1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh kết quả có thai của tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng từ mẫu xuất tinh và mẫu thu được từ chọc hút mào tinh qua da

37 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 751,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với trường hợp vô sinh nam do thiểu năng tinh trùng Tinh trùng ít, yếu, dị dạng, phuơng pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn Intra cytoplasmicsperm injection- ICSI là giải pháp hi

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vô sinh là một vấn đề sức khỏe không chỉ gây ảnh hưởng lớn tới chấtlượng sống của cặp vợ chồng mà còn là một yếu tố ảnh hưởng tới phát triểncủa xã hội con người Theo báo cáo của Marcia C Inhorn và cộng sự năm

2015, vô sinh ảnh hưởng tới khoảng 186 triệu người trên toàn thế giới [1].Hiện nay, tỷ lệ vô sinh do người chồng và người vợ là tương đương nhau Ởnam giới, tinh trùng ít yếu dị dạng hoặc không có tinh trùng là một trongnhững nguyên nhân chính gây vô sinh [2]

Đối với trường hợp vô sinh nam do thiểu năng tinh trùng (Tinh trùng ít, yếu,

dị dạng), phuơng pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intra cytoplasmicsperm injection- ICSI) là giải pháp hiệu quả trong hỗ trợ sinh sản Tuy nhiên,

kĩ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn với những trường hợp tinh trùng

ít yếu dị dạng rất nặng vẫn luôn là thách thức và khó khăn cho các nhà chuyênmôn Nếu không thực hiện kỹ thuật ICSI, tinh trùng ít yếu dị dạng nặng dù cónguồn gốc xuất tinh hay chọc hút lấy từ mào tinh cũng không có khả năng thụtinh với noãn Các trường hợp tinh trùng ít yếu dị dạng nặng - SOAT (severe-oligo-astheno-teratozoospermia) được cho là có mật độ tinh trùng ít hơn 1triệu/ml [3] Nguyên nhân gây ra tinh trùng ít yếu dị dạng nặng thường do cónhững khiếm khuyết trong quá trình sinh tinh Các mẫu tinh trùng xuất tinh cóthể có nhiều bất thường về tinh trùng - từ không có tinh trùng đến những thayđổi nghiêm trọng trong tất cả các thông số về tinh trùng, tinh trùng bất thườngnhẹ, trung bình hoặc nặng có thể cho thấy khả năng thụ tinh khác nhau sau khitiêm tinh trùng vào bào tương noãn mặc dù nguồn của chúng cùng là xuấttinh.Tỷ lệ nam giới không có tinh trùng trong tinh dịch chiếm khoảng 15% cáctrường hợp vô sinh nam Với các trường hợp này, kỹ thuật lấy tinh trùng từ màotinh và tinh hoàn (SRTs-Sperm retrieval techniques) kết hợp với tiêm tinh trùng

Trang 2

vào bào tương noãn là giải pháp duy nhất giúp họ có con của chính mình Cáctrường hợp lấy tinh trùng từ mào tinh thường do tắc nghẽn không có tinhtrùng khi xuất tinh, trong khi quá trình sinh tinh có thể vẫn diễn ra bìnhthường Tuy nhiên, kết quả của tiêm tinh trùng vào bào tương noãn, đặc biệt

là tỷ lệ thụ tinh, chất lượng phôi, tỷ lệ có thai không những phụ thuộc vàonguồn gốc, mà còn phụ thuộc vào mức độ bất thường của tinh trùng [4], [5],[6] Để tìm hiểu rõ thêm về vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“So sánh kết quả có thai của tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng từ mẫu xuất tinh và mẫu thu được từ chọc hút mào tinh qua da” với mục tiêu:

thực hiện kĩ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn sử dụng mẫu tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng từ xuất tinh và chọc hút mào tinh qua da tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2017

2 So sánh kết quả có thai của tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng từ mẫu xuất tinh và mẫu thu được từ chọc hút mào tinh qua da tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2017.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về vô sinh

1.1.1 Các khái niệm

Theo WHO, vô sinh là tình trạng không có thai sau một năm chung sống

vợ chồng mà không dùng biện pháp tránh thai nào đồng thời tần suất giao hợp

ít nhất 2 lần một tuần [7]

Những trường hợp mà nguyên nhân vô sinh tương đối rõ ràng thì việctính thời gian không còn đặt ra: vợ vô kinh, chồng liệt dương và không có tinhtrùng trong tinh dịch… thì chẩn đoán vô sinh ngay, cần khám và điều trị sớm

Vô sinh nguyên phát là chưa có thai lần nào, vô sinh thứ phát là trongtiền sử đã từng có thai ít nhất một lần Vô sinh nam là vô sinh có nguyên nhânhoàn toàn do người chồng, vô sinh nữ là khi nguyên nhân hoàn toàn do người

vợ Vô sinh không rõ nguyên nhân là các trường hợp khám và làm các xétnghiệm thăm dò kinh điển hiện có mà không phát hiện được nguyên nhân nàokhả dĩ có thể giải thích được

1.1.2 Tỉ lệ vô sinh trên thế giới và Việt Nam

Tỉ lệ vô sinh thay đổi tùy từng nước từ 10- 18% [8], [9] Theo WHO(1985): 20% vô sinh là không rõ nguyên nhân, 80% có nguyên nhân trong đó40% vô sinh nam, 40% vô sinh nữ và 20% là do cả hai Theo FIGO 1990, vôsinh nguyên phát chiếm tỉ lệ khoảng 3%, tuy nhiên các yếu tố gây vô sinh thứphát có thể làm tăng tỷ lệ này lên tới 30%

