1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG CA CAO Ở TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG

103 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra qua bảng hỏi: đối với các nhà sản xuất: Bảng câu hỏiđiều tranhằmthu thập thông tinđịnh lượng vềtình trạng củacác hộ gia đình, năng lực sản xuất, chi phí sảnxuất, thunhậptheo các

Trang 1

VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

CHƯƠNG TRÌNH ARD SPS

DỰ ÁN: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÀNH CA CAO Ở TỈNH ĐẮK LẮK VÀ

ĐẮK NÔNG

BÁO CÁONGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÀNH HÀNG CA CAO

Ở TỈNH ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, 2013

Trang 2

MỤC LỤC

1.1 Tính cấp thiết 3

1.2 Mục tiêu 3

1.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 3 1.3.2 Phương pháp phân tích số liệu và tổng hợp thông tin 3 II THỊ TRƯỜNG CA CAO THẾ GIỚI 3

2.1 Tình hình cung ca cao 3

2.2 Chế biến, tiêu dùng 3

2.3 Dự trữ ca cao 3

2.4 Thương mại 3

2.5 Giá cả 3

III PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI VIỆT NAM 3

3.1 Tình hình sản xuất 3

3.2 Chất lượng hạt ca cao 3

3.3 Thu mua, chế biến ca cao 3

3.4 Thương mại ca cao Việt Nam 3

3.5 Chính sách phát triển ca cao của Việt Nam 3

IV HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG 3

4.1 Sản xuất, chế biến, tiêu thụ ca cao tại Đắk Lắk 3

4.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng 3 4.1.2 Chế biến, tiêu thụ 3 4.1.3 Các chính sách phát triển ca cao tại Đắk Lắk 3 4.1.4 Các dự án có liên quan đến cây ca cao tại địa bàn tỉnh 3 4.1.5 Chuỗi giá trị ca cao tỉnh Đắk Lắk 3 4.2 Hiện trạng phát triển ca cao tại Đắk Nông 3

Trang 3

4.2.3 Các chính sách phát triển ca cao tại Đắk Nông 3

4.2.4 Chuỗi giá trị cacao tỉnh Đắk Nông 3

V KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CA CAO TẠI ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG 3 5.1 Lợi thế cạnh tranh tự nhiên 3

5.2 Lợi thế về nhu cầu thị trường 3

5.3 Khả năng cạnh tranh về hiệu quả kinh tế của sản xuất ca cao 3

5.4 Hiệu quả kinh tế của cây ca cao (so sánh chi phí) của Đắk Lắk với nước trồng ca cao 3

5.5 Lợi thế từ năng suất cao và chất lượng ca cao 3

VI NHỮNG KHÓ KHĂN TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI ĐẮK LẮKVÀ ĐẮK NÔNG 3

VII ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG 3 7.1 Phát triển hệ thống tổ chức hỗ trợ, cung cấp dịch vụ đầu vào cho canh tác ca cao 3

7.2 Phát triển các tổ chức của người sản xuất 3

7.3 Cải thiện kỹ thuật trong sản xuất, lên men 3

7.4 Khâu thu mua, chế biến 3

7.5 Hình thành và phát triển hình thức liên kết sản xuất – tiêu thụ ca cao 3

VIII KẾT LUẬN 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

PHỤ LỤC 3

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Tỷ trọng sản lượng ca cao trên thế giới qua các năm 3

Hình 2 Sản lượng ca cao của một số nước sản xuất ca cao chính trên thế giới giai đoạn 2007 – 2012 3

Hình 3 Biến động về sản lượng hạt ca cao giai đoạn 2002/2003 – 2011/2012 (trung bình 3 năm) 3

Hình 4 Diện tích và sản lượng ca cao của Bờ Biển Ngà giai đoạn 2000 – 2011 3

Hình 5 Diện tích và sản lượng ca cao của Gana giai đoạn 2000 – 2011 3

Hình 6 Diện tích và sản lượng ca cao của Indonesia giai đoạn 2000 – 2011 3

Hình 7 Quá trình chế biến các sản phẩm từ hạt ca cao 3

Hình 8 Sản lượng ca cao nghiền giai đoạn 1980/81 - 2009/2010 (ngàn tấn) 3

Hình 9 Sản lượng ca cao nghiền của một số nước chính trên thế giới giai đoạn 2007 -2012 3

Hình 10 Cơ cấu tiêu thụ ca cao trên thế giới giai đoạn 2007 – 2010 3

Hình 11 Tiêu thụ hạt ca cao của thế giới và một số nước tiêu thụ chính giai đoạn 2007 – 2010 3

Hình 12 Sản lượng, nghiền và thặng dư/thâm hụt hạt ca cao trên thế giới qua các năm 3

Hình 13 Cơ cấu về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu ca cao trên thế giới năm 20103 Hình 14 Cơ cấu về khối lượng và kim ngạch nhập khẩu ca cao trên thế giới năm 2010 3

Hình 15 Cơ cấu xuất khẩu hạt ca cao theo vùng năm 2010 3

Hình 16 Sản lượng dư thừa/ thiếu hụt và giá hạt ca cao thế giới giai đoạn 2002-2012 3 Hình 17 Diện tích ca cao của một số tỉnh trồng chính năm 2011 (ha) 3

Hình 18 Kim ngạch xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việt Nam theo quốc gia giai đoạn 2007 – 2011 3

Hình 19 Khối lượng và kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm ca cao của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011 3

Hình 20 Kế hoạc và tiến độ thực hiện kế hoạch phát triển ca cao (ha) 3

Trang 5

Hình 21 Diện tích ca cao tỉnh Đắk Lắk năm 2011 phân theo huyện (ha) 3

Hình 22 Sơ đồ chuỗi giá trị cacao tỉnh Đắk Lắk 3

Hình 23 Diện tích và sản lượng ca cao tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2007 – 2012 3

Hình 24 Sơ đồ mô tả các tác nhân trong chuỗi giá trị ca cao tỉnh Đăk Nông 3

Hình 25.Tổng tiêu dùng ca cao thế giới giai đoạn 1980/81 – 2009/10 (ĐVT: 1000 tấn) 3

Hình 26 Tốc độ tăng trưởng bình quân của 10 nước nhập khẩu ca cao chính 2007 -2011 3

Hình 27 Tiêu thụ ca cao thế giới trong giai đoạn 2003 - 2013 3

Hình 28 Dự báo nhu cầu ca cao trong nước đến năm 2016 3

Hình 29 Chi phí sản xuất ca co trung bình 1 năm kiến thiết có bản của Đắk Lắk, Đắk Nông và Ghana 3

Hình 30 Chi phí trồng ca cao trong giai đoạn năng suất ổn định của Đắk Lắk, Đắk Nông và Ghana 3

Hình 31 So sánh năng suất ca cao của một số vùng trồng ca cao và một số nước trồng ca cao trên thế giới 3

Hình 32 So sánh chất lượng hạt ca cao của một số nước 3

Hình 33 Một số khó khăn gặp phải của hộ sản xuất ca cao 3

Hình 34 Kinh nghiệm trồng ca cao và cà phê của nông hộ tại Đắk Lắk 3

Hình 35 Kinh nghiệm trồng ca cao và cà phê của nông hộ tại Đắk Lắk 3

Hình 36 Cơ cấu giống ca cao đã được trồng tại Đắk Lắk 3

Hình 37.Cơ cấu giống ca cao đã được trồng tại Đắk Nông 3

Hình 38.Tỷ lệ cây ca cao chết sau trồng của các tỉnh trồng ca cao (%) 3

Hình 39 Thùng lên men 3 cấp của hộ nông dân 3

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Chất lượng hạt ca cao lên men của Việt nam so với một số nước trồng ca cao

lớn trên thế giới 3

Bảng 2 Một số đặc điểm về canh tác ca cao tại tỉnh Đắk Lắk 3

Bảng 3 Kế hoạch phát triển diện tích trồng mới ca cao đến năm 2015 phân theo huyện 3

Bảng 4 Chi phí bình quân 1 năm trong giai đoạn kiến thiết cơ bản trong canh tác ca cao tại Đắk Lắk 3

Bảng 5 Hiệu quả sản xuất ca cao của hộ thời kỳ kinh doanh 3

Bảng 6 Hiệu quả kinh doanh cho 1 tấn hạt ca cao của đại lý thu mua năm 2012 3

Bảng 7 Hiệu quả kinh doanh cho 1 tấn hạt ca cao của công ty cà phê ca cao năm 2012 (đối với sản phẩm ca cao theo tiêu chuẩn UTZ) 3

Bảng 8 Hiệu quả chế biến, kinh doanh cho 1 tấn hạt ca cao của công ty chế biến và xuất khẩu bột ca cao năm 2012 3

Bảng 9 Chi phí – lợi nhuận trên 1 tấn hạt ca cao trong chuỗi giá trị ca cao tỉnh Đắk Lắk 3

Bảng 10 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha ca cao trong 3 năm đầu kiến thiết cơ bản 3

Bảng 11 Hiệu quả sản xuất ca cao của hộ thời kỳ kinh doanh 3

Bảng 12 Chi phí – lợi nhuận của thương lái thu gom ca cao tại Đăk Nông 3

Bảng 13 Chi phí và lợi nhuận của đại lý thu mua ca cao tại Đăk Nông 3

Bảng 14 Chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong nước tính trên 1 tấn hạt ca cao khô, năm 2012 3

Bảng 15 Chi phí và lợi nhuận doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu ca cao tính trên 1 tấn hạt ca cao 3

Bảng 16 Chi phí – lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị ca cao tính trên 1 tấn hạt ca cao 3

Bảng 17 Thông tin về khí hậu và thời tiết ở một số vùng trồng ca cao chính tại Việt Nam 3

Bảng 18 Một số cây trồng cạnh tranh với ca cao tại 4 vùng sinh thái phù hợp 3

Trang 7

Bảng 19 Hiệu quả sản xuất ca cao so sánh với một số loại cây trồng chủ lực ở TâyNguyên 3Bảng 20 Tỷ lệ chi phí tài nguyên nội địa (DRC) và các hệ số bảo hộ danh nghĩa(NPC) và hệ số bảo hộ hữu dụng (EPC) 3Bảng 21 Diện tích, năng suất, sản lượng của hình thức sản xuất ca cao theo tiêu chuẩnUTZ tại Đắk Lắk và Đắk Nông 3Bảng 22 Tổng hợp kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hộ và thách thức đốivới việc phát triển ca cao tại Đắk Lắk và Đắk Nông 3

Trang 8

I GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết

Cây ca cao tên khoa học Theobroma cocoa có nghĩa là “Thực phẩm trời ban” (trongtiếng La tinh Theo có nghĩa là: trời, Broma: thức ăn), là cây hoang dại thân gỗ, được thổ dânsống ở lưu vực sông Amazon phát hiện tại vùng rừng nhiệt đới Nam Mỹ cách đây 2000 năm(Thời đại văn minh Aztec và Maya cổ đại), được thuần hóa trở thành cây nông nghiệp từ thế

kỷ XVI và trồng ở một số nước Nam Mỹ - Caribê, tiếp đó di thực sang trồng ở Châu Á đầuthế kỷ XVII, đến thế kỷ XIX trồng phổ biến ở Châu Phi Việt Nam bắt đầu trồng ca cao từđầu những năm 1950

