1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non

224 625 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Nguyễn Thị Như Mai trong các công trình:“ Nghiên cứu cáchthức chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo học đọc ở trường mầm non và gia đình” và: “Đánh giá khả năng học đọc của trẻ 5-6 tuổi ch

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 21

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 21

5 Giả thuyết khoa học 22

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 22

7 Phương pháp nghiên cứu 22

8 Phạm vi nghiên cứu 24

9 Đóng góp mới của đề tài 24

10 Cấu trúc của luận án 24

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỆN TRANH HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI 26

1.1 Một số khái niệm cơ bản 26 1.1.1 Khái niệm đọc 26

1.1.2 Khái niệm đọc đối với tuổi mẫu giáo 29

1.1.3 Khái niệm hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 33

1.1.4 Truyện tranh 39

1.1.5 Biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 40

1.2 Một số đặc điểm phát triển của trẻ 5- 6 tuổi liên quan tới việc hình thành khả năng đọc 41

1.2.1 Đặc điểm phát triển sinh lí 41

1.2.2 Đặc điểm phát triển tâm lí 43

1.2.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi 46

1.2.4 Khả năng đọc ban đầu của trẻ 5-6 tuổi 49

Trang 2

1.3 Truyện tranh và ý nghĩa của truyện tranh với việc hình thành khả

năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 56

1.3.1 Đặc điểm truyện tranh dành cho trẻ mẫu giáo 56

1.3.2 Ý nghĩa của truyện tranh dành cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 59

1.4 Một số vấn đề lí luận về phương pháp đọc và kể truyện ở trường mầm non 62

1.4.1 Nội dung hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 62

1.4.2 Đặc điểm tiếp nhận truyện tranh của trẻ 5-6 tuổi 65

1.4.3 Tổ chức hoạt động đọc và kể cho trẻ nghe truyện 67

Tiểu kết chương 1 70

Chương 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRUYỆN TRANH HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 71

2.1 Khái quát quá trình điều tra thực trạng 71 2.1.1 Mục đích điều tra 71 2.1.2 Đối tượng và phạm vi điều tra 71 2.1.3 Nội dung điều tra 72

2.1.4 Phương pháp điều tra 72 2.1.5.Thời gian điều tra: 72 2.2 Kết quả điều tra 73 2.2.1.Nhận thức của giáo viên mầm non về sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 74

2.2.2 Biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 77 2.2.3 Kết quả điều tra về phụ huynh trong việc sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 80

2.2.4 Thực trạng khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 83

Tiểu kết chương 2 102

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRUYỆN TRANH

Trang 3

HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI 103 3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5 - 6 tuổi 103

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, nội dung chương trình Giáo dụcmầm non 1033.1.2 Nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính tích cực sáng tạo, chủđộng của trẻ trong hoạt động đọc 1033.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính liên tục thường xuyên, tínhvừa sức 1043.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 105

3.2 Một số nguyên tắc lựa chọn truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 106

3.2.1 Lựa chọn truyện vừa sức với trẻ, nội dung phù hợp với đặc điểm pháttriển tâm lí của trẻ 5-6 tuổi 1063.2.2 Truyện được lựa chọn giúp trẻ phát triển nhận thức và đảm bảo mục đíchgiáo dục 108

3.2.3 Lựa chọn truyện tranh đảm bảo tính đa dạng, phong phú về đề tài, chủ

đề và loại thể 1093.2.4 Tranh trong truyện phải có sức lôi cuốn hấp dẫn trẻ, cỡ chữ phù hợp vớitrẻ 5-6 tuổi 110

3.3 Một số biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 111

3.3.1 Tạo môi trường truyện tranh trong lớp học 1113.3.2 Tổ chức hoạt động đọc và kể cho trẻ nghe truyện 1153.3.3 Xây dựng góc thư viện với những truyện tranh phong phú hấp dẫn 1213.3.4 Cô hướng dẫn cho trẻ tập ghép vần, đọc truyện tranh theo từng nhómnhỏ và cho trẻ chia sẻ cách đọc trong hoạt động chiều 126

Trang 4

3.3.5 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường để duy trì nề nếp thói quen đọc

cho trẻ 130

Tiểu kết chương 3 136

Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 137

4.1 Mục đích thực nghiệm 137 4.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 137 4.3 Điều kiện tiến hành thực nghiệm 137 4.4 Nội dung thực nghiệm 137 4.5.Tiến hành thực nghiệm 137 4.6 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 140 4.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 141

4.7.1 Kết quả đo đầu vào trước khi tiến hành thực nghiệm 141

4.7.2 Phân tích kết quả thực nghiệm ở trường mầm non Cát Bi 143

4.7.3 Phân tích kết quả thực nghiệm ở trường mầm non Phạm Đình Nguyên – Huyện Tiên lãng 144

4.7.4 So sánh mức độ khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi ở 2 trường mầm non Cát Bi và Phạm Đình Nguyên sau thực nghiệm 145

4.7.5 Kiểm định kết quả thực nghiệm 147

Kết quả kiểm định được trình bày trong bảng như sau: 149

Tiểu kết chương 4 151

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 152

DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156 TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết khi sử dụng truyện tranh

đối với việc hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 74Bảng 2.2 Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của truyện tranh đối với việc

hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi 75Bảng 2.3 Các biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ

5-6 tuổi ở trường mầm non 77Bảng 2.4 Kết quả bộ tiêu chí và chỉ số đánh giá hình thành khả năng đọc của

trẻ 5-6 tuổi được biểu hiện qua các tiêu chí và chỉ số như sau: 85Bảng 2.5 Kết quả thực trạng về khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm

non theo từng tiêu chí cụ thể như sau: 91Bảng 4.1 Tổng hợp kết quả đo đầu vào thực nghiệm tại 2 trường mầm non 141Bảng 4.2 Kết quả xếp loại của hai lớp thực nghiệm và đối chứng trường mầm

non Cát Bi – Quận Hải An 143Bảng 4.3 Kết quả xếp loại của hai lớp thực nghiệm và đối chứng trường mầm

non Phạm Đình Nguyên – huyện Tiên Lãng 144Bảng 4.4 Kết quả tổng hợp đánh giá theo các mức độ sau thực nghiệm của 2

trường MN: Cát Bi và Phạm Đình Nguyên 145Bảng 4.5 Kiểm định kết quả thực nghiệm nhóm đối chứng và thực nghiệm

sau thực nghiệm 147Bảng 4.6 Kiểm định kết quả thực nghiệm nhóm TN trước và sau TN 148Bảng 4.7 Kiểm định kết quả thực nghiệm nhóm đối chứng và thực nghiệm

sau thực nghiệm 149Bảng 4.8 Kiểm định kết quả thực nghiệm nhóm thực nghiệm trước và sau

thực nghiệm 149

DANH MỤC BIỂU ĐÔ

Trang 7

Biểu đồ 4.1 Kết quả xếp loại của hai lớp thực nghiệm và đối chứng trường

mầm non Cát Bi – Q Hải An 142Biểu đồ 4.2 Kết quả xếp loại của trẻ ở 2 lớp TN và ĐC trường MN Cát Bi 143Biểu đồ 4.3 Kết quả xếp loại của trẻ ở 2 lớp thực nghiệm và đối chứng trường

mầm non Phạm Đình Nguyên - HuyệnTiên Lãng 145Biểu đồ 4.4 Kết quả tổng hợp khả năng đọc của trẻ ở hai lớp thực nghiệm trường

mầm non Cát Bi và trường mầm non Phạm Đình Nguyên 147Biểu đồ 4.5 So sánh mức độ hình thành khả năng đọc của lớp thực nghiệm

trường mầm non Cát Bi – trước và sau thực nghiệm 148Biểu đồ 4.6 So sánh mức độ khả năng đọc của lớp thực nghiệm trường mầm

non Phạm Đình Nguyên - trước và sau thực nghiệm 150

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi đến trường phổ thông về lĩnh vực ngônngữ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng ở trường mầm non Với tư cách là công

cụ giao tiếp, vừa là công cụ phát triển tư duy, nhận thức cũng như các mặtkhác của nhân cách trẻ, nếu ngôn ngữ phát triển tốt thì đó là cơ sở phát triểntoàn diện đứa trẻ Phát triển cho trẻ không chỉ ngôn ngữ âm thanh như lâu naychúng ta vẫn quan niệm mà chữ viết cũng cần phải đem đến sớm cho trẻ Trẻphải sớm được tiếp xúc với các ấn phẩm chữ viết, phải sớm được làm quenvới đọc viết như một hoạt động thiết yếu của đời sống trong thời đại đọc viết

1.2 Cho trẻ làm quen với đọc thông qua truyện tranh là một trongnhững hình thức chuẩn bị về ngôn ngữ trước khi trẻ vào học lớp Một Truyệntranh có lợi thế đặc biệt đối với sự hình thành khả năng đọc ban đầu cho trẻ.Ngay từ khi còn nhỏ, trong gia đình trẻ đã rất thích thú khi được người lớncho xem những tranh vẽ gắn với những câu chuyện kể Đến trường mầm non,trẻ được cô giáo hướng dẫn tiếp xúc với nhiều loại truyện kể, những truyệntranh với những nội dung, hình thức phong phú, đặc biệt về màu sắc hấp dẫn,gợi cho trẻ nhiều cảm xúc Thông qua quá trình sư phạm này, cô giáo sẽ khơigợi ở trẻ hứng thú đối với việc đọc, giúp trẻ cảm nhận được nội dung vànhững giá trị nghệ thuật có trong tác phẩm ở mức độ của từng trẻ, hình thànhkhả năng đọc, nhen lên ở trẻ tình yêu đối với đọc sách và cũng là chuẩn bị chotrẻ bước vào lớp Một

Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã khẳng định tầmquan trọng của truyện tranh đối với sự phát triển của trẻ trong việc học đọc

Họ cho rằng truyện tranh phức tạp không kém gì các thể loại văn học khác vàtrẻ em được học rất nhiều điều từ đó, hoặc ít nhất chúng cũng biết học cách đểđọc một cuốn sách Trẻ biết nhận các mặt chữ cái và có thể ghép thành từ, có

Trang 9

thể đọc theo sự hướng dẫn của người lớn từng câu và khi được làm quennhiều lần lặp lại sẽ ghi nhớ được từ, từng câu trong truyện mặc dù đa phần trẻchỉ là ghi nhớ một cách máy móc bắt chước, nhưng dần dần sẽ giúp trẻ nhận

ra được mối liên hệ giữa hình ảnh và lời thoại trong truyện Điều đó giúp choviệc dần dần làm quen với việc đọc và ngôn ngữ nói cũng được phát triển tốthơn Từ đó trẻ sẽ hứng thú với việc đọc, hứng thú đọc là cơ sở để hình thànhnhững thói quen và các kĩ năng đọc: tư thế ngồi đọc, cách giở sách, biết đọctừ trên xuống dưới

1.3 Thực tế hiện nay ở trường mầm non, vấn đề hình thành khả năngđọc nói chung và sử dụng truyện tranh để hình thành khả năng đọc nói riêngcho trẻ còn chưa được chú ý đúng mức Một phần do chương trình quy địnhchưa chi tiết cụ thể, còn sơ sài, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa củatruyện tranh đối với việc hình thành khả năng đọc nói riêng cho trẻ; mặt khác,mặc dù truyện tranh không ít nhưng các loại truyện tranh dành riêng cho độtuổi mầm non chưa có nhiều ấn phẩm phù hợp (về kích thước truyện, cách thểhiện của họa sĩ cũng như các tác giả biên soạn lời kể, việc sử dụng chất liệu củanhà sản xuất…) Phần lớn giáo viên cho trẻ tự do tiếp xúc với truyện ở các gócđọc sách, trẻ tự lấy sách để xem, chưa có sự hướng dẫn cụ thể chu đáo khoahọc của cô giáo khiến cho hiệu quả của việc đọc sách chưa cao Giáo viênchưa có được các biện pháp tác động phù hợp để khai thác hiệu quả tác dụngcủa truyện tranh đối với việc hình thành khả năng đọc cho trẻ

Vì những lí do kể trên, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non”.

