1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VÀ THÚC ĐẨY HỢP TÁC CÔNG –TƯ (PPP) TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀTRUYỀN THÔNG TẠI VIỆT NAM

49 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 111,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT, CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH, KHUYẾN KHÍCH VÀ THÚC ĐẨY, HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP), TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN, VÀ TRUYỀN THÔNG ,TẠI VIỆT NAM

Trang 1

VIỆN CHIẾN LƯỢC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG



BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VÀ THÚC ĐẨY HỢP TÁC CÔNG –

TƯ (PPP) TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ

TRUYỀN THÔNG TẠI VIỆT NAM

Đơn vị chủ trì: Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Thông tin và

Truyền thông (CDTT)

Hà Nội – 2017

Trang 2

MỤC LỤC

1 PHẦN I: TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Mở đầu 4

1.2 Mục tiêu Chung của Đề Tài 4

1.3 Mục tiêu cụ thể Đề tài 5

2 PHẦN II: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VỀ PPP 6

2.1 Khái niệm mô hình hợp tác công – tư (PPP) 6

2.2 Đặc điểm của mô hình hợp tác công tư: 6

2.3 Mối quan hệ hợp tác và Hình thức thực hiện mô hình PPP 6

2.4 Các dạng hợp đồng theo hình thức hợp tác công tư Công – Tư (PPP) 7

3 PHẦN III: NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO PPP TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG HIỆN NAY 9

3.1 Tính cấp thiết của PPP cho sự phát triển TT&TT 9

3.2 Lợi thế của PPP so với hình thức đầu tư truyền thống 10

3.3 Hiện trạng nguồn vốn đầu tư cho phát triển TT&TT của Việt Nam 11

3.4 Xu hướng Triển khai PPP trong lĩnh vực Thông tin Truyền thông tại Việt Nam 12 3.5 Khó khăn và cơ hội khi tham gia PPP trong lĩnh vực TT&TT 12

4 MỘT SỐ BÀI TOÁN THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ CHO PPP TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG 14

4.1 Hành lang Pháp lý: 14

4.2 Lĩnh vực Đầu tư cụ thể theo lĩnh vực Thông tin Truyền Thông: 14

4.3 Một số Dự án/Chương trình thực tế đã triển khai theo hình thức PPP trong lĩnh vực Thông Tin và Truyền thông : 15

5 PHẦN 5 ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VÀ THÚC ĐẨY PPP TRONG LĨNH VỰC TT&TT TẠI VIỆT NAM 17

5.1 Xây dựng Đề án Tổng thể huy động vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng Thông tin Truyền thông đảm bảo tính khả thi 17

5.2 Xây dựng Báo cáo nghiên cứu, đánh giá thực trạng và phân tích mức độ sẵn sàng của các dự án PPP trong lĩnh vực Thông Tin Truyền Thông; 17

Trang 3

5.3 Đảm bảo chế tài linh động, nhanh chóng, hiệu quả và thay đổi nhanh khi cần;18 5.4 Tăng yêu cầu về năng lực của nhà đầu tư 18 5.5 Kịp thời giám sát đánh giá các dự án PPP để có giải pháp hiệu quả 19

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Sự

Trang 4

phát triển của hạ tầng giúp nâng cao mức sống cho xã hội thông qua việc mang lại những sản phẩm dịch vụ công cộng tốt hơn, đồng thời cơ sở hạ tầng cũng hỗ trợ cho

sự tăng trưởng kinh tế và củng cố vị trí cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cũng chú trọng rất nhiều đến việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, bằng chứng là ngân sách dành cho lĩnh vực này chiếm từ 8-9% GDP hàng năm Tuy nhiên khi nhìn vào nhu cầu tài chính, nguồn ngân sách và vốn ODA hiện có, có thể thấy rõ Việt Nam đang đối mặt với một sự thiếu hụt vốn (hay còn gọi là “khoảng cách đầu tư”) khoảng 2,5 tỉ đô la mỗi năm (ADB, 2005,) Khoảng cách này cần phải được lấp đầy bởi các nguồn lực từ khu vực tư nhân để đảm bảo được nhu cầu vốn và giữ vững được tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam Bên cạnh đó trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì và hệ thống cơ sở hạ tầng của khu vực này là một yếu góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Vì vậy nhu cầu cấp thiết đặt ra là phải tìm ra một mô hình huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực đầu tư, nhất

Mô hình hợp tác công tư (mô hình đối tác nhà nước tư nhân –PPP) là mô hình hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong việc cung cấp và phát triển các dịch

vụ công cộng (trong đó có hạ tầng thông tin), góp phần giải quyết những vấn đề thiếu hụt vốn cũng như nâng cao hiệu quả của các dự án phát triển cơ sở hạ tầng Xuất hiện từ những năm 80 của thế kỉ XX, mô hình này ngày càng được áp dụng rộng rãi

và đã được những thành quả to lớn tại trên 50 quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam,

mô hình PPP đã được bắt đầu nghiên cứu và đưa vào áp dụng từ năm 1994, tuy nhiên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế

Trang 5

Đặc biệt phải kể đến m ô hình hợp tác nhà nước - doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông Mô hình này nhằm tăng cường khả năng thu hút

và khai thác hiệu quả các nguồn lực trong xã hội cùng với đầu tư của nhà nước để xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, dự án phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, mô hình PPP trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đang được Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) xây dựng nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội để đẩy mạnh phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam, đưa CNTT thực sự trở thành một lĩnh vực mũi nhọn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tại Hội thảo “Mô hình hợp tác nhà nước - doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT&TT”, các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm của các nước trong việc khai thác

mô hình PPP Giám đốc WB tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa, khẳng định sự quan tâm và ủng hộ của WB trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển nghiên cứu và áp dụng mô hình này và xem đây là một trong những giải pháp hữu hiệu cho việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội và cung cấp dịch vụ công trong điều kiện hạn chế về vốn đầu

tư của nhà nước WB sẽ cố gắng thúc đẩy chương trình hợp tác ở Việt Nam, giúp Việt Nam lấp đầy lỗ hổng về đầu tư và trở thành một nước mạnh về CNTT

Xuất phát từ những lý do trên Trung tâm Chuyển giao CNTT & TT chọn đề tài “ nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích và thúc đẩy Hợp tác công –

tư (PPP) trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT &TT) tại Việt Nam” để thấy được rằng đầu tư vào CNTT & TT thực thực sự làm nền tảng vững chắc, động lực cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