Hạt ca cao qua chế biến không những được xem là thực phẩm bổ dưỡng cao cấp màcòn có tác dụng chữa trị các căn bệnh nguy hiểm của thời đại như: bệnh động mạch vành, ungthư và có tác dụng chống lão hoá nhờ có chất Flavonoids Do vậy nhu cầu tiêu dùng ca caongày một tăng nhất là các nước phát triển ở Châu Âu

Là một trong những nước có lợi thế so sánh tự nhiên trong phát triển ca cao, Việt Nam

có kế hoạch trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về trồng ca cao trên thế giới Cácvùng có ưu thế lớn nhất để trồng ca cao tại Việt Nam có thể kể tới những tỉnh Tây Nguyên,Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Cụ thể, từ năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệtQuyết định số 2678 / QĐ-BNN-KHvề quy hoạch tổng thể "phát triển ca cao đến năm 2015 vàđịnh hướng đến năm 2020" Quy hoạch tổng thể được thiết kế để đạt được mục tiêu 60 nghìn

ha ca cao trong khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ vào năm 2015

Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện, diện tích ca cao chỉ tăng lên đến 1,3 nghìn ha, trong đóchủ yếu là đạt được bằng cách nhận tài trợ từ các chương trình hỗ trợ Vì vậy, những lý dothất bại trong việc phát triển ngành ca cao tại Việt Nam là gì? Tại sao ca cao đã không thểphát triển đúng như kế hoạch ở Tây Nguyên nơi điều kiện tự nhiên thuận lợi? Hay ngành cacao thiếu tính cạnh tranh với các ngành hàng khác nên người nông dân không muốn pháttriển? Hay vấn đề nằm ở sự bất hợp lý trong tổ chức chuỗi giá trị ca cao của vùng? v.v Nếu

đó là những nguyên nhân gây nên sự chậm phát triển của ngành, giải pháp nào sẽ góp phần táicấu trúc cơ chế, thể chế và tạo ra động lực phát triển cho ngành ca cao Tây Nguyên phát triểnbền vững ?

Tỉnh Đắk Lắk đã ban hành chiến lược phát triển ca cao (Quyết định số HDND ngày 22/ 12/2011)với mục tiêu đạt 6.000 ha ca cao trồng và 3.000 tấn ca cao khô vàonăm 2015 Tuy nhiên, các hoạt động chi tiết để đạt được mục tiêu đó cho đến nay vẫn chưađược ban hành Để triển khai các hoạt động nhằm phát triển ngành, các câu hỏi sau cần đượctrả lời bằng những nghiên cứu trong thời gian tới:

40/2011/NQ Có thể đánh giá tiềm năng thị trường cho sản phẩm ca cao của Đắc Lắc nói riêng và ViệtNam nói chung?

Trang 9

- Có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của ca cao để thu hút người dân mở rộng diện tíchcanh tác trong vùng?

- Vai trò của phát triển cao cao trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của tỉnh?

- Làm thế nào để thu hút sự quan tâm đầu tư của các bên liên quan vào các hoạt động sảnxuất, chế biến, kinh doanh trong ngành ca cao?

- Làm thế nào để tổ chức chuỗi giá trị ca cao hiệu quả tại Đắk Lắc và trong toàn vùng?

- Những chính sách có thể tạo ra cơ hội cho phát triển ca cao tại Đắk Lắk là gì?

Trả lời những câu hỏi trên sẽ cung cấp các giải pháp cho lãnh đạo tỉnh trong việc phát triểnmột ngành ca cao bền vững ở Đắc Lắc So với Đắk Lắk, tình hình tương đối khác ở ĐắkNông, nơi không có chính sách hoặc chương trình phát triển nào được ban hành cho ca cao.Tuy nhiên, là một trong những tỉnh còn có tỷ lệ đói nghèo cao và có các điều kiện đặc thù củakhu vực vùng cao, lãnh đạo tỉnh rất quan tâm và coi phát triển ca cao là một trong những giảipháp nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo trong tương lai Vì vậy, để giúp tỉnh Đắk Nông đểphát triển ngành ca cao, nhiệm vụ quan trọng hiện nay là đề xuất chính sách phát triển củangành ca cao từ đó làm cơ sở cho phát triển các kế hoạch chi tiết đối với cây ca cao sau này

1.2 Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là đề xuất một chiến lược phát triển và cung cấpcác khuyến nghị chính sách nhằm phát triển ca cao bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo ởhai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông

Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, nghiên cứu cần giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu tổng quan thị trường và các chính sách quốc gia về phát triển ca cao ViệtNam

- Rà soát các chính sách và chiến lược liên quan đến phát triển ca cao hiện nay tại ĐắkLắk

- Đánh giá khả năng cạnh tranh của cây ca cao ở Đắk Lắk

- Đánh giá những tiềm năng phát triển ca cao ở Đắk Nông

- Gợi ý chính sách và đề xuất hoạt động nhằm thực hiện chiến lược phát triển ca caoĐắk Lắk và Đắk Nông

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập dữ liệu thứ cấp

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu có sẵn trong ngành ca cao bằng cáchliên hệ với các tổ chức trong nước và quốc tế để thu thập tài liệu, văn bản chính sách, cơ sở dữliệu và các nghiên cứu về ngành ca cao tại Việt Nam Nhóm nghiên cứu cũng sẽ thu thập dữ

Trang 10

liệu về ca cao tại Đắk Lắk và Đắk Nông thông qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đểthu

Thu thập dữ liệu sơ cấp

Để đạt được mục tiêu đã đề cập, khảo sát về định tính và định lượng với các bên liênquan đã được thực hiện Các phương pháp như thực hiện phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tậptrung, điều tra sử dụng bảng câu hỏi và nghiên cứu trường hợp điển hình đã được áp dụngnhằm thu thập các thông tin liên quan Khu vực được nghiên cứu của nhóm nghiên cứu baogồm các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, các cuộc phỏngvấn với các bên liên quan, thảo luận nhóm tập trung và điều tra theo bảng hỏi và được thựchiện ở hai huyện của mỗi tỉnh và hai xã sẽ được lựa chọn ở mỗi huyện Tại tỉnh Đắk Lắk,nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát đánh giá tại hai huyện Ea kar và Krông Anna – địabàn có diện tích trồng ca cao cao nhất và mức độ tập trung của việc trồng ca cao Tại tỉnh ĐắkNông, hai huyện có diện tích trồng ca cao cao nhất và có nhiều khả năng phát triển ca caotheo khuyến cáo của khuyến nông tỉnh là Đắk Mil, Krông Nô đã được lựa chọn để tiến hànhkhảo sát

Phỏng vấn sâu: đượcthựchiệnvới các đại diệncủa cộng đồng ca caovà các bên liên

quan: Đại diện các cơ quan quản lý nông nghiệp, đại diện các viện nghiên cứu, cáccôngtyxuấtkhẩu và sản xuấtca cao, khoảng 10-15 cán bộ địa phương, và 10-20nông dân trồng cacao.Các cuộc phỏng vấnsâuđược thực hiện thông qua việc sử dụng câu hỏi mởliênquanđếncácchủ đề như: sản xuất,công nghệ, thách thức, cơ hội, khả năng pháttriểntronghaitỉnhđượcnghiêncứunói riêng và trong khu vựcTây Nguyênnói chung

Thảo luận nhóm tập trung: được tiến hành để thu thập thông tin chung và để đánh giá

hiệu quả/tác động của việc phát triển ca cao trên cơ sở tham gia tự nguyện của các thành viêntrong nhóm Thảo luận nhóm tập trung được thực hiện cho các bên liên quan khác nhau trongngành ca cao Ở mỗi xã sẽ tiến hành hai cuộc thảo luận nhóm tập trung (có tổng số 16 cuộcthảo luận nhóm ở 8 xã) Tại mỗi xã tổ chức một cuộc thảo luận cho nông dân trồng ca cao vàmột cuộc thảo luận cho nông dân không trồng ca cao, mỗi nhóm gồm khoảng 6-10 người

Điều tra qua bảng hỏi: đối với các nhà sản xuất: Bảng câu hỏiđiều tranhằmthu thập

thông tinđịnh lượng vềtình trạng củacác hộ gia đình, năng lực sản xuất, chi phí sảnxuất, thunhậptheo các nguồn chính,…

Như đã đề cập ở trên, điều tra qua bảng hỏi được tiến hành ở bốn xã thuộc hai huyệncủa mỗi tỉnh; số của người phỏng vấn bao gồm 15 nông dân trồng ca cao cho mỗi xã Hơnnữa, 10 nông dân không trồng ca cao cũng đã được phỏng vấn ở từng xã để đánh giá tác độngđến các loại hộ gia đình khác nhau Tổng số hộ được phỏng vấn là 200 hộ

1.3.2 Phương pháp phân tích số liệu và tổng hợp thông tin

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp và phân tích dữliệu có sẵn về nguồn cung cấp, nhu cầu, tổ chức, giá cả thị trường, ca cao trên thế giới và

Trang 11

trong nước Ngoài ra các thông tin liên quan đến chương trình và chính sách phát triển cacao cả nước trong cũng đã được thu thập thông qua việc áp dụng phương pháp này.

- Phương pháp phân tích Chi phí - Lợi ích được áp dụng để so sánh hiệu quả kinh tế của cacao ở Đắk Lắk và Đắk Nông với các cây trồng khác có cùng điều kiện và khả năng pháttriển tại địa phương Phương pháp này sẽ giúp nhóm nghiên cứu đánh giá lợi thế cạnhtranh của ca cao và xây dựng kịch bản đánh giá lợi nhuận của ca cao tại địa phương

- Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng đối với cơ sở dữ liệu được khảo sát thực tế đểđánh giá ảnh hưởng của việc trồng ca cao đối với kinh tế hộ gia đình

- Phương pháp phân tích SWOT được áp dụng để đánh giá cả hai điểm mạnh và điểm yếucũng như những thách thức và cơ hội của nông dân trồng ca cao tại Đắk Lắk và ĐắkNông

- Phương pháp phân tích chuỗi giá trị: Một chuỗi giá trị được định nghĩa là toàn bộ các hoạtđộng cần thiết để có một sản phẩm hoặc dịch vụ từ khâu khái niệm cho đến khâu xử lý rácthải sau khi sử dụng, thông qua giai đoạn trung gian bao gồm chế biến, sản xuất và giaohàng cho người tiêu dùng cuối cùng Tiếp cận chuỗi giá trị tập trung vào sự tương tác củacác tác nhân song hành cùng từng bước của hệ thống sản xuất (từ nhà sản xuất thô cho đếnngười tiêu dùng) cũng như các mối liên kết trong mỗi nhóm các tác nhân Phương pháptiếp cận này, như vậy, xem xét quan hệ buôn bán như là một phần của các mạng lưới cácnhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, nhà chế biến và các nhà bán lẻ Trong mạnglưới này, kiến thức và các mối quan hệ buôn bán được phát triển để kết nối đến thị trường

và các nhà cung cấp Sự thành công của các bên liên quan trong việc gia tăng giá trị sảnxuất của họ nằm ở khả năng của họ có thể tham gia vào các mạng lưới này