Theo các tác giả Schill (1970), Lipshultz (1983), Swerdloff (1985) chorằng thế giới có khoảng 15% các cuộc hôn nhân vẫn chưa có con Khi phânloại vô sinh theo tiên lượng điều trị, Spira (1986) và Jansen (1993) ước tính từ3- 5% các cặp hoàn toàn không có khả năng sinh sản Gabort Kovacs (1997)

Trang 4

đã ước tính trên toàn thế giới sẽ có khoảng 50- 80 triệu cặp vợ chồng cần sự giúp

đỡ của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Năm 1999, một nghiên cứu của Whosher

WD cho thấy tỷ lệ vô sinh ở Mỹ khoảng 10- 15% Theo Irvine, tần suất vô sinhnam được báo cáo bởi nhiều nghiên cứu thay đổi từ 20 đến 60% [10]

Tại Việt Nam, theo PGS.TS Nguyễn Viết Tiến và cộng sự điều tra cáccặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ năm 2009 tai 8 tỉnh đại diện cho 8 vùngsinh thái trong cả nước Việt Nam thì tỷ lệ vô sinh chung trên toàn quốc là7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% còn vô sinh thứ phát là 3,8%[11] Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự tại Viện Bảo vệ bà mẹ vàTrẻ sơ sinh trong các năm 1993- 1997 ở 1000 trường hợp vô sinh có đầy đủcác xét nghiệm thăm dò cơ bản cho thấy tỉ lệ vô sinh nam chiếm 35,6%, vôsinh nữ chiếm 55,4% và vô sinh không rõ nguyên nhân là 10% [12] TheoNguyễn Như Thành (2001) vô sinh nam là 30%, do cả hai vợ chồng là 20%[13] Theo số liệu năm 1996, tại Bệnh viện Từ Dũ, trong số 11.481 cặp vợchồng đến khám và điều trị vô sinh, có 33,4% trường hợp vợ bị tắc vòi trừng,22,6 % trường hợp chồng có tinh trùng yếu hoặc ít, 3,8% vô sinh không rõnguyên nhân, không đáp ứng với các phương pháp điều trị hiện tại

1.1.3 Vô sinh nam

Vô sinh nam chiếm khoảng 30% các nguyên nhân gây vô sinh, trong đóhơn 90% trường hợp là do bất thường tinh trùng Người ta ước tính các bấtthường của tinh trùng về sản xuất hay hoạt động chức năng chiếm từ 35% đến50% các trường hợp vô sinh

Ở Việt Nam, vô sinh đơn độc nam có tỷ lệ là 30% Trong các nguyênnhân gây vô sinh ở nam giới, có đến 90% nguyên nhân do bất thường tinhtrùng [14] Những bất thường tinh trùng thường gặp là số lượng tinh trùng ít(thiểu tinh), tinh trùng di động kém (nhược tinh), tinh trùng dị dạng (quáitinh) và không có tinh trùng (vô tinh) [15] Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị

Trang 5

Được và Nguyễn Thị Thanh Mai (2001) trên 220 cặp vô sinh đến khám tạiphòng khám sản trường Đại học Y Thái Bình, tỷ lệ vô sinh do vợ 68%, dochồng 43,2%, do cả hai vợ chồng 11,36% Trong đó vô sinh nam do chấtlượng tinh trùng kém gặp ở cả vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát.Nhưng chủ yếu gặp ở vô sinh nguyên phát (44,32%) [16]

1.2 Tổng quan về các phương pháp hỗ trợ sinh sản điều trị vô sinh nam

Hiện này các phương pháp điều trị vô sinh nam chủ yếu là nhằm nângcao chất lượng tinh trùng, chọn ra những tinh trùng khỏe để chuẩn bị cho hỗtrợ sinh sản, thông qua xét nghiệm và phân loại tinh dịch đồ

1.2.1 Đánh giá chất lượng tinh dịch

 Tiêu chuẩn tinh dịch đồ bình thường

Bảng 1.1 Tinh dịch đồ trong giới hạn bình thường ở người WHO 2010

Loại D: Tinh trùng không di động

Năm 2006, Cooper và Yeung chỉ ra phân loại độ di động “loại A” theotiêu chuẩn WHO 1999 có sai số lớn giữa đánh giá của kĩ thuật viên so với

Trang 6

máy phân tích tinh dịch CASA Tính chính xác của đánh giá độ di động phụthuộc lớn vào kĩ thuật viên.

Bất kì chỉ số nào của tinh dịch không nằm trong ngưỡng của tiêu chuẩntrên thì được coi là bất thường Tuy nhiên, theo ngưỡng của WHO 2010 với95% CI cho thấy rằng 2,5% số đàn ông có tinh dịch đồ có chỉ số nằm dướingưỡng giới hạn trên nhưng họ vẫn có con trong vòng 1 năm quan hệ vợchồng không sử dụng biện pháp tránh thai Theo Jouannet độ di động của tinhtrùng, hình thái bình thường của tinh trùng có liên quan chặt chẽ tới khả năngsinh sản [18] Nghiên cứu của Acacio và cộng sự đã chỉ ra rằng, trong sốnhững trường hợp vô sinh nam, có tới 52% có bất thường ít nhất 1 chỉ số tinhdịch đồ

Các loại tinh dịch bất thường

Bảng 1.2 Các loại tinh dịch bất thường theo WHO 2010 [20]

Oligozoospermia(O) Số lượng/mật độ tinh trùng thấp dưới ngưỡng tiêu chuẩn.Asthenozoospermia (A) Tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới dưới ngưỡng tiêu chuẩn.Teratozoospermia (T) Tỉ lệ tinh trùng hình thái bình thường dưới ngưỡng tiêu