Như lời khẳng định của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểutại Hội nghị xúc tiến đầu tư quốc tế ngành Thông tin và truyền thông Việt Nam

2017 (Vietnam ICT Investment Forum - VIF 2017) “CNTT&TT đang ngàycàng giữ vai trò có tính nền tảng trong tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xãhội.”,” Ngày hôm nay, ở Việt Nam, CNTT&TT đã đi vào mọi ngõ ngách củacuộc sống, nền kinh tế Việt Nam Trong đó có đóng góp quan trọng của những

dự án đầu tư vào ngành bưu điện cách đây hàng chục năm đến những dự án mớiđây của các tập đoàn như Samsung” “Đầu tư vào ngành CNTT&TT còn thúcđẩy đầu tư vào các ngành, lĩnh vực kinh tế khác Đồng thời, mở ra những cơ hội

để DN hoạt động bền vững, theo đúng luật pháp, có thêm nhiều dự án đầu tư”

Từ những cơ hội nêu trên, có thể khẳng định rằng việc tiếp tục đẩy mạnh cácphương thức xã hội hoá nguồn vốn đầu tư dành cho phát triển hạ tầng CNTT

Trang 6

và TT là một trong những yếu tố nền tảng, góp phần tích cực để xây dựng kếtcấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại hoá trong nền kinh tế thông tin vàtri thức hiện nay.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm làm rõ về mô hình hợp tác công-tư, khái niệm và đặc trưng của nó, trên

cơ sở đó nêu lên thực tiễn áp dụng của mô hình này ở Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra những bất cập còn tồn tại trong hệ thống pháp lý của mô hình hợp tác công-tư, đồng thời tìm hiểu về kinh nghiệm thành công của mô hình hợp tác công-tư ở một số quốc gia khác trên thế giới, để có những kiến nghị và giải pháphữu hiệu để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật của nước ta về mô hình

hợp tác công-tư

 Đề xuất cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích và thúc đẩy PPP trong lĩnh vực Thông tin & Truyền thông tại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, tác giả cònvận dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê để xem xét

và nhận định vấn đề Trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp được tác giả

sử dụng trong việc trình bày khái niệm, đặc trưng của mô hình hợp tác công-tư,kinh nghiệm của một số nước trên thế giới Phương pháp thống kê, so sánh vàphân tích được tác giả sử dụng để tìm ra các bất cập trong thực tế áp dụng môhình hợp tác công-tư và các văn bản pháp lý của nó hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung đi làm rõ mô hình hợp tác công-tư và các bất cập của nó

trong thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, trong đó tác giả chỉ đi sâu phân tích các bất

cập về vấn đề pháp lý và tìm lời giải thỏa đáng cho những bất cập này Ngoài ra,

đề tài còn nghiên cứu sơ lượt kinh nghiệm của một số nước trong việc áp dụng

mô hình hợp tác công-tư và các qui định của pháp luật có liên quan đến mô hìnhhợp tác công-tư như Luật Đầu tư, Bộ luật Dân sự , Luật Thương mại, Luật Hànhchính, Luật Ngân sách nhà nước, Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước, Luật Tố

Trang 7

tụng dân sự…

4

5 Giới thiệu kết cấu khóa luận

Khóa luận này gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về mô hình hợp tác công-tư Trong chương

này, tác giả đi tìm hiểu về mô hình hợp tác công-tư theo quan niệm của quốc tế

và Việt Nam từ đó đưa ra một khái niệm chung nhất cho mô hình này, cùng cácđặc trưng và vai trò của nó

Chương 2: Kinh nghiệm của một số quốc gia trong mô hình hợp tác

công tư và bài học cho Việt Nam: Trong chương 2, tác giả đi phân tích và tổnghợp về kinh nghiệm áp dụng thành công mô hình hợp tác công-tư ở một số quốcgia trên thế giới như Pháp, Hà Lan, Canada… để từ đó rút những những bài họckinh nghiệm có thể tạo nên sự thành công của mô hình hợp tác công-tư tại ViệtNam

Chương 3 : Thực trạng hoạt động đầu tư theo mô hình hợp tác công

tư tại Việt Nam, những bất cập và kiến nghị: Trong chương này, tác giả đi tìmhiểu về thực trạng áp dụng mô hình hợp tác công-tư tại Việt Nam trong hơn 20năm vừa qua, từ đó tìm ra các bất cập và hạn chế trong mô hình này, sau đó đisâu phân tích những bất cập về pháp lý và kết hợp với những bài học kinh

nghiệm đã rút ra ở chương 2 để đưa ra lời giải cho những bất cập trong mô hìnhhợp tác công-tư của Việt Nam

5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG-TƯ

1.1 Tổng quan về mô hình hợp tác công tư:

1.1.1 Hợp tác công- tư là gì?

Thuật ngữ Public-Private Partnerships (hợp tác công-tư) viết tắt là PPP

được sử dụng lần đầu tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950, với các chương trình giáodục được cả khu vực công và khu vực tư cùng tài trợ Sau đó, thuật ngữ nàyđược sử dụng rộng rãi để nói đến mối liên hệ giữa chính quyền thành phố và nhàđầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở Hoa Kỳ trong thập niên1960

Trang 8

Từ năm 1980, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mô hình này trên thế

giới, thuật ngữ này dần được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nhau.Và ở mỗi nơi

nó đến, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính trị, khuôn khổ pháp lý, chính

quyền, hay tác giả mà thuật ngữ này lại mang cho mình một định nghĩa riêngbiệt Tuy nhiên, nhìn chung các định nghĩa này đều không khác nhau nhiều,chúng đều cho chúng ta một cách hiểu chung nhất

Như cuốn “Public private partnership, A guide for local government” xuất

bản tháng 5/1999 của Chính quyền bang British Columbia, Canada thì PPP đượchiểu là sự hợp tác giữa Chính phủ và tư nhân trong việc cung cấp cơ sở hạ tầngcho công chúng, những tiện nghi công cộng và những dịch vụ có liên quan.Sựhợp tác này được thể hiện thông qua việc phân chia nguồn vốn đầu tư, rủi ro,trách nhiệm và lợi ích giữa các bên đối tác

Cuốn “ Public – Private Partnership Handbook” (tạm dịch là Sổ tay hướng

dẫn mô hình hợp tác công - tư) của Ngân hàng Phát triển Châu Á, xuất bản năm

2008, thì khái niệm PPP được hiểu là mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhântrong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và những dịch vụ khác

