1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DẤU HIỆU TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở MỘT SỐ KHỐI SINH VIÊN ĐA KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG, NĂM 2015

69 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 167,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DẤU HIỆU TRẦM CẢM,MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN, Ở MỘT SỐ KHỐI SINH VIÊN, ĐA KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC, Y DƯỢC HẢI PHÒNG, NĂM 2015

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG

NGUYỄN HOÀNG VIỆT ĐỨC

DẤU HIỆU TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở MỘT SỐ KHỐI SINH VIÊN ĐA KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG, NĂM 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG

HẢI PHÒNG - 2015

Trang 2

NGUYỄN HOÀNG VIỆT ĐỨC

DẤU HIỆU TRẦM CẢM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở MỘT SỐ KHỐI SINH VIÊN ĐA KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG, NĂM 2015

Chuyên ngành: Bác sỹ y học dự phòng

Mã số:

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG

Người hướng dẫn: ThS Bs Nguyễn Thị Thắm

HẢI PHÒNG - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoa học, chính xác và trung thực

Các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều có thực, kết quả thu được

từ quá trình nghiên cứu của chúng tôi chưa được công bố trên bất cứ tạp chí, bài báo nào

Hải Phòng, ngày 28 tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Sinh viên: Nguyễn Hoàng Việt Đức

Trang 4

thành tới:

Ban giám hiệu, phòng đào tạo Đại học, khoa Y tế công cộng trường Đạihọc Y Dược Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quátrình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy, cô giáo đã tận tình hướngdẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tạitrường

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Thị Thắm, người đãtrực tiếp hướng dẫn dạy bảo, tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thựchiện khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị em, cùng bạn bè đãluôn ở bên, động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt sáu nămhọc, cũng như trong thời gian tôi làm khóa luận

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cùngvới những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm do đó khó tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định mà bản thân chưa tự thấy được Tôi rất mong được sự góp

ý của quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn chỉnhhơn

Sau cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô trong khoa Y tế công cộng thậtdồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình làtruyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Hải Phòng, ngày 28 tháng 5 năm 2015

Trang 5

Nguyễn Hoàng Việt Đức

Trang 6

CES-D The Centre of Epidemiological Studies – Depression ScaleHĐXH Hoạt động xã hội

SVY2 Sinh viên khối Y2

SVY4 Sinh viên khối Y4

SVY6 Sinh viên khối Y6

WHO World Health Organization

Trang 7

1.3 Tình hình trầm cảm trên thế giới và Việt Nam 4

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.4.4 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin 142.4.5 Phương pháp hạn chế sai số, hạn chế số nhiễu 15

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 163.2 Dấu hiệu trầm cảm sử dụng công cụ CES-D 20 193.3 Dấu hiệu trầm cảm và các yếu tố liên quan 22

3.3.2 Dấu hiệu trầm cảm và mối quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội 263.3.3 Dấu hiệu trầm cảm và các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên 283.3.4 Dấu hiệu trầm cảm và các đặc điểm liên quan đến học tập 29

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1:Phân bố cỡ mẫu điều tra theo khối 11

Bảng 3.1:Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tôn giáo và khối lớp 16Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi ở và khối lớp 17Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng tài chính 18Bảng 3.4: Nhóm dấu hiệu tích cực trong thang đo CES-D 19Bảng 3.5: Nhóm dấu hiệu về khó khăn giao tiếp trong thang đo CES-D 19Bảng 3.6: Nhóm dấu hiệu chán nản trong thang đo CES-D 20Bảng 3.7: Nhóm dấu hiệu về hoạt động của bản thân trong thang CES-

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa khối lớp và dấu hiệu trầm cảm 22Bảng 3.9: Mối liên quan giữa giới tính và dấu hiệu trầm cảm 22Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tôn giáo và dấu hiệu trầm cảm 23Bảng 3.11: Mối liên quan giữa nơi sống và dấu hiệu trầm cảm 24Bảng 3.12: Mối liên quan giữa hôn nhân bố mẹ và dấu hiệu trầm cảm 24Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tình trạng tài chính và dấu hiệu trầm

Trang 10

Hình 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 16Hình 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc và khối lớp 17Hình 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nguồn hỗ trợ tài chính 18Hình 3.4: Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên 21

Trang 11

Theo ước tính của WHO năm 2012, trên toàn thế giới có khoảng 350triệu người chịu ảnh hưởng của trầm cảm [39] Bệnh do nhiều nguyên nhânkhác nhau từ các biến động tâm lý, cảm xúc cho tới những thách thức trongcuộc sống thường ngày Đặc biệt là khi kéo dài với cường độ vừa hoặc nặng,trầm cảm có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, làm giảm khả năngvốn có tại nơi làm việc, trường học cũng như trong gia đình Nặng nề nhất,trầm cảm có thể dẫn đến tử tự, với khoảng 1 triệu ca mỗi năm trên thế giới[39].

Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về trầm cảm, nhất là ở đối tượngsinh viên Sinh viên trường y với khối lượng công việc học tập lớn, thời gianhọc tập dài, dễ nảy sinh áp lực là một trong các đối tượng cần được xem xét.Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng sinh viên y khoa có tỷ lệ cao

có dấu hiệu với trầm cảm trong suốt những năm đại học [14, 16, 29] Tuynhiên hiện nay mới chỉ có nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên trường Đại học

Y Dược Hồ Chí Minh [31] và Đại học Y Hà Nội [7] mà chưa có sự đánh giánào ở sinh viên trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Dấu hiệu trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở một số khối sinh viên đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2015” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên Y2, Y4, Y6 đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2014-2015.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên Y2, Y4,

Trang 12

Y6 đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2014-2015.

