1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ công chức của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

224 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 5,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội trong giai đoạn tới cần áp dụng các giải pháp sau: i Hoàn thiện quy trình ĐTBD; ii Đổi mới hình

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Bùi Đức Thịnh

Trang 4

và định hướng giúp tôi trưởng thành và hoàn chỉnh luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, các thầy/cô giáo của khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, bộ môn Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ các Cục, Vụ, Viện, Trường của Bộ Lao động - Thương binh Xã hội; Vụ Tổ chức cán bộ; Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán

bộ công chức Trường Đại học Lao động - Xã hội; Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Lao động - Xã hội; Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh Xã hội đã nhiệt tình cung cấp tài liệu, hỗ trợ thu thập dữ liệu, trao đổi thông tin để tôi thực hiện luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Trường Đại học Lao động -

Xã hội nơi tôi công tác, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Bùi Đức Thịnh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ x

Danh mục hình x

Trích yếu luận án xi

Thesis abstract xiii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.1 Mục tiêu chung 4

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 5

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 7

2.1 Cơ sở lý luận 7

2.1.1 Khái niệm về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 7

2.1.2 Vai trò của đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 15

2.1.3 Đặc điểm của đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 17

2.1.4 Nội dung nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 19

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 28

2.2 Cơ sở thực tiễn 34

2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo bồi dưỡng công chức quốc tế 34

2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức một số bộ 40

2.2.3 Bài học kinh nghiệm 45

Trang 6

2.3 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 45

2.3.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 45

2.3.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 46

2.3.3. Khoảng trống trong những nghiên cứu trước và những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu 48

Tóm tắt phần 2 50

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 51

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 51

3.1.1 Khái quát lịch sử phát triển Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 51

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 53

3.1.3 Số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 54

3.1.4 Cơ sở tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 55

3.2 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 57

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 57

3.2.2 Khung phân tích 58

3.3 Chọn điểm nghiên cứu 60

3.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 60

3.4.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 60

3.4.2 Nhóm chỉ tiêu thể hiện kết quả đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 61

3.4.3 Nhóm chỉ tiêu thể hiện các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 62

3.5 Phương pháp thu thập thông tin 62

3.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp 62

3.5.2 Thu thập thông tin sơ cấp 63

3.6 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 65

3.6.1 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu thông tin 65

3.6.2 Phương pháp phân tích thông tin 65

Tóm tắt phần 3 71

Trang 7

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 72

4.1 Thực trạng đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 72

4.1.1 Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng 72

4.1.2 Lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng 75

4.1.3 Thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng 80

4.1.4 Đánh giá sau đào tạo bồi dưỡng 89

4.1.5 Kết quả đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 91

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 103

4.2.1 Cơ chế Chính sách 103

4.2.2 Hội nhập quốc tế 108

4.2.3 Chương trình, tài liệu 109

4.2.4 Chất lượng và nghiệp vụ giảng viên 112

4.2.5 Yếu tố liên quan đến người học 114

4.2.6 Cơ sở vật chất 114

4.2.7 Công tác tổ chức khóa học 115

4.2.8 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức 117

4.3 Định hướng và giải pháp đổi mới công tác Đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 123

4.3.1 Căn cứ đề xuất các giải pháp 123

4.3.2 Định hướng về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 125

4.3.3 Các giải pháp đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 126

Tóm tắt phần 4 144

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 146

5.1 Kết luận 146

5.2 Kiến nghị 147

5.2.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 147

5.2.2 Đối với các Bộ ngành liên quan 147

Trang 8

Danh mục công trình khoa học công bố có liên quan đến luận án 148

Tài liệu tham khảo 149

Phụ lục 156

Phụ lục 1: Mẫu phiếu điều tra 157

Phụ lục 2: Đăng ký nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 171

Phụ lục 3: Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 174

Phụ lục 4: Chương trình khung Kiến thức ngành lao động - thương binh và xã hội Cho chuyên viên khối cơ quan quản lý nhà nước Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 184

Phụ lục 5: Kết quả xử lý số liệu 190

Phụ lục 6: Một số hình ảnh các khóa bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức 206

Trang 9

LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

3.1 Số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức 55

3.2 Mẫu điều tra học viên tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng 63

3.3 Mẫu điều tra giảng viên giảng dạy các khóa đào tạo bồi dưỡng 64

3.4 Mẫu điều tra cán bộ quản lý các khóa đào tạo bồi dưỡng 64

3.5 Mẫu điều tra lãnh đạo các đơn vị và cựu học viên 64

3.6 Tổng hợp mẫu điều tra trong nghiên cứu 65

3.7 Đánh giá phân loại kết quả đào tạo bồi dưỡng 67

4.1 Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2014 73

4.2 Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2015- 2018 74

4.3 Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2016 - 2018 76

4.4 Kinh phí đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2014 - 2018 79

4.5 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức ngoài Bộ giai đoạn 2011- 2017 82

4.6 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ giai đoạn 2011 - 2014 84

4.7 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Bộ giai đoạn 2015 - 2017 85

4.8 Đánh giá về khóa đào tạo bồi dưỡng 89

4.9 Kết quả thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức so với nhu cầu giai đoạn 2015- 2017 91

4.10 Kết quả thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức so với kế hoạch năm 2015- 2017 93

4.11 Trình độ cán bộ, công chức 95

4.12 Năng lực của cán bộ, công chức sau đào tạo bồi dưỡng 100

4.13 Đánh giá về cơ chế chính sách đào tạo bồi dưỡng 107

4.14 Ảnh hưởng hội nhập quốc tế đến đào tạo bồi dưỡng 108

4.15 Đánh giá về chương trình, tài liệu đào tạo bồi dưỡng 109

4.16 Đánh giá giảng viên đào tạo bồi dưỡng 112

4.17 Đánh giá học viên tham gia đào tạo bồi dưỡng 114

4.18 Đánh giá về cơ sở vật chất đào tạo bồi dưỡng 115

4.19 Đánh giá công tác tổ chức khóa đào tạo bồi dưỡng 116

Trang 11

4.20 Điểm trung bình các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo bồi dưỡng

cho cán bộ, công chức 1174.21 Kiểm định KMO and Bartlett's Test 1194.22 Ma trận xoay nhân tố và hệ số Cronbach’s Alpha 1204.23 Hệ số ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả đào tào, bồi dưỡng cho cán

bộ, công chức 121

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ

2.1 Quy trình đào tạo bồi dưỡng 19

2.2 Quy trình đào tạo bồi dưỡng đơn giản 20

2.3 Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng 21

3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội 54

3.2 Khung phân tích đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức 59

4.1 Các bước xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo bồi dưỡng 134

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang 4.1 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức 96

4.2 Trình độ quản lý Nhà nước của cán bộ, công chức 97

4.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức 98

4.4 Trình độ ngoại ngữ của cán bộ, công chức 99

4.5 Mức độ hài lòng của học viên về tài liệu đào tạo bồi dưỡng 111

4.6 Mức độ hài lòng của học viên về giảng viên đào tạo bồi dưỡng 113

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tác giả luận án: Bùi Đức Thịnh

