1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội đền đồng bằng xã an lễ, huyện quỳnh phụ, tỉnh thái bình

108 108 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tìm hiểu về di tích lịch sử và lễ hội đền Đồng Bằng. Khảo sát và đánh giá về công tác quản lý và thực trạng phát triển du lịch tại đền Đông Bằng Đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại đền Đồng Bằng.

Trang 1

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

KHOA LỊCH SỬ

LỄ HỘI ĐỀN ĐỒNG BẰNG TẠI XÃ AN LỄ, HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN QUANG THƯỞNG

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cổ gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ của nhiều người Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Tăng Chánh Tín đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ

và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ phường văn hóa xã An Lễ, Ban quản lý di tích đền Đồng Bằng đã giúp đỡ nhiệt tình, cung cấp tư liệu cho tôi trong quá trình điền dã, tìm hiểu lễ hội đền Đồng Bằng

Cảm ơn quý thầy cô trong khóa Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này Đồng cảm ơn các bạn

đã trao đổi, đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng song không thể không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong đưuọc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018

Sinh Viên: Nguyễn Quang Thưởng

Trường Đại Học Sư Phạm

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi đề tài 8

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 9

5.1 Nguồn tài liệu 9

5.2 Phương pháp nghiên cứu 9

5.2.1 Phương pháp luận 9

5.2.2 Phương pháp lịch sử logic 9

5.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 9

5.2.4 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp 9

5.2.5 Phương pháp quan sát trực tiếp 9

6 Đóng góp của khóa luận 10

7 Bố cục của đề tài 10

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11

1.1 Tổng quan về lễ hội 11

1.1.1 Khái niệm lễ hội 11

1.1.2 Đặc điểm của lễ hội 12

1.1.2.1 Tính “Thiêng” 12

1.1.2.2 Tính cộng đồng 12

1.1.2.3 Tính địa phương 12

1.1.2.4 Tính cung đình 12

1.1.2.5 Tính đương đại 13

1.1.2.6 Tính diễn xướng 13

1.1.2.7 Nghệ thuật tạo hình, trang trí 13

1.2 Lễ hội ở Việt Nam 14

Trang 4

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 14

1.2.2 Một số đặc trưng, giá trị cơ bản 16

1.2.3 Những lễ hội tiêu biểu 21

1.2.4 Thực trạng lễ hội và công tác quản lý lễ hội 26

1.3 Khái quát về xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 28

1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 28

1.3.2 Đôi nét về lịch sử hình thành, phát triển 29

1.3.3 Điều kiện kinh tế xã hội 31

1.3.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư 33

CHƯƠNG 2 LỄ HỘI ĐỀN ĐỒNG BẰNG – MỘT LỄ HỘI ĐỘC ĐÁO CỦA TỈNH THÁI BÌNH 35

2.1 Di tích lịch sử đền Đồng Bằng 35

2.1.1 Vị trí địa lý 35

2.1.2 Lịch sử hình thành 36

2.2.3 Đối tượng thờ phụng 37

2.2.4 Giá trị của di tích 43

2.2.4.1 Giá trị lịch sử 43

2.2 Lễ hội đền Đồng Bằng 54

2.2.1 Thời gian, không gian của lễ hội 55

2.2.2 Công tác chuẩn bị lễ hội 57

2.2.3 Phần lễ - Các nghi lễ chính trong lễ đền Đồng Bằng 58

2.2.4 Phần hội - Các trò chơi dân gian trong lễ hội 67

2.2.5 Nghệ thuật diễn xướng dân gian 72

2.2.6 Vai trò, giá trị của lễ hội đền Đồng Bằng 77

2.2.6.1 Về văn hóa 77

2.2.6.2 Về tâm linh 78

2.2.6.3 Về kinh tế, du lịch 80

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI ĐỀN ĐỒNG BẰNG NHẰM MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH 82

Trang 5

3.1 Ý nghĩa và mục tiêu của công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội đối với du

lịch 82

3.2 Công tác quản lý các hoạt động tại lễ hội 84

3.2.1 Bên trong đền 84

3.2.2 Bên ngoài đền 86

3.3 Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại lễ hội 87

3.3.1 Kinh doanh ẩm thực 87

3.3.2 Kinh doanh hàng lưu niệm, đặc sản 88

3.3.3 Các loại hình kinh doanh khác 89

3.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du khách 90

3.5 Công tác bảo vệ môi trường của lễ hội 90

3.6 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội đền Đồng Bằng nhằm mục đích phát triển du lịch 91

3.6.1 Giải pháp về nghiên cứu và tôn vinh 91

3.6.2 Giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lễ hội 92

3.6.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý 93

3.6.4 Giải pháp đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ du khách 94

3.6.5 Giải pháp bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh lễ hội 95

3.6.6 Giải pháp quảng bá, truyền thông 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội của đất nước, đời sống của con người Việt Nam ngày được nâng cao, kéo theo đó là sự gia tăng về nhu cầu tham gia sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa tinh thần

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần độc đáo, phong phú,

đa dạng đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của con người Sau những ngày tháng lao động vất vả mệt nhọc, đến với những dịp lễ hội là lúc con người tìm lại chính mình, được tịnh tâm, được hòa đồng, cộng cảm với tất cả trong một không gian, không khí linh thiêng như vậy Tham dự vào lễ hội, con người sẽ cảm thấy thanh thản hơn, nhẹ nhàng hơn Đến với lễ hội cũng là dịp để con người được giao hòa, gần gũi với thần linh hơn, kính trọng, cảm tạ

và cầu xin những điều may mắn sẽ đến với bản thân, gia đình và bạn bè Chính bởi lẽ đó mà lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói riêng ngày nay càng thu hút được sự quan tâm đông đảo của mọi người Và lễ hội đền Đồng Bằng, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là một trong những lễ hội truyền thống đã để lại những ấn tượng sâu đậm đến đông đảo mọi người

Mảnh đất Quỳnh Phụ- Thái Bình là nơi có nhiều lễ hội diễn ra như hội làng An Thái, hội A Sào, lễ hội đền Trần ở An Vũ… Trong đó lễ hội đền Đồng Bằng là lễ hội nổi tiếng, khai hội chính thức từ ngày 20 đến ngày 26 tháng Tám âm lịch hàng năm với quy mô lớn, sinh động và linh thiêng đã thu hút hàng vạn người trong tỉnh và khách thập phương về dự

Lễ hội đền Đồng Bằng đáp ứng được nhu cầu đi tìm hạnh phúc của con người thông qua niềm tin tôn giáo Đây còn là dịp để củng cố và phát triển mối quan hệ cá nhân - gia đình - công đồng - quốc gia trên cơ sở một hệ giá trị dân tộc Đặc biệt, lễ hội đền Đồng Bằng còn làm cho diện mạo của đời sống văn hóa của địa phương thêm sinh động, đa dạng và là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội

Bên cạnh những mặt tích cực thì lễn hội đền Đồng Bằng còn tồn tại những hạn chế như sự thiếu đa dạng về nội dung, chưa thỏa mãn được nhu cầu

Trang 7

thẩm mỹ, vấn đề vệ sinh môi trường, vấn đề lợi dụng lễ hội để kiếm lời bất chính, và các tệ nạn xã hội như cờ bạc, lừa đảo, móc túi, ăn xin…

Từ thực tế trên, việc quan tâm tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng lễ hội, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý hoạt động lễ hội, bảo tồn, phát huy và khai thác hết giá trị của lễ hội đền Đồng Bằng nhằm mục đích phát triển du lịch là vấn đề đặc biệt quan trọng Đồng thời, với ý thức trách nhiệm của một người con của quê hương Quỳnh Phụ, Thái Bình trước một di sản quý báu của cha công; tôi đã mạnh

dạn chọn đề tài : “Lễ hội đền Đồng Bằng xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh

Thái Bình” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong kho tàng các giá trị văn hóa Việt Nam, lễ hội truyền thống là một di sản tinh thần vô giá mà ông cha ta đã để lại Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa của cộng đồng thể hiện đầy đủ bản sắc, giá trị văn hóa của một vùng quê nói riêng và dân tộc nói chung Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam

có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%) Trong những năm qua đã có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về lễ hội Việt Nam Trước hết

phải kể đến như Lê Hồng Lý, Lê Trung Vũ (2005), “ Lễ hội Việt Nam”, Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin và Hoàng Lương (2002), “Lễ hội truyền thống của

các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà

Nội, tác giả đã cung cấp một cách có hệ thống lý thuyết và đặc điểm chủ yếu của

lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc Công trình phải kể

đến nữa là Nhiều tác giả (2002), “ Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam”, Nhà

xuất bản Văn hóa dân tộc, với cái nhìn tổng quan về lễ hội cổ truyền gắn với vùng văn hóa, đã có được ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định, đóng góp có hiệu quả vào việc sưu tầm, nghiên cứu lễ hội cố truyền văn hóa dân gian và dân tộc…

Trang 8

Lễ hội đền Đồng Bằng ở xã An lễ huyện Quỳnh Phụ là một lễ hội tâm linh lớn, có truyền thuyết liên quan đến công lao giữ nước của Vua cha Bát Hải