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm về trầm cảm

Theo Tổ chức y tế giới (WHO): “Trầm cảm là một rối loạn tâm thầnphổ biến, đặc trưng bởi nỗi buồn, mất hứng thú và niềm vui, cảm giác tội lỗi,đánh giá thấp giá trị bản thân, khó ngủ, chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tậptrung” [38]

Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy yếu đáng kể khả năngcủa cá nhân trong các hoạt động tại nơi làm việc, trường học hay cuộc sốnghằng ngày Nghiêm trọng nhất, trầm cảm có thể dẫn tới tự tử Nếu bệnh nhẹ,mọi người có thể được điều trị mà không cần dùng thuốc nhưng khi trầm cảmvừa hoặc nặng thì người bệnh cần thuốc và phương pháp trị liệu bằng việc nóichuyện [38]

Theo Nguyễn Minh Tuấn [9], trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảmxúc có những đặc điểm sau:

- Nỗi buồn sinh thể (đau khổ tâm thần vô biên)

- Ức chế tư duy và hoạt động (chậm chạp, mất trí)

- Rối loạn giấc ngủ và các chức năng sinh học

- Tiên lượng: có liên quan tới nguy cơ tự sát Nguy cơ này hiện diện suốtquá trình bệnh lý Do vậy cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân

Về quá trình hình thành các cơn trầm cảm, các tình huống xuất hiện có thểbao gồm:

- Thông thường tiến triển âm ỉ

- Đôi khi đột ngột (khởi đầu bằng tự sát)

- Có thể kế tiếp sau cơn hưng cảm

Trang 13

có thể xuất hiện ý tưởng và hành vi tự sát

Trong giai đoạn toàn phát, các biểu hiện có thể bao gồm: nét mặt bấtđộng, biểu lộ sự đau khổ dấu hiệu “Omega trầm cảm” (nếp nhăn khi cau 2lông mày) Bệnh nhân không quan tâm tới hình thức bên ngoài của mình nữa.Bệnh nhân hầu như bất động, ngồi nguyên một chỗ trong nhiều giờ Chẳngthiết trò chuyện, gặng hỏi thì trả lời miễn cưỡng nhát gừng, đơn điệu, xen lẫnnhưng tiếng rên rỉ, thở dài não ruột Nặng hơn nữa là không nói

Một số trường hợp bệnh nhân cố gắng che giấu các rối loạn (tươi cườigiả tạo) Trường hợp này nguy cơ tự sát cao do những người xung quanh mấtcảnh giác Bệnh có thể khỏi tự nhiên trung bình sau 6-7 tháng (cơn ngắn chỉvài tuần, cơn dài thì nhiều năm, trong cơn giảm từng giai đoạn ngắn, khôngđáng kể) Khi được điều trị có thể thu ngắn cơn đáng kể sau trung bình mộttháng nằm viện Các triệu chứng được cải thiện dần, giấc ngủ phục hồi Bệnhnhân được coi như khỏi bệnh khi niềm vui với cuộc sống trở lại

1.2 Ảnh hưởng và hậu quả của bệnh trẩm cảm

1.2.1 Đối với bệnh nhân

Trầm cảm là một căn bệnh thuộc về sức khoẻ tinh thần không chừa bất

cứ một ai, không phân biệt người già, trẻ em, người trưởng thành… Trầmcảm ảnh hưởng tới người bệnh về ý thức, cảm giác, tư duy, trí nhớ, ngôn ngữ,tình cảm… Làm cho bệnh nhân trầm cảm nhìn thế giới xung quanh với cáinhìn vô hồn, vô cảm, thế giới trong mắt họ bị thu hẹp, sức khoẻ cơ thể giảm

Trang 14

sút nghiêm trọng, giảm ăn ngủ, giảm cân nặng, giảm hứng thú với tất cả cáchoạt động xã hội và tất cả các hoạt động khác đối với họ đều trở nên vô cảm.Trầm cảm được coi là một rong những nguyên nhân chủ yếu gây loạn thần vàcác chứng bệnh khác liên quan đến sức khoẻ tinh thần Nặng nề nhất, trầmcảm dễ dấn tới hành vi tự sát [1].

1.2.2 Đối với xã hội

Bệnh nhân trầm cảm là một gánh nặng cho gia đình và xã hội, gia đìnhphải bỏ công sức, tiền bạc, của cải nhiều trong công việc chữa trị thời gian lâudài, như vậy xã hội phải bỏ nhiều chi phí nghiên cứu, dự đoán, điều trị vàphòng chống về nó

Trầm cảm không chỉ gây hại cho bản thân người bị bệnh mà nhiềutrường hợp, các cá nhân trầm cảm sẽ giết hại ai đó, đôi khi sau đó họ sẽ tự sát.Trầm cảm cũng có thể là một yếu tố đóng góp và các tình huống tự tử gây hạitới người khác Những cơn “đại dịch tự tử” đã xảy ra tràn lan từ lâu trước khingành tâm bệnh học bắt đầu giải nghĩa các sắc thái của chúng Những cơn đạidịch như vậy xảy ra một cách rời rạc, nhưng lặp đi lặp lại ở các cộng đồngdân cư nhất định như người da đỏ Châu Mỹ và ở những nời nhất định như cácđơn vị điều trị tâm thần nội trú [1]