Theo nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP: Vai trò của chiến lược hỗ trợ

tài chính trong phát triển bền vững” của Colverson và Perera(2012) thì PPP được

định nghĩa là “một hình thức được áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa

nhà nước và khu vực tư nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ phát triển cơ sở

hạ tầng”.4

Và một số tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng

PPP của Canada ( Canadian Council for Public Private Partnership), Hội đồngquốc gia về PPP của Mỹ (National Council for Public Private Partnership) cũngđưa ra những khái niệm riêng của mình về PPP Chẳng hạn như:

“PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vực công và tư, dựa trên lợi

thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng đồng thông qua việc

phân bổ hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.5

Từ các nghiên cứu và định nghĩa của các nước khác chúng ta có thể nhận

thấy,mặc dù mỗi cách hiểu về PPP tồn tại ở các dạng khác nhau, nhưng chung lại

ở chúng có chung một đặc điểm đó là đều nói lên rằng PPP mang bản chất của

Trang 9

hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong việc thực hiện một dự án nào

đó

Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù mô hình hợp tác công-tư đã xuất hiện

khá lâu, từ thập niên 1990, tuy nhiên mãi cho đến những năm gần đây thì môhình này ở Việt Nam mới nhận được sự quan tâm và nghiên cứu đầy đủ.Đặc biệtcho đến khi chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg banhành Quy chế thí điểm về đầu tư theo hình thức PPP thì mới dần xuất hiện

nhiều những nghiên cứu và định nghĩa riêng biệt tại Việt Nam cho mô hình này

4Theo khoản 1 điều 2 Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công

–tư,ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của

Thủ tướng Chính phủ thì mô hình hợp tác công-tư(PPP) là “việc nhà nước và

nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án” Theo đó Quyết định này đã mở rộng

khuôn khổ pháp lý cho các dự án PPP so với các khuôn khổ trước đó vì nó baogồm tất cả dạng hợp tác PPP, chứ không chỉ dừng lại ở các dự án BOT,BTO và

BT Đây là một bước tiến đáng kể trong hệ thống pháp lý Việt Nam

Tiếp theo Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm lại tổng kết và định nghĩa rằng “ Quan hệ

đối tác công tư là việc Nhà nước cùng với một hoặc nhiều đối tác thuộc khu vực

tư nhân thiện nguyện cùng phối hợp và chia sẻ rủi ro để thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung ứng dịch vụ công cộng trên cơ sở Hợp đồng quan hệ đối tác.”6

Còn Thạc sĩ Nguyễn Duy Hà, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bắc Ninh nhận

định “mô hình hợp tác công tư là mô hình nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân

cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi

bên trong việc xây dựng một cơ sở hạ tầng hay cung cấp một dịch vụ công nào đó”.7

Từ định nghĩa trong Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg và các nghiên cứu của

những nhà khoa học Việt Nam, chúng ta nhận thấy, tại Việt Nam cách nhìn nhận

về PPP không khác nhiều so với các nước ở trên thế giới, chúng đều mang mộtđặc điểm đó chính là sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong việc phối hợpcùng thực hiện một dự án nào đó ,nhằm mục đích phục vụ lợi ích công cộng

Trang 10

Vậy từ các phân tích và các định nghĩa nêu trên ta có hiểu mô hình hợp táccông-tư theo một cách đơn giản nhất đó là sự hợp tác giữa chủ thể công và mộthoặc nhiều chủ thể tƣ nhân để huy động sự đóng góp về nguồn lực và trình

độ chuyên môn của chủ thể tƣ nhân vào việc cung cấp dịch vụ ,cơ sở hạ tầng

vì lợi ích công nhằm mục tiêu đạt đƣợc mức độ mở rộng phạm vi cung cấp

và nâng cao chất lƣợng dịch vụ công phù hợp với yêu cầu của cơ quan côngquyền Mục đích của sự hợp tác này, đó chính là sự tận dụng điểm mạnh và lợithế của mỗi bên để tiến hành hợp tác một cách có hiệu quả và mang lại lợi íchcho đôi bên và toàn xã hội

Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, đang áp dụng song song hai văn bản phápluật đó là Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ban hành kèm theo “ Quy chế thí điểmđầu tư theo hình thức đối tác công-tư ”(PPP) và Nghị định 108/2009/NĐ-CPngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây

dựngKinh doanh-Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng –Chuyển giao- Kinh doanh,Hợp

đồng Xây dựng –Chuyển giao(quy định về các hình thức BOT,BTO,BT) Nhưvậy,ở nước ta PPP và BOT,BTO,BT hiện đang áp dụng theo hai văn bản khácnhau, theo cách hiểu từ việc áp dụng riêng lẻ hai văn bản pháp luật này, thì PPPkhông bao gồm các hình thức BOT,BTO,BT Theo tác giả hiểu như vậy là không

chính xác, nó đã làm hiểu hẹp đi khái niệm PPP so với thông lệ quốc tế Thựcchất PPP và BOT,BTO,BT chỉ khác nhau về tên gọi, còn về bản chất

BOT,BTO,BT vẫn là các hình thức của PPP

1.1.2 Các đặc trƣng của mô hình hợp tác công-tƣ :

1.1.2.1 Các dạng hợp đồng hợp tác công- tư:

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều trường phái và rất nhiều nghiên cứu chỉ

ra các dạng các hình thức hợp đồng PPP khác nhau như trong cuốn “Publicprivate partnership,Aguide for local government” xuất bản tháng 5/1999 củaChính quyền bang British Columbia, Canada thì đưa ra 10 mô hình PPP ,còntrong bài nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm về Các khái niệm tư nhân hóaxãhội hóa và quan hệ đối tác công-tư (10/8/2011) thì có đến 17 hình thức hợpđồng PPP Do đó đứng trên quan điểm của cá nhân, của một người nghiên cứu,9

Trang 11

cũng như tìm hiểu từ những tài liệu được cung cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tưThành phố Hồ Chí Minh;cá nhân tác giả xin đưa ra các hình thức của hợp đồngPPP theo cách tiếp cận của Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg cũng như nhiều quốcgia khác trên thế giới.

