền thụ kiến thức lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mớitrong việc dạy và học lịch sử từ bảo tàng và dic tích Tác giả với những trảinghiệm từ thực tế của mình đã đưa những tri thức lịch sử, giá trị truyền thống tốtđẹp của dân tộc vào vị trí não học sinh ở ngoài nhà trường mà trước hết là tạicác bảo tàng, di tích Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày rất rõ tiến trình tổ chứcngoại khóa lịch sử tại bảo tàng thông qua hoạt động của Câu lạc bộ “Em yêuLịch sử”

Trong các công trình nghiên cứu, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

của tác giả Nguyễn Thị Xuyến (2015) về “Sử dụng tư liệu gốc phần Lịch sử Thế

giới (thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã trình

bày được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử.Đồng thời tác giả đã thống kế đước các loại tư liệu cần và có thể khai thác sửdụng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Trong luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Chu Ngọc Quỳnh

về “Sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy

học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông”, 2015 Trường Đại học Giáo dục – Đại

học Quốc Gia Hà Nội đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu tạiBảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học lịch sử

Trang 11

Đồng thời, tác giả đã thống kê được các loại tư liệu tại hai bảo tàng cần và cóthể khai thác sử dụng trong dạy học lịch sử Đặc biệt, trong luận án tác giả đã đềxuất một số biện pháp sử dụng các loại tư liệu tại hai bảo tàng trong dạy học lịch

sử cho học sinh trung học phổ thông

Trong lĩnh vực tạp chí, tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 10, năm 1997,đồng tác giả Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Văn Phong, trường Đại học Sư phạm Hà

Nội với đề tài: “Khai thác và sử dụng tư liệu của Bảo tàng, nhà truyền thống

vào dạy học Lịch sử dân tộc ở trường phổ thông” đã khái quát các hình thức,

phương pháp khai thác và sử dụng tư liệu để dạy học bài lịch sử nội khóa tại bảotàng hoặc ở trường phổ thông; khai thác và sử dụng tư liệu để tổ chức các triểnlãm, ra báo học tập nhân các ngày lễ lớn của đất nước

Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 29 (90) tháng 8/2013, TS Hoàn Thanh Tú

– Chu Ngọc Quỳnh với đề tài: “Xây dựng chương trình hoạt động ngoại khóa

Lịch sử tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” đã nhấn mạnh được vị trí và vai trò

của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong việc cung cấp kiến thức, phát triển kĩnăng và dạy học thái độ cho học sinh, trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sử dụng bảotàng này trong dạy học lịch sử phù hợp với đối tượng học sinh lớp 10 trung họcphổ thông

Như vậy, thông qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan đến đề tài, chúngtôi nhận thấy rằng các tác giả đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của bảo tàng trongdạy họclLịch sử; đánh giá được thực trạng sử dụng các bảo tàng trong dạy họclịch sử; xác định yêu cầu cơ bản cũng như cách thức tiến hành sử dụng bảo tàng

để dạy học Tuy nhiên, chưa có một tác phẩm hay công trình nào đề cập cụ thểđến vấn đề sử dụng nguồn tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Namtrong dạy học lịch sử cho học sinh ở trường trung học phổ thông Đó chính là cơ

sở, là động lực để chúng tôi thực hiện đề tài này, với mong muốn góp phần nângcao chất lượng dạy và học môn lịch sử ở trường phổ thông

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học trong dạy học lịch sửViệt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX) lớp 10 THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài giới hạn trong việc đi sâu nghiên cứu về các

hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam trong dạy học lịch sử

- Phạm vi điều tra: Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát trên 4 giáo viên

và 100 học sinh trường THPT Chuyên sư phạm

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của tư liệu hiện vật tại Bảo tàngDân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử, đề tài xác định mục tiêu, nội dung,nguồn tư liệu phù hợp để đề xuất các hình thức và biện pháp sử dụng tư liệuhiện vật tại bảo tàng để tổ chức dạy học nội khóa và ngoại khóa cho phần: Lịch

sử Việt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàngtrong dạy học lịch sử như: khái niệm, nội dung, yêu cầu, ưu thế của Bảo tàngDân tộc học trong dạy học lịch sử

- Nghiên cứu nội dung chương trình lịch sử, phần lịch sử Việt Nam từnguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT, để xác định nội dung có thể sửdụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử

- Đề xuất các hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàngDân tộc học trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX)cho học sinh ở trường THPT

Trang 13

5 Cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lí luận củachủ nghĩa Mác Lê – nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhànước về công tác giáo dục nói chung, giáo dục lịch sử ở trường THPT nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã vận dụng:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các tài liệu tâm lí học,giáo dục học, các tài liệu giáo dục lịch sử, tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học,các tài liệu chuyên khảo, phương pháp dạy học lịch sử, chương trình, sách giáokhoa lịch sử phổ thông và các tài liệu có liên quan đến đề tài; dựa vào các nguồntài liệu từ sách báo, internet, thu thập các tư liệu có liên quan để phục vụ choviệc nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp điều tra thực tiễn: điều tra, đánh giá thực trạng của việc sửdụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học và bảng biểu Sửdụng phần mềm Excel nhằm xử lý số liệu thu thập được từ phương pháp điều trabằng câu hỏi khảo sát, thực nghiệm Dựa trên kết quả từ phiếu khảo sát, tiếnhành tính phần trăm số lượng đáp án

6 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu vận dụng đúng cách thức tổ chức cho học sinh học tập với tư liệuhiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT theo đề tài đề xuất sẽ tạo ra được sự say mê, hứng thú cho học sinh vàgóp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT

7 Đóng góp của đề tài

Thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra, đề tài nghiên cứu góp phần:

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảotàng Dân tộc học Việt Nam cho học sinh trong dạy học Lịch sử

Trang 14

- Phản ánh được thực trạng của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàngDân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

- Đề xuất một số hình thức và biện pháp sử dụng tư liệu hiện vật tạiBảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho học sinh trong chương trình lịch sử ởtrường THPT

8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

8.1 Ý nghĩa khoa học

Làm phong phú thêm lí luận phương pháp dạy học môn lịch sử nói chung

và phương pháp dạy học với tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sửnói riêng

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp bản thân nâng cao trình độ hiểu biết thực tế về dạy học lịch sử hiệnnay ở các trường phổ thông và sử dụng đồ dùng trực quan, tư liệu hiện vật tạibảo tàng vào dạy học lịch sử của bản thân sau này

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm có 2chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG DẠY HỌCLỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Chương 2: MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯLIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG DẠY HỌCLỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

TƯ LIỆU HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC TRONG DẠY

Hiện nay, xung quanh vấn đề về thuật ngữ bảo tàng có rất nhiều các cáchđịnh nghĩa khác nhau:

Với tổ chức ICOM (Hội đồng Bảo tàng quốc tế) thì bảo tàng “là thiết chế

tồn tại lâu dài, không vụ lợi nhằm phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội,

mở cửa phục vụ công chúng và tiến hành nghiên cứu liên quan đến di sản của con người và môi trường chung quanh” 5

Ở các nước châu Âu: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến

hành nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện vật gốc tiêu biểu của lịch sử, tự nhiện và xã hội, phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng Bảo tàng dành để phục vụ công chúng vì mục đích nghiên cứu

và sưu tầm 6 ”.