- Phương pháp ước lượng và phân tích định lượng sẽ được áp dụng để đánh giá hiệu quảkinh tế của sản xuất ca cao và ảnh hưởng xã hội của phát triển ca cao thông qua công cụphân tích kinh tế trong chuỗi giá trị Thông tin định lượng được thu thập thông qua điềutra và ước tính của các chuyên gia sẽ được sử dụng để phân tích hiệu quả sản xuất ca caocủa hộ, GTGT của ngành hàng ca cao hai tỉnh, việc phân chia lợi ích giữa các tác nhântham gia chuỗi, đánh giá khả năng cạnh tranh của ca cao tỉnh Đắk Lắk về mặt kinh tế vàtiềm năng phát triển ca cao tại tỉnh Đắk Nông Xác định phương thức sản xuất hiệu quả từcác yếu tố đầu vào giới hạn (đất đai, vốn, lao động ) cho ngành ca cao Đắk Lắk và ĐắkNông

II THỊ TRƯỜNG CA CAO THẾ GIỚI

2.1 Tình hình cung ca cao

Châu Phi luôn dẫn đầu về cung cấp sản lượng ca cao hạt trên thị trường thế giới Tuynhiên, tỷ trọng sản lượng ca cao hạt trên thị trường thế giới của châu Phi đang có xu hướnggiảm nhẹ, từ 71,8% năm 2007/2008 xuống 69,8% 2008/2009, 68,0% năm 2009/2010 ước tínhkhoảng 71,3% năm 2011/2012 Bờ Biển Ngà là một trong 4 nước có sản lượng ca cao lớn

Trang 12

tấn Cacao thế giới sản xuất năm 2010/2011, Bờ Biển Ngà và Ghana chiếm 59 %, biến độngsản lượng hàng năm ở hai quốc gia này vào khoảng +/- 13 - 15% trong ba niên vụ gần đâynhất.

Hai châu lục (châu Á và châu Đại Dương) cũng có vai trò khá quan trọng trong việccung cấp ca cao hạt trên thị trường thế giới và tỷ trọng ca cao hạt trên thị trường thế giới của

cả hai châu lục có xu hướng tăng lên từ 15,8% (năm 2007/2008) lên 17,5% (năm 2009/2010)nhưng sau đó sản lượng này lại giảm chỉ chiếm 12,2% lượng ca cao trên thế giới năm2010/2011 và dự kiến sẽ tăng nhẹ lên 13% vào niên vụ năm 2011/2012 Indonesia và PapuaNew Guinea là hai nước quan trọng về cung cấp ca cao hạt của châu Á và châu Đại Dương

Đứng ở vị trí thứ ba về cung cấp ca cao hạt trên thị trường thế giới sau châu Á và châuĐại Dương là châu Mỹ Vị thế về cung cấp ca cao hạt trên thị trường thế giới của châu Mỹđang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, cụ thể tỷ trọng ca cao hạt của châu Mỹtrên thị trường thế giới là 12,5% vào năm 2007/2008, tăng lên 13,5% vào năm 2008/2009, đạt14,4% vào năm 2009/2010 và dự kiến sẽ tăng lên 15.7% năm 2011/2012 Sản lượng ca caohạt của châu Mỹ được cung cấp chủ yếu bởi hai nước Brazil (chiếm khoảng 35,6% tổng sảnlượng ca cao hạt của châu Mỹ năm 2010/2011) và Ecuador (chiếm khoảng 28,75% tổng sảnlượng ca cao hạt của châu Mỹ năm 2010/2011)

Hình 1 Tỷ trọng sản lượng ca cao trên thế giới qua các năm

Nguồn: ICCO, 2013

Trang 13

Hình 2 Sản lượng ca cao của một số nước sản xuất ca cao chính trên thế giới giai đoạn

Trang 14

đó sản lượng ca cao hạt của châu Á và châu Đại Dương là ít biến động nhất trung bình chỉtăng 1,5% và tỷ trọng giảm từ 17% xuống còn khoảng 13% trong tổng sản lượng ca co hạtđược sản xuất trên thế giới

Hình 4 Diện tích và sản lượng ca cao của Bờ Biển Ngà giai đoạn 2000 – 2011

Nguồn: ICCO, 2013

Hình 5 Diện tích và sản lượng ca cao của Gana giai đoạn 2000 – 2011

Nguồn: ICCO, 2013

Trang 15

Hình 6 Diện tích và sản lượng ca cao của Indonesia giai đoạn 2000 – 2011

Nguồn: ICCO, 2013

Những năm gần đây, sản xuất ca cao có phần biến động bấp bênh, tính chất bấp bênhđược quy cho sự bất ổn chính trị (Châu Phi), sự lão hoá gen của Cacao ở các đồn điền Cacao(Indonesia), thiếu hụt lao động và lợi thế cạnh tranh với loại cây trồng khác (Malaysia) Sựthâm hụt sản lượng còn thể hiện ở tỉ lệ giữa cung nguyên liệu và chế biến toàn cầu chỉ đápứng ở mức 49,6% ( 2006 - 2007) Thêm vào đó, sản xuất ca cao chịu ảnh hưởng mạnh bởiđiều kiện thời tiết Trong niên vụ 2010/2011 thời tiết khá thuận lợi cho ca cao phát triển vàthu hoạch ở Châu Phi khiến sản lượng ca cao ở đây đạt cao nhất từ trước tới nay Trong khi

đó tại một số nước châu Á mà cụ thể là Indonesia mưa lớn đã làm ảnh hưởng tới năng suất cacao khiến cho sản lượng ca cao thu hoạch bị giảm so với những năm trước đây Ở châu Mỹ Latinh, năng suất ca cao được ước lượng tại các trang trại mới là khá cao, đặc biệt đối với giống

ca cao CCN-51 ở Ecuador đã làm tăng sản lượng Ngược lại, việc thiếu đầu tư kết hợp vớiviệc sử dụng ít phân bón cũng như nấm bệnh xảy ra tại các trang trại đã ảnh hưởng tiêu cựctới sản lượng ca cao của một số nước Sâu bệnh là những cản trở chính đối với sự phát triển

ca cao một cách bền vững vì nó chiểm tới 40% trong tổng sản lượng ca cao bị thiệt hại hàngnăm trên thế giới

2.2 Chế biến, tiêu dùng

Chế biến

Sau khi thu hoạch, trái ca cao được tách vỏ để lấy hạt và sau đó hạt ca cao phải trảiqua giai đoạn (lên men) Sơ chế hạt ca cao có vai trò quan trọng, bởi đây là công đoạn có ýnghĩa quyết định chất lượng sản phẩm là hạt ca cao khô ủ lên men Sau khi lên men, hạt cacao được phơi khô, phân loại và đóng gói cẩn thận để vận chuyển tới các nhà máy chế biến –

Trang 16

phần lớn tập trung ở châu Âu và khu vực Bắc Mỹ Ở đây hạt ca cao được chế biến thành cácsản phẩm từ ca cao như bột ca cao, nước ca cao, sô cô la,… Quy trình chế biến các sản phẩm

từ hạt ca cao là một quy trình gồm nhiều công đoạn với các hoạt động chế biến phức tạp vàđòi hỏi kỹ thuật cao

Nước thải và vỏ

Làm sạch

Bỏ vỏ Sàng lọc Chất kiềm (không bắt buộc) Rang

Nghiền và tinh chế để sản xuất đại trà hoặc dung dịch

Dung dịch làm

Sô-cô-la Dung dịch cho chế biến

Hạt ca cao lên men và hạt ca cao khô

ủ nhiệt

Đường

Sữa (không bắt buộc) Làm mát

Nghiền bánh Sàng lọc

Bột ca cao

Đóng gói

Bảo quản

Khử mùi Làm mát Đóng gói Hoặc Bảo quản Vận chuyển

Sô-cô-la lỏng hoặc phủ ngoài (lớp sô-cô-la bọc ngoài kem)

Những sản phẩm cô-la nửa tinh chế

Những sản phẩm cô-la hoàn thiện

sô-Bảo quản dạng lỏng

Đúc khuôn Đóng gói

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Công ty bánh kẹo và ngành khác

Hình 7 Quá trình chế biến các sản phẩm từ hạt ca cao

Nguồn: ICCO

Trang 17

Tiêu dùng

Ca cao nghiền

Thông thường, tổng lượng ca cao bột (ca cao được nghiền) được sử dụng để đánh giánhu cầu ca cao của toàn cầu bởi các nhà chế biến ca cao thường theo hướng chế biến sảnlượng ca cao phù hợp với nhu cầu về các sản phẩm từ ca cao (nước cốt, bơ ca cao, bánh cacao, bột ca cao)

Sản lượng cầu ca cao trên thế giới không ngừng ra tăng trong suốt 3 thập kỷ qua từ 1,5triệu tấn niên vụ 1980/1981 lên gần 3,7 triệu tấn vào niên vụ 2009/2010 – tốc độ tăng trưởngbình quân là 1,95%/năm

Hình 8 Sản lượng ca cao nghiền giai đoạn 1980/81 - 2009/2010 (ngàn tấn)

Nguồn: ICCO, 2010

Châu Âu luôn giữ vai trò là khu vực chế biến ca cao lớn nhất từ trước tới nay Lượng

ca cao được nghiền ở Châu Âu đã tăng khoảng 277.000 tấn trong giai đoạn 2002/2003 –2011/2012 tương đương tốc độ tăng trưởng hàng năm vào mức 2,1% Tuy nhiên khoảng cách

về tốc độ tăng trưởng này thấp hơn bình quân của thế giới (ước tính tăng trưởng lượng ca caođược nghiền của thế giới là 2,9%/năm) Tỷ trọng ca cao nghiền của Châu Âu có xu hướnggiảm trong 10 năm trở lại đây (từ 43% năm 2002/2003 xuống 40% năm 2011/2012) Tương

tự, chế biến ca cao tại khu vực châu Mỹ cũng gia tăng bình quân 0,5%/năm nhưng tỷ trọngcũng có xu hướng giảm từ 26% năm 2002/2003 xuống 21% năm 2011/2012 Trong khi đó,sản lượng ca cao được nghiền tại khu vực châu Phi lại gia tăng với tốc độ bình quân là5,7%/năm và tỷ trọng của khu vực này dự kiến tăng từ 14% năm 2002/2003 lên 18% năm2011/2012 Với tốc độ gia tăng ở mức 5,6% năm, châu Á và Châu Đại Dương là khu vực có

Trang 18

khối lượng ca cao được nghiền tăng lớn nhất vào khoảng 314.000 tấn, trong đó chủ yếu là doviệc gia tăng việc nghiền ca cao đều đặn hàng năm ở hai nước Indonesia và Malaysia Tỷtrọng ca cao nghiền của khu vực này dự kiến tăng từ 16% năm 2002/2003 lên 20% năm2011/2012

Hình 9 Sản lượng ca cao nghiền của một số nước chính trên thế giới giai đoạn 2007

-2012

Nguồn: ICCO, 2010

Mặc dù ca cao được sản xuất rộng rãi ở các nước đang phát triển nhưng nó lại đượctiêu thụ chủ yếu ở các nước công nghiệp Đối với sản phẩm ca cao, những nhà thu mua ở cácnước tiêu thụ là các nhà chế biến và các nhà sản xuất sô cô la Bốn quốc gia hàng đầu thế giới

về chế biến ca cao bao gồm Hà Lan, Đức, Mỹ, Bờ Biển Ngà với sản lượng ca cao được chếbiến năm 2010/2011 lần lượt là 537,0; 438,0; 401,3; 360,9 nghìn tấn Tiếp theo là Malaysia,Brazil, Ghana, Indonesia với sản lượng ước tính tương ứng là 305,2; 239,1; 229,7; 190,0nghìn tấn