Thì theo cách tiếp cận này, cách tiếp cận từ Quyết định 71/2010 /QĐ-TTg,

PPP gồm 2 nhóm sau:

(1)PPP “đầu tƣ cơ sở hạ tầng” tư nhân tham gia đầu tư phát triển và quản lý

cơ sở hạ tầng

(2)PPP “ủy thác công tác quản lý dịch vụ công” tư nhân tham gia quản lý

và cung cấp trực tiếp dịch vụ công để cải cách công tác điều hành một

ngành và cải thiện công tác quản lý, hiệu quả và hiệu suất của ngành

Trong đó mỗi nhóm lại có những hình thức hợp đồng riêng mà sau đây tác giảxin trình bày chúng cùng với những đặc điểm của các dạng hợp đồng này:

Nhóm Hợp đồng đầu tƣ cơ sở hạ tầng

Hợp đồng Xây dựng,vận hành, chuyển giao (BOT) và các biến thể:

Hợp đồng BOT là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra

xây dựng và vận hành công trình trong một thời hạn nhất định sau đó chuyểngiao toàn bộ cho Nhà nước.Trong mô hình này đối tác tư nhân không trực tiếpnhận thù lao từ người sử dụng công trình, mà từ đối tác Nhà nước, nghĩa là đốitác Nhà nước mua lại dịch vụ do công trình mà đối tác tư nhân đã đầu tư xâydựng và vận hành

Từ mô hình Xây dựng, vận hành, chuyển giao (BOT) mô hình này đã

được biến thể ra nhiều mô hình khác như: Xây dựng,sở hữu, vận hành (BOO);Xây dựng, chuyển giao, vận hành (BTO);Xây dựng ,chuyển giao (BT) Trong đóBOO là mô hình mà công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sởhữu và vận hành nó, còn phía Nhà nước mua lại sản phẩm đầu ra theo cam kếtvới công ty thực hiện dự án; còn mô hình BTO là mô hình mà sau khi công trình10

được xây dựng xong ,quyền sở hữu công trình sẽ được chuyển giao ngay lập tứccho Nhà nước , nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác côngtrình và thực hiện việc nhận thù lao từ người sử dụng công trình;BT là mô hình

mà sau khi xây dựng xong, công ty thực hiện sẽ chuyển giao công trình đó choNhà nước đồng thời chính phủ sẽ tạo điều kiện cho công ty thực hiện thực hiện

Trang 12

dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho công ty thựchiện theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.Ngoài ra còn một số biến thể khác như:Mua, xây dựng , vận hành(BBO) hay các mô hình BOT hỗn hợp trong đó Nhànước và tư nhân cùng góp vốn thành lập công ty phát triển dự án và đồng sở hữucông trình.

Hợp đồng Thiết kế,xây dựng, vận hành (DBO)và các biến thể:

Hiện nay hợp đồng DBO vẫn chưa được thực hiện phổ biến tại Việt Nam,

theo đề nghị của Ngân hàng Thế giới (WB) về hình thức đầu tư xây dựng Nhàmáy Xử lý nước thải Nhiêu Lộc - Thị Nghè theo hình thức thiết kế - xây dựng -vận hành (DBO), Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đang nghiêncứu về để tiến hành mô hình này Theo cuốn “Le montage de partenariats

publicprivé secteurs eau urbaine et assainissement en zone

industrielle”(2013),của

trung tâm PADDI thì DBO là hợp đồng trong đó Cơ quan nhà nước giao cho tưnhân thiết kế, thi công và vận hành một công trình cơ sở hạ tầng, chứ khôngtham gia đầu tư vào công trình đó

Và một biến thể của DBO mà trong đó khu vực tư nhân sẽ đứng ra thực

hiện tất cả các giai đoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công ,bao gồm thiếtkế(D), xây dựng(B), tài trợ(F) và vận hành dự án(O); tuy nhiên công trình đó vẫn

thuộc sở hữu của Nhà nước.Đó chính là hợp đồng DBFO ( thiết kế, xây dựng,tàitrợ, vận hành)

Hợp đồng Vận hành và bảo trì (O&M)

Đây là hợp đồng quan hệ đối tác trong đó Nhà nước giao cho tư nhân vận

hành, bảo trì và đôi khi cải tảo một phần công trình đã được xây dựng Đổi lại,11

đối tác tư nhân sẽ nhận được thù lao tương ứng với hiệu quả đạt được Ở ViệtNam, hiện nay mô hình này được áp dụng rộng rãi trong việc vận hành và bảo trì

Trang 13

trong đó nhà nước thuê khu vực tư nhân thực hiện một hoặc một số công việc,dịch vụ cụ thể, nhằm mục đích phục vụ lợi lích công cộng, trong một thời giannhất định, thường là 1 đến 3 năm.Tuy nhiên, khu vực nhà nước vẫn là ngườicung cấp chính các dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ thuê đối tác tư nhân điều hànhmột phần hoạt động.Trong đó đối tác tư nhân phải thực hiện dịch vụ với một chiphí được thỏa thuận và phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do nhà nước đặt ra.Hình thức hợp đồng này thường gắn với các thủ tục đấu thầu để trao hợp đồngdịch vụ.

Hợp đồng quản lý:

Là hợp đồng thỏa thuận giữa khu vực nhà nước với tư nhân để chuyển

giao một phần hoặc toàn bộ công tác quản trị của một dịch vụ công Việc cungcấp dịch vụ công vẫn thuộc về phía Nhà nước, tuy nhiên hoạt động quản lý, kiểm

soát và thẩm quyền xử lý hằng ngày được giao cho đối tác tư nhân Hình thứcnày giúp khu vực chính phủ tận dụng được trình độ quản lý của khu vực tư nhân,

nhưng vẫn giữ nguyên được quyền sở hữu đối với tài sản và cơ sở hạ tầng

12

Nguồn : Public – Private Partnership Handbook,ADB,2008

Hình 1: Cấu trúc Hợp đồng quản lý

Hợp đồng nhượng quyền:

Là loại hợp đồng mà khu vực Nhà nước dựa trên các tài sản hay cơ sở hạ

tầng vốn có của mình để nhượng lại quyền khai thác, kinh doanh và kể cả hoạtđộng đầu tư cải tạo, bảo trì, phát triển hệ thống dịch vụ cho khu vực tư

nhân.Khu

vực Nhà nước chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động và đảm bảorằng người được nhượng quyền đáp ứng được các tiêu chuẩn này.Đồng thời vaitrò của Nhà nước chuyển từ việc cung cấp dịch vụ sang việc điều tiết, quản lý giá

và chất lượng dịch vụ

So với hợp đồng quản lý hình thức này đối tác tư nhân không nhận được

khoản thanh toán trực tiếp từ Nhà nước mà các khoản phí này được thu từ người

sử dụng dịch vụ Do đó, lợi nhuận của khu vực tư nhân phụ thuộc nhiều vào chất

Trang 14

lượng dịch vụ của họ thông qua đó có thể khuyến khích họ nâng cao chất lượngdịch vụ mình cung cấp.