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới ĐTBD CBCC của Bô ̣ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i hiện nay; từ đó đề ra các giải pháp nhằm đổi mới công tác ĐTBD CBCC của Bộ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận

quy trình đào tạo bồi dưỡng; Tiếp cận theo chức danh, vị trí việc làm

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Để có được thông tin đầy đủ cho quá trình phân

tích, ngoài các thông tin thứ cấp thu thập từ các cơ quan, đơn vị chức năng của Bộ, tác giả tiến hành khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi đáp đối với 15 đơn vị của Bộ để lấy ý kiến của 15 thủ trưởng đơn vị và 65 cựu học viên; khảo sát tại cơ sở ĐTBD CBCC của

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để lấy ý kiến của 240 học viên, 66 giảng viên, 15 cán bộ quản lý Tác giả đã vận dụng các phương pháp phân tích nhân tố khám phá với thang đo Likert để lựa chọn các yếu tố định tính ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo bồi dưỡng cho CBCC của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội có ý nghĩa thống kê, từ đó

sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến chất lượng đào tạo bồi dưỡng Bên cạnh đó, luận án còn kết hợp sử dụng các phương pháp khác như thống kê kinh tế, phương pháp cho điểm để phân tích đánh giá

Kết quả chính và kết luận

Bộ đã quan tâm đến việc xác định nhu cầu ĐTBD CBCC Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu ĐTBD của Bộ còn nhiều bất cập, cụ thể là: chưa xây dựng được khung năng lực trên cơ sở vị trí việc làm cho CBCC; chưa coi trọng phân tích cấp công việc và phân tích cấp cá nhân (ii) Bộ đã xây dựng kế hoạch ĐTBD dài hạn và ngắn hạn cơ bản đáp ứng được yêu cầu ĐTBD cho CBCC Tuy nhiên, xây dựng kế hoạch dài hạn chưa mang tính tổng thể, chưa bám sát vào nhu cầu và vị trí công việc cũng như qui hoạch cán bộ Trong quá trình xây dựng kế hoạch ĐTBD của từng năm còn thiếu sự tham khảo phản hồi của các đơn vị liên quan (iii) Thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cơ bản theo qui trình Đào tạo bồi dưỡng CBCC ở nước ngoài nhằm giúp CBCC cập nhật

Trang 14

kiến thức mới, hội nhập quốc tế; ĐTBD ở bên ngoài Bộ chiếm số lượng không nhiều; ĐTBD tại Bộ được giao cho Trung tâm ĐTBD CBCC thực hiện đến năm 2014, từ năm

2015, giao cho Trường ĐTBD CBCC lao động - xã hội Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn một số hạn chế như: trình tự thủ tục còn rườm rà; thời điểm tổ chức các khóa tập huấn tập trung vào cuối năm; chất lượng một số khóa ĐTBD chưa cao; phương pháp ĐTBD còn nặng về lý thuyết; các nội dung, chương trình tài liệu đã được biên soạn vẫn còn thiếu về số lượng cũng như chất lượng tài liệu; ĐTBD chưa thực sự gắn với kế hoạch, quy hoạch bố trí, sử dụng cán bộ; đội ngũ giảng viên còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; cơ sở vật chất đầu tư còn hạn chế (iv) Công tác đánh giá ĐTBD đã được quan tâm thực hiện, tuy nhiên chưa được chú trọng và thực hiện còn mang tính hình thức Như vậy, Công tác ĐTBD CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

cơ bản đã thực hiện theo qui trình đào tạo bồi dưỡng: xác định nhu cầu, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá ĐTBD Kết quả thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức đạt và vượt mức kế hoạch đề ra; trình độ cán bộ, công chức được nâng lên rõ rệt; kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của CBCC không ngừng được tăng lên Tuy nhiên, thực hiện đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức so với nhu cầu chưa sát, còn có

độ chênh lệch

Qua nghiên cứu cho thấy, có 7 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC

Bộ LĐTBXH, đó là: cơ chế chính sách; hội nhập quốc tế; chương trình, tài liệu phục vụ ĐTBD; chất lượng và nghiệp vụ giảng viên, các yếu tố liên quan đến người học; cơ sở vật chất; công tác tổ chức khóa học Trong số các nhóm yếu tố đó, kết quả phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy của 6 nhóm yếu tố (cơ chế chính sách; chương trình, tài liệu phục vụ ĐTBD; chất lượng và nghiệp vụ giảng viên, các yếu tố liên quan đến người học; cơ sở vật chất; công tác tổ chức khóa học) có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê Do vậy khi cải thiện được các yếu tố này sẽ làm cho chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức được nâng lên

Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội trong giai đoạn tới cần áp dụng các giải pháp sau: (i) Hoàn thiện quy

trình ĐTBD; (ii) Đổi mới hình thức, phương pháp, nội dung, chương trình, tài liệu đào tạo bồi dưỡng; (iii) Nâng cao năng lực cho cơ sở tổ chức ĐTBD CBCC; (iv) và một số giải pháp khác như tuyển dụng, sắp xếp, bổ nhiệm CBCC theo vị trí việc làm; Đổi mới công tác quản lý ĐTBD; Xây dựng chính sách sử dụng, bổ nhiệm sau ĐTBD; Huy động các nguồn kinh phí cho ĐTBD; Hợp tác quốc tế trong ĐTBD

Trang 15

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Bui Duc Thinh

Title: Training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War

Invalids and Social Affairs

Research Objectives

On the basis of the analysis of current situation and factors affecting the training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, solutions will be therefrom suggested to innovate the training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs in the coming time

Materials and Methods

- Method of approach: System approach; Participatory approach; Access to

training and retraining procedures; Approach by job title and position

- Method of data collection: In order to obtain sufficient information for the

analysis procedure, in addition to the low-level information collected from functional organizations and departments of the Ministry, the author conducted a direct survey by using questionnaire for 15 organizations of the Ministry to collect comments of 15 heads of organizations and 65 former trainees; the author also surveyed at the Ministry

of Labor, Invalids and Social Affairs' cadres and civil servants training institutions to collect comments of 240 trainees, 66 trainers and 15 managers The author applied the methods of exploratory factor analysis with the Likert scale to select the qualitative factors affecting the quality of training for cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs at level of statistical significance Therefrom, the author uses multivariable regression model to analyze the influence of each factor

on the quality of training and fostering In addition, the thesis incorporates other methods such as economic statistics, scoring methods for analysis and evaluation

Main findings and conclusions

The Ministry has been interested in determining the needs of the training and fostering of cadres and civil servants However, the determination of the needs of the training and fostering of the Ministry has many shortcomings, namely: the capacity framework on the basis of job position of the cadres and civil servants has not been built; job-level analysis and personal-level analysis have not yet focused (ii) Ministry has basically developed a long-term and short-term plans that meets the requirements of training and fostering for cadres and civil servants However, the development of long-term plans is not yet comprehensive, not closely following the needs and job positions as well as staff planning In the process of developing the plan of training and fostering of each year, there is a lack of reference to the feedback of the relevant units (iii) Basically,