Đối với tiêu thụ hạt ca cao, năm 2007/2008, nhu cầu tiêu dùng ca cao ở mức cao nhấtvới 3.749 nghìn tấn Do suy thoái kinh tế, năm 2008/2009 nhu cầu tiêu dùng ca cao giảmxuống còn 3.491 nghìn tấn (giảm 6,9% so với năm 2007/2008) Sau đó, do tình hình kinh tếthế giới cải thiện và sự gia tăng tiêu dùng sô cô la đã làm cho nhu cầu ca cao tăng trở lại vàonăm 2009/2010 đạt mức 3.659 nghìn tấn (tăng 4,8% so với năm 2008/2009)

Trang 19

Hình 10 Cơ cấu tiêu thụ ca cao trên thế giới giai đoạn 2007 – 2010

Nguồn: ICCO, 2010

Thị trường tiêu thụ ca cao châu Âu có sự giảm nhẹ trong giai đoạn 2007 – 2010, tỷtrọng ca cao được tiêu thụ ở thị trường châu Âu dao động từ 41,4% năm 2007/2008 xuống41,0% vào năm 2009/2010 Tuy nhiên, sản lượng ca cao hạt được tiêu thụ ở thị trường châu

Âu lại có xu hướng biến động cùng chiều với sản lượng ca cao hạt được tiêu thụ trường thếgiới trong giai đoạn 2007 – 2010, mức ca cao hạt được tiêu thụ ở châu Âu giảm khoảng 105ngàn tấn, từ 1.551 nghìn tấn vào năm 2007/2008 xuống còn 1.446 ngàn tấn vào năm2008/2009, lượng ca cao hạt được tiêu thụ ở thị trường châu Âu đã hồi phục dần sau đó và đạtkhoảng 1.499 ngàn tấn vào năm 2009/2010 Hà Lan và Đức là hai thị trường chính về tiêu thụ

ca cao hạt ở châu Âu (hình 9)

Tương tự, do chịu sự tác động của suy thoái kinh tế nên sản lượng ca cao hạt được tiêuthụ ở châu Mỹ, châu Á và châu Đại Dương cũng có sự giảm nhẹ trong giai đoạn 2007/2008 –2008/2009 và sau đó có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2008/2009 – 2009/2010 Ngượclại, nhu cầu tiêu thụ ca cao hạt lại có xu hướng tăng lên ở các châu Phi trong giai đoạn 2007 -

2010, tăng từ 564 nghìn tấn vào năm 2007/2008 (chiếm khoảng 15% tổng sản lượng ca caohạt được tiêu thụ trên thị trường thế giới năm 2007/2008) lên 660 ngàn tấn vào năm2009/2010 (chiếm khoảng 18,0% tổng sản lượng ca cao hạt được tiêu thụ trên thị trường thếgiới năm 2009/2010) hình 9

Trang 20

Hình 11 Tiêu thụ hạt ca cao của thế giới và một số nước tiêu thụ chính giai đoạn 2007 –

Hình 12 Sản lượng, nghiền và thặng dư/thâm hụt hạt ca cao trên thế giới qua các năm

Nguồn: ICCO, 2013

Trang 21

Năm 2011/2012, khối lượng ca cao dự trữ cuối vụ trên thế giới là 1.732 nghìn tấn tăng

338 nghìn tấn so với năm 2002/2003 Tính đến 30/09/2009, có khoảng 72% khối lượng ca caohạt được dự trữ tại các nước nhập khẩu; 25% khối lượng ca cao hạt được dự trữ tại các nướcxuất khẩu và 3% đang lưu thông trên thị trường Những kho dự trữ tập trung có ở một vàinước, trong đó 56% lượng ca cao dự trữ được lưu kho ở Châu Âu và 49% ở các nước chủ yếunhư Hà Lan, Bỉ, Đức và Anh – các ngành công nghiệp chế biến ca cao hàng đầu Tây Âu Tuynhiên, thị phần dự trữ ca cao toàn cầu ở các nước sản xuất đã tăng từ 20% (vào thời điểm30/09/2008) lên 25% (30/09/2009) Điều này được giải thích bởi tăng khả năng chế biến cacao nghiền bột tại nơi sản xuất (ICCO, 2010)

2.4 Thương mại

Xuất khẩu

Khối lượng ca cao hạt xuất khẩu trên thế giới năm 2010 đạt khoảng 2.641 nghìn tấn,tương ứng với tổng kim ngạch xuất khẩu ca cao hạt của thế giới khoảng 8 tỷ và mức giá xuấtkhẩu trung bình là 3.025 USD/tấn Trong đó, tổng khối lượng xuất khẩu ca cao hạt của 10nước trên thế giới đạt 2.431 ngàn tấn, chiếm khoảng 92,05% tổng sản lượng ca cao hạt xuấtkhẩu trên thế giới năm 2010

Ngoài ra, đối với trường hợp Brazil là một nhà sản xuất chính nhưng lại không phải lànước xuất khẩu lớn do quy mô của ngành công nghiệp chế biến chỉ giải quyết sản lượng trongnước (Agrifood Consulting International, 2008)

Hình 13 Cơ cấu về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu ca cao trên thế giới năm 2010

Nguồn: FAOSTAT

Trang 22

Tổng khối lượng nhập khẩu ca cao hạt trên thế giới năm 2010 là 2.835 nghìn tấn,tương ứng với mức kim ngạch nhập khẩu ca cao hạt khoảng 9 tỷ USD và mức giá nhập khẩubình quân là 3.260 USD/tấn Trong đó, tổng sản lượng ca cao nhập khẩu của mười nước trênthế giới lên tới 2.403 nghìn tấn, chiếm khoảng 84,76% tổng sản lượng nhập khẩu ca cao hạttrên thế giới năm 2010 (Hình 13).

Hình 14 Cơ cấu về khối lượng và kim ngạch nhập khẩu ca cao trên thế giới năm 2010

Trang 23

Hình 15 Cơ cấu xuất khẩu hạt ca cao theo vùng năm 2010

Hình 16 Sản lượng dư thừa/ thiếu hụt và giá hạt ca cao thế giới giai đoạn 2002-2012

Nguồn: ICCO - The world cocoa economy: past and present, 2010

Trang 24

Từ 2002/2003 – 2003/2004, giá ca cao thế giới giảm và giá ca cao tại cổng trại ở hầuhết các nước sản xuất ca cao chính cũng giảm theo Việc giá thị trường giảm đã ảnh hưởngxấu tới sản xuất ca cao như nông dân đã cắt giảm đầu vào và mức độ chăm sóc để làm giảmchi phí sản xuất do đó làm giảm năng xuất bình quân và sản lượng ca cao Những năm2004/2005 và 2006/2007 giá ca cao ở hầu hết các nước sản xuất tương đối ổn định sau đótăng dần từ năm 2006/2007 đến năm 2008/2009 Sự khôi phục của giá ca cao thế giới và việctăng giá cổng trại đã có tác động tích cực đến việc chăm sóc các vườn ca cao của các hộ giađình đã làm tăng sản lượng ca cao thế giới lên 4,3 triệu tấn năm 2010/2011 Điều này cho thấyviệc thâm canh chăm sóc các vườn ca cao của người sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào giá tiêuthụ ca cao trên thị trường thế giới vì nó tác động mạnh mẽ tới năng lực tài chính của hộ sảnxuất để đầu tư cải thiện năng suất.

Tóm lại, kết quả phân tích về sản xuất, chế biến và tiêu dùng ca cao trên thế giới chothấy, trong khi sản xuất tập trung ở các nước đang phát triển thì tiêu dùng ca cao lại chủ yếutập trung tại các nước phát triển Do đó, việc xuất khẩu ca cao một mặt cũng mang lại nhiềulợi ích về kinh tế cho các nước sản xuất, mặt khác cũng đặt ra những rủi ro cho các nước sảnxuất Cụ thể việc phát triển ca cao tại các nước sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố tiêuthụ ở nước ngoài Thêm vào đó, tiêu dùng ca cao trên thế giới trong những năm gần đây mặc

dù có tăng nhưng với tốc độ chậm và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố phát triển kinh tế tại cácnước phát triển, đặc biệt là khu vực châu Âu Đây cũng chính là một trong những yếu tố làmgiảm tính bền vững của việc đầu tư phát triển ca cao, đặc biệt là những vùng còn khó khăn.Hơn nữa, ca cao là cây trồng chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên cũng như mẫn cảmvới các loại sâu bệnh, đòi hỏi trình độ kỹ thuật chăm sóc và vốn đầu tư

III Phát triển ca cao tại Việt Nam

3.1 Tình hình sản xuất

Về thực tế sản xuất, theo báo cáo của Cục Trồng trọt năm 2012, tổng diện tích ca caocủa cả nước 2011 đạt khoảng 20.100 ha, trong đó diện tích trồng thuần khoảng 2.300 ha vàdiện tích trồng xen khoảng 17.800 ha (tương ứng với mức diện tích trồng thuần được quy đổi

là 11.200 ha) trong đó có khoảng 7.000 ha cacao đang cho thu hoạch, với năng suất bìnhquân 0,75 tấn hạt khô/ha Về sản lượng, cuối năm 2005, cả nước có khoảng 35 tấn hạt và đếnhết năm 2010, sản lượng cacao Việt Nam ước đạt 2.500 tấn hạt khô/năm Như vậy, về diệntích trồng cacao tại Việt Nam đã được mở rộng 4 lần giai đoạn 2005 - 2010, trong khi đó sảnlượng cacao tăng hơn 70 lần

Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng ca cao lớn nhất trong cả nước, với tổng diện tích cacao toàn tỉnh lên tới 9.008 ha (chiếm khoảng 44,82% tổng diện tích ca cao của cả nước), tiếpđến là Đăk Lăk với tổng diện tích ca cao khoảng 2.303 ha (chiếm khoảng 11,46% tổng diệntích ca cao trong cả nước), Bình Phước là tỉnh có diện tích ca cao đứng ở vị thứ ba (khoảng1.300 ha, chiếm khoảng 6,47% tổng diện tích ca cao trong cả nước) Ngoài ra, một số tỉnhkhác cũng có diện tích trồng ca cao khá lớn như Đồng Nai, Vĩnh Long, Tiền Giang và ĐắkNông

Trang 25

Hình 17 Diện tích ca cao của một số tỉnh trồng chính năm 2011 (ha)

Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê các tỉnh, 2012

Việc phát triển diện tích ca cao trồng mới ở các địa phương vẫn còn gặp nhiều khókhăn do tư tưởng còn lo ngại cây trồng mới; một số nơi chăm sóc ca cao không tốt dẫn đếnnăng suất không cao, hiệu quả kinh tế thấp, cạnh tranh cây trồng, đã có hiện tượng một số nơinông dân đốn bỏ ca cao để thay thế bằng các loại cây trồng khác như cao su, hồ tiêu, cây ănquả (Lâm Đồng, Bình Phước) Cũng theo Cục Trồng trọt, thực tế sản xuất tại các địa phương

tỷ lệ diện tích trồng ca cao được đầu tư chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật không nhiều (chiếmkhoảng 20%), còn lại là chăm sóc cầm chừng, khả năng đến đâu thị chăm sóc đến đó hoặcchăm sóc không đúng kỹ thuật, một số ít không chăm sóc Bên cạnh đó vấn đề kiểm soát chấtlượng giống còn hạn chế nên nhiều nơi sản xuất cây đầu dòng hoặc từ vườn đầu dòng đủ tiêuchuẩn, không kiểm soát được các dòng ca cao được sản xuất ra

Việc phát triển hình thức liên kết sản xuất còn yếu Việc triển khai dự án SuccessAlliance đã góp phần thành lập nhiều câu lạc bộ ca cao ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, BìnhPhước, Bà Rịa Vũng Tàu, Đắk Lắk, Lâm Đồng và đã có tác động tích cực đối với việc chuyểngiao khoa học kỹ thuật về sản xuất và lên men, tiêu thụ sản phẩm, phát triển một số hình thứcliên kết giữa doanh nghiệp tiêu thụ với người trồng Tuy nhiên sau khi dự án này kết thúc, cáchoạt động trên đã bị đình trệ Tại các tỉnh khác cũng không tổ chức được hình thức liên kếtnào có hiệu quả, sản xuất và tiêu thụ ca cao gặp nhiều khó khăn

Mặc dù có sự phát triển nhanh chóng trong những năm qua nhưng ngành sản xuất cacao Việt Nam vẫn ở giai đoạn sơ khai, sản lượng còn thấp so với tiềm năng, chủ yếu là nhờnguồn đầu tư của nhà tài trợ và doanh nghiệp nước ngoài

Trang 26

3.2 Chất lượng hạt ca cao

Hiện tại, gần 100% hạt ca cao của Việt Nam đẵ được người dân, cơ sở, doanh nghiệpchế biến theo phương pháp lên men hạt Do đó chất lượng đã được các khách hàng đánh giácao cả thị trường trong và ngoài nước Về chỉ tiêu cảm quan hạt ca cao khô lên men của ViệtNam có hương vị ca cao khá, vị đắng và vị chát trung bình, vị chua hơi cao Một số mẫu cònchứa những hương vị trái cây, hương hoa hấp dẫn

Theo kết quả báo cáo rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển ca cao các tỉnh phíaNam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,2008) đã chỉ ra rằng, hạt ca cao ủ lên men xuất khẩu của các tỉnh phía Nam đạt cao hơnTCVN và của Indonesia, chỉ thua kém hạt ca cao tốt nhất thế giới là Ghana về độ dày vỏ hạt,

tỉ lệ axit béo tự do và độ chua

Bên cạnh những ưu điểm trên thì hiện vẫn còn một số lượng hạt ca cao do khi thuhoạch có tỷ lệ trái xanh cao, giống không rõ nguồn gốc, chế biến không đúng quy trình, phơisấy không đúng cách nên cho chất lượng kém Tuy nhiên, các hạn chế trên trong chất lượnghạt ca cao Việt nam có thể được khắc phục khi áp dụng đúng quy trình kỹ thuật canh tác và ủlên men

Bảng 1 Chất lượng hạt ca cao lên men của Việt nam so với một số nước trồng ca cao lớn trên thế giới

Các nước Việt

Nam

nesia

Trang 27

3.3 Thu mua, chế biến ca cao

Mạng lưới thu mua hạt ca cao đã hình thành và đi vào hoạt động bắt đầu từ năm 2004đến tháng 9 năm 2008 có 3 Công ty 100% vốn nước ngoài hoạt động thu mua hạt ca cao xuấtkhẩu là ED&FMan, Cargill, Armajaro với 5 trạm thu mua cấp 1 được tổ chức theo hệ thống:Trạm cấp 1 (5 trạm)  trạm cấp 2 (22 trạm), điểm thu mua cấp 3 (150 điểm) và còn có hộcũng tham gia mạng lưới thu mua ca cao tại các tỉnh có diện tích ca cao kinh doanh (tổngcộng 243 điểm) ở 6 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, BếnTre (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008)

Phương thức hoạt động tại trạm và điểm thu mua thuộc Công ty Cargill và ED&FMan

là khá năng động, minh bạch, kịp thời, giá mua được thông tin công khai chính xác theo ngàytrên Internet hoặc Email, tin nhắn trên mạng Mobilephone, đặc biệt Công ty Cargill còn hỗ trợnông dân trồng ca cao về giống, xây dựng mô hình trình diễn, phân bón, tập huấn kỹ thuật -tạo sự kết nối giữa sản xuất và thu mua - xuất khẩu ca cao

Về sản lượng thu mua và chế biến xuất khẩu, khoảng 80% sản lượng ca cao của ViệtNam được Công ty Cargill Việt Nam mua, chế biến và xuất khẩu, số còn lại được các công tykhác thu mua

Đối với việc chế biến ca cao, trước đây để phục vụ cho việc phát triển ca cao nhà máychế biến hạt ca cao đặt tại TP Quảng Ngãi đã được xây dựng năm 2002 với công suất thiếtkế: sản phẩm chocolate 450 tấn/năm và sản phẩm bột ca cao 225 tấn/năm, vốn đầu tư hơn 10

tỷ đồng, thiết bị nhập từ Malaysia, nhưng đã ngừng hoạt động, đóng cửa, thanh lý năm 2003

do hoạt động kém hiệu quả Cho tới nay Việt Nam chưa có một nhà máy nào chuyên về chếbiến các sản phẩm từ ca cao lớn mà chỉ có một số cơ sở chế biến nhỏ chủ yếu là nghiền bột cacao Nói chung, Việt Nam mới dừng lại ở các sản phẩm thô, cung cấp nguyên liệu cho cáccông ty xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài Cụ thể là các doanh nghiệp Việt nam và côngđoạn chế biến ở Việt nam chỉ dừng lại ở việc lên men và cung cấp hạt cho các công ty xuấtkhẩu có vốn đầu tư nước ngoài để xuất khẩu hạt ca cao đã lên men cho các công ty chế biên ởnước ngoài Trên thực tế các công ty kinh doanh của Việt nam thực tế chỉ dừng lại với vai trò

là các trạm thu mua cho các công ty xuất khẩu ca cao có vốn đầu tư nước ngoài mà cụ thể là 3công ty lớn kể trên

3.4 Thương mại ca cao Việt Nam

Xuất khẩu

Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việt nam ra thịtrường thế giới đang có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn 2006 – 2010, tăng từ 708 nghìnUSD năm 2006 lên 8.199 USD vào năm 2010

Trang 28

Hình 18 Kim ngạch xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việt Nam theo

quốc gia giai đoạn 2007 – 2011

Nguồn: UN COMTRADE statistics, 2012

Giá trị xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việt nam sang các nước nhưMalaysia, Campuchia, Mỹ, Thái Lan, Hà Lan, Nhật Bản, Ả Rập đang có xu hướng tăng lên.Đặc biệt, giá trị nhập khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Malaysia và Campuchia từViệt Nam tăng nhanh từ 24 nghìn USD và 34 nghìn USD vào năm 2007 lên gần 4.000 nghìnUSD và trên 3.000 USD vào năm 2011

Theo đánh giá của Ban điều phối và phát triển cây ca-cao (VCC), Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Việt nam tại Phiên họp thường niên lần thứ nhất năm 2010 thì cây ca-caocủa Việt nam đang có nhiều thuận lợi để mở rộng diện tích và nâng cao sản lượng, cũng nhưkim ngạch xuất khẩu Đặc biệt trong những năm gần đây, một số các nhà máy chế biến ca-caotại khu vực Đông Nam Á đi vào hoạt động và đang có nhu cầu cao về nguyên liệu nên đây lạitrở thành các thị trường xuất khẩu chính và chiếm tỷ trọng khá cao và ngày càng tăng của cacao Việt nam Cụ thể hai thị trường nhập khẩu ca cao của Việt nam chiếm tỷ trọng về giá trịxuất khẩu cao trong hai năm gần đây là Malaysia và Campuchia Trong khi đó giá trị xuấtkhẩu ca cao của Việt nam xuất sang Hà Lan giảm mạnh trong năm 2010 (từ 1.788 ngàn USDnăm 2009 xuống còn 468 ngàn USD) Việt nam chủ yếu xuất khẩu ca cao hạt đi các nước vớigiá trị xuất khẩu chiếm khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu ca cao năm 2010 (Bảng 12) Số

Trang 29

liệu xuất khẩu hạt ca cao của Việt nam từ năm 2005 – 2010 cho thấy, ngành xuất khẩu mặthàng này không chỉ tăng nhanh về sản lượng mà giá cả cũng đang có xu hướng tăng lên, đặcbiệt là giai đoạn 2007 – 2009 Do đó đã góp phần tăng giá trị xuất khẩu ca cao của Việt nam.Hiện nay nhu cầu hạt ca cao trên thế giới rất lớn Sản phẩm ca cao có nhiều giá trị không chỉđược xem là thực phẩm bổ dưỡng cao cấp mà còn có tác dụng chữa bệnh, cần thiết cho sứckhỏe con người Hiện tại, có 80 quốc gia trên thế giới nhập khẩu ca cao, đây chính là cơ hộicho việc phát triển diện tích trồng ca cao thương phẩm nói chung và ngành xuất khẩu ca caocủa Việt nam nói riêng Tuy nhiên, Việt nam mới dừng lại ở việc xuất khẩu hạt ca cao cho cácnhà máy chế biến ở nước ngoài mà chưa có các sản phẩm chế biến từ ca cao Điều này chứng

tỏ ngành công nghiệp chế biến sản phẩm ca cao ở Việt nam còn rất kém phát triển

Nhập khẩu

Hình 19 Khối lượng và kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm ca cao của Việt Nam giai

đoạn 2000 – 2011

Nguồn: UN COMTRADE statistics, 2012

Bên cạnh việc gia tăng về giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu ca cao của Việt namcũng không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, cụ thể giá trị nhập khẩu ca cao của ViệtNam năm 2011 đã gấp 13 lần so với năm 2000 Tuy nhiên sản phẩm nhập khẩu ca cao củaViệt nam chủ yếu là các sản phẩm đã qua chế biến Trong giai đoạn 2006 – 2010, 9 quốc giachuyên cung cấp ca cao và các sản phẩm từ ca cao cho Việt nam gồm: Malaysia, Thái lan,Singapore, Trung quốc, Hà lan, Bỉ, Indonesia, Mỹ và Nhật Bản Tỷ trọng giá trị xuất khẩu cacao và các sản phẩm từ ca cao cho Việt nam của 9 quốc gia trên đạt khoảng 88,72% trong giaiđoạn 2006 – 2010, và khoảng 90,1% trong năm 2010 Điều này cho thấy, Việt nam đang có

xu hướng tăng giá trị nhập khẩu các sản phẩm ca cao và các sản phẩm từ ca cao ở các nước