1.3 Tình hình trầm cảm trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Lịch sử và tình hình trầm cảm trên thế giới

Lịch sử nghiên cứu từ xa xưa cho đến hiện nay có rất nhiều nhà khoahọc, nhà nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau tìm hiểu và nghiêncứu về bệnh trầm cảm [1]

- Thời cổ đại: Các rối loạn cảm xúc đã được nhận dạng như một bệnh,Saul đã mô tả các triệu chứng, biểu hiện của bệnh trầm cảm

- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (gọi tắt là bệnh trầm cảm), trước đây gọi làloạn thần hưng – trầm cảm, đã từng được các thầy thuốc và các triết gia

Trang 15

- Bốn thể kỷ sau Hippocrates, Areteus đã mô tả một cách rõ ràng chu kỳkhí sắc, theo ông trầm cảm xuất hiện trước cơn hưng cảm (học thuyếtthể dịch).

- Galen, một thầy thuốc Hi Lạp, hành nghề ở Roma vào thế kỷ II saucông nguyên, tiếp tục truyền thống quan điểm thể dịch, cho rằng trầmcảm là do thừa mật đen (cho nên mới có từ melankhole, melan có nghĩa

là đen, khole là mật) mặc dù ông ta cũng đã bắt đầu xét đến yếu tố tâm

lý, xúc cảm

- Năm 1896 bệnh trầm cảm đã được Emil Kraepelin - nhà tâm lý họcngười Đức tách ra thành một bệnh độc lập dựa trên sự thống nhất vềcác biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển, ông đã hợp nhất các thểbệnh trước kia được coi như là những bệnh độc lập như “Bệnh thaocuồng”, “Bệnh sầu uất, “Bệnh loạn tâm thần tuần hoàn”, với sự thayđổi lần lượt các giai đoạn trái ngược nhau hoặc sự kết hợp những giaiđoạn tương phản nhau

- Levitan (1997) đã nghiên cứu trên 8116 bệnh nhân từ 15-64 tuổi và xácđịnh tỷ lệ rối loạn trầm cảm điển hình là 8% và có xu hướng tăng lêngấp 2-3 lần trong 25 năm tiếp theo, nữ cao gấp 2 lần nam, tăng lên ởtuổi 40

Khoảng 18.800.000 người Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng 9.5% độtuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên, bị rối loạn trầm cảm trong một năm,trong đó tỷ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp gần 2 lần nam giới (12% so với 6,6%).Năm 1997 có 30.535 người chết vì tự tử tại Hoa Kỳ Tỷ lệ tự tử ở người trẻ

Trang 16

gia tăng đáng kể trong vài thập kỳ qua Trong năm 1997, tự tử là nguyên nhânthứ 3 trong số những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở lứa tuổi từ 15 đến 24.

Theo nghiên cứu công bố năm 2010 trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoaHoa Kỳ, tỷ lệ thiếu niên tự tử năm 2004 tỷ lệ đã tăng 18% Theo nghiên cứumới, tốc độ năm 2005 đã đi xuống nhưng không nhiều Tỷ lệ khoảng 4,5%trên 100.000 dân [7]

Đối tượng mắc phải trầm cảm đa dạng một cách đáng kể trong khắpdân số thế giới Tỷ lệ mắc phải trầm cảm suốt đời có tỷ lệ xấp xỉ 3% ở Nhậtcho đến 16% ở Mỹ, còn với hầu hết các nước thì dao động trong khoản 8-12% Việc thiếu các tiêu chuẩn chấn đoán gây khó khăn cho việc so sánh tỷ lệmắc phải trầm cảm ở giữa các quốc gia khác nhau Ngoài ra các yếu tố khácbiệt về văn hoá, khác biệt về rủi ro, cũng ảnh hưởng tới sự biểu hiện ra bênngoài của rối loạn này [11]

1.3.2 Tình hình trầm cảm tại Việt Nam

Tuy chưa phát triển mạnh như nhiều nước trên thế giới nhưng ở ViệtNam cũng đã có một số nghiên cứu đóng góp và việc nhận biết sớm bệnhtrầm cảm

Theo nghiên cứu của Trần Văn Cường và cộng sự (2002) trầm cảmchiếm 13,2% dân số

Theo Báo cáo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên Việt nam lần IInăm 2009 (SAVY II) cho biết, trong số hơn 10.000 thanh thiếu niên đượcđiều tra tại Việt Nam ở độ tuổi từ 14 đến 25, có 73,1% người trả lời từng cócảm giác buồn chán, có 27,6% thanh thiếu niên đã trải qua cảm giác rất buồnhoặc cảm thấy mình không có ích đến nỗi không muốn hoạt động như bìnhthường Tỷ lệ thanh thiếu niên cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tương lai là21,3% và có 4,1% đã từng nghĩ đến chuyện tự tử So sánh với SAVY I chỉ xétriêng cảm giác nghĩ đến chuyện tự tử, mức độ tăng đã tăng lên khoảng 30%

Trang 17

[3]