5 http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/27581602-bao-tang-khong-chi-la-noi-trung-bay-hien-vat.html.

6 http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/27581602-bao-tang-khong-chi-la-noi-trung-bay-hien-vat.html

Trang 16

Ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa, ban hành năm 2002, ghi rõ: “bảo

tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử, tự nhiên, xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân 7 ”

Hiện nay, bảo tàng được coi là cơ quan sưu tầm, lưu trữ, trưng bày vàhướng dẫn tham quan, nghiên cứu những hiện vật, những tư liệu phản ánhnhững chặng đường, những giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc của các quốcgia trên thế giới hay truyền thống của một ngành nào đó

Như vậy, bảo tàng là thứ học đường đặc biệt, là nơi giải trí tích cực, chơi

mà học, học mà chơi Được học tập tại Bảo tàng, học sinh dễ dàng ghi nhớ đượcnội dung kiến thức cơ bản thông qua những tài liệu, hiện vật gốc, những sa bản,tranh ảnh minh họa, sơ đồ…được trưng bày một cách có hệ thống Tất cả nhữngtài liệu, hiện vật đó được trưng bày ở bảo tàng góp phần quan trọng trong việc

hình thành, bổ sung kiến thức lịch sử cho học sinh Bảo tàng “là một trung tâm

thông tin, có lượng thông tin nguyên gốc, chính xác, phong phú, dễ tiếp cận và được nhận thức bằng phương tiện trực quan, sinh động 8 ” Sinh thời Chủ tịch Hồ

Chí Minh cũng đã rất đề cao vai trò của bảo tàng, Người đã từng nói: bảo tàng

“cũng như một cuốn sử…cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào mới

xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay 9

Như vậy, từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: Bảo tàng là cơquan sưu tầm, lưu trữ, trưng bày và hướng dẫn tham quan, nghiên cứu nhữnghiện vật, những tư liệu phản ánh những chặng đường, những giai đoạn phát triểncủa lịch sử dân tộc của các quốc gia trên thế giới hay truyền thống của mộtngành nào đó Mục đích của bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏamãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ

Tư liệu lịch sử

7 Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, tr.42.

8 Vũ Quang Hiền – Hoàn Thanh Tú (2014), Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr.173.

9 Trần Đức Minh, Khai thác tư liệu bảo tàng Lịch sử, cách mạng trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Quốc Gia về dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam,

Bộ giáo dục và Đào tạo – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tr.1

Trang 17

Đã có thời kì, người ta coi tư liệu lịch sử chỉ là những tài liệu chữ viết,nhưng sau đó, một số khác lại mở rộng khái niệm, coi “tư liệu lịch sử là tất cảnhững gì còn lại của cuộc sống đã qua” Có người coi “tư liệu lịch sử” như mộtphạm trù triết học, biểu hiện đặc tính phản ánh của hiện vật vì thế có thể sử dụng

để thu nhận tri thức về một hiện tượng khác Tư liệu lịch sử chứa đựng các sựkiện tư liệu Vì thế nó cũng mang những đặc điểm riêng biệt giống với các sựkiện tư liệu Hiện nay, chiếm số đông trong các nhà nghiên cứu đó là quan điểmcho rằng: Tư liệu lịch sử là những sản phẩm hoạt động của con người; nó xuấthiện như một hiện tượng xã hội, nhằm phục vụ cho một mục đích, một nhu cầunào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn

cảnh lịch sử cụ thể đã qua Từ đó, có thể hiểu rằng “tư liệu lịch sử là những di

tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa

cứu của các nhà sử học tư liệu lịch sử được phân thành nhiều loại và có nhiềucách phân loại khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản tùy theo nội dung và tính chấtcủa sử liệu, người ta thường chia tư liệu lịch sử thành 7 nhóm:

- Tư liệu thành văn

- Tư liệu ngôn ngữ

- Tư liệu vật chất

- Tư liệu truyền miệng dân gian

- Tư liệu dân tộc học

- Tư liệu phim ảnh, băng ghi hình

- Tư liệu băng ghi âm

Hiện vật bảo tàng

Đến nay, khái niệm hiện vật bảo tàng được nhiều nhà Bảo tàng học trong

và ngoài nước nghiên cứu: Có ý kiến cho rằng: “Hiện vật bảo tàng là nguồn

nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa

10 Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, tr 272

Trang 18

vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng với các hiện vật về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân nó chứng minh cho sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục 11 ”.

Từ nhận định trên có thể thấy: hiện vật ở bảo tàng trước hết là hiện vậtgốc (hiện vật lịch sử) của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội được sưu tầm từ môitrường thực tiễn khách quan tồn tại của nó, nên nó có tính khách quan và chânthực lịch sử Không ai có thể sáng tạo ra theo ý muốn chủ quan của mình Mộthiện vật gốc bao giờ cũng có hai mặt: một mặt được bộc lộ ra bên ngoài đượcgọi là hình thức của hiện vật như hình dáng, màu sắc, kích thước, trọng lượng,chất liệu, kỹ thuật chế tác…Còn mặt kia ẩn kín bên trong hình thức, nó bao hàmnội dung lịch sử, thông tin khoa học của hiện vật được coi là bản chất của hiệnvật Hình thức và nội dung của hiện vật đều có giá trị nhưng quan trọng nhấtthuộc về bản chất của hiện vật Thứ hai, hiện vật ở bảo tàng bao giờ cũng gắnvới một khoảng thời gian, không gian nhất định, gắn với một sự kiện, hiệntượng Đồng thời nó phải là những hiện vật phù hợp với nội dung và loại hìnhbảo tàng Như vậy, có thể nói hiện vật ở bảo tàng là một nguồn sử liệu đặc biệthàm chứa các tri thức về lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội

Từ cách định nghĩa và phân tích trên, có thể rút ra một số nhận địnhnhư sau:

- Hiện vật bảo tàng (sau khi được thẩm định tính xác thực và độ tin cậythông tin) là nguồn sử liệu hàm chứa những thông tin lịch sử quan trọng

- Hiện vật bảo tàng là vật chứng trung thực phản ánh khách quan các sựkiện lịch sử theo không gian, thời gian cụ thể Do đó, tính xác thực và độ tin cậycủa chúng đã được sử dụng để nâng cao tính khoa học của các kết luận và sựkiện lịch sử

Tư liệu, hiện vật bảo tàng

11 Nguyễn Thị Huệ, (1996) Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Trường Đại học khoa học xã hội và

nhân văn.