Trang 30

này, đặc biệt là những nước như Malaysia, Thái lan, Hà lan, Bỉ và Nhật Bản Trong đó,Malaysia luôn là nước đứng đầu về giá trị xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao choViệt nam Hơn nữa, tỷ trọng về giá trị xuất khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việtnam từ Malaysia cũng đang có xu hướng tăng lên, từ 23,73% vào năm 2006 lên 38,38% vàonăm 2010 Năm 2010, giá trị nhập khẩu ca cao và các sản phẩm từ ca cao của Việt nam từ cácnước Thái lan, Hà lan và Malaysia đang có xu hướng tăng lên so với năm trước đó, với tốc độtăng về giá trị nhập khẩu của 2010 so với năm 2009 của ba nước tương ứng là 125%, 88,33%

và 77,69%

3.5 Chính sách phát triển ca cao của Việt Nam

Chính sách quy hoạch vùng sản xuất

Đến cuối năm 2007, chỉ có khoảng 10% chỉ tiêu về diện tích canh tác ca cao đạt được,

và chủ yếu là do những đóng góp của dự án do nước ngoài tài trợ (Dự án Success Alliance),chứ chưa phải là kết quả từ những chương trình và đầu tư từ phía nhà nước Trong quyết định

số 2678/2007/QĐ-BNN-KH năm 2007 của Bộ NN&PTNT về việc phê duyệt đề án “Pháttriển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng đến 2020”, có hai mốc được vạch ra cho ngành

ca cao Việt Nam: i) tới năm 2015, diện tích canh tác ca cao sẽ đạt 60.000 ha, trong đó 35.000

ha cho thu hoạch với năng suất trung bình đạt 1,5 tấn/ha và tổng sản lượng là 52.000 tấn hạt câco khô, tương ứng với giá trị xuất khẩu từ 50 – 60 triệu USD; ii) Tới năm 2020, diện tíchcanh tác ca cao sẽ đạt 80.000 ha, trong đó có 60.000 ha cho thu hoạch với năng suất trungbình đạt 1,8 tấn/ha và tổng sản lượng đạt 108.00 tấn hạt, tương đương với giá trị xuất khẩu từ

100 – 120 triệu USD

Tuy nhiên, các chuyên gia trong ngành đều cho rằng việc thiếu những chính sách rõràng ổn định cho việc phát triển ca cao nên khiến cho việc thực hiện đề án trên gặp nhiều khókhăn khó có thể đạt được các chỉ tiêu đề ra Sau 5 năm thực hiện đề án trên, trong Quyết định

số 2015/QĐ-BNN-TT ngày 23 tháng 8 năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển ca cao các tỉnh phía Nam đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020” thì các chỉ tiêu về diện tích và năng suất ca cao đã được giảm xuống sovới bản đề án năm 2007 Cụ thể: (i) Đến năm 2015 diện tích ca cao cả nước đạt 33.500 hatrong đó diện tích kinh doanh 23.000 ha, năng suất bình quân 1 tấn hạt/ha, tổng kim ngạchxuất khẩu hạt ca cao từ 40 - 50 triệu USD; (ii) Đến năm 2020 diện tích ca cao cả nước là50.000 ha; trong đó, diện tích kinh doanh 38.500 ha, năng suất bình quân 1,19 tấn hạt/ha, tổnggiá trị xuất khẩu đạt 65 - 75 triệu USD Ca cao chỉ được trồng tại một số tỉnh có điều kiệnsinh thái phù hợp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trong

đó tại Vùng Tây Nguyên, trồng ca cao ở 3 tỉnh: Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng trồng thaythế cà phê già cỗi không thể tái canh, trồng xen với điều và một số loại cây ăn quả Theo ViệnQuy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, nguyên nhân giảm diện tích quy hoạch ca cao cả nước làtrong 23 tỉnh thành nằm trong diện quy hoạch phát triển cây ca cao đã có 6 tỉnh gồm BìnhDương, Tây Ninh, Kon Tum, Sóc Trăng, Quảng Ngãi, Bình Định xin rút khỏi danh sách trồng

ca cao theo Quyết định 2678 nói trên và một số tỉnh, thành khác đề nghị chỉ trồng thử nghiệm

và nếu ca cao có hiệu quả thì mới đưa vào trồng đại trà

Trang 31

Chính sách về giống ca cao

Theo Quyết định số 1061/QĐ-BNN-XD ngày 23 tháng 05 năm 2011, Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn đã thông qua về việc phê duyệt dự án “Sản xuất giống cà phê, ca caogiai đoạn 2011-2015” do chủ đầu tư là Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp TâyNguyên Mục tiêu chung của dự án là nhằm nâng cao năng lực sản xuất giống cà phê, ca caochất lượng cao đáp ứng nhu cầu giống cho chương trình tái canh cà phê và chương trình pháttriển ca cao Một trong những mục tiêu cụ thể là cung cấp 1,5 triệu chồi ghép ca cao, 300 -

400 ngàn cây ca cao ghép và 1 tấn hạt giống ca cao bảo đảm đủ giống để trồng hàng ngàn ha/năm Nội dung về sản xuất ca cao gồm: Sản xuất giống đầu dòng (800.000 cây ghép và1.000.000 chồi ghép); Sản xuất giống thương phẩm (Ca cao: 800.000 cây ghép và 400.000cây thực sinh); Xây dựng vườn nhân chồi giống gốc (0,5 ha tại Viện KHKT NN Duyên hảiNam Trung bộ); Xây dựng vườn sản xuất hạt giống gốc (1 ha tại miền Trung - Viện KHKT

NN Duyên hải Nam Trung bộ)

Tuy nhiên theo đánh giá của cục trồng trọt thì thực tế số giống ca cao sản xuất mỗinăm tăng nhanh, nhu cầu mắt ghép vượt mức cung của các vườn cây đầu dòng do đó nhiềunơi đã cung ứng giống không đảm bảo chất lượng Trong khi đó yêu cầu của việc quản lýgiống ca cao không chỉ là đúng giống, cây giống đủ tiêu chuẩn chất lượng mà còn bao gồm cả

bố trí tỉ lệ các dòng ca cao phù hợp trong vườn Do việc kiểm soát giống còn hạn chế này nênnhiều nơi sản xuất cây giống không từ cây đầu dòng hoặc từ vườn đầu dòng đủ tiêu chuẩn,không kiểm soát được tỉ lệ các dòng ca cao sản xuất ra (thường tỉ lệ dòng TD5 là nhiều nhất

do sinh trưởng mạnh và dễ ghép, dễ bán).1

Những thất bại của cây ca cao tại Việt Nam trong quá khứ được giải thích theo nhiềucách khác nhau, một phần là do thiếu sự liên kết với thị trường thế giới, một phần là do thiếunhững điều kiện ổn định, và một phần là do việc quản lý yếu kém (như là thiếu kinh nghiệmtrong việc xây dựng nhà máy chế biến tại Quảng Ngãi trong những năm 1990) Nhưng điềuquan trọng hơn, những bài học trong quá khứ cho thấy rằng việc đề ra các chỉ tiêu mà không

có sự chuẩn bị những kế hoạch đầu tư cụ thể, việc ban hành các chính sách và xây dựng các

kế hoạch cấp tỉnh, nâng cao năng lực và phân bổ nguồn nhân lực, cơ sở dữ liệu/thông tin vữngchắc (thống kê, theo dõi giám sát, nghiên cứu), và thiếu sự hiểu biết về động cơ của ngườinông dân và thị trường thì có xu hướng dẫn đến sự thất bại và không đạt được các chỉ tiêu đề

ra2

1 Báo cáo tình hình sản xuất ca cao hiện nay và giải pháp chỉ đạo trong thời gian tới (Báo cáo tại phiên họp lần 1 năm 2012 Ban điều phối phát triển ca cao Việt Nam ngày 13/06/2012).

Trang 32

IV HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CA CAO TẠI ĐẮK LẮK VÀ ĐẮK NÔNG

4.1 Sản xuất, chế biến, tiêu thụ ca cao tại Đắk Lắk

4.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng

Cây ca cao đã xuất hiện ở Đắk Lắk từ rất sớm, nhưng đến năm 1993 khi chương trìnhphát triển ca cao được hình thành thì cây ca cao mới được chú ý và nhân rộng Thời điểm này,

Bộ NN và PTNT có chủ trương phát triển diện tích ca cao và xem đây là một loại cây trồng cóvai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, miềnĐông, và miền Tây Nam Bộ Đến năm 1997, Viện khoa học Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên,các dự án phát triển nông nghiệp của Danida và GTZ, trường Đại học Tây Nguyên, Trung tâmkhuyến nông đã triển khai và xây dựng khá nhiều mô hình trồng và chăm sóc cây ca cao Đâychính là nền tảng ban đầu cho sự phát triển của cây ca cao trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Các giai đoạn hình thành và phát triển ca cao tại tỉnh Đắk Lắk có thể chia thành cácgiai đoạn sau:

- Giai đoạn khởi đầu từ năm 1997 đến 2001: giai đoạn này các viện nghiên cứu, các

dự án nước ngoài bắt đầu nghiên cứu và trồng các mô hình ca cao Trong giai đoạnnày diện tích rất ít, chủ yếu được sử dụng để thử nghiệm và khảo nghiệm

- Giai đoạn quy hoạch và phát triển từ năm 2002 đến 2006: Ủy ban nhân dân tỉnh cóquyết định số 821/QĐ-UB ngày 2/4/2002 về việc phê duyệt quy hoạch vùng pháttriển ca cao trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 là 6.000 ha Các huyện được quyhoạch phát triển ca cao ở tỉnh Đắk Lắk là Ea Kar, Ma Đ’răk, Krông Bông, KrôngNăng, Ea Hleo và huyện Lắk, ngoài ra những địa phương khác nếu có điều kiệnsinh thái phù hợp vẫn có thể phát triển ca cao Chính từ chủ trương này của tỉnh,các Công ty cà phê trên địa bàn tỉnh đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ diện tích càphê già cỗi sang trồng cây ca cao (Công ty Krông Ana, Công ty tháng 10, công tyBuôn Hồ,…)

- Giai đoạn phát triển rộng từ năm 2007 - 2010: đây là giai đoạn cây ca cao đượcphát triển trong nông hộ Thêm vào đó, được sự đồng ý của UBND tỉnh cho triểnkhai dự án Phát triển sản xuất ca cao bền vững tại các nông hộ (Success - Đắk Lắk

do Bộ phát triển nông nghiệp Mỹ tài trợ) đã thu hút được nhiều nông dân tham gia

Cụ thể trong giai đoạn 2 của dự án, 84 câu lạc bộ nông dân trồng ca cao đã đượcthành lập với 3440 hộ tham gia Mỗi hộ nông dân tham gia câu lạc bộ được cấp

150 cây giống ca cao ghép, được đào tạo kỹ thuật về trồng và chế biến ca cao Cáckhóa đào tạo được thực hiện hàng tháng trong những năm mà dự án triển khai Kếtthúc dự án (tháng 9/2011) toàn tỉnh vẫn duy trì được 79 câu lạc bộ ca cao, với dựtham gia của 2.577 hộ nông dân

- Từ năm 2011 đến nay, việc mở rộng diện tích canh tác ca cao trên địa bàn tỉnh cótôc độ chậm lại tác động của giá ca cao và việc một số người dân chặt bỏ ca cao tạicác vườn trồng trên diện tích đất cà phê tái canh để quay lại trồng cà phê