1.4 Tình hình trầm cảm ở sinh viên y khoa

Theo nghiên cứu của Niemi [30], lo lắng, căng thẳng và khó chịu cũngnhư nhức đầu và đau ở cổ và vai rất phổ biến trong suốt 6 năm học ở trường

y Trầm cảm thường gặp ở thời điểm tốt nghiệp hơn so với lúc bắt đầu đi lâmsàng (36% so với 17%) Vào cuối thời gian đào tạo tiền lâm sàng, 47% sinhviên được phỏng vấn cảm thấy căng thẳng rất mạnh Tổng cộng có 36% sinhviên cảm thấy căng thẳng rất nhiều vào đầu và 40% sinh viên cảm thấy rấtcăng thẳng vào cuối thời gian đào tạo lâm sàng

Nghiên cứu của một trường trung cấp Y Thái Lan cho thấy 61,4% sinhviên cảm thấy có căng thẳng, 59% thấy căng thẳng nhẹ, 2,4% cảm thấy rấtcăng thẳng [34]

Có tới 39,6% sinh viên có triệu chứng trầm cảm trong nghiên cứu vềsinh viên năm thứ nhất tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh [31]

Tại trường Đại học Y Hà Nội, số sinh viên các khối đa khoa có dấuhiệu trầm cảm là khá cao với tỷ lệ lần lượt của khối sinh viên Y2, Y4, Y6 là51%, 50% và 40% [7]

1.5 Các test sàng tuyển trầm cảm

1.5.1 Sàng tuyển

Sàng tuyển là việc áp dụng một biện pháp kỹ thuật (có thể là trắcnghiệm hoặc thăm khám lâm sàng) để phân loại những cá nhân có thể đã mắcbệnh và đang ở thời kỳ sớm của một bệnh trạng (chưa biểu hiện lâm sàng cóthể nhận thấy) trong một cộng đồng và những cá nhân hoàn toàn khoẻ mạnh.Trắc nghiệm không phải là chẩn đoán xác định mà là nhằm tách lọc, phát hiệnnhững cá thể có nguy cơ phát triển bệnh Bước tiếp theo của sàng tuyển làtheo dõi, chẩn đoán xác định và can thiệp sớm

Trang 18

1.5.2 Một số công cụ sàng tuyển trầm cảm

Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn trầmcảm, trong đó có các trắc nghiệm của Beck và Hamilton, được các tác giảtrong nước thường dùng và đã được chuẩn hoá ở Việt Nam, tại Viện SứcKhoẻ Tâm Thần Quốc Gia

Thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory),được Beck AT (Mỹ) và cộng sự xây dựng vào năm 1974, gợi ý từ những quansát lâm sàng bệnh nhân trầm cảm, nhất là từ liệu pháp tâm thần Test nàyđược WHO công nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của cácphương pháp điều trị, và là test được dùng phổ biến tại Viện Sức Khoẻ TâmThần Quốc Gia từ năm 1989 Test Beck bao gồm 21 câu hỏi đánh số thứ tự từ

1 đến 21, mỗi câu có 4 đến 6 mục nhỏ, tổng cộng 95 mục nhỏ Mỗi mục đisâu khảo sát từng đặc điểm của trầm cảm ở các mức điểm 0, 1, 2, 3 Kết quảđược phân tích theo các mức độ:

14 câu trong đó 7 câu để đánh giá mức độ trầm cảm và 7 câu đánh giá mức độ

lo âu

Mỗi câu được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3 Kết quả được phân tíchtheo các mức độ:

- 7 điểm: Bình thường

Trang 19

- 8-10 điểm: Dấu hiệu trầm cảm hoặc lo âu

- 11-21 điểm: Trầm cảm hoặc lo âu thục sự

Ngoài ra còn có các thang đánh giá khác như DASS (Thang đánh giá

Lo âu – Trầm cảm – Stress), thang GDS (Thang đánh giá trầm cảm người già)

Tuy nhiên, các thang đánh giá trên chỉ đánh giá cường độ, mức độ và

sự nhận thức về trầm cảm ở những người bệnh có chẩn đoán rối loạn tâmthần Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thang đánh giá trầm cảm CES-D(The Centre of Epidemiological Studies – Depression Scale), ra đời năm

1977 Ưu điểm của thang đánh giá này là sử dụng được ở cộng đồng để phânbiệt các trường hợp có dấu hiệu trầm cảm cần có can thiệp tiếp Thang đo này

đã được đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy đối với đối tượng vị thành niên ởViệt Nam Các câu hỏi trong thang đo ngắn gọn và dễ sử dụng Thang đánhgiá gồm 20 câu [32] Mỗi câu hỏi được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3theo các mức độ như sau:

- 0 điểm: Không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày/tuần)

- 1 điểm: Đôi khi (1-2 ngày/tuần)

- 2 điểm: Thỉnh thoảng (3-4 ngày/tuần)

- 3 điểm: Rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian (5-7 ngày/tuần)

CES-D được thiết kế bao gồm các triệu chứng chính của bệnh trầmcảm được xác định với sự nhận mạnh vào các phần tình cảm: trầm cảm tâmtrạng, cảm giác tội lỗi và vô dụng, cảm giác bất lực và tuyệt vọng, chậm pháttriển tâm thần, mất cảm giác ngon miệng và rối loạn giấc ngủ

CES-D được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ở cộng đồng.Theo đánh giá chuẩn của quốc tế thì điểm 16 là mốc (cut-off point) để phânloại giữa có và không có dấu hiệu trầm cảm

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên đa khoa đang học năm thứ 2, 4, 6 Trường Đại học Y DượcHải Phòng năm học 2014-2015

Tiêu chuẩn loại trừ:

Sinh viên không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng, số72A đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2015.