Đồng Đình (Long cung hoàng tử Giao Long) Lễ hội là một món ăn tinh thần

không thể thiếu của người dân Xã An Lễ và khách du lịch thập phương Vì vậy

lễ hội đã thu hút khá nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu lịch sử về đây tìm hiều và đã có nhiều công trình, bài nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này

Lễ hội đền Đông Bằng đã xuất hiện trong một số các bài viết đăng trên các báo,

tạp chí của Thái Bình như bài viết (02/12/2014), “Đền Đồng Bằng – nơi lưu giữ

những giá trị văn hóa truyền thống cần được bảo tồn và phát huy” Cổng thông

tin điện tử Thái Bình Đã giới thiệu cũng như cung cấp thông tin về lịch sử hình thành và khái quát các hoạt động diễn rat rang lễ hộ và giá trị văn hóa, kiến trúc của đền Đồng Bằng đến bạn đọc Tuy nhiên tác phẩm này mới chỉ đề cập một cách chung chung về lễ hội chưa đi sâu vào nghiên cứu lễ hội và vấn đề khai thác bảo tồn các giá trị lịch sử - văn hóa của lễ hội

Do đó, tuy không phải là một để tài mới, song khóa luận này, tôi đi sâu tìm hiểu cụ thể nguồn gốc hình thành, qúa trình phát triển, các bước tiến hành trong

lễ hội… và đặc biệt là vấn đề khai thác và bảo tồn các giá trị lịch sử - văn hóa của lễ hội để sử dụng vào việc phát triển du lịch tại lễ hội

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Khóa luận tìm hiểu về di tích lịch sử và lễ hội đền Đồng Bằng

- Khảo sát và đánh giá về công tác quản lý và thực trạng phát triển du lịch tại đền Đông Bằng

- Đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại đền Đồng Bằng

Trang 9

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu được lấy từ các phương tiện thông tin đại chúng Các tài liệu cũng được lấy từ các tạp chí và các sách vở nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để cho nội dung phong phú và sát với thực tế, tôi đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp quan sát thực tiễn: quan sát thực tế công tác tín dụng, các nghiệp vụ quy trình tín dụng tại chi nhánh để có cái nhìn thực tiễn và tổng quan Phương pháp thu thập thông tin: thu nhập thông tin cần thiết về tín dụng tại chi nhánh, đồng thời thu thập thêm thông tin trên báo, internet…

Phương pháp phân tích, so sánh số liệu theo chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối

và so sánh

5.2.1 Phương pháp luận

Đây là đề tài liên quan đến đời sống văn hóa tình thân, tâm linh của con người và việc phát triển du lịch Do vậy tôi dựa trên quan điểm của Đảng về văn hóa và việc vận dụng văn hóa dân tộc để phát triển du lịch

5.2.2 Phương pháp lịch sử logic

Thông qua phương pháp này đề phân tích có cái nhìn đúng đắn hơn các vấn

đề có liên quan đến lịch sử của một vùng đất, những tài liệu, câu chuyện có liên quan đến lịch sử dân tộc

5.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu

Sử dụng phương pháp này vào việc thu thập các tài liệu có liên quan đến lễ hội các tài liệu có liên quan tới đề tài được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau

5.2.4 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp

Tiến hành so sánh đối chiếu các tài liệu, số liệu… sau đó phân tích và tổng hợp các tài liệu dựa trên mục đích nghiên cứu làm cơ sở cho việc hoàn thành khóa luận

5.2.5 Phương pháp quan sát trực tiếp

Vận dụng phương pháp này để quan sát công trình kiến trúc của di tích

Trang 10

Đồng thời tôi sử dụng phương pháp này vào việc quan sát công việc chuẩn bị lễ hội của chính quyền và người dân, diễn trình của lễ hội, các trò chơi, cuộc thi diễn ra ở lễ hội…

6 Đóng góp của khóa luận

Góp phần tìm hiểu một lễ hội truyền thống ở quê hương – Lễ hội Đền Đồng Bằng Kết quả nghiên cứu về lễ hội giúp hiểu rõ hơn về lễ hội, giá trị truyền thống, văn hóa của một vùng đất mình đang sống, tinh thần cố kết cộng đồng được thể hiện qua nhiều sinh hoạt văn hóa trong lễ hội Trên cơ sở đó giúp nhìn nhận một các khách quan nhất thực trạng khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử - văn hóa của lễ hội Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch tại lễ hôi Đền Đồng Bằng

KẾT LUẬN

DANH MỤC THAM KHẢO

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về lễ hội

1.1.1 Khái niệm lễ hội

Gs Hoàng Phê (2016) trong “Từ điển tiếng Việt”, Nxb Hồng Đức có định

nghĩa về “Lễ hội” như sau:

“Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của

con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện

“Hội” là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát

từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh"

Trong cuốn “Hội hè Việt Nam” (2017), Nxb Thế giới, tác giả Nguyễn Văn Huyên cho rằng “Hội” và “Lễ” là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc

Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” (1993) của Phan Đăng Nhật, Nxb Khoa học

xã hội cho rằng “ Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những

phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội, lịch sử quan trọng của dân tộc”

Lễ hội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời

kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai”

Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời “Lễ”

là phần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người “Hội”

Trang 12

là các trò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả cộng đồng

1.1.2 Đặc điểm của lễ hội

1.1.2.1 Tính “Thiêng”

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang

tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống

mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được

"thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân

1.1.2.2 Tính cộng đồng

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

1.1.2.3 Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế

lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính

là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng

1.1.2.4 Tính cung đình

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều

mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy

Trang 13

hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân

1.1.2.5 Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch

sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng

âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua

sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý

1.1.2.6 Tính diễn xướng

Có thể nói rằng, toàn bộ lễ hội là một sân khấu đặc biệt Tại sân khấu này,

có ba nhân vật chính Một nhân vật là ông Thầy cúng (Thầy Đồng đền ở Đền, Ông chủ tế ở đình ) người có khả năng thông qua các Thần linh, sự nhập vai của các Thần linh (các hiện tượng lên đồng) Nhân vật thứ hai là quần chúng nhân dân, những tín đồ của tôn giáo hay tín ngưỡng, những người đã có sẵn những cảm xúc tôn giáo, tín ngưỡng nhạy bén, sẵn sàng tham gia, nhập cuộc vào cuộc trình diễn này Nhân vật thứ ba tuy không xuất hiện trên sân khấu, nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong lễ hội, chính nhân vật này tạo ra cảm hứng xuyên suốt cuộc lễ hội, là động lực của lễ hội Đó là các Thần linh, đối tượng thờ cúng của các lễ hội

1.1.2.7 Nghệ thuật tạo hình, trang trí

Nghệ thuật tạo hình và trang trí tồn tại trong Lễ hội như một yếu tố tất yếu

Cờ hội với năm sắc ngũ hành - năm màu tương ứng với năm yếu tố cơ bản của

vũ trụ theo quan niệm triết học cổ sơ, đặt cạnh nhau rất tương phản, gây sự chú

ý Các loại kiệu sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm trổ tinh vi Tượng gỗ với cách tạo hình dân gian và truyền thống

Trong ngày hội làng, các đội tế với cách ăn mặc đặc biệt, đã gây ấn tượng đối với người dự hội Thực ra, trang phục của đội tế, từ chủ tế đến các thành

Trang 14

viên của đội, là sự mô phỏng sắc phục của quan lại khi lâm triều Đó cũng là yếu

tố tâm lý hấp dẫn đối với những người trong đội tế Dường như trong trang phục

đó, họ cảm thấy một vinh dự đặc biệt dành cho họ và họ được đứng ở một vị trí khác hẳn ngày thường Ở các đền phủ, nghệ thuật trang trí đặc biệt được coi trọng Màu sắc và các đồ trang sức của người lên đồng chính là yếu tố quan trọng để phân biệt các giá đồng Nếu Cô Bé Thượng Ngàn chỉ dùng trang phục sắc xanh (miền núi) với các loại trang sức như vòng bạc, hoa tai thường được đồng bào các dân tộc thiểu số ưa dùng thì Ông Hoàng Mười, một vị quan văn hào hoa, phong nhã, lại ăn mặc kiểu quan văn Cách bài trí điện thờ cũng đặc biệt Khác với chùa chiền thường trang trí giản dị, gợi cảnh thú nhàn, xa lánh thế tục, các đền phủ ưa trang hoàng lộng lẫy, rực rỡ gần với cảnh lộng lẫy của các cung điện thế tục

Trong điện thờ, các vị Thánh được thờ ở một vị trí riêng, vừa phù hợp với thứ bậc của họ trong hệ thống Thần linh của Đạo Mẫu, vừa phù hợp với tính cách của các vị theo quan niệm truyền thống

1.2 Lễ hội ở Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam

Lễ hội là một trong những “hoạt động văn hoá cao”, “hoạt động văn hoá

nổi trội” trong đời sống con người Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng

hướng tới “xử lý” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó Hoạt động này diễn

ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích

đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người; thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống

Môi trường của lễ hội truyền thống Việt Nam về cơ bản chính là nông thôn, làng xã Việt Nam Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn

Trang 15

hoá truyền thống được bảo tồn và phát triển Những yếu tố văn hoá truyền thống

đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước Nó chính là hệ quả của cả quá trình lịch sử của không chỉ một cộng đồng người Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong dọc dài lịch sử của bất cứ một cộng đồng cư dân nào

Lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thoả nguyện qua mọi thời đại Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn của lịch sử

Lễ hội ở Việt Nam có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, qua nhiều thời kỳ lịch sử Những bằng chứng lịch sử đã chứng minh, lễ hội của người Việt

đã có từ thời đại văn minh Văn Lang – Âu Lạc, gắn liền với đời sống của cư dân làm nông nghiệp với nhu cầu trị thủy và đoàn kết chống ngoại xâm Qua các triều đại phong kiến, lễ hội tiếp tục được nuôi dưỡng và trau dồi gắn với quá trình phát triển của văn hóa dân tộc Đặc biệt, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lễ hội Việt Nam nhiều lúc bị gián đoạn, mai một Tuy nhiên, sau năm 1986, khi đất nước đổi mới, các lễ hội có điều kiện để phục sinh và phát triển mạnh mẽ

Hiện tại ở nước ta có nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội cổ truyền còn có Lễ hội mới, (lễ hội hiện đại, gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội

sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, Lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện)…, trong đó lễ hội cổ truyền thống có số lượng nhiều nhất (khoảng trên 7000 lễ hội trong tổng số gần 9000 lễ hội), phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất

Người ta có thể phân loại lễ hội cổ truyền theo thời gian các mùa trong năm, trong đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ), phân chia theo phạm vi lớn nhỏ: Lễ hội làng, lễ hội vùng, lễ hội quốc gia Phân loại theo tính chất của lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn…), lễ hội

Trang 16

tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật, Kitô, Tín ngưỡng dân gian…

Lễ hội cổ truyền là những mốc đánh dấu chu trình đời sống sản xuất và đời sống xã hội của mỗi cộng đồng người, mà một khi cái mốc mang tính lễ nghi đó chưa được thực hiện thì các quá trình sản xuất và quá trình xã hội đó sẽ bị đình trệ, sự sinh tồn và các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Do vậy, một nghi lễ, lễ hội bao giờ cũng mang tính chuyển tiếp của một chu trình sản xuất vật chất hay xã hội nhất định

Trong số hơn 7000 lễ hội cổ truyền của nước ta, xét về nguồn cội đều là lễ hội nông nghiệp, quy mô ban đầu là hội làng Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử, các lễ hội nông nghiệp này dần biến đổi, làm phong phú hơn bằng những nội dung lịch sử (nhất là lịch sử chống ngoại xâm), nội dung xã hội (nhất là các quan hệ cộng đồng), nội dung văn hóa tạo nên diện mạo vô cùng phong phú và

đa dạng như ngày nay

1.2.2 Một số đặc trưng, giá trị cơ bản

- Một số đặc trưng

So với các loại lễ hội khác, lễ hội cổ truyền mang 3 đặc trưng cơ bản sau:

Lễ hội cổ truyền gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang

tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên

nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình

Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội

là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương) trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này

Trang 17

tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội

Lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức

hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các

phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này

Chủ thể của lễ hội cổ truyền là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng

đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn

cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

Ba đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival

- Một số giá trị

Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng

Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội

là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)… Lễ hội là

Trang 18

môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng

Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng”

bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy

Giá trị hướng về cội nguồn

Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên

mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn

thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống

nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế, lễ hội bao giờ

cũng gắn với hành hương - du lịch

Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

Giá trị cân bằng đời sống tâm linh

Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có

Trang 19

niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về

đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái

“thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu

Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người

dường như được “chương trình hoá” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng

thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và

tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở, xô bồ,

“tháo khoán” Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hoà đồng của con người,

làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mang tính đại chúng Một đời

sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứ hai”, không có sự

“bùng cháy” và “thăng hoa”

Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức

ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Tất cả đó là trạng thái “thăng

hoa” từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ

hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực

Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng

ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm

đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh”

Trang 20

của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình

Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt

Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập

trung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ

góc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hoá, làm tha hoá chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hoá

về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hoá về văn hoá Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá ấy

Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy

Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội,

mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi

“xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn

quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi

con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và

trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó

Trang 21

là lễ hội với “xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không

có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam

1.2.3 Những lễ hội tiêu biểu

Lễ hội truyền thống là dịp để con người giao lưu, truyền lại những đạo đức, luân lý về khát vọng cao đẹp; đồng thời nhắc lại nhiều câu chuyện về các đối tượng được suy tôn như những vị anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người

có công chống thiên tai, diệt thú dữ, cứu nhân độ thế… hay những người có công truyền nghề

Lễ hội truyền thống giúp gột rửa những điều lo toan thường nhật, giúp con người tìm được sự thanh thản nơi chốn tâm linh Và đó cũng là lý do các lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường thu hút rất đông người dân địa phương và du khách gần xa tham gia

Một số lễ hội tiêu biểu ở các vùng miền

- Những lễ hội tiêu biểu vùng Tây Bắc

+ Lễ hội Lồng Tồng:

Là lễ hội truyền thống đặc trưng của cộng đồng người Tày, được tổ chức thường niên vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch theo từng địa phương Lễ hội là dịp để bà con khắp nơi cầu phúc lộc, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên, no

ấm hạnh phúc Nhiều trò chơi dân gian cổ truyền như ném còn, bịt mắt bắt dê, hát lượn… được tổ chức trong lễ hội này

+ Lễ hội hoa ban:

Hay còn được gọi là hội Xên bản, Xên mường – một lễ hội của đồng bào dân tộc Thái Lễ hội được tổ chức vào mùa hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc, tức là vào dịp tháng Hai âm lịch Lễ hội hoa ban được mệnh danh là ngày hội của tình yêu đôi lứa, ngày hội của hạnh phúc gia đình, hội cầu mùa màng tươi tốt, cuộc sống no ấm nơi bản mường, và cũng là dịp để bà con và du khách tham gia các trò chơi, thi tài, hát giao duyên trong những đêm trăng sáng

- Những lễ hội tiêu biểu vùng châu thổ Bắc Bộ

+ Lễ hội Đền Hùng (Giỗ tổ Hùng Vương) – Phú Thọ:

Hẳn chúng ta đều đã quá quen thuộc với câu ca dao: “Dù ai đi ngược về

Trang 22

xuôi – Nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba”, và hễ nhắc đến câu ca dao này là

ai ai cũng nhớ đến ngày Giỗ tổ Hùng Vương Đây là một trong những lễ hội lớn mang tính chất quốc gia, được tổ chức hàng năm nhằm để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước

Không biết từ bao giờ, phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành một truyền thống văn hoá ở nước ta Cứ vào mùa xuân là lễ hội diễn ra và kéo dài từ mùng 8 – 11/03 âm lịch, trong đó mùng 10 là chính hội Lễ hội hàng năm thu hút rất đông lượt khách du lịch trong nước và quốc tế thành tâm về chiêm bái

+ Lễ hội chùa Hương – Hà Nội (Mỹ Đức, Hà Tây cũ):

Mùa xuân đi trảy hội chùa Hương đã không còn xa lạ với nhiều người dân Việt Nam nói chung và người dân miền Bắc nói riêng Khi hội chùa Hương không phải chỉ để đi lễ Phật, mà còn để thưởng ngoạn những cảnh đẹp của sông núi nơi đây, để cảm nhận những sự tuyệt vời đến bình yên của thiên nhiên mang lại cho mỗi chúng ta ở vùng đất này

Lễ hội Chùa Hương hàng năm đều diễn ra từ 6 tháng Giêng cho đến hết tháng Ba âm lịch Được đánh giá là một trong những lễ hội diễn ra trong thời gian dài nhất, thu hút đông đảo du khách đổ về đây đề đi lễ cầu tài, cầu lộc kết hợp với du lịch thưởng ngoạn

+ Lễ hội đền Gióng – Sóc Sơn, Hà Nội:

Khu di tích đền Gióng bao gồm đền Trình, đền Mẫu, chùa Đại Bi, đền Thượng, tượng đài Thánh Gióng, chùa Non Nước cùng các lăng bia đá ghi lại chi tiết về lịch sử và lễ hội đền Sóc Năm 2011, hội Gióng đã vinh dự đón nhận

là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO công nhận

Lễ hội đền Gióng được khai hội ngày 6/1 âm lịch hàng năm và tổ chức tại

xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) Theo truyền thuyết, vùng đất này là nơi dừng chân cuối cùng của Thánh Gióng trước khi cởi bỏ áo giáp bay về trời Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với các nghi lễ truyền thống như: lễ khai quang, lễ rước,

lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng, nơi thờ Thánh Gióng thu hút sự quan tâm của người dân địa phương và du khách quốc tế

+ Lễ hội đền Trần – Nam Định:

Trang 23

Được gọi với tên khác là lễ Khai ấn đền Trần, lễ hội ở đền Trần diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm Lễ hội được cử hành trang nghiêm cùng các lễ rước từ các đình , đền xung quanh t ập trung lại và lễ tế tự ở đền Thượng thờ 14 vị vua Trần Lễ dâng hương bao g ồm 14 cô gái đồng trinh Các phần hội của đền Trần với nhiều hình thức sinh hoạt phong phú như diễn võ năm thế hê ̣, đấu vâ ̣t, múa lân, chơi cờ thẻ…