Trang 7

1.2.2 Các phương pháp chuẩn bị tinh trùng

Nhìn chung việc phân lập và lựa chọn tinh trùng có thể thực hiện dựatrên 3 kỹ thuật chính: rửa đơn thuần (Simple washing), sự di chuyển của tinhtrùng (Sperm migration) và thang nồng độ (Gradient)

a Rửa đơn thuần

Rửa đơn thuần là phương pháp chuẩn bị tinh trùng cổ điển nhất Mụcđích của kỹ thuật này chỉ đơn thuần loại bỏ tinh tương Trong rửa đơn thuần,tinh dịch sau khi ly giải sẽ được pha loãng với môi trường với tỉ lệ 1:1 hay 1:2

và quay ly tâm trong 10 phút với tốc độ 300- 400g Cặn thu được sẽ pha loãngvới môi trường và quay ly tâm lần nữa trong 5- 10 phút ở 200g

Ưu điểm của phương pháp này là tính đơn giản trong kỹ thuật và tiếtkiệm thời gian, thu được tối đa tinh trùng Tuy nhiên các tinh trùng chết, tếbào lạ… vẫn được trộn lẫn với tinh trùng có di động tốt và hình dạng bìnhthường Như vậy, rửa đơn thuần không lựa chọn và phân lập được những tinhtrùng tốt nhất [21] Ngoài ra việc ly tâm trực tiếp tinh trùng còn lẫn tinhtương sẽ làm tăng nguy cơ phát sinh các gốc ROS và do đó khả năng thụ tinhcủa tinh trùng sẽ bị ảnh hưởng [22] Nghiên cứu của Fabozzi (2016) đưa rakết luận không có sự khác biệt về chất lượng tinh trùng sau bảo quản lạnh sửdụng môi trường Sperm Freeze ở mẫu tinh dịch được rửa đơn thuần và mẫutinh dịch tươi [23]

b Phương pháp dựa trên sự di chuyển của tinh trùng (Sperm migration)

Phương pháp này chủ yếu dựa vào khả năng di động của tinh trùng Tinhtrùng di động tốt sẽ dễ dàng di chuyển từ môi trường này đến môi trườngkhác trong khi những thành phần khác có trong tinh dịch sẽ ở lại cùng tinh

Trang 8

dịch Có hai phương pháp dựa trên sự di chuyển của tinh trùng: phương phápbơi lên (swim- up) và phương pháp bơi xuống (swim- down)

Phương pháp bơi lên (swim- up)

Phương pháp này chủ yếu dựa vào khả năng di động của tinh trùng.Những tinh trùng có khả năng di động tốt sẽ di chuyển ngược lại trọng lựctách khỏi tinh dịch và bơi lên bề mặt của lớp môi trường phía trên, những tinhtrùng chết, không di động cũng như các tác nhân ROS sẽ ở lại lẫn cùng tinhtương Theo khuyến cáo của đa số tác giả nên sự dụng phương pháp bơi lêntrực tiếp để loại trừ và giảm thiểu các tác dụng có hại của ROS [24], [25].Tinh dịch sau khi đã ly giải cho trực tiếp vào ống nghiệm đáy tròn, loại 14 ml

và phủ một thể tích môi trường lên trên Sau đó ống nghiệm đặt nghiêngkhoảng 30° - 45° để tăng diện tích mặt thoáng, nhằm tăng số lượng tinhtrùng thu nhận được và được cho vào tủ ấm (nắp đậy chặt) hay vào tủ CO2(nắp hở) khoảng 30- 45 phút để tinh trùng có thời gian bơi lên trên Hút phầndịch nổi phía trên, thể tích hút tùy theo mật độ tinh trùng thu được Phần dịchnày sẽ được pha loãng với môi trường và quay ly tâm, cặn lắng thu được sẽđược dùng để bảo quản

Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, rẻ tiền, tinh trùng thu được cóchất lượng cao (90% tinh trùng di động) Tuy nhiên phương pháp này không thuđược hết số tinh tùng di động và chỉ áp dụng được với những mẫu có mật độ tinhtrùng cao, di động tương đối tốt Theo nghiên cứu của Hồ Mạnh Tường (2002)mẫu tinh dịch phải có trên 10x106 tinh trùng di động tiến tới [24]

Phương pháp bơi xuống (Swim- down)

Phương pháp này dựa vào tác động của trọng lực Những tinh trùng hìnhdạng bình thường, di động tốt sẽ di chuyển theo trọng lực và bơi xuống môi

Trang 9

trường có độ nhớt cao để tách khỏi tinh tương, tinh trùng bất thường và cácthành phần khác

Phương pháp bơi xuống có thể thực hiện trực tiếp trên mẫu tinh dịch đã

ly giải hoặc cặn tinh trùng sau rửa đơn thuần Tinh dịch được đặt nhẹ nhàngtrên lớp môi trường có độ nhớt cao (ống nghiệm chứa 4ml môi trường cóhuyết thanh người 10%), để tủ cấy 30- 45 phút Hút bỏ phần dịch nổi và thulớp môi trường có tinh trùng ở phần dưới đáy ống nghiệm, pha loãng phầnnày với 2ml môi trường rồi ly tâm 300g/10 phút, cặn thu được sẽ được bảoquản Một nghiên cứu cho thấy phương pháp bơi xuống thu được mẫu tinhtrùng tốt hơn phương pháp bơi lên [26]

c Phương pháp ly tâm dựa vào thang nồng độ

Phương pháp này bao gồm: các thang liên tục và không liên tục Vớithang liên tục, thang nồng độ sẽ tăng dần từ trên xuống dưới đáy của ống lytâm Trong khi đó, với thang không liên tục thì biên giới giữa các lớp rõ ràng Nguyên lý của phương pháp thang nồng độ là dựa trên tỉ trọng, sau litâm tất cả tinh tương, tinh trùng chết, tinh trùng bất thường, vi khuẩn vànhững thành khác có trong tinh dịch sẽ được giữ lại theo từng lớp lọc có nồng