Trang 16

the implement of training and fostering plan complies with the procedures Training and fostering for cadres and civil servants overseas to help them update new knowledge and international integration; There are not many officers and employees who is trained outside the Ministry; The training at the Ministry was assigned to the Center for Training and Fostering of Cadres and Civil Servants until 2014 Since 2015, this task was assigned to the Training School for Cadres and Civil Servants However, during implementation, there are some limitations such as: the procedure is still prolix; the point

of time to organize training courses is often focused at the end of year; quality of some training courses is not high; training method is still inclined to theory; The content and program of compiled documents are still lacking in quantity and quality; The training has not really associated with the plan and the project of staff arrangement and use; the teaching staff is inadequate in quantity and weak in quality; Investment for facilities is still limited (iv) The evaluation of training and fostering has been paid attention to, however, has not been focused and implemented in a formal way Thus, the training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs basically conformed to the procedure of training and fostering: determining needs, planning, implementing plans and assessing the training and fostering The results of training and fostering cadres and civil servants reached and exceeded the plan; the level of cadres and civil servants has been significantly improved; cadres and civil servants 's knowledge, skills and working attitude are constantly increasing However, the implementation of training and fostering of cadres and civil servants is not close to the demand, there are differences

The studies show that, there are 7 main groups of factors affecting training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs, that is: policy mechanisms; international integration; programs, documents for training and fostering; quality and professional skills of lecturers; factors related to learners; facilities; hold of courses Within these factors, results of the explanatory factor analysis and regression analysis of 6 groups of factors (policy mechanisms; programs, documents for training and fostering; quality and professional skills of lecturers; factors related to learners; facilities; hold of courses) have a positive and statistically significant coefficient Therefore, by improving of these factors, the quality of training and fostering will be improved

In order to innovate the training and fostering of cadres and civil servants of the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs in the coming time, the

following solutions should be applied: (i) To perfect the training and retraining procedure; (ii) To renovate forms, methods, content, training programs and documents; (iii) To enhance competence of the institutions of training and fostering of cadres and civil servants; (iv) and some other solutions such as recruitment, placement, appointment of cadres, civil servants and employees according to job positions; To renovate the management of training and fostering; To formulate policies regarding use and appointment after training and retraining; To mobilize funding sources for training and retraining; International cooperation in training and fostering

Trang 17

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) đóng vai trò quan trọng trong xây dựng

và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, trong hoạt động công vụ Hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC Có thể nói đây là vấn đề cực kỳ quan trọng được Đảng, Nhà nước ta quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân cho đến nay Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chăm lo, xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” (Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2009)

Đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) là những nội dung cơ bản và rất quan trọng đối với xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của công tác cán bộ Xã hội càng phát triển công tác cán bộ càng phải được chú trọng, chất lượng đội ngũ CBCC đòi hỏi ngày càng cao hơn Do vậy, ĐTBD sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Ngày 05/03/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã nhấn mạnh “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí

việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao” (Chính phủ, 2010) Năm 2011, Thủ trướng Chính phủ

cũng đã ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/08/2011 về việc phê duyệt

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015, trong đó ghi rõ hai mục tiêu là: Đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng tiêu chuẩn quy định về ngạch công chức; và để đáp ứng yêu cầu công việc theo chức vụ lãnh đạo, quản lý

và vị trí việc làm của cán bộ, công chức (Thủ tướng Chính phủ, 2011)

Tuy nhiên, theo đánh giá tổng kết của Bộ Nội vụ sau 5 năm thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015 cho rằng chất

Trang 18

lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được cải thiện rõ rệt so với yêu

cầu cải cách hành chính: “Cán bộ, công chức vừa học vừa làm nên còn để công

việc chi phối quá trình học tập, thời gian dành trọn vẹn cho hoạt động đào tạo không nhiều Công tác đào tạo, bồi dưỡng mặc dù đã có những cố gắng đổi mới nhưng vẫn còn tình trạng chạy theo số lượng, việc đào tạo chưa gắn kết chặt chẽ với sử dụng Nội dung chất lượng đào tạo chưa cao, chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng chưa thật phù hợp với từng đối tượng Việc đào tạo, bồi dưỡng nhìn chung vẫn còn nặng lý thuyết, tính ứng dụng không cao, chưa chú trọng tính đặc thù riêng biệt của từng vị trí việc làm cán bộ, công chức, viên chức Nội dung và thời lượng khung chương trình đào tạo liên tục thay đổi nhưng hiệu quả vẫn chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu từng vị trí việc làm của cán bộ công chức, viên chức Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức chưa được thực hiện đồng bộ, mới chỉ đào tạo về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lý điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử

lý tình huống trong thực tiễn…” (Bộ Nội vụ, 2015)

Nghị quyết số 64/NQ-CP ngày 22/7/2016 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng đã giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

cơ quan khác ở trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ: “Tăng cường công

tác đào tạo, xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao”; “Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, hạn chế tình trạng phân tán chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước” (Chính phủ, 2016)

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cũng như trong quá trình cải cách hoạt động của bộ máy hành chính, nhiệm vụ của Bô ̣ LĐTBXH ngày càng nặng nề và phức tạp Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng của Bô ̣, đội ngũ CBCC cần phải được ĐTBD để nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới đáp ứng được vị trí mà mình đảm nhận

Trang 19

Đến năm 2017, Bộ LĐTBXH có gần 700 người là CBCC Chủ trương của

Bộ là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBCC hiện có Bộ luôn xác định công tác ĐTBD CBCC là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng đội ngũ CBCC trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Thực tế cho thấy hiện nay đa số CBCC của Bộ đã có trình độ học vấn đại học và sau đại học Trước sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ đòi hỏi nhiệm vụ, yêu cầu công việc của CBCC phải luôn thay đổi không ngừng Do đó, ĐTBD CBCC theo hướng tiếp cận phát triển năng lực với thời lượng ngắn và linh hoạt, phương pháp hiện đại, nội dung gắn sát yêu cầu công việc sẽ góp phần tạo sự đột phá về công tác cán bộ của Bộ Từ đó, hình thành nên đội ngũ CBCC

có khả năng chủ động hội nhập, tư duy đổi mới, kỹ năng quản trị hiện đại để thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ cũng như công cuộc cải cách hành chính quốc gia Theo Báo báo cáo tổng kết của Bộ Lao đô ̣ng – Thương binh và Xã hô ̣i về công tác ĐTBD CBCC và 5 năm thực hiện Quyết định số 1374/QĐ-TTg của

Chính phủ đã chỉ ra một số kết quả đạt được: “Công tác đào tạo bồi dưỡng

CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã bám sát yêu cầu, mục tiêu

và chương trình …triển khai quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, xây dựng quy hoạch, kế hoạch giai đoạn và hàng năm; tổ chức triển khai, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch

đã có sự đổi mới về quy trình cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với các khâu khác của công tác cán bộ, nhất là khâu nhận xét, đánh giá, quy hoạch tạo nguồn cán bộ Trong tổ chức thực hiện đã có sự phân loại đối tượng theo ngạch công chức, viên chức; theo chức danh, vị trí việc làm, lĩnh vực công tác và theo khối đơn vị để xác định nội dung, hình thức, phương pháp ĐTBD thích hợp (Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội, 2016)

Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra một số tồn tại: (i) Nội dung, chương trình

ĐTBD CBCC tuy có đổi mới nhưng còn nặng về tính lý thuyết, thời gian kéo dài, chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, nên khi vận dụng, áp dụng vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế; (ii) Một số đơn vị chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác ĐTBD, tạo nguồn cán bộ nên cán bộ được cử

đi học còn chưa được tạo điều kiện đầy đủ về thời gian để tham gia các khóa ĐTBD hoặc cử CBCC đi ĐTBD nhưng chưa thực sự gắn với công tác quy hoạch cán bộ, đánh giá cán bộ; (iii) Còn thiếu chủ động trong việc xây dựng và ban hành kế hoạch ĐTBD hàng năm do phải chờ văn bản hướng dẫn và phân bổ kinh

Trang 20

phí của Bộ Nội vụ; (iv) Việc đầu tư cơ sở, vật chất, trang thiết bị và kinh phí cho công tác ĐTBD chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra; (v) Một số văn bản quy định về định mức chi trong hoạt động ĐTBD chưa phù hợp với tình hình thực tế

đã gây ra khó khăn đối với các cơ sở đào tạo và việc quản lý công tác ĐTBD…”

(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2016)

Ngày 06/8/2012, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 990/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt quy hoạch nguồn nhân lực ngành

LĐTBXH giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tổng thể: “Đảm bảo đủ số lượng,

hợp lý cơ cấu, ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC thực hiện nhiệm vụ của ngành Lao động - Thương binh và

Xã hội, trong đó chú trọng đào tạo một số bộ phận CBCC có chất lượng cao tiếp cận với trình độ của các nước trong khu vực và quốc tế” (Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội, 2012)

Để góp phần giúp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt mục tiêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài là hết sức cần thiết

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ĐTBD CBCC của Bộ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i hiện nay; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới công tác ĐTBD CBCC của Bộ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã

hội trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTBD CBCC;

- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC của Bô ̣ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i trong thời gian qua;

- Đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới công tác ĐTBD CBCC của Bộ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i trong giai đoa ̣n tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án công tác ĐTBD cho CBCC của Bộ Lao

đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i

Trang 21

- Đối tượng khảo sát bao gồm: CBCC của Bộ được cử đi ĐTBD; giảng viên của các khóa ĐTBD; cán bộ quản lý các khóa ĐTBD; lãnh đạo các đơn vị có học viên tham gia ĐTBD và cựu học viên các khóa ĐTBD Cùng với đó là khảo sát các cơ sở tổ chức ĐTBD của Bộ, các cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước

về ĐTBD đối với CBCC cấp Bộ

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án nghiên cứu về ĐTBD cho CBCC của Bộ Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i theo nô ̣i dung, chương trình do Bộ Nội vụ quản lý; Không đi sâu nghiên cứu đào tạo cho CBCC theo hệ thống giáo dục quốc dân do

Bộ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o quản lý

- Về không gian: Nghiên cứu về ĐTBD cho CBCC đang làm việc tại các đơn vị thuộc Bô ̣ Lao động - Thương binh và Xã hội; Nghiên cứu về ĐTBD cho CBCC tại cơ sở ĐTBD CBCC của Bộ là chính (Trung tâm ĐTBD CBCC, hiện nay là Trường ĐTBD CBCC lao động - xã hội)

- Về thời gian: số liệu được nghiên cứu trong những năm 2011 - 2017 số liệu điều tra chủ yếu từ năm 2014 Đề xuất các giải pháp cho giai đoạn từ năm

2020 – 2025

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Về lý luận: Tổng hợp nhiều quan điểm ĐTBD, đưa ra khái niệm, vai trò, đặc điểm, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC góp phần làm làm

rõ hơn lý luận về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và đóng góp cho cơ sở lý luận về nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức bao gồm: xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của CBCC; lập

kế hoạch đào tạo bồi dưỡng; thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng; và đánh giá kết quả đào tạo bồi dưỡng

Về thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu, kết quả phân tích, làm rõ những hạn chế, đánh giá ĐTBD CBCC và yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội; Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Ý nghĩa khoa học: Làm rõ thêm và bổ sung các khái niệm ĐTBD CBCC Vận dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá và đánh giá độ tin cậy của

Trang 22

thang đo để kiểm định các tiêu chí yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC Vận dụng phương pháp hồi quy để phân tích các yếu tố yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC Đây là những kiến thức, phương pháp có ý nghĩa khoa học trong giảng dạy, nghiên cứu và hoạch định chính sách

Giá trị thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu, kết quả phân tích, đánh giá thực trạng ĐTBD CBCC và yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Các phát hiện này là căn cứ quan trọng có giá trị tham khảo hữu ích cho cho các nhà quản lý ĐTBD CBCC và cơ sở tổ chức ĐTBD CBCC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc xây dựng kế hoạch

và thực hiện công tác ĐTBD CBCC

Trang 23

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO

BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm về đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Theo tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên nêu rõ (Bộ Nội vụ, 2013): Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia Việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định:

Hệ thống thể chế chính trị

Hệ thống thể chế hành chính

Tính truyền thống

Sự phát triển kinh tế - xã hội

Các yếu tố văn hoá

Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở một nước nào

đó thường là:

Là công dân của nước đó

Được tuyển dụng qua thi tuyển

Được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc

Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Phạm vi công chức có thể rộng hẹp Ví dụ có những nước coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an) Trong khi đó

có những nước lại chỉ giới hạn những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một số cách tiếp cận phổ biến là:

Công chức là người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước Quan niệm này nhằm để phân biệt những người làm cho Nhà nước trong các tổ chức, cơ quan khác của Nhà nước bằng tính thường xuyên của công vụ

Trang 24

Tuy nhiên, trong đó không đề cập đến điều kiện gì đã tạo cho họ là người làm thường xuyên

Công chức là người làm việc trong bộ máy nhà nước Cách tiếp cận này mở rộng đối tượng làm việc cho Nhà nước không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác như lập pháp, tư pháp Đồng thời cũng bao gồm cả những người trong các lực lượng vũ trang, công an Cách tiếp cận này không hạn chế cả những người làm việc thường xuyên, bầu cử cũng như những người làm công khác

Công chức là người đại diện cho Nhà nước để thực thi quyền hành pháp Cách tiếp cận này hạn chế nhóm người làm việc cho Nhà nước trong bộ máy hành pháp nhưng gắn liền với quyền lực hành pháp Điều đó cũng có nghĩa là những người thực thi nhiệm vụ (tác nghiệp) các loại công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức Hay nói khác đi, công chức chỉ những người có quyền đưa ra các quyết định quản lý hành chính nhà nước và triển khai thực hịên các quyết định đó