Lễ hội đền Trần cũng là dịp để mỗi ngườ i dân Nam Đi ̣nh nói riêng và người dân Việt Nam nói chung tự hào mỗi khi nhớ về cô ̣i nguồn và v ề các vị vua, tướng thời Trần

+ Lễ hội Bà chúa Kho – Bắc Ninh:

Là một lễ hội lớn tại miền Bắc, có ý nghĩa nhất là đối với giới kinh doanh, làm ăn buôn bán Tục lệ “cuối năm trả nợ, đầu năm đi vay bà chúa Kho” đã trở thành một phong tục tồn tại lâu đời tại Việt Nam Đền bà chúa Kho nằm tại địa phận làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh Lễ hội Bà chúa Kho khai hội vào 14/1 âm lịch với các tục dâng hương, khấn vay tiền Bà Chúa (tượng trưng) để “cầu tài phát lộc” cho một năm làm ăn phát đạt

- Những lễ hội tiêu biểu ở vùng Trung bộ

+ Lễ hội cầu Ngư:

Là lễ hội của nhân dân làng Thái Dương hạ (thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế), được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng

âm lịch hàng năm Ba năm một lần làng lại tổ chức đại lễ rất linh đình

Lễ hội để tưởng nhớ Trương Quý Công (biệt danh là Trương Thiều) – vị thành hoàng của làng Ông là người gốc Thanh Hoá, đã có công dạy cho dân nghèo cách đánh cá và buôn bán ghe mành

Lễ hội cầu Ngư có các trò chơi mô tả cảnh sinh hoạt của nghề đánh cá, đặc sắc là hình ảnh “bủa lưới” mang ý nghĩa trình nghề, khắc họa đậm nét nghi lễ dân gian của cư dân vùng ven biển

+ Lễ hội Dinh Thầy – Thím:

Từ lâu, lễ hội này đã trở thành nét văn hóa đặc sắc riêng biệt của tỉnh Bình Thuận Vào ngày 14 đến 16 tháng 9 âm lịch hàng năm, ngay chính tại khu di

Trang 24

tích lịch sử – văn hóa Dinh Thầy – Thím (xã Tân Tiến, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) lại diễn ra lễ hội lớn nhân ngày giỗ của Thầy – Thím

Vào dịp lễ hội, đông đảo người dân địa phương và du khách đến cầu nguyện sức khỏe, hạnh phúc cho gia đình, họ hàng và công việc làm ăn hanh thông Ngoài các nghi lễ xưa vẫn được bảo tồn, trong phần hội còn có nhiều trò chơi dân gian thu hút như: chèo Bả Trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võ thuật, thi lắc thúng, gánh cá đi bộ, múa rồng… tạo nên không khí lễ hội sôi động

+ Lễ hội Katê:

Là lễ hội lớn nhất, đông vui nhất của tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi

có đông đảo đồng bào dân tộc Chăm sinh sống Được tổ chức tại tháp Poklong Garai hoặc các tháp Chàm khác, lễ hội Katê (tên khác là lễ tưởng niệm đấng cha) diễn ra vào ngày 1-7 Chăm lịch (khoảng từ 25-9 đến 5-10 dương lịch) hàng năm

Lễ hội Katê để tưởng niệm các vị anh hùng dân tộc, tổ tiên, ông bà, thần linh cùng các vua Pôklông Garai, vua Prôme Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhân dân các vùng lân cận sẽ tụ tập lên tháp làm lễ đơn giản

Các thầy cúng sẽ tiến hành lễ cúng tế ở ngoài sân sau khi các thầy coi về đạo giáo Sau đó thì du khách vào tháp, tận mắt chứng kiến bà bóng và thầy cúng tắm rửa, thay áo cho vua Poklong Garai (tượng đá), đọc kinh và hát những bài hát dân ca Nghi lễ này được kết thúc bằng điệu múa thiêng liêng của bà bóng trong tháp

- Những lễ hội tiêu biểu ở vùng Tây nguyên và Nam bộ

+ Lễ hội cơm mới:

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, thần lúa là được tôn trọng không kém các thần khác Sau khi thu hoạch hàng năm, người ta tổ chức lễ

ăn cơm mới, để tạ ơn thần, và thể hiện sự vui mừng chung hưởng kết quả của một quá trình mệt nhọc

Lễ mừng thu hoạch của người Mạ là lễ hội lớn nhất trong năm và thường kéo dài 7 ngày Lễ ăn cơm mới của người Bana chỉ diễn ra trong ba ngày, khi đã

Trang 25

bắt đầu thu hoạch Và lễ Sơmắh Kek diễn ra khi gặt lúa đại trà Cuối cùng là lễ đóng cửa kho

+ Lễ hội đâm trâu:

Là lễ hội khá phổ biến của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên và

ở phía Bắc của vùng Đông Nam bộ Lễ đâm trâu diễn ra vào lúc nông nhàn (khi mọi người nghỉ ngơi để chuẩn bị cho một mùa rẫy mới), tức vào khoảng tháng

Ba hoặc tháng Tư âm lịch Đối với đồng bào các dân tộc ở tây Nguyên, con trâu thường được sử dụng làm vật tế thần linh bởi chúng biểu tượng cho sự phồn thịnh Thịt trâu được người dân trong buôn chia nhau để ăn mừng

Sau các nghi thức cúng thần linh, con trâu được dắt ra cột ở gốc cây nêu giữa sân Tất cả già, trẻ, trai gái trong bản cùng nhảy múa trong tiếng nhạc của cồng, chiêng Sau đó, một đội đâm trâu được trang bị giáo mác và đều là những chàng trai trẻ, sẽ vào sân để bắt đầu tiến hành đâm trâu

+ Lễ hội Bà Chúa Xứ:

Là lễ hội dân gian lớn nhất ở Nam Bộ Lễ hội được tổ chức từ đêm ngày 23 đến 27 tháng Tư âm lịch hàng năm Trong những ngày lễ diễn ra tại miếu Bà Chúa xứ ở núi Sam (tỉnh An Giang), nhiều hoạt động văn hóa như múa bóng, hát bội diễn ra

Đêm ngày 23, nghi thức tắm Bà diễn ra thu hút đông đảo người xem Sau

đó tượng Bà được đưa xuống và dùng nước mưa pha với nước hoa để tắm Lễ vía Bà hàng năm thu hút du khách thập phương đến tham dự lễ hội dân gian, cầu tài lộc, và cũng là dịp chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp ở núi Sam và các di tích lịch sử xung quanh như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Tây An…

+ Lễ hội Ok Om Bok:

Lễ hội có tên khác là lễ cúng Trăng của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, được tổ chức vào đúng hôm rằm và được bắt đầu từ khi trăng lên Xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, mặt trăng được biết là thần bảo vệ mùa màng, nên người Khmer thường tổ chức lễ hội Ok Om Bok vào ngày rằm tháng 10 âm lịch hằng năm như để cảm ơn các vị thần đã cho mưa thuận, gió hòa và mùa bội thu… Theo phong tục của người Khmer, sau lễ cúng Trăng sẽ là hội đua nge ngo, thu

Trang 26

hút hàng chục vạn người tham gia hưởng ứng

1.2.4 Thực trạng lễ hội và công tác quản lý lễ hội

- Tích cực:

Trong những năm gần đây, công tác quản lý và tổ chức lễ hội cơ bản đã thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và tổ chức lễ hội của của Đảng và Nhà nước Lễ hội quy mô quốc gia đến các lễ hội nhỏ phạm vi làng, xã đều đảm bảo an ninh trật tự Nhiều lễ hội có chuyển biến tích cực, khắc phục được nhiều hạn chế, tồn tại như mê tín dị đoan, cờ bạc, lưu hành ấn phẩm trái quy định Do phát huy vai trò chủ thể của người dân hoạt động lễ hội đã được xã hội hoá rộng rãi, huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, nguồn tài trợ, cung tiến ngày càng tăng, nguồn thu qua công đức, lệ phí, dịch vụ phần lớn đã được sử dụng cho tôn tạo di tích, tổ chức lễ hội nhằm bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống và hoạt động phúc lợi công cộng

Phần lễ tổ chức trang trọng, linh thiêng và thành kính, chương trình tham gia phần hội phong phú hấp dẫn, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian, diễn xướng dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc để quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam Gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống với quảng bá du lịch, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và mỹ tục truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp, độc đáo của dân tộc ta, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tâm thức hướng

về nguồn cội của cộng đồng Đồng thời các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, làm nên vẻ đẹp của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo

Một số lễ hội tổ chức với quy mô ngày càng lớn, hình thức tổ chức với nhiều nội dung, nhiều hoạt động, các địa phương đã dựa vào nội lực là chính, nhiều lễ hội đã chinh phục được du khách, tôn vinh di sản, nâng cao uy tín của thương hiệu du lịch hấp dẫn của địa phương

Kinh nghiệm tổ chức một số Lễ hội Văn hóa, thể thao, du lịch đã dần dần mang tính chuyên nghiệp hóa góp phần tạo ra doanh thu và hiệu quả đầu tư, góp

Trang 27

phần đẩy mạnh và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân ở các địa phương Đặc biệt loại hình lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch đã tạo ra sự đột phá tuyên truyền quảng bá những tiềm năng thế mạnh, thành tựu kinh tế xã hội của địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh và đất nước con người Việt Nam, tôn vinh các giá trị văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế trong văn hóa du lịch, tạo dấu ấn với du khách trong nước và quốc tế (Festival Huế, Lễ hội bắn pháo hoa Đà Nẵng, Festival trái cây Nam Bộ )