2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về đọc và đọc của trẻ mẫu giáo

Về vấn đề đọc đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập tớinhư tại các nước Âu Mỹ, lí thuyết đọc hiểu và dạy đọc hiểu đã được quan tâmtừ rất sớm ‘Từ những thập niên 70 của thế kỉ XX trở lại đây có rất nhiều công

Trang 10

trình, bài báo viết về đọc hiểu và liên quan đến đọc hiểu trong phạm trù đọcvăn bản tiểu biểu như: K Goodman (1970), A Push (1978), M.Adams (1990),

R Jauss, B.Naidenxop với tác phẩm tiêu biểu như : Hoạt động đọc, Hiệntượng đọc và học, Phương pháp đọc diễn cảm ’’[25, tr 8] Ở Liên Xô cũ,việc nghiên cứu vấn đề đọc cũng như các vấn đề đọc hiểu đã được nhà nghiêncứu A Primacopxki trình bày trong công trình: ‘Phương pháp đọc sách”, ở đótác giả khẳng định tính chất mới lạ trong thế giới nhân sinh được trình bàytrong tác phẩm, theo đó thế giới mới lạ chính là vẻ đẹp và giá trị thẩm mĩ củangôn ngữ và đời sống’’ [25, tr 9]

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thanh Hùng là người đề cập khá sớm cáccông trình về đọc cũng như dạy đọc hiểu tạo nền tảng văn hóa cho người đọc

Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường là công trình đầu tiên của

tác giả nghiên cứu về đọc hiểu bao quát được những nội dung cốt yếu và cóchỗ gần gũi, tương đồng với quan điểm lí luận và suy nghĩ về mô hình đọc

hiểu của nhiều nghiên cứu trên thế giới Bên cạnh đó, cuốn sách Kĩ năng đọc

hiểu văn của tác giả cũng đã làm rõ những vấn đề cơ bản đọc, đọc hiểu, các

bình diện, nội dung bản chất của đọc và phương pháp dạy học văn, trong đónhững vấn đề cơ sở lí luận của đọc hiểu được tác giả nêu rõ trong việc dạyđọc tác phẩm văn chương

Tác giả Phạm Thị Thu Hương cũng cho rằng việc đọc mở ra chân trờicủa tri thức, kinh nghiệm sống, tương tác xã hội Việc đọc phải gắn với hiểu

để tạo cơ hội cá nhân thực sự phát triển, gắn bó với định hướng học tập suốtđời đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra cho con người [25]

Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thanh Bình với luận án:

‘Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể trong nhà trường trung họcphổ thông” đã đề cập tới những vấn đề về đọc, đọc hiểu cơ bản cũng như cácbình diện về đọc tác phẩm văn chương nói chung dưới góc độ tiếp cận theoloại thể trong nhà trường trung học phổ thông [5]

Trang 11

Việc đọc nói chung hay đọc của trẻ mẫu giáo đều phải có mục đích là

để hiểu những ý tưởng, những thông điệp trong tài liệu; không hiểu việc đọc

sẽ trở nên không còn ý nghĩa Chính vì thế, việc đọc hiểu là phạm trù khoa

học trong nghiên cứu và giảng dạy trong nhà trường Bản thân nó có quan hệvới năng lực đọc, hành động đọc, để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệthuật ngôn từ Đọc chính xác thì hiểu đúng Đọc kĩ đọc phân tích thì hiểu sâu.Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình Đọc sâu, đọc sángtạo thì hiểu được cái mới Có nhiều cách hiểu khác nhau Từ không hiểu đếnhiểu sơ bộ Từ hiểu ít đến hiểu nhiều Từ hiểu nhiều đến hiểu toàn bộ …Hiểutoàn diện phải vươn tới hiểu những mối quan hệ biện chứng chứa trong tácphẩm đọc để làm nảy sinh tri thức mới Cách quan sát, hiểu, biểu đạt nội dung

đã thu nhận được đều là ứng xứ nhân tính do ngôn ngữ của con người có khảnăng biểu đạt để hiểu nhau Vì vậy hiểu không chỉ được diễn đạt bằng quanniệm, bằng định nghĩa mà còn thông qua ngôn ngữ để biểu thị mối quan hệgiữa con người với nhau Hiểu phụ thuộc chặt chẽ vào hành động đọc, bảnthân hiểu không phải là hành động mà là hiệu quả cụ thể, rõ ràng trong khithực hiện mục đích đọc[25]

Đây là những vấn đề cơ bản về đọc và dạy đọc nói chung vì vậy khinghiên cứu về việc đọc của trẻ mẫu giáo những nghiên cứu của tác giả cũng

có những đóng góp quan trọng cho đề tài trên cơ sở hiểu rõ những vấn đề líluận chung về việc đọc

Về vấn đề đọc của trẻ mẫu giáo, các nhà sư phạm Nga cho rằng cáctrường mẫu giáo có nhiệm vụ cho trẻ làm quen với việc học các biểu tượngđơn vị ngôn ngữ như từ, câu, làm quen với chữ cái: nhận diện, tập tô chữ, tậpmột số hành vi đọc như giở sách, cầm bút, chơi với sách, truyện…( E.I.Trikhieva, A.I.Xôrôkina…) Tuy nhiên, khái niệm về chuẩn bị hình thànhkhả năng đọc cho trẻ vẫn chưa hình thành, các nhà khoa học Nga chủ yếunghiên cứu phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ độ tuổi này

Trang 12

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học các nước như: Hoa Kỳ,Australia, Nhật Bản, Trung Quốc…, đặc biệt là Hoa Kỳ dành nhiều chú ý cholĩnh vực chuẩn bị khả năng đọc cho trẻ mầm non (Development of EmergentLiteracy in Early Childhood) Các nghiên cứu đều cho rằng, việc học đọc củatrẻ diễn ra từ trước khi trẻ đến học ở trường tiểu học Có nghĩa là, đã xuất hiệnnhững yếu tố đầu tiên của việc đọc (emergent literacy) trong các hoạt động củatrẻ Họ khẳng định trong sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non cần sự chuẩn

bị cho việc học đọc sau này (S.M Glazer, M.D Morrow…) Nhiều công trìnhnghiên cứu đã mô tả các dấu hiệu biết đọc xuất hiện ở trẻ từ nửa sau của tuổi sơsinh, phát triển mạnh mẽ vào lúc trẻ 5-6 tuổi; đề xuất các biện pháp phát triểnkhả năng chuẩn bị đọc cho từng độ tuổi mầm non (M.DMorrow, B.Otto …)

Có tác giả đã đề xuất tiếp cận tích hợp trong tổ chức các hoạt động giáo dụcmầm non để chuẩn bị cho trẻ biết đọc (S.M Glazer), tác giả cũng cho rằng việc

sử dụng văn học thiếu nhi sẽ có tác dụng tốt hình thành khả năng đọc hiểu banđầu cho trẻ (S.M.Glazer)[52]

Theo những nghiên cứu gần đây, sự phát triển khả năng đọc của trẻ bắtđầu từ rất sớm, trước khi chúng bước vào việc học đọc chính thức ở trườngtiểu học (Alllington & Cunningham, 1996; Griffin& Snow, 1999; Clay,1991;Han & Moats, 1999; Holdaway, 1997; Teale& Sulzby, 1986) Sự pháttriển khả năng đọc của trẻ được nuôi dưỡng bởi các mối tiếp xúc về mặt xãhội, giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em và các tài liệu đọc, chẳng hạn nhưsách truyện dành cho trẻ em và khả năng đọc được coi là những hành vi đọcxuất hiện trước tiên làm nền tảng cho việc phát triển thành khả năng đọc

thông thường Sulzby (1989,1991), Teale (1996) cũng nhấn mạnh rằng, tiền đọc (emergent reading) là khả năng đọc đang ló ra, nó coi như một giai đoạn sớm nhất của sự phát triển khả năng đọc, là giai đoạn giữa của thời kì sơ sinh cho đến khi đứa trẻ biết đọc theo cách thông thường Sulzby và Teale

Trang 13

(1996) khẳng định thời kì này báo hiệu một sự tin tưởng rằng, trong một xãhội đọc, trẻ nhỏ, thậm chí là trẻ một và hai tuổi được coi là những người đã nằmtrong quá trình phát triển để trở thành người biết đọc (emergent reader)[49].