Cách tiếp cận này gắn liền với công vụ cho rằng tất cả những ai thực thi công vụ đều được gọi là công chức Ở mô hình công vụ theo việc làm, phần lớn các vị trí đều tìm để thuê và bổ nhiệm những người có năng lực, khả năng

Công chức là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển và được phân vào một ngành, ngạch, bậc trong cơ cấu thứ bậc của nền công vụ và được Nhà nước trả công Cách tiếp cận này cụ thể hơn và loại trừ những người làm việc thông qua bầu cử, cũng không tính đến những người làm việc có tính thường xuyên thông qua thi tuyển (như thẩm phán)

Ở nước ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” có ngay từ những năm đất nước

ta giành độc lập và thể hiện trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh (1948), đã ban hành Sắc lệnh số 188/SL quy định về chức danh viên chức nhà nước gồm 5 hạng: Tá sự, cán sự, tham sự, kiểm sự, giám sự Đây là văn bản đầu tiên tạo cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam sau này

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1950), ký sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều 1, mục 1 công chức được định nghĩa: "Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ

Trang 25

quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng do Chính phủ quy định

Trải qua diễn biến phát triển của đất nước, các khái niệm trên cũng có nhiều cách gọi, được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản khác nhau Cuối những năm

80 của thế kỷ trước, khái niệm “CBCC” được gọi chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” Khái niệm này được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng Đội ngũ này được hình thành

từ nhiều con đường, có thể do bầu cử, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, có thể do tuyển dụng, bổ nhiệm…

Đến thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính

và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ CBCC nhà nước, Ngày 25 tháng 5 năm

1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước Trong nghị định này, công chức được xác định là: "Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm một công việc thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương,

ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp" (Chính phủ, 1991) Năm 1998, Pháp lệnh CBCC, gồm 7 chương, 48 điều có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 1998 ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về CBCC Dưới Pháp lệnh là Nghị định

số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng” (Chính phủ, 1998a)

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1998), thuật ngữ cán bộ được hiểu theo hai nghĩa:

- Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Đảng, Nhà nước

và đoàn thể, theo nghĩa này cán bộ là những người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn không chỉ trong cơ quan nhà nước mà còn ở trong cả hệ thống chính trị

Trang 26

- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức và phân biệt với người không có chức vụ Theo nghĩa này, cán bộ là những người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ, đề bạt, bổ nhiệm Như vậy, khái niệm cán bộ được hiểu theo 2 nghĩa sau:

Một là: Cán bộ là những người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên môn

trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị

Hai là: Cán bộ là những người được bầu bổ nhiệm vào các cấp lãnh đạo,

chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với những người không có chức vụ

Thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Chính phủ đã đề nghị Ủy ban Thường vụ quốc hội điều chỉnh, bổ sung một số điều của Pháp lệnh CBCC

và được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003; Theo Pháp lệnh CBCC năm 2003, Khái niệm gộp cả CBCC (quy định tại Điều 1) như sau (Ủy ban thường vụ Quốc hội, 2003):

“Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế bao gồm:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà

Trang 27

không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,

hạ sỹ quan chuyên nghiệp;

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn;

- Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp

vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã”

Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân định được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước được gọi là “viên chức” Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức” Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 Khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ (Quốc hội, 2008):

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”

Khoản 2 Điều 4 quy định về công chức:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt

Trang 28

Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

Như vậy, các khái niệm về “cán bộ”, “công chức” được Luật hóa một cách

rõ ràng

2.1.1.2 Đào tạo bồi dưỡng

Hiện nay có nhiều cách giải thích khái niệm đào tạo bồi dưỡng Chung quy lại có hai cách hiểu cơ bản như sau:

* Cách hiểu thứ nhất: khái niệm đào tạo bồi dưỡng bao gồm 2 nội dung:

đào tạo (và) bồi dưỡng

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam Đào tạo là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định” (Viện Từ điển học và Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005)

Định nghĩa về đào tạo và bồi dưỡng, Từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên (1998) có đưa ra “đào tạo làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”

Theo cuốn Giải pháp về giáo dục đã định nghĩa về đào tạo như sau: “Đào tạo

là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội” (Hồ Ngọc Đại, 1991) Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ (Nguyễn Vân Điềm

Trang 29

Từ những khái niệm, quan điểm trên có thể hiểu về đào tạo và bồi dưỡng như sau:

Đào tạo là quá trình tuyền thụ và tiếp nhận một cách có hệ thống các kiến

thức, kỹ năng để trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài, thường là từ một năm học trở lên và được cấp bằng chứng nhận

Bồi dưỡng là quá trình làm cho con người “tăng thêm năng lực hoặc phẩm

chất” Về thời gian, việc bồi dưỡng thường ngắn hơn, có thể vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng và về bằng cấp thì bồi dưỡng không có bằng cấp mà chỉ có chứng chỉ, chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng

Như vậy, cả về mặt khoa học và pháp lý đã có sự thống nhất cơ bản về khái niệm “Đào tạo” và “Bồi dưỡng” độc lập với nhau

* Cách hiểu thứ hai: Đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ không tách rời

Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng nó cùng một mục đích chung làm cho người lao động có năng lực công tác Trên thực tế rất khó phân chia đào tạo và bồi dưỡng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen

và kế thừa lẫn nhau

Việc phân định hiện nay chỉ mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn chính xác Ví dụ như một công chức khi được tuyển vào Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ được học chương trình đào tạo tiền công

vụ Chương trình này dành cho những người mới được tuyển và họ hoàn toàn chưa có khái niệm về công việc hành chính nhà nước Kiến thức này là hoàn toàn mới, nó được coi là đào tạo hơn là bồi dưỡng Tuy nhiên, sau khi hoàn thành khóa học, công chức sẽ được cấp chứng chỉ tiền công vụ Chứng chỉ này không thuộc bằng cấp của hệ thống cấp học, bậc học

Ở nước ngoài, việc cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho công chức được dùng từ “Training” tức là huấn luyện chứ không dùng

từ “Education” tức là đào tạo

Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05 tháng 3 năm 2010

về ĐTBD công chức giải thích: “Đào tạo bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý” (Chính phủ, 2010)

Trang 30

Đào tạo bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người làm việc trong tổ chức ĐTBD tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ

- Phát triển năng lực làm việc con người và nâng cao khả năng thực hiện công việc thực tế của họ

- Giúp con người luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức

- Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của con người do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm

Nhìn chung, ĐTBD là hoạt động nhằm:

- Trang bị, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến công việc;

- Thay đổi thái độ và hành vi;

- Nâng cao hiệu quả thực hiện công việc;

- Hoàn thành những mục tiêu của cá nhân và của tổ chức

Tóm lại, đào tạo bồi dưỡng được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập, cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc phù hợp với yêu cầu đặt ra Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch

2.1.1.3 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Từ những khái niệm trên chúng ta thấy rằng: ĐTBD CBCC là một thuật ngữ không tách rời, là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị quản lý

và sử dụng CBCC nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho CBCC Vì những lý do sau:

Thứ nhất, các văn bản pháp luật qui định về ĐTBD CBCC đều dùng cụm từ

“đào tạo bồi dưỡng” Ví dụ như:

- Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg về việc phê chuẩn kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2001-2005 (Thủ tướng chính phủ, 2001)

Trang 31

- Quyết định 161/2003/QĐ-TTg về Quy chế đào tạo bồi dưỡng CBCC (Thủ tướng Chính phủ, 2003b)

- Quyết định 40/2006/QĐ-TTg về Phê duyệt kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2006-2010 (Thủ tướng Chính phủ, 2006)

- Quyết định số 1374/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2011 – 2015 (Thủ tướng Chính phủ, 2011)

Thứ hai, ĐTBD CBCC là một khâu của công tác nhân sự, có điểm khác biệt

so với loại hình đào tạo khác

- Đối tượng ĐTBD là CBCC đang làm việc, có kinh nghiệm thực tiễn, có nghề nghiệp ổn định

- Mục tiêu của ĐTBD là trang bị cho CBCC những kiến thức, kỹ năng và thái độ để hoàn thành công việc được giao

- Các văn bằng trong ĐTBD CBCC chủ yếu là chứng chỉ

Việc ĐTBD CBCC được thực hiện theo những quy định riêng biệt so với loại hình đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, tổ chức thực hiện trong hệ thống cơ sở ĐTBD CBCC của nhà nước; hoạt động theo nguồn kinh phí riêng và theo những chương trình, nội dung do hệ thống cơ quan quản lý ĐTBD CBCC nhà nước ban hành

Do vậy, trong luận án này “đào tạo bồi dưỡng” cho CBCC là một thuật ngữ không tách rời

Như vậy, đào tạo bồi dưỡng CBCC là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc một cách có hệ thống cho CBCC ở một vị trí công tác nào đó, để đạt được trình độ cao hơn phù hợp với yêu cầu đặt ra

2.1.2 Vai trò của đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Đội ngũ CBCC đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, trong hoạt động công vụ Đội ngũ CBCC có phẩm chất và năng lực tốt mới có thể đề ra đường lối đúng, mới có thể cụ thể hoá, bổ sung hoàn chỉnh đường lối, mới có thể thực hiện tốt đường lối

Do điều kiện cụ thể của đất nước ta, một số CBCC khi được tuyển dụng vào làm việc, có thể chưa qua đào tạo hoặc đã qua đào tạo nhưng trái ngành với công việc đang đảm nhiệm Việc bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ trong trường hợp này

Trang 32

có thể được hiểu là quá trình trang bị những kiến thức cơ bản nhất về lĩnh vực mà

họ tham gia làm việc để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trong xu thế phát triển hiện nay, khi nền khoa học, công nghệ ngày càng phát triển, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống người dân ngày càng được nâng cao thì việc nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ CBCC làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà nước là rất cần thiết Nước ta gia nhập WTO khi đội ngũ CBCC còn thiếu và yếu cả về năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, tin học, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập và cạnh tranh quốc tế Chất lượng nguồn nhân lực thấp, lực lượng chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn Thêm vào đó, chính sách ĐTBD, sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ CBCC còn nhiều bất hợp lý, hạn chế sự phát huy tích cực, năng động, sáng tạo của họ Như vậy, việc tổ chức ĐTBD nâng cao trình độ cho CBCC ở các cấp khác nhau là yêu cầu khách quan đối với tất cả các ngành để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và hoàn thành nhiệm vụ được giao

Đào tạo bồi dưỡng CBCC là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của CBCC; hướng tới mục tiêu là tạo được

sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Đào tạo bồi dưỡng tập trung trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc cho CBCC; trong đó, cung cấp những kiến thức, lý luận cơ bản, trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, giáo dục thái độ thực hiện công việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người CBCC

Từ đó, chúng ta thấy vai trò của đào tạo bồi dưỡng CBCC thể hiện cụ thể như sau:

- Đào tạo bồi dưỡng là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng CBCC;

- Đào tạo bồi dưỡng là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình phát triển nguồn nhân lực;

- Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thường xuyên thay đổi

để thích ứng với tình hình mới Do đó, CBCC cần thường xuyên ĐTBD để cập nhật các chủ trương, chính sách đó đáp ứng yêu cầu công việc

- Khoa học ngày càng phát triển, những kiến thức mới, các công cụ mới được đưa vào để phục vụ quản lý, phục vụ chuyên môn Đòi hỏi CBCC phải

Trang 33

thường xuyên ĐTBD để nắm bắt được những kiến thức mới, phục vụ cho công việc của mình

Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế diễn ra trong mọi ngành, mọi lĩnh vực; đòi hỏi CBCC luôn nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học thông qua ĐTBD để hoàn thành tốt nhiệm vụ

2.1.3 Đặc điểm của đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Theo Lê Văn Hiệu (2013), “Chức năng của hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chức là hoạt động bồi dưỡng trong công vụ, phục vụ cho hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ Từ đó, đào tạo bồi dưỡng CBCC mang những đặc điểm riêng, cụ thể sau:

Thứ nhất, việc đào tạo bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu

chuẩn ngạch công chức

Đào tạo bồi dưỡng CBCC cần thực hiện đúng chức năng nhằm tăng cường cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc theo vị trí việc làm Khi nói đến vị trí việc làm tức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định, trong đó, trước hết, phải đủ tiêu chuẩn về trình

độ đào tạo Đào tạo bồi dưỡng CBCC sẽ chú trọng tới bồi dưỡng với mục tiêu trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp để CBCC có thể làm tốt công việc ở vị trí của mình Tùy theo vị trí việc làm, ngạch công chức của CBCC xác định các khóa đào tạo bồi dưỡng mà cá nhân CBCC đó cần thiết phải tham gia Việc này góp phần nâng cao hiệu quả, tiết kiệm cho ngân sách và hạn chế những rủi ro trong đào tạo bồi dưỡng CBCC

Thứ hai, công tác đào tạo bồi dưỡng phải tiến hành đồng bộ, theo kế hoạch

và quy hoạch

Trên cơ sở kế hoạch và quy hoạch phát triển của ngành, của đơn vị, công tác đào tạo bồi dưỡng mang tính chủ động, tránh hiện tượng đào tạo tràn lan, không đúng đối tượng, lãng phí ngân sách nhà nước mà không đạt được hiệu quả mong muốn

Thứ ba, đào tạo bồi dưỡng toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo

đức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, yêu cầu đội ngũ CBCC phải vừa vững vàng

về chính trị, vừa giỏi chuyên môn Người cán bộ phải có đức, có tài, trong đó đức là cái gốc Do vậy, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phải gắn với bồi dưỡng

Trang 34

chính trị, giúp cho CBCC hiểu biết về đường lối chính trị, quan điểm của Đảng,

đường lối chính sách của Nhà nước

Thứ tư, đào tạo bồi dưỡng vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của CBCC