Thông qua tổ chức lễ hội đã huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, phần lớn kinh phí tổ chức lễ hội (đặc biệt là lễ hội dân gian) đều do nhân dân và

du khách thập phương tự nguyện đóng góp Trong nhiều lễ hội, nhân dân đã đóng góp nguồn kinh phí lớn có thể tính được bằng tiền tỷ để trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống

- Hạn chế:

Công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho quần chúng nhân dân hiểu rõ giá trị truyền thống trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong công tác tổ chức lễ hội còn hạn chế; Không ít lễ hội do nặng về hình thức quy mô phải hoành tráng với chương trình nghệ thuật sân khấu hóa hiện đại, nặng về trình diễn nghệ thuật, đạo cụ, phô diễn tốn kém nhưng nội dung chưa đảm bảo, còn đơn điệu, chung chung, ít được đầu tư từ đó giám tính tích cực, hấp dẫn của lễ hội

Một số lễ hội còn có biểu hiện lãng phí Còn xuất hiện hiện tượng bói toán, lên đồng, cờ bạc, thương mại hóa trong hoạt động dịch vụ lễ hội, tệ nạn bán hàng rong, bán sách ngoài luồng, xem tướng số, tử vi, lôi kéo khách hành hương, nâng giá trị dịch vụ, đặt tiền công đức - giọt dầu tùy tiện, tệ nạn ăn xin,

ăn mày làm giảm đi tính tôn nghiêm và những nét đẹp văn hóa trong hoạt động lễ hội

Lễ hội dân gian lớn được tổ chức quy mô và cầu kỳ hơn trước nhưng cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng, đặc biệt là hình thức dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu mật độ đông của du khách, văn hóa tâm linh có xu hướng thiếu lành mạnh

Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch có chiều hướng phát triển nhanh về số

Trang 28

lượng và quy mô tổ chức dẫn đến sự lúng túng trong công tác chỉ đạo quản lý hướng dẫn của địa phương Việc tổ chức lễ hội nghiêng về lợi ích kinh tế, do đó

ý nghĩa văn hóa tinh thần mờ nhạt

Một số nơi tổ chức những ngày kỷ niệm của địa phương, ngày truyền thống của ngành còn có biểu hiện phô trương, lãng phí nặng về hình thức, chưa khai thác hết tiềm năng sáng tạo văn hóa của nhân dân và vốn truyền thống văn hóa dân gian vốn có ở địa phương

Do tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã dẫn đến nhận thức sai lệch về mục đích tổ chức lễ hội, coi di tích và lễ hội là nguồn lợi riêng của địa phương nên tập trung khai thác giá trị kinh tế, thương mại hóa các loại hình hoạt động dịch vụ, làm giảm giá trị truyền thống của lễ hội

Nếp sống văn hóa - văn minh của người phục vụ và người tham gia lễ hội còn yếu Sự bùng nổ nhu cầu tham gia lễ hội của đông đảo nhân dân ngoài dự kiến đã dẫn đến tình trạng lộn xộn không kiểm soát được tại một số lễ hội lớn Trình độ quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động lễ hội của cán bộ văn hóa cơ cở và những người trực tiếp quản lý di tích và điều hành lễ hội còn hạn chế

Việc phân cấp quản lý lễ hội và di tích chưa thống nhất: Có nhiều chủ thể cùng tham gia quản lý (Ủy ban nhân dân xã, phường, Ban quản lý di tích, nhà chùa, nhà đền, công ty khai thác dịch vụ), việc phân cấp quản lý lễ hội, di tích của từng địa phương cũng khách nhau, có nơi do Ủy ban nhân dân huyện, thị xã

tổ chức và quản lý lễ hội; có nơi giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường tổ chức

và quản lý; có nơi do Ban quản lý chuyên môn, công ty kinh doanh khai thác các hoạt động vận chuyển và dịch vụ

Hiện đang xuất hiện xu hướng tự nâng cấp, tự đặt tên lễ hội thành Lễ hội cấp Quốc gia, Lễ hội Quốc tế

1.3 Khái quát về xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

An Lễ nằm ở phía Đông Nam huyện Quỳnh Phụ, cách trung tâm huyện Quỳnh Phụ 9km, cách thành phố Thái Bình 21 km về phía Tây Nam Tổng diện

Trang 29

tích đất tự nhiên là 502,4 ha, dân số 7.167 người (2015) Xã có vị trí tiếp giáp như sau: phía Bắc giáp xã An Quý, phía Đông và phía Nam giáp xã An Vũ; Phía tây giáp hai xã An Vinh và Đông Hải Từ xa xưa, xã có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, có lợi thế về kinh tế và quân sự, do đó đã được ông cha ta chọn làm căn cứ điểm chống giặc ngoại xâm Từ thuở nhà Trần đến những năm chống giặc Minh xâm lược, Đào Động là căn cứ lớn của tưởng Phạm Bôi (quê ở thị trấn An Bài) Những thanh niên trong làng như Phạm Ru, Phạm Châu, Phạm Quỳnh, Phạm Quý, Phạm Khuê cùng nhân dân hăng hái góp sức mình để trấn giữ sông Vĩnh (sông Đồng Bằng cổ), ngã ba Tam Kỳ, nhằm chống lại quân Minh

Năm 1417, trai làng Đào Động đã cũng thủ lĩnh Pham Bôi vào Lam Sơn (Thanh Hóa) tụ nghĩa, dự hội thề Lũng Nhai, theo Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh Cũng bởi vị thế yếu hiểm về Quân Sự nên khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đã cắm 3 bốt tại xã (bốt liên hiệp, bốt Cầu Vật, bốt Bảo

An chợ Đồng Bằng, bốt vệ sĩ nhà thờ) Ngày nay, vị trí địa lý của xã rất thuận lợi cho giao thương Bắc Nam, giao lưu văn hóa với các địa phương trong và ngoài huyện

Địa hình của xã tương đối bằng phẳng, dốc dần từ Bắc xuông Nam và từ khu dân cư ra sông, có độ cao từ 0,75 – 1,59 m so với mực nước biển Xã có 20

ha đất thuộc địa hình cao ( chiếm 4% diện tích đất tự nhiên); 110 ha địa hình vàn cao (chiếm 22%); 215 ha đất vàn (chiếm 42,8%); 50 ha đất vàn thấp (chiếm 9,9%); 107 ha đất dịa hình thấp (chiếm 21,3%)

Trong các tài nguyên của xã thì dất đai đóng vai trò quan trọng hàng đầu, là địa bàn sinh sống lâu đời của dân cư, nơi phát triển kinh tế (đặc biệt là nông nghiệp), xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm và các công trình xã hội, văn hóa, tâm linh khác

1.3.2 Đôi nét về lịch sử hình thành, phát triển

Ngược dòng lịch sử, vùng đất này hình thành gắn liền với quá trình dựng

nước và giữ nước của cha ông ta Cách đây khoảng hơn 2.000 năm, các làng Đào Động, Đồng Ông, Giới Phúc chỉ là những cồn đống, bốn bề sóng nước

Trang 30

mênh mông Dân chuyên nghề trài lưới tìm kế sinh nhai Căn cứ theo các tiêu bản, hoa văn từ loại gạch thuộc mộ Hán khai quật được ở dống Đồng Hưng cho thấy làng Đào Động hình thành cách ngày nay khoảng 2000 năm

Thuở xưa, từ đầu triểu Lý (năm 1010) với chính sách khuyến nông dân trang Đào Động chuyển từ ngư nghiệp sang nông nghiệp Nhận thấy đất ven sông canh tác tốt, nên cư dân tiến hành trồng trọt rau, củ,quả Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định hơn ngư nghiệp nân dân bắt đầu sống định canh, định

cư, dần dần làng xóm trở nên đông đúc hơn

Năm 1252, dưới triểu vua Trần Thái Tông (1225-1528), huyện A Côi và huyện Đa Dực được thành lập và thuộc phủ Thái Bình Làng Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào (ven lưu vực sông Hóa, sông Luộc) thành 4 trung tâm kinh

tế phồn thịnh Về sau, các làng Đào Động, Giới Phúc, Đồng Ông đều nằm trong trung tâm căn cứ lưu vực sông Hóa của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương ( người trấn giữ khu vực sông Luộc, sông Hóa là Trần Quốc Tuấn) Năm 1250, Trần Quốc Tuấn (khi đó là Thượng vị hầu) đến vãn cảnh ngôi đền Đào Động, lúc ấy ngôi đền còn nhỏ bé, ông nhận thấy thế mạnh của vùng đất Đào Động trong quân sự, đặc biệt là bố trí giao thông thủy chiến, vì vậy đã cùng các tướng Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đắp thành lũy laaoj căn cứ ở trang Đào, trang Lăng của Đào Động

Khoảng cuối thế kr XV, dưới triểu đại Lê Sơ, huyện A Côi được đổi tên thành huyện Quỳnh Côi, huyện Đa Dực đổi tên thành Phụ Phượng thuộc phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam Dưới triểu Vua Lê Thánh Tông (1460-1497), cùng đất này thuộc đạo Thừa Tuyên Sơn Nam Hạ, đời Lê Trung Hưng (1533-1789) thuộc trấn Sơn Nam Hạ