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.4.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu: được tính theo công thức của cỡ mẫu ngẫu nghiên phân tầng

theo 3 khối sinh viên, sử dụng phần mềm WHO Sample Size 2.0:

Trang 22

Ph: Tỷ lệ sinh viên có dấu hiệu trầm cảm ở từng khối Lấy Ph1=0,513;

Ph2=0,5 và Ph3=0,4 (tương ứng với tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm của khốisinh viên Y2, Y4, Y6 đa khoa theo nghiên cứu ở sinh viên trường Đạihọc Y Hà Nội) [7]

Nh: Số lượng sinh viên ở từng khối Với Nh1=543, Nh2=463, Nh3=376tương ứng số lượng sinh viên Y2, Y4, Y6 lấy từ dữ liệu của phòng Đàotạo trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Wh: Trọng số, với Wh1, Wh2, Wh3 lần lượt là trọng số của khối SV Y2,Y4, Y6 Tính bằng số sinh viên từng khối trên tổng sinh viên 3 khối.Theo công thức trên thì cỡ mẫu tính được như sau:

Bảng 2.1: Phân bố cỡ mẫu điều tra theo khối

Giá trị p

Giá trị d

Trọng

số W

Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết

Số lượng thực tế điều tra

- Phương pháp và kỹ thuật chọn mẫu:

Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tỷ lệ.Danh sách số lượng sinh viên Y2, Y4, Y6 khối đa khoa được lấy từphòng đào tạo trường Đại học Y Dược Hải Phòng Với tổng số sinh viên 3khối là 1382 sinh viên Sinh viên Y2 có 9 lớp, 543 sinh viên Sinh viên Y4 có

9 lớp, 463 sinh viên Sinh viên Y6 có 8 lớp, 376 sinh viên

Tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 2 lớp Y2, 2 lớp Y4 và 2 lớp Y6 trongtổng số các lớp trong danh sách để tiến hành phát phiếu phỏng vấn

2.4.3 Các biến số nghiên cứu:

Trang 23

Bảng 2.2: Các biến số nghiên cứu

Thông tin chung: Các đặc điểm của sinh viên đa khoa

Y2, Y4, Y6 năm học 2014 – 2015

Mục tiêu 1: Mô tả tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên Y2, Y4, Y6 đa khoa trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2014 - 2015

Có việc làm thêm Định tính (Nhị phân)Đính hôn hoặc kết hôn Định tính (Nhị phân)

Trang 24

Bỏ nhiều tiết học Định tính (Nhị phân)Chuẩn bị, mong đợi tốt nghiệp Định tính (Nhị phân)Tranh cãi (xích mích) với thầy

Định tính (Nhị phân)

2.4.4 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

2.4.4.1 Công cụ thu thập số liệu

Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi có sẵn, đối tượng tự trả lời

Để đánh giá về dấu hiệu trầm cảm của sinh viên, chúng tôi sử dụngthang đo CES-D20 của Radoloff [32]

Bộ câu hỏi sử dụng thang điểm 4 mức độ 0-3 với Thang đo được mãhoá:

- 0: Không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày/tuần)

- 1: Đôi khi (từ 1-2 ngày/tuần)

- 2: Thỉnh thoảng (từ 3-4 ngày/tuần)

- 3: Rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian (từ 5-7 ngày/tuần)

Đặc biệt, các câu CES-D 4, 8, 12, 16 được tính điểm ngược lại là:

- 3: Không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày/tuần)

- 2: Đôi khi (từ 1-2 ngày/tuần)

- 1: Thỉnh thoảng (từ 3-4 ngày/tuần)

- 0: Rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian (từ 5-7 ngày/tuần)

Tiêu chuẩn đánh giá:

- Trong từng câu hỏi, dấu hiệu hành vi được coi là “có” nếu xuất hiện

Trang 25

với tần suất từ “Đôi khi” đến “Rất hay xảy ra”

- Phân loại dấu hiệu trầm cảm dựa theo tổng điểm của bộ câu hỏi D20: Tổng điểm <16: không có dấu hiệu trầm cảm Tổng điểm ≥16: códấu hiệu trầm cảm [17, 32]

CES-2.4.4.2 Quá trình thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi sử dụng bộ công cụ CES-D của Radoloff cùng các biến sốliên quan Sau khi đã hoàn thành, bộ câu hỏi sẽ được tập huấn và điềutra thử trên sinh viên nhằm kiểm tra tính logic, phù hợp

- Sau khi chọn sinh viên vào nghiên cứu, liên hệ phòng Đào tạo Đại học

để xem lịch học, lịch thi của từng lớp Trên cơ sở đó, chọn thời điểmphù hợp để ít ảnh hưởng nhất đến thời gian học tập của sinh viên

- Những sinh viên trong danh sách nghiên cứu sẽ được giải thích đầy đủmục đích, tính bảo mật của nghiên cứu, thời gian cần thiết để hoànthành một phiếu điều tra và trên cơ sở đó quyết định có tham gianghiên cứu hay không

- Phiếu điều tra không thu thập các thông tin để nhận diện đối tượngnghiên cứu, được kiểm tra đã điền đẩy đủ thông tin khi nộp