Trang 33

Như vậy, trên thực tế triển khai, việc mở rộng diện tích ca cao có tăng nhưng với tốc

độ chậm tính đến 2010, diện tích trồng ca cao chỉ đạt 33,3% so với kế hoạch (2000 ha thực tế

so với 6000 ha theo kế hoạch) Trên thực tế đó, UBND tỉnh Đắk Lắk đã điều chỉnh kế hoạchphát triển ca cao đến năm 2015 đạt 6.000 ha

Hình 20 Kế hoạc và tiến độ thực hiện kế hoạch phát triển ca cao (ha)

Nguồn: Sở NN&PTNT Đắk Nông, 2012

Hình 21 Diện tích ca cao tỉnh Đắk Lắk năm 2011 phân theo huyện (ha)

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, 2012

Hiện tại, toàn tỉnh có 2.330 ha ca cao trên địa bàn của 14/15 huyện/thị xã/Tp, trong đódiện tích cho thu hoạch khoảng 780 ha với năng suất hạt khô khoảng 1,4 tấn/ha, tổng sản

ha

Trang 34

lượng khoảng 1.092 tấn Theo mục tiêu đã đề ra diện tích ca cao toàn tỉnh năm 2012 tăngthêm 1.000 ha nhưng tính đến tháng 12/2012 cả tỉnh mới chỉ tăng thêm được 250 ha, trong đóriêng ở huyện Ea Kar tăng 124 ha Diện tích ca cao này tập trung nhiều nhất ở các vùng đấtkhông có điều kiện sinh thái phù hợp với cây cà phê, cao su, điều nằm trên địa bàn các huyệnLắk, Ea Kar, Krông Bông Đây cũng là địa phương có nhiều diện tích ca cao nhất so với cáctỉnh khu vực Tây Nguyên.

 Giống ca cao

Các giống ca cao ghép đang được trồng ở Đắk Lắk chủ yếu là từ 5 dòng TC (TC5,TC7, TC11, TC12 và TC13) của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây nguyên đãđược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cây đầu dòng cho các tỉnh TâyNguyên và 08 dòng TD nhập nội (TD1, TD2, TD3, TD5, TD6, TD8, TD10 và TD14) do Đạihọc Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh cung cấp đã được công nhận giống cây trồng mới.Đây là các giống ca cao khá thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu ở địa phương, ít sâubệnh, có kích cỡ hạt lớn được thị trường nước ngoài ưa chuộng Ngoài ra còn nhiều diện tích

ca cao được trồng bằng giống thực sinh, giống lai F1 và có một số diện tích dân trồng tự pháttrước đây trồng từ hạt không rõ nguồn gốc Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có các đơn vị sảnxuất và cung ứng cây giống ca cao ghép đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định như: Công tyTNHH Tư vấn đầu tư phát triển NLN EAKMAT (thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật NLN TâyNguyên, Công ty cổ phần Cao Nguyên Xanh, trung tâm giống cây trồng vật nuôi tỉnh Tuynhiên theo đánh giá của các hộ trồng ca cao các trung tâm giống này thường ở xa khu vực sảnxuất khiến người dân khó tiếp cận, nên phần lớn họ vẫn mua giống tại một số hộ sản xuấtgiống tư nhân

Năng suất trung bình trên cây (kg hạt khô/cây) 1,1 1,2

Trang 35

Nguồn: SCAP, 2012

4.1.2 Chế biến, tiêu thụ

Chế biến ca cao bao gồm sơ chế và chế biến sâu Ở Việt Nam nói chung và tại ĐắkLắk nói riêng, hiện việc chế biến ca cao chủ yếu là sơ chế, cho sản phẩm là hạt ca cao khô đãlên men Hoạt động lên men hiện nay chủ yếu vẫn bằng phương pháp thủ công đó là lên men

tự nhiên theo phương pháp ủ bằng thùng hay ủ bằng thúng Việc lên men ca cao chủ yếu diễn

ra tại nông hộ Ngoài ra cũng có các cơ sở lên men nhưng hoạt động giống như là một đại lýthu mua ca cao (bao gồm cả hạt và trái ca cao tươi) Các chủ cơ sở lên men này được tập huấn

từ dự án Success Đắk Lắk nên nắm vững kỹ thuật lên men, tuy nhiên họ vẫn sử dụng phươngpháp lên men thủ công Đối với một số HTX chia đội lên men theo từng khu vực tập trung,tổng cộng có 10 đội thu mua quả tươi và lên men cho các nông hộ trong và ngoài HTX

Đối với vấn đề tiêu thụ ca cao, từ năm 2002 trở về trước do diện tích ca cao nhỏ lẻ,manh mún, sản phẩm ca cao hạt khô còn ít và nông dân chưa nắm được kỹ thuật lên men hạt

ca cao nên vấn đề tiêu thụ sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn vì chưa thực sự trở thành một sảnphẩm hàng hóa

Từ năm 2007 đến nay, Công ty Cargill là đơn vị chủ lực thu mua sản phẩm ca cao củatỉnh Công ty thu mua ca cao thông qua mạng lưới thu mua riêng của công ty Mạng lưới thumua được tổ chức theo hệ thống: trạm cấp 1, trạm cấp 2 và điểm thu mua cấp 3 Ngoài ra còn

có hình thức hộ thu mua ca cao ở các vùng có diện tích trồng ca cao tập trung nhiều Phươngthức hoạt động tại trạm và điểm thu mua được cho là khá năng động, kịp thời, thông tin về giá

cả được thông báo thường xuyên trên truyền hình và các phương tiện truyền thông khác, đồngthời hướng dẫn các tổ chức, cá nhân sản xuất ca cao về kỹ thuật lên men, ứng tiền đầu tưchăm sóc, tổ chức tiếp thị và tạo điều kiện cho nông dân đi tham quan học tập các mô hình cacao trong và ngoài tỉnh đã được nông dân tin tưởng và tích cực đầu tư chăm sóc cây ca cao.Hiện nay, một số công ty khác từ thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đặt các điểm thu mua, sơchế ca cao hạt lên men tại các huyện, góp phần hình thành thị trường hạt ca cao nguyên liệu

đa dạng, phong phú và giúp cho nông dân yên tâm sản xuất

4.1.3 Các chính sách phát triển ca cao tại Đắk Lắk

 Chính sách quy hoạch sản xuất

Năm 2002, UBND tỉnh Đắk Lắk đã có dự án phát triển 10.000 ha ca cao tại địaphương Tuy nhiên đến năm 2004, tách thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông nên diện tích dựkiến tại Đắk Lắk chỉ còn 6.000 ha chỉ tập trung ở 2 huyện (Lắk và Ea Kar) Nhưng sau khitriển khai các mô hình khuyến nông cho thấy điều kiện sinh thái của tỉnh phù hợp với cây cacao và cũng phù hợp với chủ trương của tỉnh về giảm diện tích cà phê nên UBND tỉnh đãquyết định đã thay đổi vùng quy hoạch sản xuất ca cao theo hướng tận dụng các diện tích cóđiều kiện phù hợp với cây ca cao và phát triển theo hướng trồng xen, trồng thuần với nhiềuhình thức: nông hộ, trang trại, công ty, hình thành vùng sản xuất tập trung

Trang 36

Sau khi HĐND tỉnh thông qua nghị quyết số 40/2011/NQ-HĐND ngày 22/11/2011 vềphát triển cây ca cao tại tỉnh Đắk Lắk, UBND tỉnh cũng đã ra kế hoạch số 1578/KH-UBNDngày 28/03/2012 về việc triển khai Nghị quyết này Qua đó đưa ra mục tiêu chung là tận dụngtối đa các lợi thế để phát triển cây ca cao theo hướng bến vững đúng quy hoạch, tăng cườngtrồng xen cây ca cao trong các vườn điều, cây ăn quả, vườn tạp, vườn cà phê thanh lý, chuyểnđổi,… tạo ra vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu tập trung với quy mô lớn để tăng hiệu quảkinh tế trên đơn vị diện tích, nâng cao thu nhập cho nông dân đồng thời bảo vệ môi trườngsinh thái Và mục tiêu cụ thể là phát triển cây ca cao tại Đắk Lắk đến năm 2015 sẽ đảm bảođạt 6.000 ha ca cao, trong đó có 2.000 ha cho thu hoạch, năng suất bình quân hạt khô (đã qualên men) đạt 1,5 tấn/ha, sản lượng thu được từ 2.800 – 3.000 tấn hạt khô Tổng kinh phí thựchiện đến năm 2015 là 34,528 tỷ đồng, trong đó: Kinh phí hỗ trợ giống: 10,269 tỷ đồng; kinhphí tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế ca cao: 1 tỷ đồng; kinh phí xâydựng mô hình trình diễn khuyến nông về ca cao: 1,6 tỷ đồng; kinh phí hỗ trợ lãi suất: 21,659

tỷ đồng Cụ thể về diện tích ca cao sẽ được phát triển từ 2 nguồn:

- Diện tích ca cao trồng mới của các Công ty cà phê trên địa bàn tỉnh từ nay đếnnăm 2015: 2.295 ha, trồng tập trung trên diện tích cà phê chuyển đổi (Theo Nghịquyết 40 là 2.150 ha)

- Diện tích ca cao trồng mới trong các hộ dân là 1.705 ha (Theo Nghị quyết 40 là1.850 ha)

Bảng 3 Kế hoạch phát triển diện tích trồng mới ca cao đến năm 2015 phân theo huyện

Nguồn: UBND tỉnh Đắk Lắk, 2012

Trang 37

4.1.4 Các dự án có liên quan đến cây ca cao tại địa bàn tỉnh

 Dự án Phát triển ca cao bền vững tại các nông hộ (Success Đắk Lắk): Đã kết thúc

Dự án đã cấp phát 645.260 cây giống tương ứng với diện tích quy thuần khoảng 560

ha, trong 4 năm từ 2007 đến 2011, tập huấn kỹ thuật lên men cho 3.000 hộ nông dân, thànhlập 81 câu lạc bộ ca cao

Đánh giá: qua kết quả khảo sát thực địa tại tỉnh Đắk Lắk thành công lớn nhất của dự

án chính là tập huấn về kỹ thuật lên men cho các hộ nông dân trồng ca cao Có hơn 90% hộnông dân cho biết là họ nắm vững kỹ thuật lên men và hoàn toàn có thể tự lên men tại nông

hộ nhờ vào các tập huấn viên từ dự án Success Đắk Lắk Tuy nhiên, thực tế phát triển ca caotrên địa bàn hiện nay cho thấy, việc tập huấn cho từng hộ nông dân riêng lẻ đã dẫn đến mộthạn chế đó là quy mô lên men nhỏ lẻ, chất lượng không đồng đều

 Dự án Cạnh tranh nông nghiệp (ACP): Đangthực hiện đến 2013

Thành lập ra các liên minh giữa Công ty – HTX - hộ nông dân Cụ thể đã thành lậpđược liên minh giữa Công ty Nam Trường Sơn – HTX Ca cao tại Ea Kar – và nông dân trồng

ca cao tại huyện Ea Kar

Thành lập các câu lạc bộ sản xuất tại địa phương với quy mô mỗi nhóm khoảng 40nông dân với diện tích khoảng 6-7 ha ca cao (6 – 7 ha là quy mô phù hợp cho 1 điểm lênmen) Mỗi nhóm sẽ có 1 nhóm trưởng và nhóm trưởng này sẽ được đưa đi tập huấn kỹ thuậtlên men và sau đó sẽ hướng dẫn lại cho các thành viên khác trong nhóm Điểm lên men này sẽtiến hành thu mua toàn bộ sản lượng được nhóm đó sản xuất ra