Khác với đào tạo xã hội, kinh phí dành cho đào tạo CBCC sẽ do cơ quan

nhà nước chi trả, bản thân cá nhân không mất học phí Qua việc được cử đi đào

tạo bồi dưỡng, trình độ của CBCC cũng được nâng lên Ngoài ra, đào tạo bồi

dưỡng luôn gắn liền với quy hoạch và sử dụng cán bộ Sử dụng CBCC là nội

dung cơ bản của công tác tổ chức cán bộ, là kết quả của công tác đào tạo bồi

dưỡng Do đó, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ là quyền lợi của mỗi CBCC

Bên cạnh đó, đây cũng là trách nhiệm của mỗi CBCC Trách nhiệm này đã được

Luật hóa trong Nghị định 101/2017/NĐ-CP của Chính phủ: CBCC phải tham gia

các lớp bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng

chuyên ngành bắt buộc hàng năm (thời gian thực hiện tối thiểu là 01 tuần/01

năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết)”

Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

ngoài những đặc điểm chung trên còn có những đặc đểm riêng sau:

Một là, Cán bộ, chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm việc

trên các lĩnh vực người có công, lao động và xã hội Mỗi lĩnh vực lại có nhiều

công việc chuyên môn khác nhau và phải có chung các tiêu chuẩn sau:

* Về hiểu biết

- Nắm được đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,

phương hướng nhiệm vụ của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, của lĩnh

vực chuyên môn cụ thể của mình Nắm được Bộ Luật lao động và các văn bản

dưới luật

- Nắm được các kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ có liên quan lĩnh vực

cụ thể của mình và liên quan đến ngành Lao động - Thương binh và Xã hội nói chung

- Các tiêu chuẩn khác như năng lực nghiên cứu khoa học, khả năng soạn

thảo văn bản, tin học được quy định riêng cho mỗi chức danh trong từng lĩnh vực

cụ thể

* Về trình độ

- Chuyên viên trong tất cả các lĩnh vực đều phải có trình độ ít nhất là đại

học và đã qua một khoá đào tạo quản lý hành chính nhà nước

Trang 35

- Biết ít nhất một ngoại ngữ ở các trình độ khác

- Có trình độ tin học

Do vậy, đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đòi hỏi nội dung, chương trình đa dạng, phong phú nhất là nội dung chuyên môn, nghiệp vụ để phù hợp với từng lĩnh vực quản lý của Bộ

Hai là, cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chức của Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội còn non trẻ (Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức từ năm 2002 – 2015; Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội

từ năm 2015 tới nay), nguồn lực còn hạn chế (cả về con người và cơ sở vật chất)

Do đó, cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chức của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội mới chỉ thực hiện được một số nhiệm vụ tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng; tổ chức biên soạn các tài liệu tập huấn cho cán bộ ngành ở địa phương; còn nhiều nhiệm vụ quan trọng chưa thực hiện được như hợp tác quốc tế, xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng, xây dựng kiện toàn đội ngũ giảng viên…

2.1.4 Nội dung nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Đào tạo bồi dưỡng CBCC là một quá trình đi từ mục tiêu cho đến kết quả,

do đó ĐTBD phải tuân theo quy trình đào tạo bồi dưỡng

Thông thường người ta cho rằng quy trình đào tạo bồi dưỡng bao gồm các thành tố (Sơ đồ 2.1)

Sơ đồ 2.1 Quy trình đào tạo bồi dưỡng

Đánh giá đào tạo

Trang 36

Một cách đơn giản hơn, quy trình ĐTBD dựa trên cơ sở năng lực thực hiện công việc bao gồm 4 giai đoạn chính (Sơ đồ 2.2)

Sơ đồ 2.2 Quy trình đào tạo bồi dưỡng đơn giản

Nguồn: Armstrong (1996)

2.1.4.1 Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng

Xác định nhu cầu là quá trình đánh giá tổ chức, CBCC và công việc của CBCC nhằm xác định loại hình và nội dung đào tạo cần thiết Khái niệm “xác định nhu cầu” cũng có thể được hiểu là quá trình xác định xem việc đào tạo có cần thiết không (Trần Thị Kim Dung, 2010)

Nếu bước xác định nhu cầu ĐTBD không được thực hiện tốt, thì dù có phương pháp đào tạo bồi dưỡng và môi trường học tập tốt, việc đào tạo bồi dưỡng cũng khó mang lại kết quả như mong đợi Trên thế giới, xác định nhu cầu còn được biết đến như “phân tích đầu cuối, phân tích nhu cầu đào tạo” (Training Need Analysis, TNA) Xác định nhu cầu là một bộ phận cấu thành quan trọng của một quy trình đào tạo bồi dưỡng Thông qua xác định nhu cầu, các tổ chức và cá nhân biết được mục tiêu, nội dung, yêu cầu và lộ trình đào tạo bồi dưỡng

Việc xác định nhu cầu ĐTBD được hiểu một cách đơn giản là “tìm ra khoảng cách hay thiếu hụt giữa năng lực hiện có và năng lực theo yêu cầu công việc (hiện tại hoặc tương lai) Khoảng cách này được biểu đạt trong các trường hợp khác nhau là sự khác biệt giữa mong muốn của tổ chức và khả năng đáp ứng ở thực tế của đội ngũ, giữa hiệu quả công việc mong muốn và hiệu quả thực tế hay giữa năng lực mong muốn và năng lực hiện có Theo đó, “xác định nhu cầu ĐTBD” được định nghĩa là “phân tích khoảng cách năng lực để tìm ra nhu cầu ĐTBD” Yếu tố cấu thành của năng lực bao gồm:

- Thái độ (Attitudes) là quan điểm, ý thức hay phần nào đó là tính cách của người thực thi

Xác định nhu cầu ĐTBD

Lập kế hoạch ĐTBD

Thực hiện Kế hoạch ĐTBD Đánh giá ĐTBD

Trang 37

- Kỹ năng (Skills) là yếu tố tạo ra sự khác biệt trong những tình huống, công việc cụ thể Kỹ năng bao gồm kinh nghiệm và mức độ thành thạo trong xử

lý công việc

- Kiến thức (Knowledge) là nhận thức về quy luật vận động của thế giới

xung quanh Ngoài kiến thức văn hóa, xã hội, công nghệ còn cần có kiến thức chuyên môn, tức là am hiểu một ngành hay lĩnh vực cụ thể nào đó

Xác định nhu cầu ĐTBD liên quan đến việc xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho vị trí công việc của CBCC; từ đó xác định khoảng cách giữa những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết mà CBCC hiện có với những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn thiếu của CBCC đối với vị trí công việc Khoảng cách này cần được lấp đầy bằng đào tạo bồi dưỡng, nghĩa là lấp đi sự chênh lệch đáp ứng được nhu cầu ham học (Sơ đồ 2.3)

Nhu cầu đào tạo

bồi dưỡng = Năng lực cần có của

Trên thế giới có nhiều phương pháp xác định nhu cầu đào tạo, các tổ chức có thể lựa chọn một hoặc kết hợp các phương pháp sau (Brinkerhoff, 1986):

- Phương pháp phân biệt thực hiện công việc theo cách thông thường và thực hiện công việc có hiệu quả, từ đó xác định nhu cầu đào tạo để có sự hiệu quả