Trang 26

2.4.5 Phương pháp hạn chế sai số

Sai số có thể có

- Sai số do thu thập số liệu, thông tin: thông tin nghiên cứu được thu thậpqua việc tự điền phiếu hỏi, do đó có thể có một phần phụ thuộc vào tínhchủ quan của đối tượng nghiên cứu hoặc do tâm lý e ngại, sai số nhớlại

- Sai sót trong quá trình nhập số liệu, xử lý số liệu

Khống chế sai số

- Tập huấn cho người phát vấn hiểu và nắm chắc bộ câu hỏi

- Giải thích kỹ các câu hỏi dễ gây nhầm lẫn trong bộ câu hỏi cho sinhviên ngay khi phát phiếu

- Tiến hành điều tra thử với số lượng nhỏ để hoàn thiện công cụ, giámsát quá trình điều tra thử, rồi sau đó mới tiến hành điều tra

2.4.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu được làm sạch trước khi nhập liệu: loại bỏ những phiếu điều trakhông hợp lệ: rách, không điền đủ thông tin, thông tin không rõ ràng

- Số liệu điều tra được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 vàphân tích dựa trên Stata 10

- Sử dụng các thuật toán tính tỷ lệ phần trăm, test χ2, Fisher exact test…

2.4.7 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự đồng ý của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

- Sinh viên tự nguyện tham gia sau khi đã được giải thích rõ về mục đích

và ý nghĩa của nghiên cứu

- Thông tin thu thập trung thực, khách quan, được bảo mật và chỉ sửdụng cho mục đích nghiên cứu

Trang 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Nam; 41.00%

Nữ; 59.00%

NamNữ

Hình 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới Nhận xét: Kết quả hình 3.1 cho thấy tỷ lệ sinh viên nữ (59,0%) cao hơn so

với sinh viên nam (41,0%)

Bảng 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tôn giáo và khối lớp

Khối Tôn giáo

SVY2 N=119

n (%)

SVY4 N=110

n (%)

SVY6 N=93

n (%)

Chung N=322

n (%)

p

0,069Không 113 (95,0) 106 (96,4) 93 (100) 312 (96,9)

Nhận xét: Kết quả bảng 3.1 cho thấy hầu hết sinh viên không theo tôn giáo

(96,9%), chỉ có một phần nhỏ các sinh viên có tôn giáo (3,1%)

Trang 28

Sinh viên Y2 Sinh viên Y4 Sinh viên Y6 Chung

Hình 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc và khối lớp Nhận xét: Kết quả hình 3.2 cho thấy hầu hết sinh viên thuộc dân tộc Kinh

(96,3%) Trong đó, sinh viên Y6 có tỷ lệ dân tộc kinh cao nhất (98,9%), thấphơn là sinh viên Y4 (97,3%) và thấp nhất là sinh viên Y2 (93,3%)

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nơi ở và khối lớp

Khối

Nơi ở

SVY2 N=119

n (%)

SVY4 N=110

n (%)

SVY6 N=93

n (%)

Chung N=322

Nhận xét: Kết quả bảng 3.2 cho thấy phần lớn sinh viên sống ở nhà trọ

(68,9%) Trong đó, sinh viên Y6 sống ở nhà trọ chiếm tỷ lệ cao nhất (75,3%),tiếp theo là sinh viên Y4 (71,8%) và thấp nhất là sinh viên Y2 (61,3%) Sựkhác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Trang 29

Nhận xét: Kết quả bảng 3.3 cho thấy phần lớn sinh viên vừa đủ chi tiêu cho

cuộc sống và học tập (67,4%), tỷ lệ sinh viên có tài chính gần đủ, cần đắn đotrong chi tiêu chiếm một tỷ lệ không nhỏ (23,0%), 7,1% sinh viên cảm thấy

dư dả, thoải mái; chỉ có 2,5% sinh viên cảm thấy không đủ chi phí cho sinhhoạt

Trang 30

3.2 Dấu hiệu trầm cảm sử dụng công cụ CES-D 20

Bảng 3.4: Nhóm dấu hiệu tích cực trong thang đo CES-D

CES-D4 Cảm thấy tốt như mọi người 283 87,9

CES-D16 Được tận hưởng cuộc sống 299 92,9

* Dấu hiệu/hành vi được coi là “có” nếu xuất hiện với tần suất từ “Đôi khi”đến “Rất hay xảy ra”

Nhận xét: Kết quả bảng 3.4 cho thấy đa số các sinh viên có các hành vi tích

cực, trong đó cao nhất là “Có hi vọng về tương lai” và “Cảm thấy hạnh phúc”(94,4%), tiếp đến là “Được tận hưởng cuộc sống” (92,9%) và “Cảm thấy tốtnhư mọi người” (87,9%)