Năm 1822, vua Minh Mệnh đổi trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, do

đó vùng đất này thuộc trấn Nam Định Ăm 1831, huyện Phụ Phượng đổi tên là Phụ Dực, làng Đào Động và Giới Phúc chuyển thành cấp xã và thuộc tổng Vọng

Lỗ, huyện Phụ Dực, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định Năm 1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, do đó vùng đất này thuộc tỉnh Thái Bình

Sau cách mạng tháng Tám, Chính phủ bãi bỏ đơn vị hành chính cấp phủ,

Trang 31

tổng của chỉnh quyền thực dân phong kiến Tháng 4/1946, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình họp lần đầu tiên quyết định đổi các đơn vị hành chính cũ như phủ, tổng thành làng, xã và thống nhất các đơn vị hành chính mới như huyện,

xã, thôn theo chủ trương của Nhà nước Thực hiện quyết định của cấp trên, xã Đào Động, Giới Phúc chuyển thành thôn và thuộc xã Minh Đức Đế tháng 4-

1949, xã Minh Tân đổi thành xã Tân Tiến Các thôn Đồng Hưng, Sài Mỹ, Mai Trang, Lai Ổn (thuộc xã Minh Đức) và thôn Đồng Ấu (xã Nghĩa Hòa) sáp nhập vào xã Tân Tiến Ngày 10/8/1955, Thủ tướng Chính phủ có quyết định tách xã Tân Tiến thành 3 xã An Vũ, An Lễ, An Quý Xã An Lễ lúc này gồm 3 thôn Giới Phúc, Đồng Bằng, Đồng Hưng ( từ năm 1955 thôn Đào Động dồn vào thôn Giới Phúc)

Việc quản lý hành chính thay đổi theo chiều dài lịch sử Trong giai đoạn từ năm 1960 – 1990 xã quản lú hành chính theo mô hình xóm, toàn xã lúc này có 8 xóm Từ năm 2002 đến nay việc quản lý hành chính xóm được căn cứ theo quyết định số 65/2992/QĐ-UB (ngày 29/8/2002) của Ủy ban nhân dân tỉnh về

“Tổ chức thôn, làng và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, làng”, toàn xã có 8 xóm đã tổ chức lại thành 4 thôn: Đào Động, Đồng Bằng,

Đồng Phúc, Hưng Hòa

1.3.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Về hoạt động kinh tế, ngay từ những ngày đầu lập làng, lập xã, tổ tiên người An Lễ đã xác định lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Tận dụng những lợi thế về đất, địa hình, nguốn nước và nhân lực, nhân dân An Lễ đã tiến hành canh tác cây lúa nước

Trước năm 1945, nhân dân canh tác nhỏ lẻ, manh mún Sau năm 1954, nhân dân đã được chia ruộng đã nỗ lực khắc phục những khó khăn về thời tiết, khí hậu, sâu bệnh, áp dụng khoa học vào sản xuất, mở rộng diện tích cây trồng

vụ đông, nhờ vậy, hiệu quả sử dụng đất, năng suất cây trồng tăng lên đáng kể Bên cạnh cây lúa nước xã còn phát triển các loại hoa màu Hệ thống đê điều được củng cố qua các thời kỳ nên việc trồng trọt từ 1 vụ đã được nâng lên thành

2 – 3 vụ Các hoạt động chăn nuôi khác phát triển, tăng thêm thu nhập cho nhân

Trang 32

dân

Ngoài làm ruộng, những lúc nông nhàn, nhân dân lại tranh thủ làm nghề phụ như dệt chiếu, xây dựng, mộc, mây tre đan, thêu ren, cơ khí, gò hàn, sửa chữa xe máy,ô tô, diện tử dân dụng Bên cạnh đó, nhân dân còn phát tiển mô hình gia trại, trang trại chăn nuôi tập trung Hiện nay, xã có 22 loại ngành nghề, trong đó nghề xe đay dệt chiếu là nghề truyền thống thu hút phần lớn lao động trong xã

Trước đây xã phát triển nghề dệt chiếu cói là chủ yếu, sản phẩm làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó Những là chiếu dưới bàn tay thợ của người thợ lành nghề đem đi trao đổi, mua bán khắp nơi Trong năm 1987 – 1988, chiếu cói An

Lễ đã từng được xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu Chiếu cói dệt bằng tay đa dạng về mẫu mã, chất lượng bền, có thể sử dụng tới hàng chục năm không hỏng, đặc biệt phải kể đến loại chiếu đậu Một đôi chiếu đẹp dệt tay rộng

từ 1,5 – 1,6 m Nghề dệt chiếu phát triển cực thịnh vào những năm 90

Tuy nhiên từ năm 2005 trở lại đây, nhiều cơ sở đã đâu từ máy dệt chiếu góp phần tăng năng xuất từ 12 – 15 lần so với phương thức dệt thủ công Chiếu dệt bằng máy nhanh hơn, rẻ hơn đã cạnh tranh với những sản phẩm thủ công Thời gian dệt một đôi chiếu thủ công mất từ 14 – 15 giờ đồng hồ với chiếu nhiều công đoạn Cói phải nhập từ Miền Nam về nên không chủ động được nguồn nguyên liệu, chi phí đầu vào tăng khiến tiền công của thợ cũng giảm theo Thu nhập của người thợ thủ công chỉ còn 40.000 – 50.000 đồng/ngày, không đủ để trang trải cuộc sống khiến nhiều người bỏ nghề tím nghề khác thu nhập cao hơn,

do đó nghề dệt chiếu thủ công giảm dần, đến nay chỉ còn lác đác ở An lễ Nghề dệt chiếu mai một nhưỡng chỗ cho các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường hơn Hiện nay, xã vẫn còn có chợ bán chiếu đêm, được coi là nét văn hóa độc đáo trong vùng

Các hoạt động thương mại, dịch vụ hành thành và phát triển gắn liến với công cuộc đổi mới và hội nhập Dọc Quốc lộ 10 và trong khu dân cư 4 thôn đã

có nhiều cửa hàng dịch vụ tạp hóa tổng hợp buôn bán, bán lẻ phục vụ nhu cầu của nhân dân Đặc biệt, xã có tiềm năng du lịch lớn bởi có đền Đồng Bằng (còn

Trang 33

gọi là đền Đức Vua) Đền thờ Đức vua cha Bát Hải – người có công giúp vua Hùng đánh thắng quân Thục, bảo vệ sự thịnh trị và yên vui của đất nước Âu Lạc

Xã có chợ Đồng Bằng là trung tâm thương mại của tiểu vùng, thu hút các

hộ kinh doanh buôn bán trong xã và các xã lân cận Chợ họp chính phiên vào ngày 4 và ngày 9 hàng tháng Các mặt hàng buôn bán chủ yếu là rau, củ, quả, đồ thực phẩm Hiện nay, chợ còn mở rộng kinh doanh phục vụ các loại phân bón, thức ăn gia súc, dịch vụ tổng hợp ăn uống

1.3.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư

Người An Lễ hiền hòa, cần cù, yêu lao động sản xuất Từ ngàn xưa, do phải đấu tranh bền bỉ chống lại thiên tai, địch họa và do được ảnh hưởng từ kỷ luật nghiêm minh của quân đội nhà Trần nên người dân trong xã có tình cố kết cộng đồng cao, có bản lĩnh vững vàng trong mọi thử thách và đặc biệt là tinh thần yêu nước nồng nàn Cư dân sống quần tụ trong một địa vực nhất định, bên cạnh quan hệ làng giềng, địa lý, quan hệ huyết thống vần được bảo tồn trong xã Kết cấu Làng – Họ từ ngàn xưa vẫn tồn tại đến ngày nay Đặc điểm này làm cho sự gắn bó của cộng đồng làng xã của An Lễ thêm chặt chẽ Năm 1945, cả xã có 348

hộ với 1.332 khẩu Năm 2014, xã có 7.167

Cùng với sự hình thành cộng đồng làng xã, dần dần các lễ nghi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo cũng ra đời và phát triển nhắm đáp ứng như càu sinh hoạt văn hóa tinh thân cho nhân dân

Về tín ngưỡng: người dân An Lễ có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo huyết

thống Gia đình nào cũng có bàn thờ gia tiên đặt ở nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà của mình Nhiều dòng họ có nhà thờ tổ Đó không chỉ là một loại hình

tín ngưỡng mà cao hơn còn là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thể hiện lòng

thành kính, biết ơn của con cháu đối với công lao sinh thành, dưỡng dục của cha

mẹ, ông bà tổ tiên đã khuất Gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nhiều dòng họ

và gia đình đã ghi lại gia phải, ngày giỗ tổ họ đã thành dịp để con cháu trong dòng tộc sum họp, củng cố mối quan hệ thân tộc

Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các làng còn có tục thờ Thành Hoàng -