Như vậy, việc cố gắng thể hiện những hành vi đọc nhưng không theoquy ước ở trẻ được các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý như một sự bắt đầuchính thức của việc đọc Từ những khái niệm về khả năng đọc (emergentreading) cho thấy, các nhà nghiên cứu đều nhìn nhận rằng đó là khả năng khởiđầu cho việc đọc trước khi trẻ có thể đọc một cách thực thụ Khả năng đọc lànền tảng quan trọng cho sự phát triển các năng lực học tập của trẻ sau này.Phát triển khả năng đọc của trẻ được coi là một quá trình hình thành và biếnđổi những năng lực có liên quan đến đọc, qua đó trẻ sẽ có cơ hội trở nên biếtđọc và thường được bắt đầu ở giai đoạn rất sớm trong quá trình phát triển củatrẻ (ngay từ lứa tuổi mầm non)

Các nhà khoa học ở trường Đại học Nữ thục Ochanomizu (OchanomizuWomen’s University) Tokyo, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu một dự ánquốc tế về những cách biệt trong giáo dục giữa một số nước Châu Á (trong đó

có Việt Nam) Theo đó, một cuộc điều tra về vấn đề hình thành khả năng đọcviết cho trẻ mầm non (emergent literacy) đã được thực hiện với sự tham gia củacác nhà khoa học đến từ các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Mông Cổ,Trung Quốc Dự án này tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việcchuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ mẫu giáo như: môi trường gia đình,trường mầm non, vai trò của cha mẹ, cô giáo, các phương tiện học tập nhưsách, truyện tranh, truyền hình… Các nhà khoa học các quốc gia khác nhau đãtập trung nghiên cứu để trả lời câu hỏi: có dạy chữ cho trẻ mẫu giáo hay không

và dạy ở mức độ nào là phù hợp ( N Uchida, T Hamano, Đinh Hồng Thái ).Như vậy, các nghiên cứu trên đã có sự chú ý tới việc dạy đọc cho trẻ hay không

và việc chuẩn bị như thế nào khi trẻ ở trường cũng như ở nhà

Trang 14

Bên cạnh đó, quan điểm của các nhà nghiên cứu như: Holdaway(1979), Piaget (1955), và Vygotsky (1962) cũng đều cho rằng trẻ cần phảiđược được chuẩn bị về khả năng đọc, viết trước khi trẻ đi học, và đây cũng lànền tảng cho các nhà nghiên cứu khác như Butller (1979), Crago (1975),Heath Durkin (1966), (1983), Hiebert (1981), Taylor (1983), và Teale (1986).Khi nghiên cứu về khả năng đọc của trẻ các nhà nghiên cứu này đã đưa ranhững kết luận sau:

- Trẻ em biết chữ trước khi chúng được học đọc chính thức ở trườngtiểu học

- Ngôn ngữ bằng lời nói đóng vai trò như một người đảm nhiệm và sau

đó là người bạn đồng hành trong quá trình đọc

- Khả năng đọc phát triển trong các tình huống thực tế trong và ngoàitrường học, trong các môi trường khác nhau

- Đọc cho trẻ nghe là một phần thiết yếu trong quá trình học đọc, họcviết của trẻ

Một số nghiên cứu khác của Burroughs; Fodor; Durkin; Walker vàKeurbitz tập trung vào phát triển vốn từ vựng cho trẻ và thực sự quan tâm tớiviệc tạo cho trẻ hứng thú với việc đọc Nghiên cứu của Well (1986) cho thấymột số hoạt động phát triển khả năng đọc của trẻ Khi trẻ nghe một câu chuyện,điều quan trọng là trẻ hiểu và có thể đọc lại Điều này cho thấy vai trò to lớncủa cô giáo, cha mẹ, anh chị và ông bà trong việc dạy trẻ đọc Khi trẻ đọc mộtcách tự nhiên, chúng tạo ra khung cảnh cho câu chuyện theo trí tưởng tượngcủa chúng Trẻ được học và biết cách mở đầu câu chuyện, diễn biến và kết thúccâu chuyện, cấu trúc của câu chuyện từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc

Những quan điểm hiện tại về việc học đọc cho chúng ta biết rằng trẻbiết chữ sớm sẽ phát triển nhận thức sớm Việc đọc, viết, nghe, nói, tạo điềukiện thuận lợi cho giao tiếp Giao tiếp là kết quả từ nhu cầu hoạt động xã hội

Trang 15

và văn hóa Tất cả các hoạt động liên quan đến giao tiếp tạo điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển khả năng đọc của trẻ, nhưng hoạt động có ảnh hưởngnhất là đọc cho trẻ nghe Đọc cho trẻ giúp phát triển nhận thức và cũng kíchthích những cảm xúc yêu thương Việc truyền đạt kiến thức cho trẻ đầy tìnhyêu thương là một trải nghiệm thành công trong việc dạy trẻ đọc Hiện nay,các kiến thức được sử dụng để xác định và xây dựng môi trường và chươngtrình giảng dạy đọc đều dựa theo các lý thuyết trên, các lý thuyết này minhchứng cho việc tiếp thu và phát triển của ngôn ngữ Không có lý thuyết nàogiải thích cho các quá trình phức tạp này, nhưng chọn lọc từ một số giả thuyếtnhư vậy sẽ giúp các nhà tâm lý học và giáo dục học giải thích khả năng nàycủa con người Không có lý thuyết của việc tiếp thu ngôn ngữ, người ta vẫn

có thể học ngôn ngữ tự nhiên khi có sự giao tiếp có mục đích giữa con ngườitrong xã hội Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, cũng giống như văn hóa vàcác giá trị khác Bản chất đối ứng của giao tiếp - nói và nghe, đọc và viết - đòihỏi phải học tập đồng thời các thành phần ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữđược phát triển gắn bó với nhau Không phải chỉ có thuyết hành vi hay Piagethay Vygotsky có câu trả lời Tuy nhiên, tất cả đều trả lời cho câu hỏi thế nào

và tại sao trẻ em phải học cách biết đọc

Các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến dạy trẻ đọc sớm: Glenn Doman,Robert Titzer (Mỹ), Phùng Đức Toàn, Ngô Hải Khê (Trung Quốc), KimuraKyuichi (Nhật Bản)… Họ cho rằng có thể và cần phải dạy trẻ đọc sớm và đây

là con đường rất tốt để phát triển trí tuệ cho trẻ Phùng Đức Toàn và GlennDoman đồng quan điểm với nhau khi cho rằng: trẻ học chữ viết dễ hơn họcngôn ngữ âm thanh; cần phải dạy chữ trước khi trẻ biết nói; dạy càng sớm càngtốt, sơm nhất có thể và đó là bắt đầu từ tuổi sơ sinh [58] , [11]

Ở Việt Nam, việc chuẩn bị cho trẻ khả năng đọc trước tuổi đến trườngđang được quan tâm chú ý và đặt ra trong những năm gần đây trong thực tiễngiáo dục mầm non Khi thực hiện chương trình mẫu giáo cải tiến từ những

Trang 16

năm 80 thế kỷ trước, các nhà sư phạm đề xuất nội dung cho trẻ làm quen vớichữ cái Chương trình GDMN những năm gần đây đã mở rộng hơn nội dungnày bằng việc cho trẻ làm quen với chữ viết trong nội dung chuẩn bị cho trẻvào lớp một Nhiều nhà nghiên cứu tâm lí học, giáo dục học quan tâm đếngiáo dục mầm non cũng đã lên tiếng phản đối việc dạy đọc một cách chínhqui trước khi vào lớp một như: Lê Thị Ánh Tuyết: ‘Tính cấp thiết của nănglực đọc và viết”, Tạp chí GDMN số 2/1995, Trần Trọng Thuỷ: ‘Trẻ em cầnphải được chuẩn bị cho việc vào lớp một”; Nguyễn Ánh Tuyết, Tuy nhiên,

họ lại nhất trí với nhau ở quan điểm cho rằng, việc chuẩn bị bước đầu vềphẩm chất tâm lí như tư duy, ngôn ngữ, thể lực sẽ giúp trẻ 5-6 tuổi sẵn sànghọc đọc ở lớp Một Trên cơ sở đó sẽ tạo ra những tiền đề, những điều kiện cơ

sở ban đầu thiết thực nhằm giúp trẻ bước vào giai đoạn học đọc chính thứcthuận lợi, tự tin và hứng thú

Các tác giả đã chú ý tới nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một, trong

đó việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, các kĩ năng nghe, nói, diễn đạt lại những nộidung người lớn nói một cách rõ ràng

Tác giả Lê Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Kim Oanh trong bài viết: ‘Một

số hình thức chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi học đọc, học viết”, (Tạp chí Nghiên cứugiáo dục năm 2000) cũng cho rằng: Việc chuẩn bị cho trẻ đi học lớp một phải

là sự chuẩn bị toàn diện chứ không phải chỉ rèn luyện một kĩ năng, vì vậy đểgiúp trẻ có hứng thú với việc học đọc cần phải tạo môi trường cho trẻ hoạtđộng và trải nghiệm, cần tạo góc “ thư viện” với những quyển truyện tranh,sách trò chơi để trẻ có thể đọc, vẽ theo các chữ đó, cha mẹ thường xuyên đọcsách cho trẻ nghe Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng, thực ra không phải trẻđọc được chữ mà là đọc theo tranh, đó chính là cách đọc của trẻ mẫu giáo

Công trình nghiên cứu: “Phát triển hứng thú đọc cho trẻ tiền họcđường” của hai tác giả Nguyễn Thanh Hùng và Hà Nguyễn kim Giang là mộttrong những công trình nghiên cứu đầu tiên về việc đọc và hình thành khả

Trang 17

năng đọc cho trẻ mẫu giáo ở Việt Nam Ở đó, các tác giả nhấn mạnh vai tròcủa sách, truyện tranh, tạp chí với việc tạo ra hứng thú khả năng đọc của trẻ.Tác giả chỉ ra môi trường đọc sách, truyện, thói quen đọc sách, hướng dẫnđọc của cô giáo, cách trẻ đọc ở thư viện, chỉ ra các biện pháp thiết thực đểhình thành khả năng đọc cho trẻ Đưa ra các biện pháp phát triển hứng thú đọccho trẻ như việc đọc diễn cảm, đưa trẻ đi thư viện hoặc tham quan hiệu sách Tuy nhiên, sử dụng truyện tranh với những biện pháp biện pháp cụ thể đểhình thành khả năng đọc cho trẻ các tác giả chưa nêu rõ

Tác giả Nguyễn Thị Như Mai trong các công trình:“ Nghiên cứu cáchthức chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo học đọc ở trường mầm non và gia đình” và:

“Đánh giá khả năng học đọc của trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị đến trường phổ thông”

đã đưa ra cách thức chuẩn bị đọc cho trẻ được diễn ra như thế nào và cácquan niệm của phụ huynh cũng như giáo viên về việc tiếp cận với việc phảichuẩn bị cho trẻ những gì để trẻ đọc Tác giả cũng cho rằng việc chuẩn bịcho trẻ đến trường phổ thông là quan trọng, trong đó việc dạy cho trẻ đọcchính là mong muốn của cha mẹ và là nhiệm vụ của giáo viên Muốn trẻ đọcthì phải dạy trẻ học đọc, tức là học để nhận biết, phân biệt các kí hiệu viếtqua đó nắm được ý nghĩa của chúng và trẻ phải được chuẩn bị những khảnăng tâm lí cần thiết [36], [37]

Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong các công trình nghiên cứu: " Chotrẻ làm quen với tác phẩm văn học, một số vấn đề lí luận và thực tiễn", "Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học", "Phươngpháp đọc diễn cảm" đã chỉ ra việc đọc nói chung cũng như đọc của trẻ mẫugiáo nói riêng, tác giả cho rằng: Đọc tức là biến hình thức của chữ viết vănbản thành hình thức âm thanh của ngôn ngữ, để làm cho người nghe hiểuđược những điều mà tác giả đã nói qua chữ viết Đọc là một quá trình nhậnthức, một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở của việc tiếp nhận thông tin