độ khác nhau, chỉ có những tinh trùng trưởng thành (do sự cô đặc của DNAlàm tỷ trọng chúng nặng hơn (1,1 g/mL) so với tinh trùng chưa trưởng thành ,hình thái bất thường là 1,06 và 1,09 g/mL) sẽ được tách khỏi các lớp lọc vàlắng xuống đáy ống nghiệm bởi lực ly tâm [27]

Tùy vào chất lượng tinh trùng và mục đích sau lọc rửa mà các lớp lọcvới nồng độ khác nhau sẽ được sử dụng để lựa chọn các tế bào với các kíchthước và tỉ trọng chuyên biệt Lớp lọc đầu tiên thường sẽ giữ lại các tế bàobiểu mô và hồng cầu Các tinh trùng hình thái bất thường, chưa trưởng thành,

di động kém, không di động sẽ được giữ lại ở lớp 2, tinh trùng di động tốt,hình thái bình thường sẽ lắng xuống đáy ống nghiệm Thang nồng độ có thể

Trang 10

thực hiện qua hai hoặc 3 lớp với nồng độ tăng dần Tinh dịch được đặt ở phầntrên nhất của ống ly tâm theo tỉ lệ 1:1 Sau đó, tiến hành ly tâm, thu cặn lắng

và rửa lại với môi trường 1- 2 lần Ưu điểm của phương pháp này là thực hiệnđược trên mẫu tinh dịch có mật độ thấp, thu được tối đa số tinh trùng di động.Tuy nhiên trong quá trình tinh trùng phải chịu ảnh hưởng bởi hóa chất lọc vàlực ly tâm nhiều lần gây tác hại đến cấu trúc và chức năng của tinh trùng

1.2.3 Các phương pháp hỗ trợ sinh sản điều trị vô sinh nam

1.2.3.1 Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một phương pháp hỗ trợ sinh sảnvới nguyên tắc làm giảm các tác động bất lợi của môi trường âm đạo và chấtnhày cổ tử cung lên tinh trùng, đặt những tinh trùng đã được lọc rửa gần noãnxung quanh thời điểm phóng noãn Chỉ định của phương pháp bơm tinh trùngvào buồng tử cung trong các trường hợp vô sinh nam do bất thường phóng

tinh hoặc bất thường tinh dịch (tinh trùng ít yếu dị dạng) và cần tối thiểu 1 triệu tinh trùng di động được bơm vào buồng tử cung để có thể có hiệu quả

trong điều trị IUI thường không hiệu quả nếu số lượng và chất lượng tinhtrùng quá thấp [28], [29]

Theo báo cáo của Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ cho biết: trong tháng 5 vàtháng 6 năm 2000 có 91 cặp vợ chồng được điều trị bằng phương pháp IUI,trong đó chỉ định do tinh trùng chồng yếu là 42,86%, mật độ tinh trùng saulọc rửa thấp nhất có thai là 2x106 tinh trùng/ml [30] Nghiên cứu trên 1153chu kỳ với tinh trùng của chồng IUI đã được thực hiện ở 645 phụ nữ sau khikích thích buồng trứng Tỷ lệ mang thai chỉ là 4,05% nếu ít hơn 2 x 106 tinhtrùng di động được bơm, nhưng điều này đã tăng lên 14,55% khi hơn 2 x 106tinh trùng di chuyển được được thụ tinh Do đó chúng tôi kết luận rằng IUI cóthể được thực hiện khi NMSI vượt quá 2 x 106 tinh trùng [31].Lê Minh Châu

và Nguyễn Đức Vy (2007) tiến hành nghiên cứu trên 150 cặp bệnh nhân vô

Trang 11

sinh do thiểu năng tinh trùng và được chỉ định điều trị bằng phương pháp IUItrong thời gian 2003- 2006 cho thấy tỉ lệ có thai trên tổng số bệnh nhân là26,7% [32] Nghiên cứu của Mohamed A và cộng sự năm 1991 kết luận:nhóm bệnh nhân điều trị IUI sử dụng mẫu tinh dịch gồm tinh trùng tươi trộnvới mẫu tinh dịch đông lạnh trước đó tỷ lệ có thai cao hơn ở nhóm chỉ sửdụng mẫu tinh trùng tươi [33].