Trang 34

thần hộ mệnh của cộng đồng làng xã Các vị thần được thờ chủ yếu là nhân thần

- những người có công đánh giặc cứu dân, giúp nước

Về tôn giáo: nhân dân An Lễ chủ yếu theo đạo Phật, một số bộ phân nhỏ

theo Công giáo Nhân dân lương và giáo ở An Lễ luôn sống đoàn kết trong cộng đồng làng xã, mối quan hệ họ hàng huyết thống ngày càng gắn bó Trai giá trong

xã không có sự ngăn cấm, tách biệt về lương, giáo Truyền thống hòa hiếu tốt đẹp giữa các tôn giáo luôn được bảo tồn và lưu giữ đến ngày nay

Trang 35

CHƯƠNG 2 LỄ HỘI ĐỀN ĐỒNG BẰNG Ờ MỘT LỄ HỘI ĐỘC ĐÁO

Quần thể đền Đồng Bằng được kiến tạo từ thời cổ Tọa lạc trên đất xã An

Lễ huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình ngày nay Đền Đồng Bằng nằm cách bờ sông Đại Nẫm (sông Diêm) chỉ độ vài trăm mét Sông này gặp sông Tam Kỳ (sông Vĩnh, sông Đào Động, sông Đồng Bằng) ở ngã ba Tam Kỳ (cách đền khoảng 2km) Trước năm 1945, hai con sông này còn rất rộng, thuyền bè đi lại tấp nập Phắa Đông Bắc của Đào Động có Lộng Khê, phắa Đông Nam có Tô Hồ,

Tô Hải, Vạn Đường lại có các phường thuỷ cơ An Bài, Kiến Quan Gần đền Đồng Bằng có chợ lớn thu hút khách thập phương xuôi ngược về đây buôn bán Phắa Bắc lại còn có Kẻ Sài, Kẻ ón Như vậy, Đồng Bằng không chỉ là nơi giao lưu giữa cư dân nông nghiệp và cư dân sông nước, mà còn là nơi giao lưu của luồng bán buôn Ngày nay, dọc bên bờ sông Nẫm, sông Vĩnh vẫn còn tìm thấy nhiều phế tắch gạch Hán - Tuỳ - Đường Căn cứ vào phế tắch gạch Hán còn tìm thấy trong và ngoài làng có thể khẳng định vùng đất này có sự quần cư khá sớm Thời Lý và Trần, đền Đào Động đã được xếp vào 1 trong Ộtứ cố cảnh thời LýỢ của huyện Phụ Phượng gồm: Đào Động, Lộng Khê, Tô Đê, A Sào (theo sách: Ngàn năm đất và người Thái Bình) Theo đó thì dưới thời Trần, đền miếu đã lộng lẫy, uy nghi được Điện tiền Phạm Ngũ Lão khen ỘĐây chốn thần tiên nhất nước nhàỢ Nhưng hiện tại, tất cả đều được phục dựng lại vào thời Nguyễn

Cổ xưa vùng dất này là bãi trong sông Vĩnh, sau gọi là trang Động Đào, rồi Đào Động Quần thể đến bao gốm hàng chục đình đền, miếu, chùaẦ Cùng nằm trên địa phận xã An Lễ, tạo thành một quần thể, mà trung tâm là đền Đồng Bằng Riêng ngôi đền chắnh, đã là một công trình kiến trúc bề thế, nguy nga vào

Trang 36

bậc nhất quốc gia, tọa lạc trên một khu đất cổ, cạnh quốc lộ số 10 soi bóng xuống dòng sông diêm huyền thoại Toàn bộ khu đền chính rộng tới 20.500 m² Riêng diện tích nội tự là 6000 m², với tầng tầng lớp lớp các cung cửa 13 tòa, 66 gian liên kết chung mái, chạm khắc tinh xảo, thâm thúy, choáng ngợp vàng son

Uy nghi cổ kính, như một cung đình phong kiến thời thịnh trị vậy, khiến du khách ngắm không chán mắt

2.1.2 Lịch sử hình thành

Đền Đồng Bằng có tên chữ là “Bát Hải Động Đình” - ngôi đền chung

của 8 động (trang) vùng cửa biển Nhưng dân gian vẫn quen gọi là đền Đồng

Bằng (theo địa danh) hoặc đền Đức vua Vị thần được thờ ở đền có tên là “Vĩnh

Công đại vương”

Theo thần tích, đó là một ông lái đò trên dòng sông Vĩnh, vợ chồng tuổi tác đã cao mà chưa có người nối dõi Một lần ông bà bắt được bào thiêng trong

có một ổ trứng trắng liền mang về nhà Trải 9 mùa trăng đi qua, vào một ngày trời đầy mưa giông, sấm giật, 9 quả trứng nứt vỏ, 9 con rắn ra đời, ngày tháng thoi đưa, lũ rắn cũng lớn dần lên Năm ấy, vào đời Hùng Vương thứ 18, đất nước có giặc, vùa Hùng phải lập đàn khấn cầu các thần linh giúp sức, lại sai sứ giả đi chiêu tập hiền tài huấn luyện binh nhung, nghe tiếng loa truyền, 9 rắn hoá thành 9 chàng trai, cùng vào yết kiến nhà vua xin ra quân tiễu trừ giặc Anh em

họ nhất hô, bách ứng kéo theo cả thuồng luồng, thuỷ quái ra trận Chỉ một ngày giặc tan, đất nước trở lại thanh bình Vua Hùng truyền lệnh phong cho 9 chàng trai là 9 ông Hoàng Họ cưỡi thuyền rồng về làng, kính lạy mẹ cha, rồi bỗng một vầng hào quang chói loà, 9 chàng trai lại trở thành 9 con rắn trở về với dòng sông Tam Kỳ Đó là ngày 22 tháng 8 năm Bính Dần

Từ đó dân làng truy ơn lập 9 ngôi đền thờ các dũng tướng đã giúp vua trừ giặc ở dọc hai bờ sông, từ bến đò Tranh đến tận cửa Diêm Điền Còn đền Đồng

Bằng là nơi thờ người cha chèo đò trên bến sông thuở ấy, với duệ hiệu “Trấn

Tam Kỳ giang linh ứng, Vĩnh Công đại vương, Bát Hải động đình” Sau một

thời gian vào khoảng thế kỷ thứ X (triều lý), đền được dựng lại và sửa sang

Sau chiến thắng Bạch Đằng (thế kỷ XIII – mă, 1288), Hưng Đạo Vương

Trang 37

về tế tại đền Đồng Bằng Năm Trùng Hưng thứ tư (1288) vua Trần Nhân Tông

sắc phong “Tam Kỳ Linh Ứng” cho Vĩnh Công Đại Vương, cho phép mở mang

đền sở, tương truyển đền rộng đến cung doi đất nhô ra phía tây Đầm Bà, mọc lên rất nhiều bòng, bưởi, là do quân sĩ ăn hoa quả nhân dân mang đến úy lạo những ngày tập luyện, hạt vương vãi mọc thành…

Theo tạp văn cổ tại đền, thời Lê, vào tiết xuân năm Quang Thuận thứ 2 (1461) vua Lê Thành tông nhân kinh lý về Đào Động, khen cảnh và có thơ vịnh

về Đào Động (câu thơ này đã bị thất truyển) Năm 1440 thời vua Lê Thái Tông, danh hào Nguyễn Trãi cùng vợ là Thị lộ từ Côn Sơn về thăm cảnh và lễ tại Đền

Thời Nguyễn năm Đinh Sửu (1817) đại công thần Nguyễn Văn Thành là tổng trấn Bắc Kỳ, một người có ân với dân, về tế tại đền Năm Khải Định thập niên (1925) nhà vua sắc phong cho Vĩnh Công, cho mở mang đền sở, đền được

mở rộng đến cung Đệ Tam, cung Đệ Tứ hiện giờ, đồng thời xây dựng tòa cổng Tam Quan bề thế, còn tồn tại đến ngày nay…

Năm 1941 vua Bảo Đại qua biểu tấu của tri phủ Thái Bình, đã phê huân

công Vĩnh Công: “ Sinh vi danh tướng hóa vi thần, vạn cổ phương danh nhật

hựu thục, nhị bảo xả Thục An xã tắc, tung nhiên tán lĩnh linh nguyên huân”

Hoàng Triều Bảo Đại, cuốn giao niên Tân tị - trung thu nguyệt, cát nhật, tụ tụ

2.2.3 Đối tượng thờ phụng

Theo một thần tích khác, cách đây hơn 2000 năm, thời vua Hùng thứ 18,

vua Hùng Duệ Vương trị vì đất nước, tại vùng đất bãi bồi trong cửa sông Vĩnh (tức đất xã An Lễ ngày nay) Ngày ấy dân cư rất thưa thớt, chủ yếu làm nghề sông nước, còn khẩn hoang, rửa mặn, cấy lúa trồng màu, thì chưa phát triển… Ngày ấy, bên bờ sông Vĩnh có một cô gái nhỏ, không rõ cha mẹ, thường mò cua bắt ốc trên sông

Một lần gặp một đôi vợ chồng ngư dân tuổi đã cao mà không có con, quê

ở vùng bãi ngoài (vùng Thụy An bây giờ) đi ngược dòng đánh cá, hai ông bà nhận cô gái là con nuôi và đưa về bãi ngoài sinh sống Năm 18 tuổi cô gái rất xinh đẹp, đoan trang, hiền thục Nhưng nàng không nhận lời đính ước của ai cả… Trong một dịp nhờ quê, nàng xin cha mẹ cho về thăm quê cũ Khi nàng ra