Trang 19

Tư liệu, hiện vật ở bảo tàng lịch sử, cách mạng, nhà truyền thống địaphương…là những dấu tích còn lại của quá khứ đã qua và là căn cứ chân thực,đáng tin cậy minh chứng cho sự tồn tại của lịch sử dân tộc, rất thuận lợi cho việc

nhận thức lịch sử Nó “cũng như là cuốn sử (…) cho ta thấy rõ ràng ông cha ta

đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp như ngày nay; Đảng và các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh như thế nào, nay mới có tự do, có độc lập, có công nghiệp, nông nghiệp phát triển 12 ” Vì vậy, trong dạy học lịch

sử, tư liệu gốc, hiện vật ở bảo tàng là phương tiện trực quan quan trọng, là cơ sởgiúp học sinh hiểu biết sâu sắc, đúng đắn lịch sử quá khứ, củng cố niềm tin vàxây dựng tư tưởng tình cảm đúng đắn đối với những sự kiện, hiện tượng lịch sử

đã học với hiện tại và tương lai, trong đó cần đặc biệt lưu ý là những tư liệu lịch

sử ở các bảo tàng, nhà truyền thống địa phương

Sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học Lịch sử: nhằm liên

hệ kiến thức lịch sử trên sách vở với thực tế lịch sử Trong đó, giáo viên đóngvai trò tìm hiểu, lựa chọn các tư liệu hiện vật của bảo tàng phù hợp với mục tiêubài học lịch sử, phù hợp với từng trường, từng lớp, từng đối tượng Từ đó, giáoviên thiết kế kế hoạch bài dạy với các phương pháp, hình thức tổ chức đa dạng

và phù hợp nhằm hướng dẫn học sinh tự khám phá sự kiện, hiện tượng lịch sửđược phản ánh qua tư liệu, hiện vật được trưng bày tại bảo tàng Như vậy, sửdụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sử giúp cho học sinh đượctrải nghiệm, cảm nhận được lịch sử không phải là những gì diễn ra trong quákhứ, xa rời thực tại cũng không phải là những điều đã được khám phá xong màcác em chỉ cần học thuộc Ngược lại, lịch sử rất gần gũi và các tư liệu hiện vậtđang được trưng bày tại bảo tàng tuyệt đối không định được mức giá trị Nó chỉ

có giá trị khi học sinh tự tìm hiểu, tự khám phá và tự trải nghiệm với nó

1.1.2 Khái quát về Bảo tàng Dân tộc học và khả năng khai thác sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

12 Nguyễn Thị Côi “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường PT”, NXB GD, HN, 1998”, tr.3.

Trang 20

a Khái quát về Bảo tàng dân tộc học Việt Nam

Kể từ năm 1981 khi Thủ tướng Chính phủ cho phép chuẩn bị những tiền

đề cho một bảo tàng tương lai, đến nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã bắtđầu phục vụ người xem trong nước và nước ngoài

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội vàNhân văn Quốc gia được tổ khởi công xây dựng vào năm 1990, khánh thành vàonăm 1997 Bảo tàng có chức năng nghiên cứu khoa học về các dân tộc, sưu tầm,phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu và khái thác nhữnggiá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc, đồng thời cung cấp tư liệu dân tộc họcđào tạo cán bộ nghiệp vụ quản lý cho loại hình bảo tàng dân tộc học Đây vừa làmột cơ sở nghiên cứu khoa học, vừa là một công trình văn hóa có tính khóa họccao và tính xã hội rộng lớn

Bảo tàng đã sưu tầm và đang bảo quản 25.000 hiện vật văn hóa của tất cả

54 dân tộc ở Việt Nam, trong đó bao gồm các hiện vật và tư liệu nghe nhìn Bảotàng Dân tộc học Việt Nam có hai khu trưng bày: khu trưng bày trong nhà vàkhu trưng bày ngoài trời

Hiện tại, khu trưng bày trong nhà được chia làm 9 chủ đề chính:

Thứ nhất, giới thiệu chung: Bước vào gian phòng này, người xem được

tiếp cận ngay với một tấm pano lớn, trên đó là hình ảnh chân dung của 54 dântộc Việt Nam và 5 bảng ngữ hệ (ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Hmông – Dao, ngữ

hệ Nám Á, ngữ hệ Thái – Ka Đai, ngữ hệ Nam Đảo) Ngoài ra, bảo tàng còncung cấp cho người xem lược đồ các nhóm ngôn ngữ - tộc người ở Việt Nam

Thứ hai, nhóm ngôn ngữ Việt – Mường

Ngay bên lối vào phòng trưng bày có pano giới thiệu một số thông tinchung nhất về các dân tộc Việt Nam với ảnh và bản đồ Có mô hình giới thiệu

về cách làm nón, làm đó, chợ bán nón, vận chuyển đó đi bán Một số nét vănhóa cổ truyền của người Việt được giới thiệu trong tủ kính trưng bày với các chủ

đề như: múa rối nước, nhạc cụ, tín ngưỡng thờ mẫu, tục ăn chầu, trò chơi dângian của trẻ em…Thờ cúng tổ tiên – nét văn hóa tiêu biểu của người Việt, được

Trang 21

thể hiện thông qua việc trưng bày một bàn thờ tổ tiên của một gia đình nông dân

Tiếp đến, bước lên tầng 2 là gian trưng bày mang tên “Một thoáng ĐôngNam Á”

Thứ ba, ngữ hệ Thái – Kai Đai

Nhóm ngữ hệ Tày – Thái: nét nổi bật trong phòng trưng bày là tái tạo mộtcăn nhà sàn của người Thái Đen Những hiện vật về văn hóa của người Tày,Thái, Nùng, Sán Chay, Bố Y…như mô hình nhà của người Tày, cửa sổ củangười Thái Đen, cây hoa nghi lễ của người Thái, lễ lẩu then của người Tày đượcchọn làm chủ đề tái tạo ở đây kết hợp với băng video minh họa

Nhóm ngữ hệ Ka – Đai bao gồm: trang phục, đồ dụng cụ của các dân tộc

Pu Péo, La Chí, Cờ Lao, La Ha

Thứ tư, ngữ hệ Hmông – Dao

Sau những thông tin chung nhất về dân tộc này được giới thiệu ở tấmpano là những tủ trưng bày vật dụng, trang phục của người Dao đỏ…

Không gian tái tạo dành cho nghề dệt vải sợi lanh của người Hmông và lễcấp sắc của người Dao đỏ kết hợp với video minh họa

Trang 22

Đây là phần trưng bày về văn hóa 5 dân tộc ở miền Bắc (Khơ Mú, XinhMun, Máng, Ơ Đu) và 15 dân tộc ở Trường Sơn – Tây Nguyên Các chủ đềchính ở đây là: trang phục phụ nữ của người Khơ Mú, Mảng; các vật dụng hàngngày của các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên…Ngoài ra, còn có lễ hiếnsinh trâu của người Ba Na được thể hiện trên video được trưng bày tại bảo tàng.