Đây là hợp đồng ủy thác quản lý, theo đó Cơ quan nhà nước ủy thác cho

đơn vị tư nhân việc vận hành và kinh doanh dịch vụ công Đối tác tư nhân chịutrách nhiệm khai thác dịch vụ và bảo trì dự án Trong hợp đồng này, đối tác tưnhân có thể đầu tư tài chính để cải tạo một phần hoặc mở rộng mạng lưới cungcấp dịch vụ, phần đầu tư này vẫn thuộc sở hữu của đối tác tư nhân Thu nhập màđối tác tư nhân nhận được phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu đạt được từ giá dịch

vụ hoặc phần doanh thu giữ lại theo thỏa thuận về giá khoán với Nhà nước.Cònđối tác Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư tài chính và mở rộng mạng lưới dịch

vụ, đồng thời cùng chịu rủi ro thương mại tương ứng với phần doanh thu mà đốitác tư nhân chuyển về

Hợp đồng nhượng

quyền

Trang 15

1.1.2.2 Đặc điểm của mô hình hợp tác công-tư:

Từ các dạng hợp đồng của mô hình hợp tác công tư ta có thể đưa ra 7 đặc

Chủ thể tham gia hợp đồng: trong các loại hợp đồng của PPP luôn đòi

hỏi phải có sự tham gia của ít nhất một bên là đối tác công và một bên là đối tác

tư nhân Trong đó đối tác công có thể là các bộ, ngành, cơ quan, chính quyền địaphương hoặc các doanh nghiệp nhà nước; còn đối tác tư nhân là các doanhnghiệp tư nhân hoặc các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Đối tượng của hợp đồng: từ phân tích ở phần trên ta có thể thấy đối tượng

của hợp đồng hợp tác công- tư chủ yếu liên quan đến các hoạt động cung ứngdịch vụ công cho cộng đồng (như cung cấp điện, nước,dịch vụ y tế, dịch vụ anninh quốc phòng…) và xây dựng phát triển các hệ thống cơ sở hạ tầng

Mục đích của hợp đồng: là huy động và khai thác nguồn lực tài chính,

năng lực chuyên môn, công nghệ quản lý, kỹ thuật, kỹ năng vận hành của đốitác

Trang 16

tư nhân để bù đắp vào sự thiếu hụt của nhà nước và các chủ thể công khác Đểtừ

đó nâng cao khả năng phục vụ của khu vực nhà nước đối với cộng đồng

Điều kiện áp dụng: hợp đồng hợp tác công tư được áp dụng khi khu vực

nhà nước vì một lý do nào đó không thể thực hiện dự án một cách độc lập hoặckhó áp dụng phương pháp cổ phần hóa vào các dự án.Do đó cần sự tham gia củamột đối tác khác để giúp đỡ nhà nước thực hiện công việc này, trong tình hình

đó PPP là sự lựa chọn tối ưu cho họ để thực hiện công việc này một cách hiệuquả.Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng ở Việt Nam, việc cổ phần hóa cũngkéo theo sự bắt tay giữa nhà nước và tư nhân,nhưng hoạt động này chịu sự điềuchỉnh của luật doanh nghiệp và nhà nước tham gia quan hệ này với tư cách làmột nhà đầu tư giống như những cổ đông khác, mà không có địa vị pháp lý đặc

15

Phương thức xác lập: hợp đồng PPP được xác lập thông qua các thỏa

thuận của nhà nước và tư nhân Hiện nay các hợp đồng này thường được gắn vớiquá trình đấu thầu để lựa chọn đối tác cho khu vực nhà nước

Sự hợp tác: hợp đồng PPP khác với các hợp đồng mua đứt bán đoạn ở chỗ

các dự án PPP thường có thời gian thực hiện kéo dài, đòi hỏi sự phối hợp giữahai bên đối tác trong suốt thời gian thực hiện dự án Sự hợp tác này góp phầnchia sẻ rủi ro và lợi ích giữa hai bên, giúp mỗi bên tận dụng tốt sức mạnh của

Nguồn luật: nguồn luật điều chỉnh các hợp đồng PPP khác với nguồn luật

điều chỉnh các loại hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh doanh truyền thống khác,bởi vì quyền tự do thỏa thuận của các bên trong dự án PPP bị hạn chế rất nhiềubởi các quy định chung của luật công như các quy định về thuế, phí( phí giaothông,viện phí…),hạn chế chống tham nhũng Những nội dung này không phải

là nội dung của hợp đồng dân sự,kinh doanh truyền thống và đôi khi nó nằmngoài tầm kiểm soát của chính Cơ quan nhà nước tham gia ký kết PPP Ví dụ:UBND TP.HCM là cơ quan ký kết PPP dự án xây dựng cầu Phú Mỹ, nhưng phígiao thông lại thuộc về thẩm quyền của Bộ Giao thông và Vận tải,thuế thu nhậpdoanh nghiệp lại thuộc thẩm quyền của Quốc hội.81.1.3 Phân biệt mô hình hợp tác công-tƣ và các khái niệm Sự tham gia của

Trang 17

tƣ nhân, Tƣ nhân hóa:

1.1.3.1 Phân biệt mô hình hợp tác công-tư và Tư nhân hóa:

Để có thể phân biệt được đâu là Tư nhân hóa, đâu là PPP thì ta phải hiểu

Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Anh , giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ

Chí Minh thì “Tư nhân hóa là các hoạt động liên quan đến việc bán cổ phần

hoặc sở hữu trong công ty hoặc bán những tài sản hoặc dịch vụ đang hoạt động thuộc sở hữu của nhà nước” Theo đó ta có thể hiểu Tư nhân hóa là một quá

trình chuyển đổi hình thức sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản từ nhà nước