Trang 18

bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác để phân biệt các kí hiệuchữ viết trong tập hợp của nó, qua đó mà hiểu được nghĩa, biết được nộidung Tác giả cũng cho rằng việc đọc của trẻ mẫu giáo chính là trẻ phải hiểuđược cả giá trị nội dung tác phẩm ở mức độ của trẻ và trẻ em chính là một bạnđọc đang phát triển, mọi trẻ em đều có nhu cầu học và khám phá mọi vật xungquanh, vì vậy "Phát triển hứng thú đọc cho em tiền học đường" chính là cáchtiếp cận hoàn toàn phù hợp với trẻ mẫu giáo Phát hiện khả năng đọc bằng các

kí hiệu thị giác của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn, coi trẻ là một "bạnđọc" tuy chưa phải là đích thực, nhằm chuẩn bị cho trẻ bước vào học đọc ởlớp một, trở thành bạn đọc có văn hoá ngày mai [16] Trong các công trìnhnghiên cứu của mình tác giả cũng chỉ ra những phương pháp, biện pháp dạytác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo, đề cập tới việc sử dụng tác phẩm văn học

là hình thức quan trọng giúp trẻ làm quen với việc đọc, chỉ ra được những đặcđiểm tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để từ đó thấychúng hoàn toàn có thể tiếp nhận được tác phẩm ở mức độ của mình, cũngnhư việc hình thành cho trẻ những kĩ năng ban đầu của việc đọc[16] Nhữngnghiên cứu trên đã giúp chúng tôi định hướng của đề tài và vận dụng nhữngvấn đề về mặt lí thuyết, phương pháp tổ chức trong việc hình thành khả năngđọc cho trẻ 5-6 tuổi

Tác giả Đinh Hồng Thái đã có những công trình nghiên cứu sâu vàolĩnh vực phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non như: " Giáo trình phương phápphát triển lời nói trẻ em", " Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non" Vàtrong những năm gần đây, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về đọccủa trẻ mẫu giáo: "Giáo trình phát triển khả năng tiền đọc viết tuổi mầm nontheo hướng tích hợp", “Hình thành khả năng đọc viết ban đầu cho trẻ em tuổimầm non” là những kết quả nghiên cứu mới nhất về vấn đề đọc viết của trẻmầm non Tác giả làm rõ vấn đề: Làm thế nào để trẻ có thể trở thành những

Trang 19

người biết đọc, và làm cách nào để có sự hỗ trợ tốt nhất cho trẻ? Trong "Giáotrình phát triển khả năng tiền đọc viết tuổi mầm non theo hướng tích hợp”,trên cơ sở tổng quan các tài liệu mới nhất trong và ngoài nước, tác giả đề cậptới 4 quan điểm lí thuyết về việc dạy cho trẻ đọc:

- Quan điểm Hành vi (Behavioris Perspective)cho rằng: Đầu tiên đứa

trẻ phải học các kĩ năng đọc cá nhân theo một hệ thống riêng biệt Khi hội đủcác kỹ năng cần thiết thì trẻ mới sẵn sàng học đọc

- Quan điểm Tự nhiên (Naturalist Perspective): Cũng giống như thu

nhận ngôn ngữ nói, trẻ học đọc thông qua những trải nghiệm hằng ngày cóliên quan đến đọc từ rất sớm

- Quan điểm Tương tác (Interactive Perspective): Trẻ học đọc thông

qua sự kết hợp giữa kĩ năng với kinh nghiệm hằng ngày về đọc viết

- Quan điểm Giao dịch (Transactional Perspective): Trẻ học đọc thông

qua các giao dịch bằng chữ viết bao gồm những hiểu biết của bản thân trẻ vềngôn ngữ, những văn bản trẻ gặp phải trong những bối cảnh văn hoá xã hội

Đây là những quan điểm về dạy đọc có ý nghĩa quan trọng đặt nền móngcho việc dạy đọc ở nhà trường nói chung và ờ trường mầm non nói riêng Mỗiquan điểm lý giải việc dạy học đọc theo một cách khác nhau, ở đó có sự kếthừa và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, không phải là sự thay thế mà là sựphát triển và hoàn thiện dần lý thuyết dạy học lĩnh vực này Lý thuyết Hành vichú trọng dạy các kỹ năng bộ phận hướng tới sự sẵn sàng đọc của trẻ Lýthuyết Tự nhiên coi trọng trải nghiệm đọc hàng ngày của trẻ trong hình thứctoàn vẹn của ngôn ngữ viết Lý thuyết Tương tác như một sự hòa giải, kết hợpcủa hai loại lý thuyết trên đưa đến giải pháp trung gian kết hợp dạy kỹ năng vàtrải nghiệm thực tiễn môi trường chữ viết cho trẻ Và lý thuyết Giao dịch vớitiếp cận dạy đọc toàn diện nhấn mạnh đến ngữ cảnh văn hoá xã hội cụ thể cùngvới vai trò cùa gia đình đem đến cho nhà trường cái nhìn đầy đủ, phù hợp hơn,

Trang 20

cách thức dạy học hiệu quả hơn Các quan điểm trên đều sẽ là cơ sở lý thuyếtquan trọng hình thành khả năng đọc cho trẻ mẫu giáo, một bạn đọc trong tươnglai [46],[46], [52] Nghiên cứu của tác giả chính là hướng nghiên cứu mới nhấthiện nay ở Việt Nam về việc hình thành khả năng đọc cho trẻ và là những đónggóp quan trọng cho việc tiếp cận xu hướng mới trong hình thành khả năng đọccho trẻ mẫu giáo, phù hợp với xu thế tiếp cận hiện nay trên thế giới khi đề cậptới một số quan điểm dạy đọc viết cho trẻ lứa tuổi mầm non.

Luận án tiến sỹ của Phan Thị Lan Anh "Sử dụng trò chơi để phát triểnkhả năng tiền đọc viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi" đã có những đóng góptrong việc bước đầu làm sáng tỏ khái niệm về khả năng đọc (tác giả gọi là khảnăng tiền đọc-emergent reading) của trẻ Tác giả nhấn mạnh rằng: Với trẻ cầnphải dạy từ sớm, dạy càng sớm sự tiếp thu của trẻ càng dễ, với việc dạy làmquen với sách thì cần phải cho trẻ tiếp xúc sớm để trẻ trở nên quen thuộc vớisách Tuy nhiên việc làm quen này mỗi trẻ sẽ có được kinh nghiệm riêng,nhưng điều quan trọng là trẻ hứng thú, bắt đầu thể hiện sự quan tâm, thích thúngay từ đầu và đây chính là biện pháp hữu hiệu tạo tiền để để trẻ tham tíchcực tham gia vào quá trình đọc Nghiên cứu của tác giả mới chỉ dừng lại việc

sử dụng những trò chơi để phát triển cho trẻ khả năng đọc viết, chưa đề cậptới việc phải hình thành ở trẻ khả năng đọc như nào và các biện pháp đề xuấtcũng như hướng đi cụ thể [1]

Như vậy, các nghiên cứu của các tác giả nêu trên đâu đó đã đề cập tớicác vấn đề về dạy đọc, cũng như việc phát triển hứng thú đọc cho trẻ, các hìnhthức để giúp trẻ làm quen với việc đọc tuy nhiên để sử dụng truyện tranhcũng như việc vận dụng phương pháp dạy trẻ đọc thông qua truyện tranh thìchưa có công trình nào bàn tới Các nghiên cứu định hướng đi trước chính làcăn cứ để tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu biện pháp sử dụng truyện tranhhình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

Trang 21

2.2 Những nghiên cứu về sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi.

Về vấn đề đọc văn học để phát triển toàn diện trẻ mẫu giáo, phải kể đếncông trình “ Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ” của tập thể tác giả Liên

Xô cũ: M.K.Bogoliupxkaia, V.V.Septsenko, trong đó các tác giả chỉ ra hìnhthức tổ chức, phương pháp dạy trong lớp và ngoài giờ quy định,và để tiếnhành hướng dẫn trẻ hiểu được giá trị tác phẩm phải chú ý đến tranh minh họa

và sách có tranh và nêu ra những vấn đề về phương pháp tổ chức giờ đọc chotrẻ em trong các hoạt động [6]

Nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra rằng trẻ mẫu giáo lớn có khả nănghiểu được nội dung tư tưởng của tác phẩm, nắm được những giá trị nghệthuật, phân biệt được hiện thực cuộc sống với hiện thực phản ánh trong tácphẩm, nắm được một số thể loại, chúng phân biệt được thơ và văn xuôi, có ấntượng những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, nhận biết được một sốcấu trúc câu và biện pháp tu từ trong câu.Chính vì vậy khi cho trẻ làm quenvới tác phẩm văn học, đặc biệt làm quen với truyện tranh, để trẻ có thể lĩnhhội được tranh vẽ và nội dung tác phẩm thì người giáo viên phải biết lựa chọntruyện tranh cho phù hợp và biết tổ chức hướng dẫn trẻ tri giác tác phẩm

Tác giả Chikhiêva E.I với công trình: “Phát triển lời nói trẻ em dưới tuổiđến trường phổ thông”đã bàn sâu về vấn đề phát triển ngôn ngữ và các biệnpháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trong đó bà có đề cập tới việc sử dụng tácphẩm văn học, tranh minh họa, sách tranh nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.Trong phạm vi này bà cũng chưa đề cập tới hình thành khả năng đọc cho trẻqua truyện tranh [8]

Một số nhà nghiên cứu Nga Xô Viết: N.C.Cơrupxkaia, Maxim Goorkicho rằng truyện tranh là cần thiết đối với trẻ em, sách tranh cho trẻ em, về bảnchất chính là phương pháp và thủ pháp giáo dục trẻ Vì vậy nhà văn viết cho trẻ

Trang 22

em chú ý đến đặc trưng lứa tuổi và cần có những yêu cầu riêng về nghệ thuật,ngôn ngữ cần phải thật dễ thương Các tác giả cũng khẳng định khả năng củatrẻ em trong tiếp nhận tác phẩm văn học: “Sự cảm thụ và hiểu biết tác phẩmvăn học được hình thành ở trẻ mẫu giáo trong mối liên hệ với quá trình pháttriển tâm lí của chúng Quá trình này tạo nên nhờ giáo dục và dạy học Trẻ cóthể hiểu sâu sắc nội dung và tư tưởng của tác phẩm, phân biệt được hình ảnhnghệ thuật với hiện thực ” [16, tr72] A.V.Daparozet và cộng sự cho rằng trẻmẫu giáo bắt đầu phân biệt được hình tượng nghệ thuật và hiện thực được phảnánh trong tác phẩm và trẻ mẫu giáo lớn có thể hiểu được nội dung tác phẩm,cấu trúc của nó, mối liên hệ qua lại giữa các nhân vật [11].