Thứ bảy, nhóm ngữ hệ Nam Đảo ở miền núi

Gian phòng giới thiệu về 4 dân tộc tại cao nguyên miền Trung: Gia Rai, Ê

Đê, Ra Giai và Chu Ru Đây là những dân tộc đang bảo lưu khá đậm nét truyềnthống văn hóa mẫu hệ và những dấu tích của nền văn hóa biển Các hiện vậtđược trưng bày tại đây bao gồm: mô hình nhà mồ, vật dụng của người Ra Giai,tượng gỗ trong lễ bỏ mả, các sản phẩm thủ công truyền thống của người Ê Đê vàChu Ru…phản ánh đời sống tinh thần của các dân tộc

Thứ tám, các dân tộc Chăm, Hoa, Khơ Me

Mỗi dân tộc được giới thiệu trên một pano riêng với những nét văn hóatiêu biểu: tín ngưỡng – tôn giáo, nghề dệt, nghề gốm của người Chăm, trangphục đám cưới, hội múa lân của người Hoa…

Thứ chín, giao lưu văn hóa

Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc trong thời kỳ đổi mớihiện nay biến đổi nhanh chóng Vì vậy, gian phòng này tập trung giới thiệu về

sự biến đổi và phát triển của các dân tộc với mô hình tái tạo một phiên chợ vùngcao biên giới phía Bắc: chợ Đồng Văn (Hà Giang)

Khu trưng bày ngoài trời của bảo tàng bao gồm: Nhà trệt của người

Chăm; nhà ngói của người Việt; nhà dài của người Ê Đê; nhà rông của người BaNa; nhà sàn của người Tày; nhà nửa sàn, nửa đất của người Gia Rai; khu “ThủyĐình” – sân khấu của nghệ thuật múa rối nước

b Khả năng khai thác sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Nội dung trưng bày tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam rất phong phú vàđang dạng gồm: các hiện vật về trang phục, vũ khí, đồ dùng sản xuất…Tất cả

Trang 23

các tư liệu hiện vật đó được trưng bày một cách có hệ thống theo các nhóm ngữ

hệ, nội dung phù hợp với lịch sử Việt Nam (nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX) ởlớp 10 THPT Mỗi phần trưng bày phù hợp với từng bài học lịch sử cụ thể

Ví dụ: Khi dạy Bài 14: Các quốc gia cổ trên đất nước Việt Nam, các tư

liệu hiện vật tại bảo tàng có thể khai thác sử dụng trong bài học như:

- Bàn thờ gia tiên của người Việt

- Tục phồn thực: tượng nhà mồ của người Giarai

- Trang phục của người H’Mông (váy xòe)

Ví dụ: Các tư liệu hiện vật tại bảo tàng có thể khai thác phục vụ cho Bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII:

- Mô hình “lễ lên đồng” của người Việt

- Bàn thờ gia tiên của người Việt

- Nghề chạm khắc gỗ của người Việt

- Mô hình đám ma của người Mường

- Mô hình “lễ lẩu then” của người Tày

- Mô hình “lễ cấp sắc” của người Dao Đỏ

Như vậy, tư liệu hiện vật tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam rất đa dạng

và phong phú vì thế chúng ta không thể sử dụng được hết tất cả các tư liệu đóvào giảng dạy lịch sử mà trên cơ sở khai thác nội dung trưng bày chúng ta phảilựa chọn ra những tư liệu hiện vật phù hợp với các bài học cụ thể

1.1.3 Ưu thế của tư liệu hiện vật tại bảo tàng Dân tộc học trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc – giữa thế kỉ XIX).

Với những nội dung trưng bày ở trên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Namkhông chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức, mở rộng hiểu biết của người xem vềvăn hóa của 54 dân tộc với nguồn tư liệu hiện vật lên đến hành nghìn hiện vậtbao gồm: các hiện vật về đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc (ảnhmàu, phim âm bản, video…) Với số lượng tư liệu hiện vật đó có thể hình thànhnên nhiều bộ sưu tập khác nhau như các bộ sưu tập: vũ khí, đồ dùng sản xuất, đồvải, các loại trang phục dân tộc, đồ dùng sinh hoạt…Nguồn tư liệu hiện vật này

Trang 24

phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống, cả khía cạnh văn hóa vật thể và phi vậtthể Các hiện vật đó có thể đơn lẻ hoặc thành các bộ sưu tập khác nhau do đó tạonên sự đa dạng, sinh động, thể hiện tốt các khía cạnh văn hóa, lôi cuốn ngườixem Với nguồn tư liệu hiện vật phong phú như vậy, nếu có các biện pháp khaithác và sử dụng thích hợp sẽ phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, học tập lịch sửcho học sinh ở các trường THPT.

Những tư liệu hiện vật được lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Namchính là minh chứng cho sự tồn tại của lịch sử quá khứ Vì vậy, nó có ý nghĩatrong việc giúp học sinh nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống vật chất và đời sốngtinh thần của các cộng đồng dân tộc trên đất nước Việt Nam Đặc biệt, bảo tànggiúp cho học sinh có thêm hiểu biết về hoàn cảnh sống, khả năng kinh tế, tínngưỡng, trang phục, các trò chơi dân gian và những đóng góp của các cộng đồngdân tộc đối với lịch sử dân tộc

Mặt khác, việc sử dụng tư liệu hiện vật ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Namtrong dạy học Lịch sử còn giúp cho học sinh “trực quan sinh động”, quá khứ lịch

sử của các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S Điều này, góp phần làm choquá khứ xích lại gần với nhận thức của học sinh, biến những kiến thức trên sách

vở thành những hiểu biết cụ thể, sâu sắc về hiện thực Sử dụng nguồn tư liệuhiện vật tại Bảo tàng còn giúp học sinh hiểu một cách tự nhiên, sinh động quákhứ, khắc sâu kiến thức cơ bản, giúp các em nhớ lâu kiến thức, nâng cao hiểubiết lịch sử

Việc sử dụng các nguồn tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc Việt Namvào trong dạy học lịch sử có ý nghĩa to lớn về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục vàphát triển học sinh

Thông qua việc quan sát các tư liệu hiện vật sẽ giúp hình thành ở học sinhnhững biểu tượng lịch sử chân thực, sống động về đời sống vật chất, văn hóatinh thần của Việt cổ trong thời kì hình thành các quốc gia cổ trên đất nước ViệtNam như: quốc gia Văn Lang – Âu Lạc, quốc gia Cham - pa, quốc gia PhùNam cũng như truyền thống, ý thức đoàn kết, tinh thần lao động cần cù có từ

Trang 25

ngàn xưa của dân tộc Việt Nam Vì thế, khi quan sát các tư liệu hiện vật ởBảo tàng Dân tộc học Việt Nam (dưới sự hướng dẫn của giáo viên), các em sẽ

có cảm tưởng như quá khứ lịch sử ấy đang diễn ra trước mắt, như đang đượctham gia vào quá trình lịch sử Đó là cơ sở đáng tin cậy giúp học sinh hìnhthành những khái niệm như “văn hóa vật chất”, “văn hóa tinh thần”, “vănminh” một cách vững chắc Nhờ đó, việc tiếp thu tri thức lịch sử trở nên vữngchắc và sâu sắc hơn