Dự án hỗ trợ khoảng 2.000 USD (40 triệu đồng) cho mỗi nông dân tham gia (tổng vốn

hỗ trợ là 4 tỷ đồng, tương đương 100 hộ nông dân) với hình thức hỗ trợ giống, phân bón,thuốc BVTV

Đánh giá: qua kết quả khảo sát, việc thành lập các liên minh này là rất cần thiết và

mang lại lợi ích cho nông dân (Doanh nghiệp liên kết với hộ nông dân, doanh nghiệp nhậnđược hỗ trợ từ dự án để đầu tư máy móc thiết bị và sau đó sẽ thu mua lại ca cao cho nông dân)với phương thức dự án hỗ trợ 40% và các đối tượng hưởng lợi sẽ đóng góp 60% Tuy nhiên,việc liên kết này chỉ tồn tại trong thời gian còn dự án, liệu sau khi dự án kết thúc thì liên minhnày có còn hiệu quả không? Vì hiện nay hầu hết các nông dân cho rằng bán hàng cho Công ty

do đây là liên minh do dự án lập ra

 Tập đoàn Mars thực hiện phát triển ca cao tại Đắk Lắk với mục tiêu nâng cao năng

suất lên 2,5 – 3 tấn hạt khô/ha:Đang thực hiện

Căn cứ vào thực trạng hiện nay là năng suất thực tế ca cao (1,5 tấn/ha) thấp hơn rấtnhiều so với năng suất lý thuyết (3,5 tấn/ha) nên tập đoàn Mars quyết định tập trung vào mụctiêu nâng cao năng suất cho ca cao tại Đắk Lắk vì đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để cây cacao có thể cạnh tranh được với các cây trồng khác trên địa bàn tỉnh

Trang 38

Bằng cách thành lập các trung tâm phát triển ca cao (CDC) ở từng vùng quản lý nhómsản xuất (20 - 25 người mỗi nhóm) Tại mỗi trung tâm này sẽ có đội ngũ cán bộ kỹ thuật từ 14– 15 người có trình độ (trung cấp – đại học) sẽ tỏa ra các nơi để hướng dẫn kỹ thuật giúp nôngdân, từng bước giúp nâng cao năng suất ca cao.

Đánh giá: Việc xây dựng các Trung tâm phát triển ca cao (CDC) mang lại lợi ích cho

nông dân về việc nắm bắt các kỹ thuật, quy trình trồng và chăm sóc ca cao

Như vậy có thể thấy, việc phát triển ca cao trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã và đang được

sự quan tâm của chính quyên địa phương và các tổ chức tài trợ phát triển ca cao trong vàngoài nước Các dự án phát triển ca cao đã bước đầu hỗ trợ nâng cao kỹ thuật cho người dân

và thiết lập mô hình thí điểm về kết nối giữa sản xuất và tiêu thụ Tuy nhiên, thực tế triển khai

kế hoạch phát triển ca cao còn chậm cũng như việc duy trì các kết quả từ các dự án vẫn chưađược chú ý

4.1.5 Chuỗi giá trị ca cao tỉnh Đắk Lắk

Sơ đồ tổng quát

Trang 39

Hình 22 Sơ đồ chuỗi giá trị cacao tỉnh Đắk Lắk

Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk Viện nghiên cứu nông lâm nghiệp Tây Nguyên

Sự án Success Alliance, Danida

3%

Quả ca cao tươi Hạt ca cao khô

Nông dân

Đại lý thu mua

Thu gom/len men

Công ty cà phê

HTX nông nghiệp ca

cap

Thị trường nội địa

Công ty chế biến

ca cao tại nước ngoài

Nông dân thuộc công ty cà phê

Xã viên HTX ca cao

Cty Cao Nguyên Xanh

Công ty xuất khẩu (Amajaro, Cargill)

Cty Nam Trường Sơn

Chế biến, tiêu thụ Thu mua/Vận chuyển

Thu gom, lên men, vận chuyển

Sản xuất/len men

Đầu vào

sản xuất

Thu mua, chế biến, xuất khẩu

Trang 40

 Các kênh tiêu thụ chủ yếu và tỷ lệ tiêu thụ qua từng kênh

Ca cao sau khi thu hoạch tại các nông hộ được tiêu thụ ở hai dạng quả tươi và hạt cacao khô Cụ thể ca cao được tiêu thụ thông qua 5 kênh chính:

 Kênh 1: Hộ nông dân tự do tham gia sản xuất ca cao có chứng nhận UTZ – công ty

Cao Nguyên xanh

Đầu năm 2012, Tổ chức tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế (Solidaridad) đã hỗ trợ xâydựng mô hình liên kết giữa công ty Cao Nguyên Xanh liên với 260 hộ sản xuất ca cao tại Đắk

Lắ để tổ chức sản xuất và tiêu thụ ca cao theo tiêu chuẩn UTZ, với tổng diện tích là 119 ha

 Kênh 2: Nông dân – Đại lý thu mua ca cao – Công ty chế biến/xuất khẩu – Người tiêu

dùng

Trong kênh tiêu thụ này, nông dân là những người có diện tích tương đối lớn và cóthiết bị cũng như kỹ năng lên men ca cao tại hộ sau khi thu hoạch Các hộ này thường là các

hộ nằm trong dự án phát triển ca cao hoặc được các trạm thu mua của các công ty tập huấn về

kỹ thuật lên men tại hộ gia đình Sản phẩm ca cao được tiêu thụ thông qua kênh này là hạt cacao khô Khối lượng ca cao được tiêu thụ chiểm khoảng 38% sản lượng ca cao được sản xuất.Mức giá thu mua ca cao từ hộ sản xuất thông qua kênh này vào khoảng 41.000 đồng – 46.500đồng/kg hạt ca cao khô

 Kênh 3: Nông dân – Cơ sở lên men/thu gom – Đại lý thu mua cacao - Công ty chế biến

xuất khẩu – Người tiêu dùng

Trong kênh tiêu thụ này ca cao của nông hộ được thu mua dưới dạng cả quả tươi vàhạt ca cao khô Đối với những hộ diện tích nhỏ, khối lượng thu hoạch không nhiều đủ để lênmen tại hộ gia đình nên họ thường bán cho các cơ sở lên men dưới dạng quả tươi Một số hộ

có thể tự lên men bán dưới dạng hạt khô cho các đối tượng thu gom Sau đó toàn bộ lượng hạtnày được các cơ sở lên men hoặc người thu gom cung cấp cho các đại lý thu mua của cáccông ty chế biến xuất khẩu đặt tại địa phương

 Kênh 4: Nông dân – Công ty cà phê - Công ty chế biến/xuất khẩu – Người tiêu dùng

Đối với kênh tiêu thụ này, nông dân thường là thành viên của các công ty cà phê Cacao được tiêu thụ thông qua kênh này ở dạng hạt ca cao khô là chủ yếu Các công ty cà phêtrong kênh này cũng chỉ đóng vai trò là trạm thu mua trung gian cho các công ty chế biến vàxuất khẩu ca cao

 Kênh 5: Nông dân - HTX Nông nghiệp ca cao - Công ty chế biến/xuất khẩu – Người

tiêu dùng

Trong kênh tiêu thụ này, nông dân trồng ca cao là thành viên của các HTX sản xuấtnông nghiệp hoặc các tổ nhóm sản xuất ca cao Phần lớn ca cao được hộ nông dân cung cấpcho người lên men (hộ này được chọn trong HTX để tập trung lên men cho các hộ thành viên)dưới dạng quả ca cao tươi Thường mỗi HTX/Tổ nhóm có một số hộ có điều kiện làm hộ lên

Ngày đăng: 28/09/2019, 06:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007). Quyết định số 2678 /QĐ-BNN-KH ngày 14/09/2007 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướng đến 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây ca cao đến năm 2015 và định hướngđến 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2007
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2011). Quyết định số 1061/QĐ-BNN-XD ngày 23 tháng 05 năm 2011 về việc phê duyệt dự án “Sản xuất giống cà phê, ca cao giai đoạn 2011-2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất giống cà phê, ca cao giai đoạn2011-2015
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2011
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007). Quyết định số 95/2007/QĐ-BNN ngày 27 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành quy định về công nhận giống cây trồng nông nghiệp mới Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008). Quyết định số 64/2008/QĐ-BNN ngày 23/5/2008 về việc ban hành quy định quản lý về sản xuất, kinh doanh giống cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009). Thông tư số 08/2009/TT-BNN ngày 26/02/2009 về việc hướng dẫn thực hiện một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo Nghị quyết số 30A/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ Khác
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009). Quyết định số 3073/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/10/2009 về việc ban hành các định mức tạm thời áp dụng cho các chương trình, dự án khuyến nông Khác
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010). Quyết định số 3408/QĐ-BNN-QLCL ngày 20/12/2010 về phân công tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khác
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2011). Quyết định số 1780/QĐ-BNN-KHCN ngày 05 tháng 08 năm 2011 về việc ban hành các định mức kỹ thuật tạm thời áp dụng cho các mô hình thuộc dự án khuyến nông lĩnh vực trồng trọt Khác
10. Bộ Tài chính (2003). Thông tư số 04/2003/TT-BTC ngày 10/1/2003 hướng dẫn một số vấn đề tài chính thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Khác
11. Bộ Tài chính (2003). Thông tư số 32/2003/TT-BTC ngày 16/4/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các điều 29,30 luật Hải quan, điều 8 Nghị định 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hải quan về thủ tục Hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan Khác
12. Bộ Tài chính (2008). Quyết định số 36/2008/QĐ-BTC ngày 12 tháng 06 năm 2008 về việc ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN giai đoạn 2008-2013 Khác
13. Bộ Tài chính (2010). Thông tư số 58/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 về việc ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt nam để thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Ấn Độ giai đoạn 2010-2012 Khác
14. Bộ Tài chính (2010). Thông tư số 133/2010/TT-BTC ngày 09/09/2010 về việc sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi một số mặt hằng tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi Khác
15. Bộ Tài Chính (2011). Thông tư số 120/2011/TT-BTC của ngày 16/8/2011 về việc hướng dẫn Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp Khác
16. Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 157/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 11 năm 2011 về việc quy định mức thuế suất của biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế Khác
17. Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 161/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 về việc ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2012-2014 Khác
18. Agrifood Consulting International, INC (2008). Nghiên cứu tính phù hợp, khả thi và lợi ích kinh tế - xã hội trong sản xuất ca cao tại Việt nam Khác
19. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008). Rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển ca cao các tỉnh phía Nam (Việt nam) đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Khác
20. Center for Agricultural Policy and Prosperity Initiative (2009). Small-scale Review of Cocoa Khác
21. Chi cục Thống kê tỉnh Đăk Nông (2012). Niên giám thống kê tỉnh Đăk Nông 22. Chi cục Thống kê tỉnh Đăk Lăk (2012). Niên giám thống kê tỉnh Đăk Lăk Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w