Như vậy các nghiên cứu trên đã cho thấy truyện tranh là phương tiệndiễn đạt có hình ảnh, có lợi thế để giúp trẻ hiểu và cảm nhận tác phẩm ở mứcđộ của mình và hoàn toàn phù hợp với khả năng của trẻ 5-6 tuổi trong việchình thành khả năng đọc

Trên thế giới, truyện tranh xuất hiện từ rất sớm Ban đầu khi xuất hiệntại Trung Quốc, truyện tranh chỉ giống như một loại tranh miêu tả những câuchuyện hàng ngày Truyện tranh thật sự trở nên nổi tiếng khi lần đầu tiên đượcxuất bản tại Nhật vào thế kỉ 11 bắt nguồn từ những bức biếm hoạ Từ đó đếnnay, truyện tranh Nhật Bản vẫn được coi là số một thế giới và hiện tại ngườiNhật đọc truyện tranh ở khắp mọi nơi, từ bến xe bus, tàu điện ngầm đếnnhững cửa hàng lớn, nhà xuất bản

Truyện tranh xuất hiện tại Châu Âu vào đầu thế kỉ 19 và sau đó cónhiều bước phát triển Nổi tiếng nhất là các bộ truyện tranh hài hước củaChâu Âu nhưng các nhà xuất bản Châu Âu lại không chú trọng tìm kiếm tàinăng cũng như cốt truyện nên truyện tranh Châu Âu chỉ dừng lại ở những bộchuyện hài hước Pháp và Bỉ là hai trong những nước nổi tiếng về truyệntranh ở Châu Âu vào thời gian này

Trang 23

Truyện tranh không chỉ để giải trí, chúng còn có thể được dùng chomục đích giáo dục và là người bạn tinh thần không thể thiếu đối với trẻ thơ.Chúng cũng được đánh giá là có tác động tốt với tinh thần, tâm hồn và hành

vi của trẻ khi mà các nhân vật luôn cho trẻ thấy những mặt tốt và ấn tượng, trẻ

sẽ bắt chước theo như thế với tính học hỏi và bắt chước vốn có của mình Với

sự phát triển trí tuệ thì truyện tranh được đánh giá là: mặc dù chưa hiểu được

về nội dung của truyện, nhưng với những cuốn truyện tranh về con vật, nhiềumàu sắc hấp dẫn, truyện có nhiều tranh ảnh phong phú…cũng giúp trẻ pháttriển khả năng nhận thức được màu sắc, thiên nhiên… kích thích trẻ nhận biết

và quan sát đồ vật, tạo đà cho trẻ khám phá thế giới xung quanh Khi trẻ lớnhơn, với hình thức vừa đọc truyện cho trẻ vừa đặt câu hỏi diễn biến tiếp theocủa truyện giúp trẻ phát triển tư duy phán đoán và trí tưởng tượng phong phú.Việc khuyến khích trẻ kể lại truyện đã được nghe cũng giúp cho trẻ phát triểnđược trí nhớ tốt, những lời khen ngợi khi trẻ trả lời những câu hỏi đúng khiphán đoán đồ vật, nhận vật, kết quả trong truyện sẽ động viên và khuyếnkhích được trẻ yêu thích được nghe và đọc sách sau này Truyện tranh cũnggiúp trẻ thói quen đọc và có vốn từ phong phú hơn khi đọc giải mã dần nhữngtừ trong đó

Tại Nhật Bản, phương pháp đọc truyện Ehon và dạy chữ sớm cho trẻ ởNhật cũng đang được áp dụng (Ehon là những cuốn truyện ngắn có tranh minhhọa dành cho thiếu nhi ở Nhật ) Trẻ thường được làm quen với việc đọc từsớm, trước khi trẻ vào lớp một bởi họ quan niệm rằng: trẻ biết đọc trước rồimới dạy viết chữ Do đó, trẻ được nghe đọc truyện từ khi trẻ mới lọt lòng, rồikhi trẻ đã biết chữ, đã đi học tiểu học rồi trẻ vẫn được người lớn đọc cho nghebởi sự ham thích được nuôi dưỡng từ nhỏ tạo thành một thói quen khi trẻ lớnlên Rất nhiều người lớn nói rằng họ vẫn thích đọc những truyện Ehon vì nộidung thật trong sáng và triết lí sống thì vẫn luôn đúng dù thời gian có trôi qua

Trang 24

Việc dạy cho con đọc không phải vì muốn con có thành tích tốt ở trường,không phải vì muốn con học chữ sớm để đến lớp con không bị thụt lùi so vớicác bạn khác mà cha mẹ người Nhật dạy chữ cho con, đầu tiên xuất phát từđộng lực ham muốn biết đọc được chữ của trẻ được hình thành một cách tựnhiên không hề gượng ép, mà động lực ấy được tạo ra bởi môi trường trẻ đượccha mẹ đọc cho nghe những cuốn truyện ehon dành cho trẻ thơ, và các sáchtham khảo về động vật, thực vật, lịch sử, khoa học từ khi trẻ mới lọt lòng Trẻđược cha mẹ đọc cho nghe thì dần dần sẽ thích, từ thích thì sẽ muốn tự mình

đọc, đó là động lực hình thành một cách tự nhiên Trẻ biết đọc sẽ là một điều

kiện rất tốt giúp trẻ tiếp xúc với những tri thức mới, mở mang trí tuệ, kích thíchtrí tưởng tượng Từ những trải nghiệm trẻ được gặp gỡ thông qua những cuốnsách đó, trẻ sẽ tự tìm ra cái mình yêu thích, và đôi khi nó làm thay đổi cuộc đời

và giấc mơ của trẻ Truyện có tranh minh họa dành cho trẻ em chính là mộttrong những người bạn tốt nhất để dạy cho trẻ về tâm hồn và trí tưởng tượng

Đó cũng chính là lí do vì sao ở Nhật rất chú ý tới nội dung này

Như vậy, ở Nhật đã chú ý tới việc dạy trẻ đọc bằng hình thức truyệnEhon, một loại truyện tranh được dành riêng cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ

có khả năng tiếp thu ngôn ngữ tốt và chuẩn bị cho trẻ những kĩ năng khi trẻbước vào học lớp một Tuy nhiên thể lại truyện này còn khá mới mẻ và cũng

là một vấn đề cần đặt ra cho các nghiên cứu về truyện tranh cho Việt Nam

Tại Anh, sự xuất hiện của thể loại truyện tranh không chữ ra đời từ rấtsớm nhưng không phải dành cho trẻ em Đến thế kỉ XX, Marcer Mayer giớithiệu cuốn truyện tranh không chữ đầu tiên dành cho trẻ em có tên: “ A boy, adog and a frog”, sau đó là cuốn “ Snowman” được tác giả Raymond Briggstrình làng và nhanh chóng nổi tiếng trên toàn thế giới, đây được xem là thểloại truyện tranh không chữ dành cho trẻ em Luận văn của Lee Young Ja “

“Tác động của các hoạt động xây dựng truyện bằng truyện tranh không chữ

Trang 25

đối với sự sáng tạo của trẻ em” đã chỉ ra rằng “nhờ có truyện tranh không chữ

mà các yếu tố trí tuệ của sự sáng tạo phát triển đáng kể như sự linh hoạt, trôichảy, độc đáo và các yếu tố tác động tích cực hơn”[82,tr54].Tác giả đã khẳngđịnh sáng tạo của trẻ có thể phát triển bởi các hạt động xây dựng truyện làmbằng truyện tranh không chữ

Vào năm 1998, trong một nghiên cứu về truyện tranh không chữ, SuhJung Ah cho biết trẻ ở các độ tuổi khác nhau thì hứng thú với các câu chuyệnkhác nhau Vì vậy giáo viên mầm non cần thiết kế và tiến hành kế hoạch dạyhọc phù hợp đối với từng giai đoạn phát triển của trẻ Theo đó, phụ huynh vàgiáo viên có thể giới thiệu cho trẻ nhỏ truyện tranh về các chủ đề gần gũi vớicuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, còn với trẻ mẫu giáo lớn có thể mở rộng đadạng các chủ đề như: phiêu lưu, viễn tưởng… nhằm kích thích trí tưởngtượng, khả năng kể chuyện sáng tạo của trẻ[83] Còn theo Mary RenckJalongo, Denise Dragich, Natalie K Crad và Ann Zhang trong cuốn sách cótên: “ Sử dụng truyện tranh không chữ để hỗ trợ việc làm quen với văn học”xuất bản năm 2002 thì truyện tranh không chữ dựa hoàn toàn vào hình vẽ để

kể chuyện Đây là thể loại truyện cung cấp một câu chuyện bằng hình ảnh với

hệ thống cốt truyện rõ ràng mà không cần đến văn bản Các tác giả cũng gợi ýmột vài hoạt động khi sử dụng thể loại này ở trường mầm non [87]

Theo Morrow M.L và các cộng sự trong cuốn “ Sử dụng văn học trẻ em

để phát triển đọc hiểu” (Using children literature to develop comprehension),khi dạy trẻ đọc sách, trẻ phải hiểu rằng sách dùng để đọc, có thể phân biệtđược đằng trước, đằng sau, phía trên và phía dưới cuốn sách, có thể lật giởtrang sách theo đúng chiều, biết sự khác biệt giữa tranh hình và văn bản chữ

in và hình ảnh trên trang sách thể hiện nội dung phần văn bản in chữ, biếtđược phải bắt đầu từ trang nào, biết được tiêu đề sách…[88, tr 175]

Trang 26

Việc sử dụng truyện tranh để dạy trẻ đọc hiện nay trên thế giới đangđược một số nước như Nhật, Anh, Mỹ… quan tâm Các nghiên cứu cho thấyviệc sử dụng truyện tranh để dạy trẻ sẽ có tác dụng lớn để giúp trẻ phát triểnkhả năng ngôn ngữ, tư duy, trí tưởng tượng Tuy nhiên, để hình thành ở trẻ mẫugiáo 5-6 tuổi khả năng đọc thông qua việc sử dụng truyện tranh lại chưa cócông trình nào nghiên cứu cụ thể, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc dạytrẻ đọc nói chung và khuyến khích việc đọc ở trẻ càng sớm càng tốt, chưa đưa

ra các biện pháp cụ thể định hướng nhằm hình thành khả năng này cho trẻ

Hiện nay các nghiên cứu về truyện tranh với mục đích hình thành khảnăng đọc cho trẻ còn rất hạn chế Ở Việt Nam có một số tác giả đã chỉ ra việcphát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc sử dụng các tác phẩm văn học nóichung như: Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thu Thủy, Đinh Văn Vang, LãThị Bắc Lý các tác giả cho rằng truyện tranh chính là phương tiện hữu hiệu

có thể giúp trẻ có một số kĩ năng đọc và tạo cho trẻ sự hứng thú tham gia vàoviệc đọc, chuẩn bị cho trẻ việc học đọc chính thức khi vào lớp một