Khi hướng dẫn học sinh quan sát các tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộchọc Việt Nam như: trang phục của váy xòe của người H’mông, trang phục củangười Kinh…không chỉ giúp học sinh ghi nhớ những đặc điểm về hình dáng,chất liệu mà thông qua tìm hiểu các em còn thực hiện một số thao tác tư duy nhưphân tích kết cấu, chất liệu, xuất xứ và so sánh các bộ trang phục để rút ra nhữngnét tương đồng và sự khác biệt giữa chúng…Từ đó, học sinh rút ra được kếtluận về trình độ, kĩ thuật và thẩm mĩ của các dân tộc

Nội dung của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trưng bày về đời sống tinhthần và vật chất của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Thông qua nhữngnguồn tư liệu hiện vật ấy, học sinh có thêm những hiểu biết về các giá trị truyềnthống và lịch sử quê hương ở khắp các vùng miền trong cả nước Từ đó, sẽ hìnhthành ở các em học sinh lòng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc trên khắpmọi miền tổ quốc, nhận thức được sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam, gắnvới nó là ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóatruyền thống của 54 dân tộc

Bên cạnh đó, khi đến với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, được tìm hiểu

về nguồn tư liệu hiện vật dưới hình thức tham quan, tham quan học tập, học sinhđược rèn luyện khả năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu (tập dượt nghiên cứu khoahọc), phát huy sáng kiến (tư duy độc lập tích cực) Điều đó cũng tác động lớntrong việc tạo ra không khí học tập, sự hứng thú, say mê và yêu thích đối vớimôn Lịch sử

Như vậy, với những điều phân tích ở trên chúng tôi nhận thấy Bảo tàngDân tộc học Việt Nam có ưu thế trong thực hiện các mục tiêu giáo dục, giáo

Trang 26

dưỡng và phát triển đối với các vấn đề văn hóa và truyền thống dân tộc trongdạy học lịch sử cho học sinh Việc khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảotàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháphữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT Đồngthời, có khả năng đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đang làvấn đề quan tâm hàng đầu trong công tác giáo dục.

1.1.4 Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Muốn sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trongdạy học lịch sử đạt được hiệu quả tốt nhất giáo viên cần phải đảm bảo thực hiệntốt những yêu cầu sau:

Thứ nhất, giáo viên cần xác định mục tiêu: Đây là một việc làm có vai trò

hết sức quan trọng, là yếu tố đầu tiên dẫn đến thành công khi tiến hành khai thác

và sử dụng những tư liệu hiện vật ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạyhọc lịch sử Đối với các dạng bài khác nhau, mục đích đặt ra cũng khác nhau

Do đó, việc xác định rõ mục tiêu trước khi tiến hành công việc là hết sức quantrọng, cần thiết và không thể thiếu được Với cách thức tiến hành bài học nộikhóa có sử dụng những tư liệu hiện vật của bảo tàng, giáo viên phải giúp các emphát huy được tư duy độc lập, tự nhận xét từ đó rút ra đánh giá của bản thân quaviệc tri giác các tài liệu ở bảo tàng Song song với việc truyền thụ kiến thức mới,giáo viên cần giúp đỡ các em sử dụng tư liệu hiện vật ở bảo tàng để củng cố kiếnthức đã học

Thứ hai, giáo viên cần biết lựa chọn, sử dụng tư liện hiện vật đang được

trưng bày tại bảo tàng phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy học và đối tượng họcsinh Bởi tư liệu hiện vật ở bảo tàng vô cùng đa dạng và phong phú Trong thờigian có hạn của bài học nội khóa hay giờ học ngoại khóa thì giáo viên phải biếtcân đối lựa chọn tư liệu hiện vật điển hình sao cho phù hợp với mục tiêu, nộidung của bài học lịch sử Đồng thời, việc lựa chọn đó phải đảm bảo được mốiquan liên hệ giữa tư liệu hiện vật với nội dung kiến thức lịch sử Phù hợp với

Trang 27

khả năng tìm tòi, khám phá và trình độ hiểu biết của học sinh, đặc biệt đảm bảocung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng, giáo dục thái độ và định hướng phát triểnnăng lực cho học sinh.

Thứ ba, giáo viên phải có kế hoạch tổ chức nhằm phát huy tính tích cực,

chủ động của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm Yêu cầu nàyđược thể hiện ở chỗ trong dạy học lịch sử giáo viên phải luôn đề cao vai trò hoạtđộng chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, tránh tác động một chiều Giáoviên luôn tạo điều kiện tối đa để học sinh tham gia vào các hoạt động từ các hoạtđộng trong khâu chuẩn bị như lập kế hoạch, phân công người thực hiện cụ thểtới hoạt động tìm hiểu tư liệu như quan sát, tìm tòi, khám phá, liên hệ kiến thức

đã có để giải thích các hiện tượng, sự vật đó Giáo viên giao nhiệm vụ rõ ràng,hướng dẫn cụ thể để học sinh biết cách thực hiện nhiệm vụ được giao với các tưliệu hiện vật, có sản phẩm do cá nhân hay nhóm tạo ra Từ đó các em sẽ phấnkhởi càng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, điều đó càng khuyến khích học sinhlàm việc tích cực nhiệt tình hơn các em có cơ hội để thể hiện mình Trong quátrình làm việc với tư liệu hiện vật, các em được áp dụng những kiến thức, sựhiểu biết của cá nhân để nhận biết các sự vật, hiện tượng, các em được trảinghiệm với những tình huống, có thể chỉ là những tình huống được dựng lại,được mô tả lại nhưng nó có tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm của học sinh,bên cạnh đó cũng giúp các em phát triển tốt hơn về một số kĩ năng sống

Thứ tư, giáo viên cần kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức thực hiện.

Căn cứ vào chủ đề, mục tiêu đã xác định, hoàn cảnh cụ thể của trường lớp vàkhả năng của học sinh để xác định nội dung phù hợp cho hoạt động bằng cáchliệt kê đầy đủ những nội dung của hoạt động từ đó lựa chọn hình thức hoạt độngtương ứng

Để tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn, một hoạt động có thể tiếnhành với nhiều hình thức khác nhau Các hoạt động được thực hiện đan xenhoặc có một hình thức trung tâm và các hình thức bổ trợ, tránh sự trùng lặp, gâynhàm chán Có nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy thuộc ở mục đích,

Trang 28

trình độ của học sinh, thời gian tiến hành Hình thức tổ chức có thể mang tínhquần chúng (toàn trường, từng khối lớp), một tập thể nhỏ (từng lớp, từng tổ haynhững học sinh khác lớp nhưng cùng sống trên một địa bàn) hay cá nhân.