1.2.3.2 Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro Fertilization – IVF)

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có nghĩa là lấy noãn của người phụ

nữ bằng chọc hút cho kết hợp với tinh trùng đã được chuẩn bị trong ốngnghiệm, sau đó phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vào buồng tử cung.Quá trình phát triển của phôi thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung củangười mẹ Kỹ thuật này chiếm 50% các chu kỳ điều trị với kỹ thuật hỗ trợsinh sản hiện nay trên thế giới [34]

Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) cổ điển được xem là kỹthuật đem lại hiệu quả thành công cao nhất đối với các cặp vợ chồng hiếmmuộn – vô sinh Tuy nhiên, kỹ thuật này cũng trở nên bất lực trước nhiềutrường hợp, đặc biệt là những trường hợp vô sinh do tinh trùng yếu nặng Ởnhững bệnh nhân này, tinh trùng không có khả năng xuyên qua màng trongsuốt của noãn, do đó, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI –intracytoplasmic sperm injection) được áp dụng để giải quyết vấn đề này Với

kỹ thuật ICSI, tinh trùng được chọn lọc và tiêm trực tiếp vào tế bào chất củanoãn Tuy nhiên, Kĩ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn với nhữngtrường hợp tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng vẫn luôn là thách thức và khókhăn cho các nhà chuyên môn Nếu không thực hiện kỹ thuật ICSI, tinh trùng

ít yếu dị dạng nặng dù có nguồn gốc xuất tinh hay chọc hút lấy từ mào tinhcũng không có khả năng thụ tinh với noãn Các trường hợp tinh trùng ít yếu dị

Trang 12

dạng nặng - SOAT (severe-oligo-astheno-teratozoospermia) được cho là cómật độ tinh trùng ít hơn 1 triệu/ml [3] Nguyên nhân gây ra tinh trùng ít yếu dịdạng nặng thường do có những khiếm khuyết trong quá trình sinh tinh Cácmẫu tinh trùng xuất tinh có thể có nhiều bất thường về tinh trùng - từ không

có tinh trùng đến những thay đổi nghiêm trọng trong tất cả các thông số vềtinh trùng, tinh trùng bất thường nhẹ, trung bình hoặc nặng có thể cho thấykhả năng thụ tinh khác nhau sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương noãn mặc

dù nguồn của chúng cùng là xuất tinh.Tỷ lệ nam giới không có tinh trùngtrong tinh dịch chiếm khoảng 15% các trường hợp vô sinh nam Với cáctrường hợp này, kỹ thuật lấy tinh trùng từ mào tinh và tinh hoàn (SRTs-Spermretrieval techniques) kết hợp với tiêm tinh trùng vào bào tương noãn là giảipháp duy nhất giúp họ có con của chính mình [35]

Vô sinh do không có tinh trùng là trường hợp không tìm thấy tinh trùngtrong tinh dịch Không tinh trùng thường chia làm hai loại: do tắc nghẽn vàkhông do tắc nghẽn Trong trường hợp không tinh trùng do tắc, tinh hoàn vẫnsinh tinh bình thường nhưng tinh trùng không thể ra bên ngoài

Vô sinh do không có tinh trùng là trường hợp không tìm thấy tinh trùngtrong tinh dịch Không tinh trùng thường chia làm hai loại: do tắc nghẽn vàkhông do tắc nghẽn Trong trường hợp không tinh trùng do tắc, tinh hoàn vẫnsinh tinh bình thường nhưng tinh trùng không thể ra bên ngoài Nguyên nhânthường gặp là do bẩm sinh, nhiễm trùng đường sinh dục hoặc do thắt ống dẫntinh Phương pháp điều trị vô sinh không tinh trùng do tắc nghẽn phổ biếnhiện nay trên thế giới là phẫu thuật lấy tinh trùng và thực hiện ICSI (tiêm tinhtrùng vào bào tương trứng) [36], [37]

Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng vi phẫu thuật (Microsurgical

Epididymal Sperm Aspiration-MESA)

Trang 13

MESA là phương pháp thu tinh trùng bằng phẫu thuật ở mào tinh, đầutiên được áp dụng thành công ở những người không tinh trùng do bất sản haiống dẫn tinh bẩm sinh Với kỹ thuật này, tinh hoàn sẽ được bộc lộ và qua đó,tinh trùng từ các ống tuyến trong mào tinh sẽ được thu thập Tỷ lệ thành côngtrong việc thu được tinh trùng bằng MESA thường từ 90% trở lên.

Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng xuyên kim qua da (Percutaneous

Epididymal Sperm Aspiration-PESA)

So với MESA, PESA là một phương pháp ít xâm lấn hơn, có thể đượcthực hiện với gây tê tại chỗ, với tỷ lệ thành công khoảng 65% Lợi điểm củaPESA là ít xâm lấn, có thể thực hiện được nhiều lần, đơn giản hơn và mẫutinh trùng thu được thường ít lẫn máu và xác tế bào Do đó, PESA là mộttrong những phương pháp nên chọn lựa đầu tiên ở những trường hợp khôngtinh trùng do tắc nghẽn

Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng chọc hút (Testicular Sperm

Aspiration-TESA)

Đây là kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện và có thể không cần gây mê toànthân Dùng kim đâm xuyên qua da vào mô tinh hoàn và hút tinh trùng ra Ởnhững người sinh tinh bình thường, tỷ lệ thu được tinh trùng trên 80%

Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng phẫu thuật xẻ tinh hoàn (Testicular

Sperm Extraction-TESE)

Kỹ thuật này tương tự sinh thiết tinh hoàn trong chẩn đoán Ở nhữngbệnh nhân có rối loạn quá trình sinh tinh, tỷ lệ thu được tinh trùng vào khoảng50% Những đối tượng này, nên sử dụng kỹ thuật TESE hơn là TESA do thuđược tinh trùng nhiều hơn Hơn nữa, một trong những lợi điểm của TESE là

có thể trữ lạnh mẫu mô tinh hoàn để sử dụng sau này

Điều trị vô sinh cho những cặp vợ chồng không tinh trùng có thể đượcthực hiện bằng cách lấy tinh trùng từ mào tinh (MESA, PESA) hay tinh hoàn