Bảng 3.5: Nhóm dấu hiệu về khó khăn giao tiếp trong thang đo CES-D

Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ xuất hiện “Cảm thấy mọi người

không thân thiện” là 45,7%, “Cảm thấy mọi người không thích mình” là56,5%

Trang 31

Bảng 3.6: Nhóm dấu hiệu chán nản trong thang đo CES-D

CES-D1 Cảm thấy khó chịu, bực mình 154 47,8

CES-D3 Không thể thoát khỏi nỗi buồn 103 32,0

CES-D6 Cảm thấy chán nản, thất vọng 199 61,8

CES-D9 Nghĩ cuộc sống toàn thất bại 103 32,0

CES-D10 Cảm thấy lo lắng, sợ hãi 181 56,2

Nhận xét: Kết quả bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ xuất hiện dấu hiệu “Cảm thấy

buồn” là cao nhất (77,9%) tiếp đó là “Cảm thấy cô đơn” (67,4%), “Cảm thấychán nản, thất vọng” (61,8%), “Cảm thấy lo lắng sợ hãi” (56,2%), “Khóc lóc”(52,8%), thấp nhất là dấu hiệu “Không thể thoát khỏi nỗi buồn” và “Nghĩ đếncuộc sống toàn thất bại” với 32,0%

Trang 32

Bảng 3.7: Nhóm dấu hiệu về hoạt động của bản thân trong thang CES-D

CES-D20 Không thể tiếp tục điều gì 130 40,4

Nhận xét: Kết quả bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ dấu hiệu “Nói ít hơn bình thường”

là cao nhất (69,9%), tiếp đó là “Cảm thấy mọi việc đều phải cố hết sức”(68,9%), “Khó tập trung” (57,1%), “Không thấy ngon miệng” (50,9%) và

“Ngủ không yên giấc” (49,7%), thấp nhất là “Không thể tiếp tục được điềugì” (40,4%)

Có nguy cơ; 46.90%

Không có nguy cơ ;

53.10%

Có nguy cơ Không có nguy cơ

Hình 3.4: Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên Nhận xét: Kết quả hình 3.4 cho thấy tỷ lệ sinh viên có dấu hiệu trầm cảm

chiếm gần một nửa (46,9%) tổng số sinh viên, trong khi tỷ lệ không có dấuhiệu trầm cảm là 53,1%

Trang 33

3.3 Dấu hiệu trầm cảm và các yếu tố liên quan

3.3.1 Dấu hiệu trầm cảm và đặc điểm chung

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa khối lớp và dấu hiệu trầm cảm

Dấu hiêu trầm

cảm Khối lớp

-Nhận xét: Kết quả bảng 3.8 cho thấy tỷ suất có dấu hiệu trầm cảm ở SVY2

cao gấp 2,29 lần (95% CI: 1,31 - 4,02) SVY6, với p<0,01 Tỷ suất có dấuhiệu trầm cảm ở SVY4 cao gấp 1,84 lần (95% CI:1,04 - 3,24) SVY6, vớip<0,05

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa giới tính và dấu hiệu trầm cảm

Nhận xét: Kết quả bảng 3.9 cho thấy tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên

nữ (51,6%) cao hơn nam (40,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê vớip<0,05

Trang 34

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa nơi sống và dấu hiệu trầm cảm

Dấu hiệu trầm

cảm Nơi sống

Nhà bố mẹ/

Ký túc xá 37 (56,1) 29 (43,9) 66 0,001 9,57

(2,02 - 45,2) Nhà trọ 105 (47,3) 117 (52,7) 222 0,004 6,73

(1,50 - 30,1) Nhà người quen 7 (41,2) 10 (58,8) 17 0,117 5,25

(0,90 - 30,6)

-Nhận xét: Kết quả bảng 3.10 cho thấy sinh viên sống tại nhà riêng có dấu

hiệu trầm cảm thấp nhất (11,8%) Tỷ suất có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên

sống tại ký túc xá cao gấp 9,57 lần (95% CI: 2,02 - 45,2), sinh viên sống tại

nhà trọ cao gấp 6,73 lần (95% CI: 1,5 - 30,1) so với sinh viên sống tại nhà

riêng, với p<0,01 Tỷ suất có dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên sống tại nhà