Thứ năm, giáo viên cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả sử

dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử phù hợp với mục tiêu,nội dung chương trình hoạt động Kiểm tra, đánh giá có thể tiến hành dướinhững hình thức khác nhau như: viết bài thu hoạch, từng học sinh trình bày haynhóm học sinh trình bày sản phẩm, poster quảng bá Kết quả kiểm tra đánh giáphản ánh việc sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử có đạtđược mục tiêu đề ra hay không, từ đó giáo viên rút ra được kinh nghiệm cho lần

tổ chức thực hiện tiếp theo

Như vậy, việc sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạy học lịch sửđòi hỏi giáo viên cần chủ động tìm hiểu, khai thác, lựa chọn tư liệu, hiện vật phùhợp Bên cạnh đó, yếu tố đóng góp rất lớn vào sự thành công của bài học đóchính là tinh thần tích cực, chủ động tham gia và khả năng sáo tạo của học sinh

Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch dạy học giáo viên cần phối hợp linh hoạt, nhuầnnhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phù hợp với khả năng

và trình độ của học sinh để thu hút đông đảo các em học sinh tham gia

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

1.1.5.1.Vai trò

Đối với giáo viên

Sử dụng tư liện hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy họclịch sử góp phần giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học, khắc phục lối dạyhọc truyền thống truyền thụ một chiều của giáo viên với học sinh, tạo hứng thúhọc tập cho học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướngphát triển năng lực hiện nay cho học sinh Với những tư liệu hiện vật tại bảotàng giáo viên có thể tổ chức hoạt động học tập nội khóa hay ngoại khóa tại bảotàng góp phần phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình hình thành

Trang 29

kiến thức cơ bản Trên cơ sở các tư liệu hiện vật đó, giáo viên hướng dẫn họcsinh nêu và giải quyết vấn đề, biết phân tích và so sánh, nhận định và vận dụngkiến thức đã học vào thực hành bộ môn và cuộc sống.

Đồng thời, khi sử dụng các tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam trong dạy học lịch sử giáo viên cần phải nắm vững nội dung trưng bày tạibảo tàng để có thể lựa chọn những tư liệu hiện vật sao cho phù hợp, có hiệu quảcao nhất đối với bài học

Đối với học sinh

Những kết quả nghiên cứu về tâm lý của nhiều nhà khoa học trong nướccho thấy quá trình nhận thức của con người diễn ra theo con đường từ nhậnthức cảm tính (cảm giác, tri giác, nhớ…) đến nhận thức lý tính (tư duy…), tức

là từ các yếu tố trực quan như các sự vật, hiện tượng, tranh vẽ, lời nói…Trongnhận thức, con người xây dựng được những biểu tượng về các sự vật, hiệntượng…Đó là những tài liệu cảm tính Từ các tài liệu cảm tính nhờ các thaotác tư duy (phân tích, so sánh…) sẽ hình thành khái niệm về những điều đãđược tri giác trước đó

Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng diễn ra theo quy luật chungnhư trên Đặc điểm của học tập lịch sử là học những điều đã không tái diễn trởlại, vì vậy “trực quan sinh động” trong nhận thức lịch sử không thể bắt nguồn từcảm giác trực tiếp về sự kiện, hiện tượng mà từ những biểu tượng cụ thể đượctạo nên trên cơ sở tri giác tài liệu Không có biểu tượng thì không có khái niệm,hoặc khái niệm xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn cũng là những kháiniệm trống rỗng, thiếu nội dung phong phú Cho nên để có cơ sở cho việc nhậnthức khái quát, cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với các phươngpháp dạy học khác, trong đó có các tư liệu hiện vật tại bảo tàng vào dạy học lịch

sử ở trường THPT Chính vì vậy, sử dụng tư liệu hiện vật tại bảo tàng trong dạyhọc lịch sử là cần thiết nhằm làm sinh động, phong phú bài giảng, tạo được sựhấp dẫn, thu hút được sự hứng thú của học sinh trong học tập; giúp các em hiểuđược bản chất của các sự kiện lịch sử

Trang 30

Hiện nay, ngoài nguồn thông tin từ sách vở, bài giảng của thầy (cô) giáotrên lớp, học sinh còn tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn thông tin khác nhau nhưsách báo, tạp chí, internet…Do đó, học sinh ngày càng có nhiều kiến thức sâurộng hơn so với các thế hệ cùng tuổi trước đó Nhưng những nguồn thông tin màcác em thu được ngoài nhà trường không hoàn toàn đúng Chính vì vậy, các emcần phải được hướng dẫn để có khả năng phân biệt chỗ đúng, chỗ sai của thôngtin đó Phương tiện trực quan nói chung, tư liệu hiện vật tại bảo tàng nói riênggóp phần bồi dưỡng khả năng này cho học sinh.

Để nhận thức đúng về các tư liệu hiện vật tại bảo tàng không phải làchuyện đơn giản, vì những hiện vật đó đã tách khỏi hiện thực lịch sử của thời kỳsinh ra nó Hiện vật chỉ là “dấu vết”, những “mảnh” của quá khứ còn tồn tại chứkhông phải là toàn bộ quá khứ Vì vậy, khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật tạibảo tàng giáo viên phải giúp học sinh phát huy các năng lực nhận thức, trong đóđặc biệt là óc tưởng tượng và tư duy để các em hiểu đúng lịch sử

Đặc biệt, tư liệu hiện vật tại bảo tàng còn có thể diễn tả, chứng minhnhững sự kiện quan trọng nhất của đất nước ở một thời kì lịch sử nhất định nhưtục ăn trầu, bàn thờ gia tiên của người Việt, tượng nhà mồ của người Giarai thểhiện cho sự tồn tại của các quốc gia cổ đầu tiên trên đất nước ta Trên cơ sở trigiác các tư liệu hiện vật tại bảo tàng thông qua các thao tác tư duy học sinh nhậnthức được những nét đặc trưng cơ bản, bản chất của các sự kiện, hiện tượng đểhình thành khái niệm: “văn minh vật chất”, “văn minh tinh thần”…

Trong quá trình học tập, học sinh được tiếp xúc với các tư liệu hiện vật tạiBảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ đó hình thành những khái niệm, rút ra nhữngquy luật, lý thuyết khái quát, tức là nắm cái trừu tượng Nó giúp học sinh khôiphục lại quá khứ như đã tồn tại và hiểu đúng lịch sử

Việc khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam đảm bảo cho quá trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luậtnhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quan trong học tập lịch sử Vì vậy, đây làcông cụ cần thiết, là nguồn kiến thức vô giá đối với học sinh trong học tập Ở

Trang 31

đây không chỉ dùng lời nói để miêu tả sự kiện lịch sử một cách đầy đủ, nguyênvẹn, mà phải tạo biểu tượng cụ thể, sinh động qua hiện vật Bởi vì, dù có miêu tảhay đến mấy giàu cảm xúc đến như thế nào đi chăng nữa thì cũng không đủ sứcthuyết phục bằng các hiện vật, tư liệu gốc tại bảo tàng.