Trang 14

(TESA, TESE) Điều trị thường phối hợp với ICSI để tăng tỉ lệ thành công Tỉ

lệ thành công trong điều trị thường cao ở những trường hợp không tinh trùng

do tắc nghẽn [36] Kỹ thuật này mở ra hy vọng mới cho những cặp vợ chồng

vô sinh do không có tinh trùng, giúp họ có cơ hội có con của chính mình.Tuy nhiên ở những trường hợp không tinh trùng do tinh hoàn giảm chứcnăng sinh tinh nặng (không do tắc nghẽn) khả năng lấy được tinh trùng thấphơn, chất lượng tinh trùng kém hơn, do đó tỉ lệ thảnh công cũng thấp hơnđáng kể [36]

1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

Nghiên cứu của Verza và Desai cho thấy tỷ lệ thụ tinh giảm đáng kể trêncác bệnh nhân được thực hiện kĩ thuật ICSI so với các nhóm có tinh trùngxuất tinh với tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng hoặc tinh trùng tinh hoàn từbệnh nhân không bị tắc nghẽn (P <0,05), và phát triển phôi thai và tỷ lệ cóthai lâm sàng thấp hơn đáng kể khi lấy mẫu tinh trùng từ tinh hoàn từ ngườichồng không bị tắc nghẽn [36], [37]

Hashimoto H và cộng sự năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu ctìm hiểumối quan hệ giữa mức độ trầm trọng của các mẫu tinh trùng ít, yếu, dị dạng

và sự phát triển của phôi và hiệu quả sau khi bệnh nhân được thực hiện kĩthuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn Trong tổng số 908 chu kỳ ICISđược nghiên cứu cho thầy không có sự khác biệt đáng kể nào giữa hiệu quảsau tiến hành ICSI trên hai nhóm đối tượng được thực hiện kĩ thuật bằng tinhtrùng xuất tinh và tinh trùng phẫu thuật Kết quả của nghiên cứu này nhấnmạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn tinh trùng chất lượng tốt cho tiêm tinhtrùng vào bào tương noãn, đặc biệt là trong trường hợp tinh trùng ít, yếu, dịdạng rất nặng Nghiên cứu của Yoshiko Osawa cũng cho thấy tỷ lệ có thaithấp hơn nhiều ở nhóm có tinh trùng ít yếu, dị dạng nặng, đặc biệt với cácmẫu tinh dịch có ≤4% tinh trùng bình thường [3]

Kĩ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn trong hỗ trợ sinh sản đã gópphần không nhỏ trong điều trị vô sinh nam, tuy nhiên việc lựa chọn không

Trang 15

mang tính ngẫu nhiên tinh trùng để tiến hành quá trình thụ tinh đặt câu hỏicho các nhà nghiên cứu, liệu nguồn gốc mẫu tinh trùng có ảnh hưởng tới kếtquả lâm sàng sau khi làm kĩ thuật ICSI Năm 2011, Ching-Chang và các cộng

sự đã tiến hành nghiên cứu so sánh các kết quả lâm sàng sau khi thực hiện kĩthuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn trên hai nhóm tinh trùng từ mẫu xuấttinh và nhóm lấy từ tinh hoàn Kết quả cho thấy tỷ lệ số phôi chất lượng tốt, tỷ

lệ mang thai lâm sàng trên một lần chuyển, tỷ lệ mang thai sinh hóa trên mỗilần chuyển,tỉ suất sinh sống trên mỗi lần chuyển và tỉ lệ nạo phá thai trên mỗilần chuyển đều không có sự khác biệt giữa hai nhóm Kết quả này có thể được

lí giải là do quá trình và các tiêu chuẩn và lựa chọn tinh trùng để tiến hành kĩthuật ICSI được đặt ra và thực hiện một cách nghiêm ngặt Tuy nhiên, nhómnghiên cứu cũng cho rằng, trong các trường hợp tinh trùng ít yếu và dị dạngrất nghiêm trọng, việc lựa chọn tinh trùng đạt các tiêu chuẩn để thực hiện kĩthuật ICSI là vấn đề không dễ dàng do vậy, cần đặt ra các tiêu chuẩn và giớihạn nhất định cho những trường hợp này dựa trên các thông số tinh trùngcộng với các đặc điểm siêu hình học của các cơ quan dưới tế bào, sự ổn địnhcủa bộ nhiễm sắc thể, và sự toàn vẹn hạt nhân tinh trùng Giải pháp được đưa

ra là kiểm tra mẫu tinh trùng bằng cách sử dụng kính hiển vi ánh sáng nănglượng cao (6600) [5]

Tại Việt Nam, năm 1999, em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật tiêm tinhtrùng vào bào tương trứng ICSI tại Khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Từ Dũ.Đến năm 2002 nước ta cũng đã bắt đầu triển khai kỹ thuật ICSI với tinh trùngsinh thiết từ mào tinh Tuy nhiên, trong nước chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu

về kết quả có thai của tinh trùng ít yếu dị dạng rất nặng từ mẫu xuất tinh vàmẫu thu được từ chọc hút mào tinh qua da Do vậy, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu này để tìm hiều rõ những vấn đề trên

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Cặp vợ chồng vô sinh thực hiện IVF/ICSI do chồng tinh trùng ít yếu dịdạng nặng

2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

Cặp vợ chồng thực hiện kĩ thuật IVF/ICSI

Mẫu tinh trùng người chồng ít yếu dị dạng nặng có mật độ tinh trùng

< 0,1 triệu/ml kết hợp < 5% tinh trùng di động và/hoặc < 4% tinh trùng cóhình dạng bình thường

Người vợ không có nguyên nhân gây vô sinh trong thời gian 3 tháng

từ tháng 4/2017-6/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 2 nhóm đối tượng

- Nhóm 1: 30 cặp vợ chồng sử dụng tinh trùng có nguồn gốc xuất tinh.