Trang 38

tắm trên sông Vĩnh lúc làn nước mát sông quê khỏa lấp tấm thân ngọc ngà, thì trời bỗng nhiên tối sầm, sóng cồn, thấp thoáng một con giao long ôm quấn lấy nàng… Rồi cô gái có mang, đến kì sinh nở, trong một đêm mưa gió nàng sinh ra một cái bọc kỳ lạ ( tương truyển nơi nàng sinh là Đền Sinh bây giờ) Ngạc nhiên

và sợ hãi, nòng ôm bọc thả xuống sông Vĩnh, để cho “con về với cha”

Cũng đêm ấy có một người cất vó bên sông tên là Nguyễn Minh vớt được cái bọc đó Ông rạch bọc ra thì thấy có ánh sáng phát chói loà, từ trong bọc chui

ra 3 con Hoàng Xà, đầu rồng mình rắn Con lớn nhất vượt sông lên bờ, chui vào náu thân trong một giếng nước Đó chính là giếng thiêng trong cấm cung đền Đồng Bằng bây giờ Còn 2 Hoàng Xà nhỏ, bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh, một con dạt vào Thanh Đô Trang (thuộc Thái Ninh bây giờ), con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang (Mai Diêm - Thuỵ Anh)

Khi Hoàng Xà lớn chui vào giếng ẩn thân, thì giữa đêm sấm sét gió mưa

đó, dân chúng trong vùng nghe thấy tiếng dội vang khắp không trung: “Ta là

Thái Tử Long cung, trời sai ta xuống giúp nước Nam đánh giặc” Sớm hôm sau,

một số bô lão trong vùng đến đắp ụ đất thắp hương, lấy tàu chuối viết chữ treo làm câu đối ngay miệng giếng, tồi dân chúng quyên góp dựng thành miếu (ngay tại nền cung cấm bây giờ) gọi là miếu Thủy Thần ngày ngày hương khói cầu

“phong đăng hòa cốc”

Giữa lúc xã tắc thanh bình thì giặc phương Bắc tràn xuống xâm lăng bờ cõi nước Nam, Hùng Duệ Vương sai con rể là Sơn Tinh đánh lui giặc trên cánh đường bộ phía Bắc Riêng cánh quân thủy của giặc, vì có nội gián hướng đạo, theo tám cửa biển lấn sâu vào đất việt với thế lực rất mạnh, quan quân thua trận

rút dần từng bước Hùng Vương lập đàn cầu, được Thiên Đình ứng báo: “Tại

vùng bãi trong của sông Vĩnh, có kỳ nhân có thể đánh tan giặc thủy tặc” Vua

sai sứ giả về tìm, được dân làng đưa đến bên giếng Hoàng Xã hiện ra nhận chỉ

dụ, hiện hình thành một tràng trai lực lưỡng tuấn tú Xin hẹn trong mười ngày, triệu hai em, tuyển đủ mười tướng giỏi, chiêu mộ quân sĩ sẽ đánh tan giặc dữ

Hoàng Xà ( từ bấy giờ được gọi là Vĩnh Công) sau khi tuyển đủ tướng chiêu mộ đủ quân dã dẫn quân tướng ra trận, nhanh chóng phá tan giặc trên cả

Trang 39

tám cửa biển nước Nam Đất nước trở lại thanh bình, Hùng Duệ Vương phong ông là Vĩnh Công Đại Vương, ý muốn lưu lại lo việc triều chính, nhưng Vĩnh Công xin được về quê để dạy dân khai hoang, rửa mặn, trồng lúa… Đồng thời giữ yên tám cửa biển nước Nam Công đức của Vĩnh Công Đại Vương rất lớn, ông và dân như tình cha con, dạy dân cấy lúa, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải…

Một hôm, Vĩnh Công vời Hương Lão đến dặn rằng: “Ta cùng các vị là

dân lân hương ấp, ăn ở với nhau như tình ruột thịt, nghĩa như cha con Nay ta sắp phải vâng mệnh về chầu vua cha Lạc Long Quân Nếu có nhớ đến ta thì nhà

ta ở đây là Miếu Sở, ngày ta đi sẽ là ngày giỗ” Tất cả Hương Lão bùi ngùi nức

nở… Bỗng nhiên trời tối sầm, sấm chớp dữ dội, lát sau, trời quang mây tạnh, chỉ thấy còn lại áo xiêm của Vĩnh Công, hôm ấy là ngày 25 tháng 8 năm Mậu Thìn… Dân làng dâng biểu về kinh, Hùng Duệ Vương thương xót, ban phong: Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình Cho tiền tang lễ và tu sửa lều tranh của Vĩnh Công thành miều điện, hạ sắc miễn thuế cho dân, lấy lộc ấy để thờ thần Vì thế mà điện thờ ngàn năm hương khói không bao giờ tắt…

Sau khi Hưng Đạo Vương qua đời 20/3/1300, bài vị của ngài được lập thờ bên cạnh bài bị của Vĩnh Công, từ đó trong dân gian bắt đầu xuất hiện tên:

“Đền Đức Vua, Đền Đức Vua Bát Hải, Đền Đức Vua Cha”, với sự ngưỡng

vọng “đi trình về tạ” của khắp muôn phương…

Đền còn là nơi tưởng niệm của các danh tướng như: Phạm Ngũ Lão, Quận chúa Anh Nguyên Trần Thị Thái, Đô Úy Nguyễn Chế Nghĩa, Đức Đồng Ông Trần Nhân Huệ, các hoàng thân quốc thích nhà Trần có công lao chống giặc Nguyên – Mông, Trần Hưng Đạo đều cho người đền thắp hương bái yết tại đền Đồng Bằng (đền Đức Vua)

Ngoài thờ các nhân vật có công trong việc đánh giặc giúp nước đền còn thờ các ngài:

- Ban thờ Phủ Mẫu:

Theo nhận thức của các tín đồ làng Đào Động: đất, đá đều thuộc hình thổ nên chỉ thờ tam tòa Thánh Mẫu Ban thờ Mẫu chiếm toàn bộ gian bên tả và sát hồi Hậu Cung

Trang 40

Ban xây bằng gạch, rộng 1,8m; dài 2m; chia thành 3 cấp cap tứ 1,6m đến 1,4m; thấp nhất là 1,2m ngoài đặt thêm một bàn thờ gỗ sơn son

Bậc trên cũng đặt cỗ khám bình thiên cao 1,4m; rộng 1,2m x 0,8m; trần khảm chạm long hóa, cửa cọng chạm hoa đầy sơn son thếp vàng Trong đặt 3 tượng Mẫu, kích thước và phong độ giống hệt nhau; đều vấn tóc, cài tram, có viền mũ trổ phượng, gương mặt đoan trang, cổ cao 3 ngấn, mình mặc áo lễ rộng tay, ngực có bối văn chạm phượng, tay phải cầm quạt, tay trái đặt phủ gối Để phân biệt tôn vị các tín đồ khoác thêm áo bào bằng vóc, thêu kim tuyến Mẫu Thượng Thiên (ngồi giữa) khoác áo đỏ, mẫu Thượng Ngàn ngồi bên trái khoác

áo xanh, Mẫu Thoải ngồi nêm phải mặc áo trắng

Bậc thứ hai đặt 2 cỗ đèn lồng khung nữa, bọc giấy trong kim 5 màu tạo dàng như chiếc long đình nhỏ, để rộng 0,24m x 0,24m; cao 0.6m và một mâm đồng lớn (đường kính 0,44m) bày đồ ngũ quả

Trên ban thờ gỗ bày 11 bát hương nhỏ thời hiện đại dưới chân ban đặt đôi voi gốm (phong cách Đồng Nai) Hai bên ban thờ cắm hai tấm biển không

đề chữ Trên mái treo một cỗ y môn thêu chí kim tuyến cà hàng chục quả nón bằng giấy trang kim

- Ban thờ Ngũ vị Tôn Ông:

Gọi là phủ Tôn Ông vì trong các văn khấn, văn chầu cửa đệ tử Đào Động

và tín đồ thập phương đều cầu khấn “Ngũ vị Tôn Ông” song trên phủ chỉ có hai

tượng Tôn Ông (và tượng Thái Thượng Lão quân mới tước nước ở tĩnh tư giá vào) Hai vị Tôn Ông thờ tại đền là ai không có tài liệu nào khẳng định – tương truyền đền thờ quan lớn Tuần Tuân trấn cửa Ông, quan lớn Tuấn Chanh (Ninh Giang, Hải Dương), một tướng giỏi thời Trần có công bình giặc Thát

Ban thờ xây bệ gạch, rộng 1,8m; dài 2m chia thành 3 cáp cao từ 1,4m đến 1,2m và 1m, trên lát gạch hoa, thành vẽ vân mây và long ám

Ban trên cũng đặt 2 tượng giống nhau, cao 1m (tính cả bệ) đầu đội mũ hoa trang trí rồng chầu mặt trời, mắt sáng, râu dài, mình mặc áo long cổn, bối chạm long mã, vạt áo, cổ tay áo chạm văn sóng thủy ba Dáng nghiêm nghị, hai tay đều phủ trên đầu gối Bệ tượng chạm liền tạo dáng chân quỳ, di mảng khối đơn

Ngày đăng: 27/09/2019, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w