1.1.5.2 Ý nghĩa

Hình thành kiến thức

Với nguồn tư liệu hiện vật đa dạng, phong phú, cụ thể và được sắp xếptheo thứ tự ngữ hệ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam góp phần làm hiện lêntrước mắt học sinh những bức tranh quá khứ sinh động, giúp học sinh nhanhchóng nắm chắc được kiến thức cơ bản của bài học, khắc phục được xu hướng

“hiện đại hóa lịch sử” của học sinh Bởi nguồn tư liệu hiện vật rất đa dạng vàphong phú nó phản ánh những hoạt động của con người trong quá khứ về đờisống vật chất, đời sống tinh thần, lao động sản xuất của các cộng đồng dân tộcViệt Nam

Ví dụ: Khi dạy bài 20_Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc, ngoài

những bức tranh học sinh đã được quan sát trong sách giáo khoa như: chùa mộtcột (Hà Nội), lan can đá chạm rồng tại thềm điện Kinh Thiên (Hà Nội)…tại Bảotàng Dân tộc học Việt Nam giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh quan sát cácphòng trưng bày với các tư liệu hiện vật như: Trống, kèn, sáo, đàn bầu, đàn nhị,đàn nguyệt, đàn tì bà…Đây là các loại nhạc cụ truyền thống của người Việt haynhững nhạc cụ của người Mường, Thổ, Chứt Từ đó, học sinh sẽ hiểu hơn cụ thểhơn về những nét đặc sắc trong đời sống tinh thần của các cộng đồng dân tộctrên đất nước Việt Nam

Khi quan sát các tư liệu hiện vật tại bảo tàng học sinh nhận thức đúngđược bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó tạo điều kiện cho việc

hình thành khái niệm lịch sử bởi “Biểu tượng lịch sử càng chân thực, cụ thể bao

nhiêu thì khái niệm hình thành càng vững chắc bấy nhiêu13”

Ví dụ: Khi dạy bài 14_Các quốc gia cổ trên đất nước Việt Nam, giáo viên

có thể giới thiệu cho học sinh những tư liệu tại Bảo tàng Dân tộc học như: Tục

13 Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Lê Văn Thăng (1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm,

Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.16.

Trang 32

ăn trầu, Bàn thờ gia tiên của người Việt, tục phồn thực, tượng nhà mồ của ngườiGia rai Từ đó, học sinh sẽ hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của những

cư dân cổ trên đất nước Việt Nam và hình thành các khái niệm “văn minh vậtchất”, “văn minh tinh thần”, “văn minh”…

Tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ là nguồncung cấp kiến thức cho học sinh mà còn là “đồ dùng trực quan” giúp học sinhhiểu sâu, nhớ lâu những kiến thức lịch sử đã học

Ví dụ: Khi dạy bài 24_Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII, giáo

viên có thể sử dụng những tư liệu ở bảo tàng để dạy: cho học sinh quan sát

“Nghề chạm khắc gỗ của người Việt” để các em nhận thức được sự phát triểncủa các nghề thủ công lúc bấy giờ

Như vậy, sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Namtrong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng đối với việclĩnh hội kiến thức lịch sử của học sinh

Rèn luyện kĩ năng

Sử dụng tư liệu hiện vật ở bảo tàng trong dạy học lịch sử dân tộc gópphần rèn luyện cho học sinh những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hóa trừu tượng hóa Việc dử dụng tư liệu hiện vật ở bảo tàngkhông chỉ dừng lại ở việc minh họa, tạo biểu tượng lịch sử dân tộc mà còn từngbước hình thành khái niệm giúp học sinh nắm vững đặc trưng bản chất, mối liên

hệ giữa các sự kiện lịch sử, rút ra bài học, quy luật lịch sử

Ví du: Khi cho học sinh quan sát tượng nhà mồ, mô hình nhà rông của các

dân tộc ở Tây Nguyên, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: Em có nhận xét gì về

nhà mồ của các dân tộc ở Tây Nguyên? Học sinh quan sát mô hình và có thể mô

tả lại Để tiếp phát triển tư duy cho học sinh giáo viên có thể hỏi thêm: Tại sao

người Giarai lại xây dựng nhà mồ? Tại sao lại đẽo theo hình các con vật và phụ

nữ mang thai? Học sinh suy nghĩ trả lời sau đó lắng nghe lời giải thích từ giáo

viên: Sở dĩ mà người Giarai xây dựng tượng gỗ xung quanh nhà mồ là xuất phát

từ quan niệm mang tính tâm linh, thể hiện mong muốn canh giữ không cho “ma”

Trang 33

vào nhà quấy rối con cháu, còn tượng người phụ nữ mang thai thể hiện quanniệm kiếp sau của người Giarai, phong tục đó còn thể hiện khát vọng sinh sôinảy nở và tín ngưỡng phồn thực của người Tây Nguyên.

Sử dụng các tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc Việt Nam trong dạy họclịch sử còn giúp học sinh phát triển các năng lực tri giác như quan sát, hình dung,tưởng tượng về các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách sinh động và cụ thể

Ví dụ: Khi dạy bài 25_Tình hình chính trị, kinh tế văn hóa dưới triều

Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX), giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát “nghề làm

nón làng Chuông của người Việt”, “nghề làm tranh Đông hồ” “Nghề dệt thổcẩm của người Mường, người Thái, người Tày”, “nghề tạo hoa văn bằng sápong của người H’mông”, “nghề làm gốm của người Việt” Từ đó, học sinh sẽhình dung tưởng tượng, phát triển tri giác của mình, học sinh sẽ thấy được sựphát triển về kinh tế của đất nước trong giai đoạn này thông qua các nghề thủcông truyền thống đồng thời nhận thấy được nét đặc sắc của mỗi một dân tộcqua các nghề thủ công đó

Dưới sự dẫn dắt của giáo viên bộ môn, của hướng dẫn của nhân viên tạibảo tàng học sinh được rèn luyện kỹ năng quan sát, khả năng tưởng tượng, diễnđạt logic kiến thức thông qua các tư liệu hiện vật tại bảo tàng Đồng thời, các emcòn phải phân tích, đối chiếu, so sách các tư liệu hiện vật tại bảo tàng với kiếnthức trong sách giáo khoa Từ đó, góp phần phát triển khả năng nhận thức đặcbiệt là năng lực tư duy Bên cạnh đó, với các tư liệu hiện vật tại Bảo tàng giáoviên hướng dẫn học sinh lập luận chặt chẽ, khúc triết và trình bày được một cáchtổng hợp bằng ngôn ngữ khoa học về các sự kiện lịch sử đã học, tự mình làmđược các đồ dụng trực quan như: mô hình các nhạc cụ truyền thống của các dântộc: đàn nhị, đàn bầu…hay những chiếc nón là của cộng đồng người Việt