Từ các phân tích ở trên, ta nhận thấy giữa hai khu vực Tư nhân hóa vàPPP có một sự khác nhau rất lớn, trước hết trong tư nhân hóa quyền sở hữu tàisản của nhà nước được bán cho khu vực tư nhân, trong khi đó mô hình PPP, Nhànước vẫn duy trì quyền sở hữu của mình đối với các tài sản này.Thứ hai, về sự hợp tác thì ở Việt Nam hiện nay, hình thức Tư nhân hóadiễn ra theo hình thức cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, bởi sự tham giađầu tư của khu vực tư nhân, nhưng giữa Nhà nước và tư nhân không ký hợpđồng hợp tác như trong PPP; đồng thời trong PPP sự hợp tác của hai bên thường

có thời gian hợp tác kéo dài và đòi hỏi sự phối hợp của hai bên nhưng trong Tưnhân hóa thì lại không đòi hỏi các đặc điểm này.Thứ ba, về việc chia sẻ rủi ro và lợi ích, nếu là Tư nhân hóa, khu vực tưnhân phải chịu mọi rủi ro kinh doanh, trong khi đó trong mô hình PPP thì lợi ích

và rủi ro được hai bên cùng chia sẻ, mức độ chia sẻ này tùy thuộc vào sự thỏathuận trong hợp đồng và tùy vào từng mô hình PPP được lựa chọn.Cuối cùng đó là vai trò của Nhà nước, thì trong Tư nhân hóa, sau khi đãchuyển giao công việc kinh doanh cho tư nhân thì Nhà nước chỉ còn đóng vai trò

là quản lý nhà nước thông qua các công cụ luật pháp,hành chính, thuế…, mọiQuyết định về phạm vi và phương thức thực hiện công việc kinh doanh lúc nàyđều do khu vực tư nhân định đoạt Trong khi đó, trong mô hình PPP, ngoài tráchnhiệm quản lý nhà nước, thì khu vực Nhà nước còn là một bên đối tác tham gia

có quyền và trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện hoạt động kinh doanhthông qua thỏa thuận trong hợp đồng

1.1.3.2 Phân biệt mô hình hợp tác công-tư và Sự tham gia của tư nhân:

Trang 18

PSP là viết tắt của cụm từ Private Sector Participation dịch ra Tiếng Việt

có nghĩa “là Sự tham gia của tư nhân”, có nhiều người hiện nay vẫn hay nhầmtưởng PSP là một cách gọi khác của PPP, tuy nhiên theo tác giả PSP mang mộtnghĩa rộng hơn PPP rất nhiều, trong khi PPP nhấn mạnh đến yếu tố hợp tác củahai bên ,thì PSP là một khái niệm chú ý đến sự chuyển giao chức năng phục vụ

xã hội của Nhà nước cho khu vực tư nhân, chẳng hạn như mới đây Chính Phủ đãtiến hành thí điểm mô hình Thừa phát lại tại Tp.Hồ Chí Minh, để việc thi hành

án vừa do Cơ quan thi hành án dân sự10 vừa do Văn phòng thừa phát lại11 thựchiện, trong đó Văn phòng thừa phát lại là do cá nhân có đủ điều kiện làm thừaphát lại thành lập12.Như vậy hoạt động thi hành án hiện nay ở Thành phố Hồ ChíMinh vừa do Nhà nước thực hiện vừa do tư nhân đứng ra cung ứng Ta cũng cóthể thấy nhiều trường hợp trong đó hoạt động công quyền trước đây chỉ do Nhànước đảm nhiệm nhưng nay đã có thêm “sự tham gia của tư nhân” trong lĩnhvực

này như trong hoạt động công chứng, hay một số vấn đề khác trong lĩnh vực ytế,

Không những thế, vai trò của Nhà nước trong PSP cũng tương tự như vaitrò của Nhà nước trong Tư nhân hóa, tức là trong PSP, mọi hoạt động của tưnhân đều do tư nhân tự Quyết định và tự chịu trách nhiệm, Nhà nước chỉ cònquản lý được nó thông qua các công cụ quyền lực nhà nước như luật pháp, hànhchính, thuế… Trong khi đó, trong mô hình PPP, Nhà nước ngoài trách nhiệmquản lý nhà nước của mình, nó còn là một bên đối tác của hợp đồng cùng thamgia và cùng chịu trách nhiệm trong hoạt động

Do đó, chúng ta không thể đồng hóa hai khái niệm PSP và PPP với nhauđược, ở chúng phải có một sự tách biệt rõ ràng, để phản ánh đúng thực chất vaitrò cũng như bản chất của mỗi mô hình riêng

1.2 Vai trò của mô hình hợp tác công-tƣ :

Thực tế áp dụng mô hình PPP ở các nước trên thế giới và cụ thể là ở ViệtNam đã cho thấy mô hình PPP đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự pháttriển kinh tế của các quốc gia Nó giúp :

Giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và nợ nước ngoài, tạo ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng: Trong Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình

Trang 19

thức đối tác công –tư,ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định tại điểm 2 điều 9 quy định “tổnggiá trị phần tham gia của nhà nước không vượt quá 30% tổng mức đầu tư của dự

án, trừ trường hợp khác do chính phủ quy định” Do đó với cơ chế này, mô hìnhhợp tác công- tư đã giúp nhà nước đã giảm được một gánh nặng phải tìmkiếm,sắp xếp và phân bổ ngân sách đầu tư cho các dự án –việc phải làm với các

dư án theo phương thức truyền thống Điều này đã được nghiên cứu và minhchứng trong cuốn “Delivering the PPP promise:A review of PPP issues andactivity”13 thông qua biểu đồ hình 3 Bởi vậy, so với trước đây, với cùng mộtlượng vốn ngân sách để đầu tư cho một dự án theo phương thức đầu tư truyềnthống, thì nay, với phương thức này nhà nước có thể phát triển hai đến ba công

Hình 3 So sánh việc mua sắm theo cách truyền thống và theo quan hệ đối

Tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham

gia vào hình thức PPP, khu vực tư nhân sẽ có được nhiều cơ hội đầu tư mangtính dài hạn và ít rủi ro hơn, bởi sự đảm bảo và hợp tác từ nhà nước Từ đó tạosự

ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân, giúp cho sự phát triển của kinh tế,cũng như là chất lượng cuộc sống của xã hội được nâng lên

Giảm thiểu chi phí ngân sách nhà nước và nâng cao được chất lượng công trình: Trong các dự án PPP việc xây dựng, vận hành và bảo trì các công

trình thường do khu vực tư nhân đảm nhiệm, do đó để tiết kiệm chi phí chomình

khu vực tư nhân sẽ có động lực và giải pháp tận dụng hết khả năng quản lý, kỹthuật, công nghệ hiện đại để tham gia xây dựng công trình, từ đó chất lượngcông trình sẽ ngày được nâng cao, thời gian thực hiện công trình sẽ được đảmbảo,từ đó nhà nước sẽ tiết kiệm được các khoản tiền do dự án kéo dài, hay chi