Các nghiên cứu của tác giả Hà Nguyễn Kim Giang, Nguyễn ThanhHùng đã đề cập tới việc phát triển hứng thú đọc cho trẻ mẫu giáo thông quasách, truyện tranh và coi trẻ là một bạn đọc đang phát triển Tác giả cho rằngtruyện tranh là thể loại phù hợp với trẻ, bởi truyện tranh với những nhân vậtthân thương, gần gũi phong cảnh thiên nhiên quen thuộc, hấp dẫn dễ dàng gợicho trẻ hứng thú và kích thích lòng say mê đọc của trẻ Tác giả Hà NguyễnKim Giang trong một số công trình nghiên cứu của mình: " Phương pháp tổchức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học", " Cho trẻ làm quen với tácphẩm văn học - một số vấn đề lí luận và thực tiễn" đã chỉ ra rằng: Ở trẻ mầmnon, dù chưa biết chữ, song trẻ rất thích nghe truyện kể, đọc thơ, xem tranh,chúng có thể đọc đi đọc lại nhiều lần nội dung một bức tranh và nhu cầu hiểubiết tiềm ẩn trong con người ở lứa tuổi này cũng chính là động lực thúc đẩy

Trang 27

khát vọng tìm hiểu thế giới xung quanh, sách chính là người bạn, niềm vuicủa trẻ [15] Tác giả đã chỉ ra những đặc điểm về việc lĩnh hội tranh của trẻmẫu giáo lớn khác so với các độ tuổi khác: trẻ cảm nhận được cái đẹp hìnhthể, màu sắc tranh vẽ, tri giác đã mang tính mục đích, khi xem tranh, đôi khitrẻ bộc lộ, thể hiện thái độ, hành động đối với hình tượng nhân vật mà mìnhyêu ghét Từ đó tác giả cũng chỉ ra những nguyên tắc cơ bản khi lựa chọn tácphẩm văn học dành cho độ tuổi mầm non và đề cập tới những nguyên tắc cơbản trong tổ chức các hoạt động làm quen tác phẩm văn học cho trẻ Tuynhiên trong các nghiên cứu của mình, tác giả chưa đưa ra được những biệnpháp cụ thể về việc sử dụng truyện tranh để hình thành khả năng đọc cho trẻmẫu giáo, nhưng những đóng góp của tác giả trong hệ thống cơ sở lí luận lạichính là sự định hướng quan trọng cho luận án.

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu của tác giả Đinh Hồng Tháitrong các cuốn sách như: " Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em",

" Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non", "Giáo trìnhphát triển khả năng tiền đọc viết tuổi mầm non theo hướng tích hợp" cũng đềcập tới các phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ và chuẩn bịcho trẻ học tiếng Việt ở trường tiểu học Tác giả cũng cho rằng việc sử dụngtruyện tranh có ý nghĩa đối với việc giúp trẻ mẫu giáo hình thành khả năngđọc, và trong chương trình giáo dục ở trường mầm non đặt nhiệm vụ khơi dậy

ở trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật, lòng yêu quý sách và truyện tranhchính là biện pháp tốt nhất để hình thành khả năng đọc cho trẻ Tác giả đã chỉ

ra các biểu hiện rất sớm có liên quan tới đọc của trẻ mẫu giáo cũng như việcvận dụng các phương pháp, biện pháp để hình thành khả năng đọc cho trẻmẫu giáo 5- 6 tuổi

Nghiên cứu ở Việt Nam cho ta thấy, các tác giả đều đồng nhất với quanđiểm của các nước trên thế giới là chuẩn bị cho trẻ trước tuổi đến trường là

Trang 28

cần thiết, giúp trẻ có nhiều trải nghiệm, phát triển ở trẻ các năng lực ngônngữ, trí tuệ… Đã có một số tác giả nghiên cứu về việc hình thành khả nănghọc đọc cho trẻ mầm non nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tớiviệc sử dụng truyện tranh để hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ởtrường mầm non mà các tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về phát triển khả năngngôn ngữ của trẻ, các vấn đề về đọc của trẻ, phát triển hứng thú “đọc” cho trẻ,các cách thức nhằm chuẩn bị cho việc học đọc của trẻ Trong chương trìnhGDMN hiện nay, vấn đề này còn thể hiện khá mờ nhạt trong các quy định cụthể cho từng độ tuổi Bên cạnh đó, các ấn phẩm dành cho trẻ em còn nhiềuhạn chế về nội dung cũng như hình thức bởi tính thị trường trong xuất bản,chưa có những nghiên cứu sâu về truyện tranh dành cho độ tuổi mẫu giáo 5-6tuổi Để khắc phục tình trạng trên, theo tác giả Đinh Hồng Thái, chúng ta cần

có những nghiên cứu nghiêm túc với sự phối hợp đồng bộ của các nhà sưphạm, các nhà nghiên cứu, quản lý, sáng tác, xuất bản sách dành cho trẻ mầmnon để hỗ trợ cho các giáo viên mầm non trong việc sớm hình thành khả năngđọc cho trẻ Đây sẽ là đóng góp đáng kể đặt nền móng cho việc giáo dục vănhóa đọc cho các thế hệ tương lai của nước nhà [49]

3 Mục đích nghiên cứu.

Đề xuất một số biện pháp sử dụng truyện tranh vào việc hình thành khảnăng đọc ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 29

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được các biện pháp sử dụng truyện tranh theo hướng tạomôi trường phong phú các loại truyện tranh trong lớp học, khai thác ưu thếcủa thể loại truyện tranh, cho trẻ tích cực hoạt động tương tác với truyệntranh thì sẽ góp phần hình thành ở trẻ khả năng đọc ban đầu, chuẩn bị cho trẻsẵn sàng học đọc ở lớp Một

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng truyện tranh hình thành

khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi

6.2 Khảo sát thực trạng việc sử dụng truyện tranh hình thành khả năngđọc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non hiện nay

6.3 Xây dựng một số biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khảnăng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

6.4 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quảcủa các biện pháp đã đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu

- Tiếp cận hoạt động: Theo lí thuyết hoạt động, sự phát triển nhận thức

về mọi mặt của con người đều phải thông qua hoạt động của bản thân, hoạtđộng càng tích cực thì con người càng phát triển Có thể nói khả năng của conngười nói chung và của trẻ 5-6 tuổi nói riêng chỉ được bộc lộ, hình thànhtrong hoạt động và thông qua hoạt động Do vậy, cách tiếp cận hoạt độngtrong đề tài này được thể hiện thông qua việc tổ chức các hoạt động như tronggiờ đọc và kể truyện, hoạt động thư viện, hoạt động chiều nhằm sử dụngtruyện tranh hình thành ở trẻ khả năng đọc ban đầu

- Tiếp cận phát triển: Khi hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi, giáoviên cần dựa vào sự phát triển đã có của trẻ và mức độ phát triển trẻ có thể đạt

Trang 30

được (vùng phát triển gần nhất) để xác định mục đích, lựa chọn nội dung,phương pháp giáo dục.

- Tiếp cận tích hợp: Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non nhìnnhận đứa trẻ như một chỉnh thể thống nhất Vì vậy khi hình thành khả năngđọc cho trẻ 5-6 tuổi, giáo viên cần lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thứcphù hợp, có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tác động lên nhau

- Tiếp cận cá nhân trong giáo dục: Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt,chịu sự tác động khác nhau của các yếu tố bẩm sinh- di truyền, yếu tố môitrường và yếu tố giáo dục Do đó khi hình thành khả năng đọc cho trẻ giáoviên cần hiểu rõ về đặc điểm cá nhân trẻ như sự chú ý, hứng thú, ảnh hưởngcủa gia đình, xã hội để có những biện pháp, hình thức tác động phù hợp

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu có liên quan tới vấn đề nghiêncứu của đề tài

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát trẻ, quan sát các hoạt động củagiáo viên

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket) để khảo sát thực trạngviệc sử dụng truyện tranh để hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ởtrường mầm non, điều tra phụ huynh trẻ

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia qua các hội thảohoặc phỏng vấn trực tiếp

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7.2.3.Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu.

Sử dụng toán thống kê, phân tích, xử lí số liệu, kiểm định kết quảnghiên cứu

Trang 31

8 Phạm vi nghiên cứu

8.1 Nghiên cứu truyện tranh xuất bản trong nước được giáo viên lựachọn và sử dụng trong trường mầm non để hình thành khả năng đọc cho trẻlớn 5-6 tuổi

8.2 Chỉ nghiên cứu một số biện pháp sử dụng truyện tranh hình thànhkhả năng đọc cho trẻ lớn 5-6 tuổi

8.3 Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên trẻ 5- 6 tuổi ở một sốtrường mầm non trên địa bàn thành phố Hải Phòng theo chương trình Giáodục mầm non hiện hành

9 Đóng góp mới của đề tài.

9.2.3 Những biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọccho trẻ 5-6 tuổi để giáo viên có thể áp dụng vào thực tiễn giáo dục mầm nonhiện nay

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,luận án gồm 4 chương:

Trang 32

- Chương 1: Cơ sở lí luận về việc sử dụng truyện tranh hình thành khảnăng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

- Chương 2: Thực trạng sử dụng truyện tranh hình thành khả năng đọccho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

- Chương 3: Một số biện pháp sử dụng truyện tranh hình thành khảnăng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non

- Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Trang 33

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỆN TRANH

HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm đọc

Đọc là khái niệm có tính lịch sử, là biểu hiện sự tiến hoá ngôn ngữ conngười mang bản chất văn hoá nhận thức bằng ngôn từ để giao tiếp và pháttriển cùng xã hội Đọc cũng chính là để khôi phục và phát huy những cảmgiác tinh tế liên quan tới âm thanh ngôn ngữ và âm điệu, giọng điệu của ngườiđọc (vì thế sẽ tốt hơn việc đọc bằng mắt, đọc thầm)

Việc đọc không chỉ là công việc giải bộ mã gồm hai phần chữ viết vàphát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theođúng như các kí hiệu chữ viết, mà còn là một quá trình nhận thức để có khảnăng thông hiểu những gì được đọc Trên thực tế, nhiều khi người ta khônghiểu khái niệm “đọc” một cách đầy đủ Nhiều chỗ, người ta chỉ nói đến đọcnhư nói đến việc sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa

đã không được chú ý đúng mức Cũng vì vậy đã có nhiều quan niệm của cácnhà nghiên cứu về vấn đề này

“Theo quan điểm Hành vi (Behaviorist Perspective), đọc được coi làmột quá trình nhận thức kí hiệu bằng văn bản (chữ cái và từ) và sự kết hợp kíhiệu chữ viết với lời nói (Adams, 1990; Gough, 1972; Laberge & Samuels,1974; Pearson & Stephens, 1994 và Weaver 2002)”[50, tr26].Theo quan điểmnày, việc đọc được mô tả như quá trình từ thấp đến cao, trong đó kết quả củaviệc đọc là từ việc xử lí các hình ảnh trực quan riêng biệt

“Quan điểm Tự nhiên chủ nghĩa (Naturalist Perspective) cho rằng đọckhông đơn giản là một sự nhận diện bản in, đó là một quá trình mà ở đó nãobộ của mỗi cá nhân chủ động xây dựng ý nghĩa từ bản in qua cả thông tin

Trang 34

hình ảnh và không hình ảnh Quan điểm này nhấn mạnh khả năng tự nhiêncủa con người để thu lượm được vốn ngôn ngữ (Chomsky, 1975, Alexander &Fox, 2004; Pearson & Stephen, 1994)” [50, tr31].