Như vậy, việc khai thác và sử dụng nguồn tư liệu hiện vật tại Bảo tàngDân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử nhằm đảm bảo cho quá trình tư duycủa học sinh diễn ra hợp quy luật nhận thức và đảm bảo nguyên tắc trực quansinh động trong dạy học lịch sử

Trang 34

Bồi dưỡng thái độ, tư tưởng, thái độ

Tại bảo tàng, học sinh được trực tiếp quan sát các tư liệu hiện vật, từ đógiúp các em có biểu tượng cụ thể về những sự kiện đã qua Điều này, có ý nghĩarất lớn đối với việc khắc sâu kiến thức lịch sử, giáo dục niềm tin, giáo dục tưtưởng, tình cảm cho học sinh Bảo tàng Dân tộc học là ngôi nhà chung của 54dân tộc, có ưu thế lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thốngđoàn kết, lòng tự hào, tự tôn dân tộc

Ví dụ: Khi đến Bảo tàng Dân tộc học được trực tiếp quan sát những bộtrang phục độc đáo của các cô gái Tày, Thái, Lự, H’mông…các em sẽ thấy đượcnét đặc sắc, bí ẩn riêng của từng dân tộc Trang phục là “ngôn ngữ” của từngdân tộc, thể hiện phong cách và quan niệm riêng của từng dân tộc Mặc dù, cáctrang phục có sự khác nhau tuy nhiên nó đều có sự thống nhất chung trên nềntảng đó là trang phục của những người phụ nữ: đẹp mắt, duyên dáng, cầu kì, tinh

tế và kín đáo Thông qua những bộ trang phục này, hình thành ở các em học sinhlòng tự hào, khâm phục về tài năng, sự sáng tạo và những nét mang đậm bản sắccủa từng dân tộc

Sử dụng các tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học trong dạy học lịch

sử còn có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm và đạo đức

Ví dụ: Khi cho học sinh quan sát các hiện vật như công cụ lao động,những tác phẩm nghệ thuật hay những công trình kiến trúc ở khuôn viên ngoàitrời của bảo tàng: nhà rông, nhà dài của người Ê đê học sinh sẽ thấy được sựsáng tạo của các dân tộc Từ đó, có thái độ trân trọng, cảm phục trước nhữngngười lao động, có ý thức giữ gìn bảo vệ các di sản văn hóa của các dân tộc

Ngoài ý nghiã giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, bảo tàng còn giúpgiáo dục học sinh biết cách sưu tầm, làm giàu kiến thức lịch sử và đồ dùngtrực quan trong học tập Điều này đặc biệt cần thiết đối với những trường nằmcách xa bảo tàng

Định hướng phát triển năng lực.

Trang 35

Khi sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạyhọc Lịch sử, giáo viên sẽ kết hợp sử dụng loại tư liệu này với nhiều phươngpháp khác nhau như: thuyết trình, đóng vai, dự án…Từ đó, sẽ giúp các em pháttriển nhiều kĩ năng Khi các kĩ năng trở nên thuần thục thì học sinh sẽ phát triểncác năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt của môn lịch sử Trong đó,các năng lực chung cần hình thành cho học sinh bao gồm: Năng lực tự học, nănglực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực sửdụng công nghệ thông tin, năng lực thẩm mĩ, năng lực tính toán, năng lực thểchất Các năng lực riêng cần hình thành cho học sinh trong dạy học lịch sử là:năng lực tìm tòi và khám phá lịch sử, năng lực nhận thức và tư duy lịch sử, nănglực vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn.

Ví dụ: Khi giáo viên đưa học sinh đến Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, để

thu thập thông tin cho dự án “Rạng ngời văn hóa các dân tộc việt Nam” Dự án

Sau khi thu thập thông tin từ Bảo tàng, các nguồn tài liệu khác (internet)

và hoàn thành sản phẩm dự án (sản phẩm có thể là: các trang phục tự thiết kế,các mô hình mô phỏng nhạc cụ truyền thuyết…) học sinh sẽ phát triển năng lựcthu thập và xử lý thông tin, năng lực giải quyết vấn đề

Như vậy, với tất cả những ý nghĩa được phân tích ở trên đây, chúng tôikhẳng định: việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cóvai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng, giáo dụcnhân cách và định hướng phát triển năng lực cho học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Trang 36

1.2.1 Thực trạng việc khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dạy học lịch sử.

Để có thể hiểu được thực trạng của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảotàng Dân tộc Việt Nam trong dạy học lịch sử cho học sinh ở trường THPT hiệnnay, chúng tôi tiến hành trao đổi và điều tra bằng phiếu khảo sát cho giáo viên

và các em học sinh ở trường THPT Chuyên sư phạm

- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên và học sinh trongquá trình tổ chức học tập với các tư liệu hiện vật tại bảo tàng từ đó đề xuất ýkiến nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dântộc Việt Nam trong chương trình lịch sử THPT

- Làm cơ sở thực tiễn để đối chiếu lí luận, đưa ra những hình thức, biệnpháp tổ chức học tập với các nguồn tư liệu hiện vật tại Bảo tàng Dân tộc họcViệt Nam trong chương trình lịch sử THPT

1.2.1.2 Đối tượng khảo sát

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của

4 giáo viên lịch sử và 100 học sinh ở trường THPT Chuyên sư phạm

1.2.1.3 Nội dung, phương pháp

Nội dung: gồm câu hỏi dành cho giáo viên (6 câu hỏi) và câu hỏi dành

cho học sinh (3 câu hỏi)

Những câu hỏi dành cho giáo viên:

Ngày đăng: 28/09/2019, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Châm, Khai thác và sử dụng những tư liệu của bảo tàng quân đội để dạy học chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 – 1954 trong sách giáo khoa lớp 12, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng những tư liệu của bảo tàng quânđội để dạy học chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 – 1954 trongsách giáo khoa lớp 12
3. Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Văn Phong (1997), “Khai thác và sử dụng tài liệu bảo tàng nhà truyền thống vào dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (10), Tr.6 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khai thác và sử dụng tài liệubảo tàng nhà truyền thống vào dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Văn Phong
Năm: 1997
4. Nguyễn Thị Côi (2009), Các con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường và biện pháp nâng cao hiệu quảdạy học môn lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2009
5. Hoàn Thị Đặng (2004), Sử dụng tài liệu của “Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam” trong dạy học các sự kiện lịch sử văn hóa ở trường THPT, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tài liệu của “Bảo tàng văn hóa các dân tộcViệt Nam” trong dạy học các sự kiện lịch sử văn hóa ở trường THPT
Tác giả: Hoàn Thị Đặng
Năm: 2004
6. Dương Thị Hiền (2012), Sử dụng tài liệu Bảo tàng lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 Trung học phổ thông (chương trình chuẩn), Đại học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tài liệu Bảo tàng lịch sử Việt Nam trongdạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 Trung học phổthông (chương trình chuẩn)
Tác giả: Dương Thị Hiền
Năm: 2012
1. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w