Trang 20

vốn dự toán

phụ trội

Vốn và chi phí hoạt động do nhà nước chi trả, do đó mà nhà nước phải chịu rủi ro về vượt quá mức dự toán và thường chậm trễ tiến độ

Mua sắm theo truyền thống của chính

Giai đoạn vận hành và bảo trì

Khu vực công chỉ thanh toán trong dài hạn

như các dịch vụ được giao Nguồn vốn của

khu vực tư nhân tự lo bằng cách sử dụng

một phần lớn vốn vay, cộng với vốn chủ sở

hữu của cổ đông Sự thu hồi vốn của tư

nhân phụ thuộc vào chất lượng các dịch vụ

Mua sắm theo hình thức PPP

Trang 21

Thu hút được nguồn đầu tư, cũng như kinh nghiệm và công nghệ từ nước ngoài:Một điều phải nói tới đối với khu vực công đó là, so với khu vực tư

nhân thì khả năng quản lý, công nghệ và kỹ thuật thì lúc nào họ cũng thua kém

so với khu vực tư nhân, đặc biệt là đối với Việt Nam chúng ta Với sự hợp tácgiữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc tham gia xây dựng các dự

án, sẽ góp phần thu hút nguồn đầu tư từ khu vực tư nhân đặc biệt từ các nhà đầu

tư nước ngoài, từ đó sẽ giúp chúng ta cải thiện và học hỏi kinh nghiệm quản lý,công nghệ hiện đại từ chính các nhà đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của chúng ta

Nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước: Trước việc tận dụng được

nguồn lực từ tư nhân và sức mạnh Nhà nước sẽ góp phần nâng cao, mở rộng vàcải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ công từ khu vực Nhà nước đối với nhândân, từ đó sẽ tạo lòng tin ở quần chúng nơi chính quyền và nâng cao vai trò, uytín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân ta.21

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG-TƢ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 2.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong mô hình hợp

Kế thừa và học hỏi tinh hoa nhân loại là một trong những yếu tố quantrọng trong quá trình hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia, Việt Nam cũngkhông ngoại lệ Để có được sự thành công trong việc vận dụng mô hình PPP tạiViệt Nam, chúng ta cần tiếp thu và trau dồi kinh nghiệm thông qua các mô hìnhPPP thành công trên thế giới Qua đó chúng ta có thể giảm thiểu rủi ro một cáchtối đa và xác định được hướng đi nào phù hợp cho việc áp dụng mô hình PPPcủa Việt Nam Sau đây tác giả xin trình bày một số mô hình PPP thành công ởcác quốc gia phát triển trên thế giới và từ đó rút ra những bài học cho việc áp

Thông qua bài viết của Thạc Thạc sĩ Lâm Văn Hoàng– Phó Vụ trưởng,Phó trưởng Ban Ban Quản lý các dự án đầu tư đối tác công - tư ( PPP), Bộ Giaothông vận tải– về mô hình hình hợp tác công-tư (PPP) đã được áp dụng ởCanada ,sau chuyến công tác và học hỏi kinh nghiệm tại Canada trong việc ápdụng mô hình PPP14, tác giả xin trích dẫn và có một cái nhìn tổng quát về mô

Cũng giống như Việt nam,Canada là quốc gia đã có lịch sử 20 năm pháttriển mô hình PPP.Hiện nay,Canada đã có 185 dự án đã và đang được triển khai

14

Trang 22

Lâm Văn Hoàng(2014), Mô hình hợp tác công – tư (PPP) ở Canada.

22

tại 45 thành phố Tổng số vốn thu hút đầu tư cho các dự án này đạt trên 58 tỷ đô

la Canada, trong đó, đứng đầu là lĩnh vực giao thông có 42 dự án với vốn đầu tư23,5 tỷ đô, chiếm 41%; Ngành y tế có 64 dự án với vốn đầu tư 20,7 tỷ đô, chiếm36% Trong số 185 dự án nói trên thì có 97 dự án đã hoàn thành công tác đầu tưxây dựng và đang trong quá trình vận hành, 46 dự án đang trong quá trình xâydựng và 42 dự án đang trong quá trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.15

Khác với Việt Nam, hiện nay mô hình hợp tác công-tư ở Canada được gọivới nhiều tên gọi khác nhau (như PPP;PFI-sáng kiến, tài chính, tư nhân;AFPphương pháp mua sắm thay thế) và ở Canada mô hình hợp đồng được ápdụng

phổ biến nhất là mô hình hợp đồng DBFM( thiết kế -xây dựng- tài trợ- bảo trì).Ở dạng hợp đồng này nhà đầu tư trúng thầu sẽ chịu trách nhiệm thiết kế côngtrình, xây dựng công trình, thu xếp tài chính để xây dựng công trình và bảo trìcông trình trong khoảng thời gian ấn định trước, trên cơ sở các tiêu chí được xâydựng trong Hồ sơ mời thầu của cơ quan Nhà nước phát hành Thông thường,nhà

đầu tư được nhận thanh toán 30- 50% giá trị dự án sau khi hoàn tất giai đoạn xâydựng và phần còn lại sẽ nhận trong khoảng thời gian 25-30 năm tiếp theo Ngoài

ra, ở Canada có các mô hình như DBFMO, DBF (Thiết kế- Xây dựng-Thu xếptài chính) Dạng hợp đồng này nhà đầu tư có thêm trách nhiệm vận hành dự án

so với dạng BF (Xây dựng- Thu xếp tài chính) Theo đó, dạng DBFMO và DBFthường áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng mới, dạng BF phù hợpvới

các dự án nâng cấp, cải tạo Ngoài ra mô hình dạng O&M (Vận hành và bảo trì):Thường được áp dụng đối với các dự án cấp nước và xử lý nước thải

Ở Canada đa số áp dụng hình thức DBFM, rất ít khi áp dụng hình thứckhai thác (operation) vì theo chính sách ở Canada thì nhà nước bao giờ cũngmuốn giữ quyền sở hữu, không chuyển giao quyền này cho khu vực tư nhân(trên toàn Canada chỉ có 2 con đường được áp dụng hình thức thu phí) Bêncạnh