- Nhóm 2: 30 cặp vợ chồng sử dụng tinh trùng có nguồn gốc chọc hútmào tinh qua da

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 04/2017 đến tháng 12/2017

Địa điểm: Trung Tâm Hỗ Trợ Sinh sản Quốc gia

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu trên 30 mẫu tinh dịch bất thường ở mỗi nhóm đốitượng nghiên cứu Tổng số là 60 cặp vợ chồng

2.5 Các bước tiến hành

Thực hiện qui trình thụ tinh trong ống nghiệm:

- Kích thích buồng trứng bằng phác đồ ngắn antagonist Theo dõi sự pháttriển của nang noãn bằng siêu âm và xét nghiệm nội tiết E2, Progesteron ngày

Trang 17

7 và ngày tiêm hCG Gây trưởng thành noãn bằng 10 000 IU hCG khi có ítnhất 1 nang noãn 18mm Chọc hút noãn sau tiêm hCG 36-38 giờ.

- Với các trường hợp chọc hút mào tinh: Sau khi người vợ được chọc hútnoãn, người chồng cũng được chọc hút mào tinh qua da (PESA) để lấy tinhtrùng làm ICSI với noãn của vợ Qui trình PESA : Gây tê dưới da tại chỗ bằngLidocain 2% và thừng tinh khoảng 2-3 ml, hoặc gây mê toàn thân tĩnh mạchbằng Diprivan Dùng bơm tiêm 1 ml với kim số 23G, trong bơm tiêm có chứasẵn 0,3 ml môi trường Sperm Rinse (Vitrolife) chọc hút mào tinh

- Chuẩn bị tinh trùng: Các mẫu tinh trùng được rửa trong các tube 5mlđáy tròn chứa 1 ml G-IVF (Vitrolife) quay ly tâm 1500 vòng trong 15 phút đểlấy cặn Cặn thu được load vào giữa các cột môi trường phủ dầu trong đĩapetri 60mm (hình 1) trước ICSI 30 phút, ủ đĩa này trong tủ ấm 370C, CO2 6%

Hình 1 Đĩa swim-out.

- Thực hiện kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn (ICSI).

Kiểm tra thụ tinh sau 14-18h Chuyển 1- 4 phôi ngày 3 Đông phôi toàn bộcho các trường hợp quá kích buồng trứng hoặc phôi dư sau chuyển phôi tươi

- Hỗ trợ pha hoàng thể

- Thử β hCG 14 ngày sau chuyển phôi để xác định có thai và siêu âm

Trang 18

theo dõi sự phát triển của thai.

- Có thai được tính khi βhCG sau 14 ngày chuyển phôi ≥ 25 IU/ml

2.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

-Thời gian vô sinh,

-Tuổi của người vợ

-Tuổi của người chồng

-Nồng độ E2, Progesteron ngày 7 và ngày tiêm hCG

-Kết quả noãn phôi: số noãn trung bình, Số noãn thụ tinh, tỷ lệ thụ tinh,

số phôi thu được, tỷ lệ phôi phân chia, tỷ lệ phôi tốt, số phôi chuyển vàobuồng tử cung

-Tỷ lệ có thai: Thai sinh hoá/ chu kỳ chuyển phôi, thai lâm sàng/chu kỳchuyển phôi (CKCP) và đa thai (chu kỳ có > 2thai / thai lâm sàng)

Đánh giá chất lượng của phôi tại Trung tâm HTTT Quốc gia

Độ 4 (Phôi rất tốt): phôi ngày 2 có 4 tế bào hoặc ngày 3 có 8 tế bào,

các tế bào đồng đều, phân chia đồng bộ, tỷ lệ mảnh vỡ < 10%

Độ 3 (Phôi tốt): phôi ngày 2 có 3-5 tế bào hoặc phôi ngày 3 có 6-10 tê

bào, các tế bào không đồng đều, hoặc tỷ lệ mảnh vỡ từ 10 - 25%

Độ 2 (Phôi trung bình): phôi ngày 2 có < 3 tế bào hoặc phôi ngày 3 có

< 5 tế bào, hoặc có tỷ lệ mảnh vỡ từ 25-50% hoặc bào tương của phôi

có dạng hạt, hoặc phôi bào đa nhân hoặc có nhiều không bào

Độ 1 (Phôi xấu): Phôi ngày 2 có 2 tế bào hoặc phôi ngày 3 có < 4 tế

bào hoặc tỷ lệ mảnh vỡ ≥50%

2.7 Sai số và cách khống chế

−Nghiên cứu viên lựa chọn mẫu nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn

Ngày đăng: 28/09/2019, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh (1999), Chẩn đoán và điều trị vô sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh (1999), "Chẩn đoán và điều trị vô sinh
Tác giả: Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh
Năm: 1999
10. Irvine S (1998), Epidemiology and etiology of male infertility, Hum Repro, Vol 13, suppll, 33-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Irvine S (1998), "Epidemiology and etiology of male infertility
Tác giả: Irvine S
Năm: 1998
11. Nguyễn Viết Tiến và cs (2009) “Phân bố tỷ lệ mắc vô sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến vô sinh tại Việt Nam năm 2009”, Hội thảo Việt Pháp 2011, Hà Nội 3/2011, 54- 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Viết Tiến và cs (2009) “Phân bố tỷ lệ mắc vô sinh và các yếu tốảnh hưởng đến vô sinh tại Việt Nam năm 2009
12. Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự (1998), “ Nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân vô sinh điều trị tại viện bà mẹ và trẻ sơ sinh”, Báo cáo khoa học tháng 3/1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự (1998), "“ Nghiên cứu tìm hiểu nguyênnhân vô sinh điều trị tại viện bà mẹ và trẻ sơ sinh”
Tác giả: Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự
Năm: 1998
13. Nguyễn Như Thành, Nguyễn Ngọc Tiến, Phạm Hữu Dương (2001),“Tình hình chẩn đoán và điều trị hiếm muộn nam tại bệnh viện Bình Dân từ 9/1999 đến 12/2000”, Các vấn đề mới trong lĩnh vực sản phụ khoa, Hội thảo Việt- Pháp 2001, Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Như Thành, Nguyễn Ngọc Tiến, Phạm Hữu Dương (2001),"“Tình hình chẩn đoán và điều trị hiếm muộn nam tại bệnh viện BìnhDân từ 9/1999 đến 12/2000”
Tác giả: Nguyễn Như Thành, Nguyễn Ngọc Tiến, Phạm Hữu Dương
Năm: 2001
14. Nguyễn Xuân Quý, Phạm Ngọc Quốc Duy (2004), “Khảo sát tinh dịch đồ ở những cặp vợ chồng hiếm muộn điều trị tại Bệnh viện phụ sản Từ Dũ”, Vô sinh - nguyên nhân và kết quả điều trị, Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Quý, Phạm Ngọc Quốc Duy (2004), “Khảo sát tinhdịch đồ ở những cặp vợ chồng hiếm muộn điều trị tại Bệnh viện phụ sảnTừ Dũ
Tác giả: Nguyễn Xuân Quý, Phạm Ngọc Quốc Duy
Năm: 2004
16. Nguyễn Thị Được (2002), “ Một số nhận xét về nguyên nhân vô sinh trên những bệnh nhân đến khám tại phòng khám sản Trường Đại học Y Thái Bình từ 6/1999 đến 6/2001” Nội san Sản phụ khoa năm 2002, tr.101- 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Được (2002), “ Một số nhận xét về nguyên nhân vô sinhtrên những bệnh nhân đến khám tại phòng khám sản Trường Đại học YThái Bình từ 6/1999 đến 6/2001
Tác giả: Nguyễn Thị Được
Năm: 2002
18. Jouannet P, Feneux D, Ducot B, et al (1988). Male factors and the likelihood of pregnancy in infertile couples. I. Study of sperm characteristics. Int J Androl. 11(5): p. 379-394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jouannet P, Feneux D, Ducot B, et al (1988). Male factors and thelikelihood of pregnancy in infertile couples. I. Study of spermcharacteristics. "Int J Androl
Tác giả: Jouannet P, Feneux D, Ducot B, et al
Năm: 1988
19. Acacio BD, et al (2000). Evaluation of a large cohort of men presenting for a screening semen analysis. Fertil and Steril. 73(3), p. 595-597 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acacio BD, et al (2000). Evaluation of a large cohort of men presentingfor a screening semen analysis." Fertil and Steril
Tác giả: Acacio BD, et al
Năm: 2000
21. Fleming SD, Meniru Gl, Hall JA and Fishel SB (1997). Semen analysis and sperm preparation. In: Meniru GI, Brinsden P and Craft I, eds. A handbook of intrauterine insemination. Cambridge: Cambrige University Press; 129- 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fleming SD, Meniru Gl, Hall JA and Fishel SB (1997). "Semen analysisand sperm preparation
Tác giả: Fleming SD, Meniru Gl, Hall JA and Fishel SB
Năm: 1997
22. Nicopoullos, J. D., et al. (2010). "A decade of sperm washing: clinical correlates of successful insemination outcome." Hum Reprod 25(8):1869-1876 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A decade of sperm washing: clinicalcorrelates of successful insemination outcome
Tác giả: Nicopoullos, J. D., et al
Năm: 2010
23. Henkel, R., et al. (2005). "Effect of reactive oxygen species produced by spermatozoa and leukocytes on sperm functions in non-leukocytospermic patients." Fertil Steril 83(3): 635-642 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of reactive oxygen species produced byspermatozoa and leukocytes on sperm functions in non-leukocytospermicpatients
Tác giả: Henkel, R., et al
Năm: 2005
24. Hồ Mạnh Tường (2002). Chuẩn bị tinh trùng . Thụ tinh nhân tạo, Nhà xuất bản Y học; 101- 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Mạnh Tường (2002). "Chuẩn bị tinh trùng . Thụ tinh nhân tạo
Tác giả: Hồ Mạnh Tường
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học; 101- 109
Năm: 2002
15. Trần Thị Phương Mai, Nguyễn Thị Ngọc Phương và CS (2007), Hiếm muộn- vô sinh và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, NXB Y học, Hà Nội, tr: 25- 36 Khác
20. WHO (2010). WHO laboratory manual for the Examination and processing of human semen. 5 th , Switzerland, p.238 Khác
25. Marchesi DE, Biederman H, Ferrara S, Hershlag A and Feng HL (2010).The effect of semen processing pn sperm DNA intergrity: comparision of tow techniques using the novel. Toluidine Blue Assay. Eur J Obster Gynecol Reprod Biol 151: 176- 178 Khác
26. Lê Thị Hạnh Dung và Đặng Quang Vinh (2006). Hội thảo chuyên đề Kỹ thuật Thụ tinh nhân tạo. Thành phố Hồ Chí Minh. HOSREM; 16- 31.) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w