người quen cao gấp 5,25 lần so với nhóm sống ở nhà riêng, tuy nhiên sự khác

biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Ngày đăng: 27/09/2019, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Kim Việt, Lê Công Thiện, Dương Minh Tâm và cs. (2011).“Đánh giá hiểu biết, thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm ở một số quần thể người Việt Nam”. Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia. tr. 81- 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiểu biết, thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm ở mộtsố quần thể người Việt Nam”." Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoahọc kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Kim Việt, Lê Công Thiện, Dương Minh Tâm và cs
Năm: 2011
11. World Mental Health Day (2012). Trầm cảm - Căn bệnh toàn câu (bản tiếng việt). [trích dẫn ngày 20/1/2015] Lấy từ: URL:http://wfmh.com/wp-content/uploads/2014/08/WFMH_Depression_Vietnamese.pdfTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm - Căn bệnh toàn câu (bảntiếng việt)
Tác giả: World Mental Health Day
Năm: 2012
12. Aktekin M et al (2001). “Anxiety, depression and stressfull life events among medical students: a prospectie study in Antalya, Turkey”. Med Educ. 35(1): 12-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anxiety, depression and stressfull life eventsamong medical students: a prospectie study in Antalya, Turkey”. "MedEduc
Tác giả: Aktekin M et al
Năm: 2001
13. Anh Tran Quynh, Michael P Dunne, Hoat Luu Ngoc (2013). “Well- being, depression and suicidal ideation among medical students throughout Vietnam”. Vietnam jounal of medicine and pharmacy. 6 (3):p. 23-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Well-being, depression and suicidal ideation among medical studentsthroughout Vietnam”. "Vietnam jounal of medicine and pharmacy
Tác giả: Anh Tran Quynh, Michael P Dunne, Hoat Luu Ngoc
Năm: 2013
14. Baldassin S, et al (2008). “The characteristics of depressive symptoms in medical students during medical education and training: a cross-sectional study”. BMC Med Educ. 8: p. 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The characteristics of depressive symptoms inmedical students during medical education and training: a cross-sectionalstudy”. "BMC Med Educ
Tác giả: Baldassin S, et al
Năm: 2008
15. Blum R, Sudhinaraset M, Emerson MR (2012). “Youth at risk: suicidal thoughts and attempts in Vietnam, China and Taiwan”. J Adolesc Health.50(3): 37-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Youth at risk: suicidalthoughts and attempts in Vietnam, China and Taiwan”. "J Adolesc Health
Tác giả: Blum R, Sudhinaraset M, Emerson MR
Năm: 2012
18. Doan VDK (2011). What explains the association between socioeconomic status and Depression in Vietnamese adults? Faculty of Health, Queensland University of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: What explains the association betweensocioeconomic status and Depression in Vietnamese adults
Tác giả: Doan VDK
Năm: 2011
19. Dyrbye LN, MR Thomas, and TD Shanafelt (2006). “Systematic Review of Depression, Anxiety and other indicators of psychological distress among U.S and Canadian medical students”. Academic Medicine. 81(4):354-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Systematic Reviewof Depression, Anxiety and other indicators of psychological distressamong U.S and Canadian medical students”. "Academic Medicine
Tác giả: Dyrbye LN, MR Thomas, and TD Shanafelt
Năm: 2006
20. Fan AP et al (2012). “Suicidal ideation in medical students: who is at risk?” Annals of the Academy of Medicine – Singapore. 41(9): 377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suicidal ideation in medical students: who is atrisk?” "Annals of the Academy of Medicine – Singapore
Tác giả: Fan AP et al
Năm: 2012
21. Gillian P. (2010). “Attitudes to Mental Illness 2010, National Statistic”.Research Report. J. N. 207028 March 2010. pp. 6-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitudes to Mental Illness 2010, National Statistic
Tác giả: Gillian P
Năm: 2010
22. Hope V, Henderson M (2014) “Medical student depression, anxiety and distress outside North America: a systematic review”. Med Educ. 48(10):963-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical student depression, anxiety anddistress outside North America: a systematic review
23. Ibrahim AK, Kelly SJ, Adams CE, Glazebrook C (2013). “A systematic review of studies of depression prevalence in university students”. J Psychiatr Res. 47(3): 391-400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A systematicreview of studies of depression prevalence in university students”. "JPsychiatr Res
Tác giả: Ibrahim AK, Kelly SJ, Adams CE, Glazebrook C
Năm: 2013
24. Iqbal S, Gupta S, Venkatarao E (2015). “Stress, anxiety &amp; depression among medical undergraduate students &amp; their socio-demographic correlates”. Indian J Med Res. 141(3): 354-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, anxiety & depressionamong medical undergraduate students & their socio-demographiccorrelates”. "Indian J Med Res
Tác giả: Iqbal S, Gupta S, Venkatarao E
Năm: 2015
25. Jadoon NA et al (2010). “Anxiety and depression among medical students: a cross-sectional study”. J Pak Med Assoc. 60(8): 699-702 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anxiety and depression among medicalstudents: a cross-sectional study”. "J Pak Med Assoc
Tác giả: Jadoon NA et al
Năm: 2010
26. Jafari N, A Loghmani A and A Montazeri (2012). “Mental health of Medical studens in different levels of trainning”. Int J Prev Med. 3(Suppl 1): 107-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health ofMedical studens in different levels of trainning”. "Int J Prev Med
Tác giả: Jafari N, A Loghmani A and A Montazeri
Năm: 2012
29. Mosley TH Jr, et al (1994). “Stress, coping, and well-being among third- year medical students”. Acad Med. 69(9): p. 765-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, coping, and well-being among third-year medical students”." Acad Med
Tác giả: Mosley TH Jr, et al
Năm: 1994
30. Niemi PM, Vainiomaki PT (2006). “Medical students' distress--quality, continuity and gender differences during a six-year medical programme”.Med Teach. 28(2): p. 136-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical students' distress--quality,continuity and gender differences during a six-year medical programme”."Med Teach
Tác giả: Niemi PM, Vainiomaki PT
Năm: 2006
31. Quyen DD (2007). Depression and stress among the first year medical students in university of medicine and pharmacy Hochiminh city, Viet Nam. College of Public Heath Sciences, Chulalongkorn University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression and stress among the first year medicalstudents in university of medicine and pharmacy Hochiminh city, VietNam
Tác giả: Quyen DD
Năm: 2007
32. Radoloff LS (1977). The CES-D scale: A self - report depression scale for research in the general population. Applied Psychological measurenment 1977. 1(3) pp.385-401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The CES-D scale: A self - report depression scalefor research in the general population
Tác giả: Radoloff LS
Năm: 1977
33. Roh MS et al (2010). “The prevalence and Impact of depression Among Medical Students: A Nationwide Cross-Sectional Study in South Korea”.Academic Medicine. 85(8): 1384-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prevalence and Impact of depression AmongMedical Students: A Nationwide Cross-Sectional Study in South Korea”."Academic Medicine
Tác giả: Roh MS et al
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w