đó, theo mô hình DBFM thì quy định về trách nhiệm bảo trì công trình cũng

cấp dịch vụ và bảo trì theo quy định trong hợp đồng.Qua đó ta thấy việc áp dụng hình thức này ở Canada đã mang đến một lợi

Trang 23

thế vô cùng to lớn đó là tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong việc thực hiện các

dự án bởi nhà nước cam kết thanh toán cho nhà đầu tư 30- 50% giá trị dự án saukhi hoàn tất giai đoạn xây dựng và phần còn lại sẽ nhận trong khoảng thời gian25-30 năm tiếp theo.Với cơ chế như vậy, việc thu hồi vốn của nhà đầu tư sẽđược

đảm bảo, thời hạn thanh toán hợp đồng kéo dài sẽ giảm áp nặng lên ngân sáchNhà nước, đồng thời chuyển trách nhiệm vận hành bảo trì cho phía nhà đầu tưbuộc họ phải có trách nhiệm và kế hoạch thực hiện dự án một cách tốt nhất nếukhông muốn bị giảm lợi nhuận, khắc phục được tình trạng nhà đầu tư sau khixây

dựng xong công trình, nhà đầu tư bỏ bê chất lượng dịch vụ và bảo trì.Hơn thế,chính việc cam kết thực hiện thanh toán từ Nhà nước, Canada đã giảm thiểu việchình thành tràn lan các trạm thu phí.Đồng thời,tại Canada, căn cứ vào quy hoạch các cơ quan chức năng sẽ đềxuất các dự án và ưu tiên lựa chọn mô hình để đầu tư PPP Theo đó, các dự áncó

quy mô lớn (thường là trên 40triệu USD), sẽ được đánh giá để lựa chọn áp dụng

mô hình PPP theo tiêu chí khả thi và hiệu quả đối với cả vòng đời dự án Nếuviệc phân tích cho rằng đầu tư theo hình thức PPP không hiệu quả, thì mới tiếnhành theo hình thức đầu tư công truyền thống Đây là điểm khác biệt với ViệtNam thường xem xét đầu tư - công trước, sau đó mới xem xét đầu tư công -tư.Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần lưu ý rằng không phải dự án nào ở Canada24

cũng được thực hiện theo hình thức PPP chỉ những dự án nào thỏa mãn các yếu

tố sau mới được thực hiện theo hình thức PPP16:

 Dịch vụ hoặc dự án không thể tiến hành bằng việc cung cấp cácnguồn lực tài chính hoặc chuyên môn của riêng chính quyền địaphương

 Đối tác tư nhân sẽ làm tăng chất lượng hoặc mức độ dịch vụ mà

 Việc tham gia của đối tác tư nhân sẽ giúp cho các dự án, dịch vụđược thực hiện ngắn hơn so với khi chỉ có chính quyền địa phương

 Sẽ có nhiều người sử dụng dịch vụ từ các dự án, dịch vụ này

 Có sự cạnh tranh giữa các đối tác tư nhân tiềm năng

 Không có điều cấm trong quy định pháp luật về sự tham gia của tư

 Đầu ra của dịch vụ có thể được đánh giá rõ ràng

 Chi phí của dịch vụ hoặc dự án có thể được phục hồi thông qua việc

 Dự án hoặc dịch vụ sẽ tạo ra một cơ hội cho sự phát triển

 Tạo ra cơ hội để thúc đẩy kinh tế phát triển.Nếu không có các điều kiện trên tồn tại, thì một dự án sẽ không được xem

Trang 24

xét theo mô hình PPP ở Canada.Hơn thế, so với Việt Nam ở Canada các dự án PPP được tiến hành mộtcách công khai, minh bạch hóa các thông tin về dự án;đồng thời xây dựng cácchương trình đối thoại với công chúng để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, tạo sựđồng thuận trong giải phóng mặt bằng, xây dựng dự án,tạo được sự ủng hộ củacông chúng trong việc thực hiện các dự án PPP Đến nay,tại Canada tỉ lệ côngchúng ủng hộ đạt tới 75%.Đồng thời khuông khổ pháp lý về PPP cũng được

16

Chính quyền bang British Columbia,Canada(5/1999), Public private partnership,Aguide for local government.

25

Chính phủ Canada dành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt các bộ luật quy định

về PPP như : Luật về Giao kết hợp đồng của các tổ chức thuộc khu vực công(An

Act Respecting Contracting by Public Bodies) có hiệu lực thực hiện từ07/12/2012; Luật về hợp tác trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông (ActRespecting Transport Infrastructure Partnerships) có hiệu lực thực hiện từ01/4/2012; Luật Thành lập tổ chức Hạ tầng Québec (Act respectingInfrastructure Québec) có hiệu lực từ 17/3/2010 và hướng dẫn dành cho chínhquyền địa phương (“Public private partnership,Aguide for local government”xuất bản tháng 5/1999 của Chính quyền bang British Columbia, Canada, đã giúpcho các cấp chính quyền cơ sở và các cơ quan thực hiện dự án PPP có được sựchủ động khi tiến hành các dự án này; và các nhà đầu tư cũng có sự an tâm khi

Vậy từ mô hình hợp tác công tư của Canada ta có thể thấy:

 Thứ nhất,không phải dự án nào cũng có thể áp dụng mô hình PPP,chỉ những dự án thỏa mãn được các tiêu chí nhất định của mô hìnhPPP thì mới có thể áp dụng mô hình này

 Thứ hai, để thực hiện thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân nhà nướcphải có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ đảm bảo cho nhà đầu tư,tạo sự an tâm cho họ khi tham gia vào sự hợp tác này

 Thứ ba, việc thực hiện các dự án cần phải công khai minh bạch, vàxây dựng các chương trình đối thoại với công chúng để kịp thờitháo gỡ vướng mắc, tạo sự đồng thuận trong giải phóng mặt bằng,xây dựng dự án; để có thể tiến hành dự án một cách nhanh chóng vàgiảm thiểu chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng- một vấn đề nangiải của Việt Nam chúng ta hiện nay

 Thứ tư, với tình trạng khó khăn của Việt Nam trong việc thực hiệncác dự án BOT,BTO hiện nay bởi việc đặt trạm thu phí quá nhiềuthì mô hình DBFM của Canada là một hình thức chúng ta có thể áp

26

Anh là một trong những quốc gia đi tiên phong trong mô hình hợp tác

Ngày đăng: 28/09/2019, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w