Như vậy, việc đọc văn bản là lao động của con người bằng cách tổnghợp nhiều thao tác cơ năng và trí năng Mắt phải bao quát tất cả các dấu hiệucủa văn bản, sao chụp lại văn bản Trí óc đồng thời với đọc phải nhớ nghĩa,từ ý nghĩa của các đơn vị thông tin ngôn ngữ để nắm nội dung gốc, ý tưởng sơbộ rồi ghép nối các đơn vị ý nghĩa này thành nghĩa của văn chương Thầnkinh trung ương phải điều phối việc thu nhận thông tin truyền đến các vùngđại não rồi xử lí thông tin đưa ra những phản ứng đáp lại để kết thúc mộtquá trình đóng - mở các cơ quan kì diệu này của con người Trong quá trìnhđọc, tư duy phân tích và tổng hợp cùng làm việc, tư duy khái quát thườngkết thúc ở từng “trạm” để nâng cấp tư duy thành phán đoán suy luận vềlogich của văn bản

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc là sự thu nhận thông tin có nộidung và ý nghĩa nào đó” Vì thế đọc lại liên quan đến khả năng nhận thức, đếnnhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càngcao [25, tr.24] Tác giả cho rằng, đọc là một loại hoạt động tinh thần hết sứcphức tạp của cá nhân, có sự tham gia của các yếu tố tâm lí: cảm giác, tri giác,biểu tượng, trí nhớ, tư duy trong đó ngôn ngữ đóng vai trò cực kì quan trọng

Là một loại hoạt động bên trong bị chi phối bởi tính chất các quá trình tâm lí của

cá nhân và hệ thống tri thức kinh nghiệm, hoạt động đọc hướng vào làm thay đổichính chủ thể Kết quả của hoạt động đọc là tri thức, giá trị thẩm mĩ, kinhnghiệm xã hội trong sách báo được chủ thể lĩnh hội đã tác động, cải biến nănglực và các phẩm chất của chính chủ thể, trong khi đó đối tượng của hoạt động,tức là nội dung tri thức, kinh nghiệm trong sách báo không hề bị hao mòn haymất mát đi Biết đọc giúp cho người có thể nhân khả năng tiếp nhận lên gấp

Trang 35

nhiều lần Từ đây, họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan

hệ tự nhiên, xã hội, tư duy Biết đọc, con người sẽ có một phương tiện văn hóa

cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu

tư tưởng, tình cảm của người khác Đọc là hoạt động của con người, đây khôngchỉ là hành động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt độngtrực quan sinh động giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trảicủa con người Đọc còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinhthần của độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hoá của từng người

Tác giả Phạm Thị Thu Hương nghiên cứu về các vấn đề về đọc, đọchiểu nói chung và chiến thuật đọc hiểu trong nhà trường phổ thông nói riêng.Theo đó nổi bật lên có ba nội dung lớn : Đọc là giải mã, hiểu và đáp ứng Việcđọc hiểu tạo ra cơ hội để cá nhân thực sự phát triển gắn bó với định hướnghọc tập đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra [25] Tác giả Trần Đình Sử cho rằngviệc đọc là một quá trình hoạt động tâm lí nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kíhiệu ngôn ngữ được in hay được viết [25] Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra một

số nội dung then chốt về việc đọc: Đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từvăn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữnghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản), phải dựa vào tính tích cực củachủ thể hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể vàvăn bản; đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản(tác giả, xã hội, văn hoá); đọc là quá trình tiêu dùng văn hoá văn bản(hưởng thụ, giải trí, học tập); đọc là quá trình tạo ra các năng lực người(năng lực hiểu mình, hiểu văn hoá thế giới)

“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữviết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọcthành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn

vị nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm)”[39, tr 15]

Trang 36

Đọc là “phát thành lời những điều được viết ra, theo đúng trình tự”, là

sự “tiếp nhận nội dung của một tập kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu”[70] Đọc là quá trình nhận biết, phân biệt các kí hiệu chữ viết trong tậphợp của nó, qua đó hiểu được nghĩa, biết được nội dung Đọc có thể đượcphát âm hoặc không phát âm Như vậy, biết đọc tức là hiểu được ý nghĩa,nội dung của tập hợp các kí hiệu chữ viết thông qua sự nhận biết, phân biệtbằng mắt các kí hiệu này

Các quan niệm trên đây đều chú ý đến các nhân tố gắn bó với hoạtđộng đọc Đó là văn bản, người đọc và mối quan hệ tương tác nhằm mục đíchkiến tạo nghĩa từ văn bản Vậy việc hiểu thuật ngữ đọc được sử dụng trongnhiều nghĩa, một là chuyển dạng chữ viết của từ thành âm thanh, hai là sự vậtchất hóa bên trong nghĩa là hiểu được ý nghĩa nội dung của văn bản thông qua

sự nhận biết, phân biệt các kí hiệu chữ viết

Như vậy, đọc được xem như là một hoạt động trong đó có các thành tố: tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ, chuyển dạng chữ viết thành âm thanh nghĩa là phát âm các từ theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng tùy thuộc vào trình độ nắm kĩ thuật đọc, thông hiểu những gì được đọc [39]

1.1.2 Khái niệm đọc đối với tuổi mẫu giáo

Đối với trẻ mầm non, lứa tuổi chưa biết đọc, biết viết, cũng có nhiềuquan điểm khác nhau về việc đọc của trẻ

Theo quan điểm Hành vi, “trẻ đọc thông qua việc hình thành kết hợpgiữa các tác nhân, phản ứng và tăng cường (Alexander & Fox, 2004” [50,

phải được dạy trực tiếp và chính thức các kĩ năng cụ thể hoặc các khái niệm

cơ bản tách rời nhau trước khi cố gắng để đọc Những kĩ năng riêng lẻ hoặccác khái niệm bao gồm: nhận ra chữ cái, phân biệt âm thanh, ghi nhớ hình ảnh

và mối quan hệ giữa chữ cái và âm thanh Một khi trẻ đã thành thạo tất cảnhững kĩ năng thì trẻ mới sẵn sàng để bắt đầu đọc

Trang 37

Trong khi đó, quan điểm Tự nhiên chủ nghĩa cho rằng ngôn ngữ là đặctrưng của con người thì trẻ em bình thường cho dù ở bất cứ đâu đều có thể nói

và phát triển khả năng nói ở cùng độ tuổi Trẻ tiếp thu ngôn ngữ như một phầncủa sự phát triển tự nhiên của con người Và việc đọc không có bất kì yêu cầuduy nhất hay bí mật nào đối với não bộ đọc không đòi hỏi tài năng hay sựphát triển đặc biệt nào của não bộ Quan điểm này công nhận rằng trẻ em sẽbắt đầu phát triển khả năng đọc qua những cơ hội lặp đi lặp lại để tương tácvới ngôn ngữ viết trong nhà trường, cộng đồng và những môi trường đượctạo ra không chính thức Theo đó, việc tiếp cận để dạy trẻ đọc chính là việctiếp cận dạy học ngôn ngữ trọn vẹn, nhấn mạnh tư tưởng là việc dạy họckhông chú ý đến các khái niệm và tiểu kĩ năng một cách tách biệt Ở đâymặc dù không nói tới vai trò của người lớn như hình mẫu để học tập nhưngquan điểm này đã quan tâm tới giao tiếp, khái niệm giao tiếp trong sự pháttriển ngôn ngữ

Quan điểm Tương tác cho rằng việc đọc của trẻ giống như quá trìnhnghĩ và làm, nên việc đọc của trẻ tập trung vào kinh nghiệm học tập để giúptrẻ có khả năng biết đọc Quan điểm này cũng thừa nhận rằng “hoạt độngtương tác xảy ra trong quá trình đọc của trẻ không giống nhau, không phải tấtcả trẻ đều tận dụng được những kinh nghiệm hoạt động học giống nhau, do đócần cung cấp cho trẻ những hoạt động trải nghiệm liên quan đến đọc” [50,tr36] Cách thức này đưa đến tiếp cận dạy học trung gian, đây là sự thống nhấtgiữa hai phương pháp tiếp cận của quan điểm hành vi và tự nhiên chủ nghĩa

về tiếp cận trọn vẹn và sẵn sàng học đọc Trong khi đó quan điểm giao dịchlại cho rằng cách tiếp cận trung gian sẽ dẫn đến việc chỉ đơn giản là kết hợpcác hoạt động hình thành kĩ năng và các hoạt động dựa trên tiếp cận ngônngữ trọn vẹn Điều này sẽ dẫn đến chương trình dạy đọc thiếu đi tính tíchhợp trong thực tế các lớp học Do đó, việc đọc được định nghĩa như là sự

Trang 38

giao tiếp giữa người đọc, văn bản và ngữ cảnh Trong đó người lớn được coi

là trung gian các hoạt động liên quan đến đọc và các sự kiện trong vùng pháttriển gần nhất của một đứa trẻ Quan điểm này đã thừa nhận vai trò năngđộng của giáo viên trong những tương tác của trẻ em liên quan tới đọc vàviệc tăng cường sự trải nghiệm cho trẻ càng nhiều càng có lợi cho việc họcđọc của trẻ [50, tr38,39]

Như vậy, các quan điểm trên đều cho rằng trẻ mẫu giáo có thể sẵn sàngcho việc đọc và điều quan trọng là chúng ta sẽ cung cấp những gì để giúp chotrẻ có thể đọc Vì vậy, kế tiếp các quan điểm trên, theo Durkin hầu hết cácchương trình đọc của trẻ được xây dựng trên cơ sở của một trong hai quanđiểm sau về đọc:

Quan điểm thứ nhất: Đọc được miêu tả như một hành vi thị giác nhằmgiải mã các kí hiệu, nhận biết và phát âm các chữ cái cấu tạo nên từ, đánh vần vàtạo từ từ các chữ cái đó, thể hiện các từ này bằng âm thanh Trong quá trình giải

mã đó, người đọc áp dụng các luật về cú pháp và ngữ nghĩa học để hiểu nghĩa

Quan điểm thứ hai: Đọc được định nghĩa là một hành vi trí tuệ nhằm hiểu,nắm bắt được nghĩa trong văn bản Theo quan điểm này, trong quá trình đọc,bằng cách kiểm chứng lại những giả định về nghĩa của các kí hiệu chữ viết,người đọc sử dụng kiến thức đã có về ngôn ngữ của bản thân để đọc văn bản

Chương trình được xây dựng trên quan điểm cho rằng đọc là một hành

vi thị giác thường được bắt đầu với việc dạy trẻ đọc theo bảng chữ cái Trẻđược làm quen với các luật quan hệ chữ - âm - vần Phương pháp này ít chú ýđến việc giúp trẻ hiểu nghĩa khi đọc và do đó thường cho trẻ tập đọc cả nhữngtừ có nghĩa và vô nghĩa Mục đích của cách dạy này là yêu cầu trẻ phải nhậnbiết được các âm vị và hình thái của chữ và từ trước khi hiểu được nghĩa củatừ Chương trình đọc này bị phê phán là hình thức và gây khó khăn cho việchọc đọc cho trẻ Theo quan điểm này, quá trình đọc hiểu và kĩ năng giải nghĩa

Trang 39

của các kí hiệu viết trong một ngữ cảnh nhất định là yếu tố quan trọng củaviệc đọc Kiến thức về các luật về mối quan hệ giữa hình thái và âm vị củachữ chỉ là phương tiện để giúp trẻ giải mã các từ để hiểu nghĩa của chúng Do

đó Sloan cho rằng, đối với trẻ nhỏ, việc làm quen với các kĩ năng đọc, phảiđược bắt đầu bằng những ý tưởng, khái niệm gần gũi và có ý nghĩa đối với trẻnhỏ chứ không chỉ bằng tên, âm hay các chữ cái riêng lẻ

Kế thừa quan điểm của Durkin, Trần Thị Nga cho rằng, đọc phải đượcxem như một hành vi trí tuệ và nhiệm vụ của chương trình đọc là giúp trẻ hiểuđược nghĩa của những gì trẻ đọc Hoạt động đọc phải được xem như các thànhphần cấu thành của ngôn ngữ trọn vẹn [41]

Đối với trẻ, để hiểu được ý nghĩa của văn bản phải sử dụng 3 thành tố:Nhận ra các từ ngữ thường xuyên xuất hiện (hình thành từ vựng thị giác); hiểuđược các hình hoạ, ngôn ngữ của câu chuyện và bối cảnh làm thông tin giúp trẻhiểu được ý nghĩa của văn bản; nhận thức âm vị (sử dụng các âm thanh của chữcái và cách đánh vần để giải mã các từ ngữ) Trẻ học đọc dưới sự hướng dẫncủa người lớn, người lớn làm mẫu quá trình đọc cho trẻ, tuy nhiên trẻ cũng cầnphải có hiểu biết quan trọng về sách trước khi thực hiện quá trình này

Theo tác giả Hà Nguyễn Kim Giang, việc đọc của trẻ có đặc điểm riêng

ở các giai đoạn lứa tuổi, bắt đầu là sự tiếp xúc với sách, với những tranh vẽnhững vật thể thế giới động vật, thực vật và con người Đọc của trẻ mang tính

kí hiệu thị giác, kí hiệu hình ảnh màu sắc chiếm vai trò trung tâm Kí hiệu này

là nghĩa của kí hiệu chữ viết với lời nói và nội dung cuả sự vật, hiện tượngtrong môi trường sống và làm cho trí nhớ của trẻ phát triển, trẻ có thể đọcbằng lời, hiểu nghĩa của văn bản trong khi trẻ chưa biết chữ Như vậy theo tácgiả, trẻ em đọc cái mình chưa tự hiểu, đọc bằng chữ viết và câu văn với nhữngsắc thái biểu đạt thẩm mĩ riêng của nó nên việc đọc của trẻ cần viện nhờ sựgiúp đỡ của người lớn và mang tính tập thể [16]

Trang 40

“ Việc đọc của trẻ mẫu giáo được hiểu là sự khám phá và thử nghiệmcác âm, từ và câu; thuật lại các câu chuyện với sự phối hợp chính xác theomẫu lời nói của câu chuyện; đọc những từ quen thuộc và thông dụng cùng vớinhững câu đơn giản một cách độc lập; hiểu chữ in mang ý nghĩa khi đọc từtrái qua phải và từ trên xuống dưới; thể hiện sự hiểu biết về các chi tiết củacâu chuyện chẳng hạn như tính cách chủ yếu, sự nối tiếp của các sự kiện, cơhội và những thông tin nào có thể tìm thấy trong các văn bản không có hư cấu

để trả lời các câu hỏi về ở đâu, ai, tại sao và như thế nào Nghe và nói âm đầu

và cuối trong từ, nguyên âm ngắn trong phạm vi các từ Liên kết âm với chữcái, tên và âm chữ cái trong bảng chữ cái”[1, tr17]

Việc đọc nói chung hay đọc của trẻ mẫu giáo đều phải có mục đích, do

đó mục đích chính của đọc là để hiểu những ý tưởng, những thông điệp trongtruyện, không hiểu việc đọc sẽ trở nên không còn ý nghĩa Một đứa trẻ đượcxem là biết đọc khi nó hiểu điều mình đọc, vì nếu không hiểu những gì mìnhđọc chúng sẽ tỏ ra nhanh chán và dễ dàng bỏ cuộc Do đó hiểu những gì trẻđọc sẽ tạo động cơ, hứng thú cho việc đọc lâu dài của trẻ sau này

Như vậy việc đọc và đọc truyện tranh của trẻ 5-6 tuổi được hiểu: Trẻ đọc có sự hỗ trợ của người lớn, thông qua kí hiệu thị giác, kí hiệu hình ảnh màu sắc trong tranh vẽ, nhận ra sự liên kết giữa hình ảnh trong tranh vẽ với chữ in trong truyện, dần dần khám phá, giải mã âm, từ câu ở mức độ của trẻ và cuối cùng, trẻ hiểu được nội dung của truyện

1.1.3 Khái niệm hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi

1.1.3.1 Khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi

Văn hoá đọc, với tư cách văn hoá hành vi của mỗi cá nhân con người,biểu hiện ở khả năng lựa chọn sách, kỹ năng đọc và lĩnh hội sách cũng nhưcách ứng xử với sách báo, là sự thể hiện rõ ràng nhất đặc điểm tâm lý và nhâncách của mỗi cá nhân, được hình thành từ lứa tuổi ấu thơ và phát triển trongsuốt cuộc đời con người

Ngày đăng: 28/09/2019, 10:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Lan Anh (2009), Sử dụng trò chơi nhằm phát triển khả năng tiền đọc - viết cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng trò chơi nhằm phát triển khả năngtiền đọc - viết cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non
Tác giả: Phan Thị Lan Anh
Năm: 2009
2. Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Hoà (1997), Giáo dục học Mầm non, tập 1 NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầmnon
Tác giả: Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Hoà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
3. Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Hoà(1997), Giáo dục học Mầm non, tập 2 NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: dục học Mầmnon
Tác giả: Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Hoà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
4. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Thanh Bình (2010), Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể trong nhà trường trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theoloại thể trong nhà trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2010
6. M.K Bogoliupxkaia, V.V. Septsenko (1976), Đọcvà kể chuyện văn học ở vườn trẻ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọcvà kể chuyện văn học ởvườn trẻ
Tác giả: M.K Bogoliupxkaia, V.V. Septsenko
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1976
7. Nguyễn Huy Cẩn (2001), Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia
Năm: 2001
8. E.I.Chikhêêva (1997), Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi học, Tài liệu dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi học
Tác giả: E.I.Chikhêêva
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
9. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiêu - Hoàng Trọng Phiến (1997),Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sởngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiêu - Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa họcgiáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
11. A.V. Daparôgiet (1974), Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo, Tài liệu dịch lưu hành nội bộ trường Đại học Sư phạm Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo
Tác giả: A.V. Daparôgiet
Năm: 1974
12. Hà Nguyễn Kim Giang, Nguyễn Thanh Hùng (1995), “Phát triển hứng thú“ đọc” cho trẻ em tiền học đường”. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nguyễn Kim Giang, Nguyễn Thanh Hùng (1995), “Phát triển hứng thú“ đọc” cho trẻ em tiền học đường”
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang, Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 1995
13. Hà Nguyễn Kim Giang (2000), Quan điểm xây dựng chương trình đào tạo cao học chuyên ngành giáo dục trẻ em trước tuổi phổ thông, Hội nghị Khoa học Giáo dục Mầm non Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm xây dựng chương trình đàotạo cao học chuyên ngành giáo dục trẻ em trước tuổi phổ thô
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Năm: 2000
14. Hà Nguyễn Kim Giang (2001), Phương pháp kể sáng tạo chuyện cổ tích thần kì cho trẻ mẫu giáo. NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp kể sáng tạo chuyện cổ tíchthần kì cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
15. Hà Nguyễn Kim Giang (2002), Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học - một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học -một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
16. Hà Nguyễn Kim Giang (2007), Phương pháp đọc diễn cảm, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đọc diễn cảm
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: NXB Đại họcSư phạm
Năm: 2007
17. Hà Nguyễn Kim Giang (2012),“Nguyên tắc lựa chọn tác phẩm văn học cho trẻ em”, Tạp chí Giáo dục, số 300, kỳ 2, tháng 12. Tr19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc lựa chọn tác phẩm văn họccho trẻ em”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Năm: 2012
18. Hà Nguyễn Kim Giang (2012), Người giáo viên với việc lựa chọn tác phẩm văn học cho trẻ em, Kỉ yếu hội thảo Mô hình nhân cách GVMN thời kỳ hội nhập quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người giáo viên với việc lựa chọn tácphẩm văn học cho trẻ em
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Năm: 2012
19. Hà Nguyễn Kim Giang (2014), Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổ chức hoạt động làmquen với tác phẩm văn học
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2014
20. Glenn Doman, Janet Doman (2006), Dạy trẻ biết đọc sớm, Mai Hương (dịch) NXB Lao động - Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy trẻ biết đọc sớm
Tác giả: Glenn Doman, Janet Doman
Nhà XB: NXB Lao động - Xã Hội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w