- Phương pháp dân chủ, nghĩa là xác định nhu cầu đào tạo theo nguyện vọng, đề nghị của cá nhân (còn gọi là phương pháp bottom-up)

- Phương pháp chẩn đoán, nghĩa là dự báo nhu cầu đào tạo dựa trên các yếu

tố và điều kiện được cho là quan trọng, cần thiết để hoàn thành một công việc

- Phương pháp phân tích khoảng cách năng lực, như đã trình bày ở trên Trên thực tế, phương pháp này xuất hiện sau cả ba phương pháp trên nhưng hiện đang được dùng phổ biến nhất

Trang 38

Theo Lê Văn Hiệu (2013), Việc xác định chính xác được nhu cầu đào tạo là căn cứ cho việc lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng Chúng ta tiến hành việc xác định chênh lệch trong thực hiện công việc thông qua việc xác định sự thiếu hụt ở 3 cấp:

* Phân tích cấp tổ chức

Chúng ta coi tầm nhìn chiến lược, mục tiêu của tổ chức là mức độ lý tưởng hoàn thành công việc Sau đó tiến hành phân tích tình hình thực hiện công việc thực hiện thực tế để có thể xác định mức thiếu hụt và nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này

Phân tích ở mức độ tổ chức bao gồm các phân tích sau đây:

- Sự ủng hộ và hỗ trợ của nhà lãnh đạo, quản lý và đồng sự;

- Chiến lược của tổ chức;

- Các nguồn lực cho đào tạo

Sự thành công của các chương trình đào tạo phụ thuộc quyết định vào quyết tâm của ban lãnh đạo tối cao Không có ủng hộ và hỗ trợ của những nhà lãnh đạo, quản lý và đồng sự chắc chắn chương trình đào tạo sẽ phá sản Có lẽ vì vậy,

mà những lý do hay được viện ra nhất để cho rằng việc đào tạo thất bại là không

* Phân tích cấp công việc

Phân tích đối với cấp độ công việc là phân tích mức độ chênh lệch giữa yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực cần thiết để hoàn thành công việc

đó ở mức lý tưởng so với mức hiện tại Sự chênh lệch (thiếu hụt) này chính là nhu cầu đào tạo bồi dưỡng ở mức độ công việc

Để thực hiện được phân tích này, cần xây dựng cơ sở dữ liệu các yêu cầu

về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực thực hiện công việc đó ở mức độ lý tưởng Chúng ta có thể tiến hành thu thập các dữ liệu này thông qua các phương pháp: Bảng mô tả công việc; Quan sát công việc; Nhật ký công việc; Phỏng vấn

Trang 39

Các tổ chức xây dựng danh mục vị trí việc làm Danh mục vị trí việc làm chính là cơ sở để phân tích nhu cầu ở cấp công việc

* Phân tích cấp cá nhân

Phân tích cá nhân và vị trí việc làm của họ Kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực của họ đã đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại hay chưa? Các công cụ để phân tích ở cấp độ cá nhân: Bảng mô tả công việc; Thông qua đánh giá của thủ trưởng đơn vị; Đề nghị của cá nhân; điều tra khảo sát

Tổng hợp dữ liệu phân tích nhu cầu đào tạo ở 3 cấp: cá nhân, công việc, tổ chức sẽ hình thành dữ liệu nhu cầu đào tạo của tổ chức

Thông thường, người ta thực hiện các hoạt động xác định nhu cầu đào tạo như sau:

Bước 1: Làm rõ các yêu cầu Xác định vấn đề đào tạo, quyết định đưa ra những nhiệm vụ mới, làm rõ những mong muốn, nguyện vọng đối với đào tạo, bồi dưỡng

Bước 2: Lập kế hoạch thực hiện xác định nhu cầu đào tạo Phân tích nhu cầu đào tạo

Bước 3: Đánh giá thực trạng về thực hiện công việc

Bước 4: Xác định những sai sót, thiếu hụt trong thực hiện nhiệm vụ và những hành vi sai lệch

Bước 5: Xác định nhu cầu đào tạo từ các bước 2, 3 so sánh với bước 4 Bước 6: Xác định các mục tiêu và nội dung đào tạo

2.1.4.2 Lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng

Lập kế hoạch chính là thiết kế cho một tương lai mong muốn và cách thức

có hiệu quả để thực hiện, là phác họa cách sử dụng các nguồn lực, thời gian và sự

cố gắng thực hiện những gì chúng ta mong muốn Trên cơ sở những số liệu thu được từ xác định nhu cầu ĐTBD, cần phải xây dựng kế hoạch ĐTBD

Theo Ngô Thành Can (2010), lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần trả lời các câu hỏi chính như: Mục tiêu kế hoạch? Nội dung là gì? Ai thực hiện? thời gian và địa điểm tiến hành? Cách thức thực hiện? Kinh phí? Kiểm tra đánh giá như thế nào? Để dễ nhớ, người ta dùng kỹ thuật 5W, 2H, 2C: why, what, who, when, where, how, how much, control, check Lập kế hoạch đào tạo bồi dưỡng bao gồm các nội dung sau:

Trang 40

- Mục đích tổng thể;

- Các mục tiêu cụ thể;

- Đối tượng: đối tượng học viên, tiêu chuẩn tuyển chọn tham gia ĐTBD;

- Hỗ trợ đối với việc học tập, trang thiết bị;

- Phương pháp đào tạo, các hoạt động của học viên;

- Phân phối thời gian;

- Nội dung chính, các chủ đề;

- Tài liệu ĐTBD;

- Người dạy: giáo viên, báo cáo viên, cộng tác viên;

- Các kết quả, tiêu chí cần đạt được;

- Chương trình chi tiết

Các nhà nghiên cứu cho rằng, một kế hoạch tốt cần phải rõ ràng về mục tiêu ĐTBD Các mục tiêu cần được xây dựng theo kỹ thuật SMART: Specific - Cụ thể; Measurable - Đo lường được; Achievable - Có thể đạt được, vừa sức; Realistic – Thực tiễn, khả thi; Time-bound - Thời hạn

Để giúp cho việc thực hiện công tác tổ chức ĐTBD, người ta đưa ra các công việc cần thực hiện trong thiết kế chương trình đào tạo, như sau:

- Liệt kê những mục tiêu đã được xem xét chấp nhận đối với chương trình đào tạo bồi dưỡng

- Xem xét về số người tham gia đào tạo bồi dưỡng và họ sẽ tác động như thế nào đến việc thiết kế chương trình

- Quyết định việc học tập sẽ đạt kết quả tốt nhất theo loại hình chương trình đào tạo bồi dưỡng

- Quyết định hình thức phương pháp đào tạo bồi dưỡng

- Kế hoạch các công việc để đạt được các mục tiêu của chương trình và của từng mục tiêu

- Chuẩn bị đề cương kế hoạch chi tiết từ các khoản mục ở trên

- Thảo luận về kế hoạch với những bên liên quan

- Hoàn thiện kế hoạch chương trình lần cuối và đưa ra kế hoạch chi tiết Theo Ngô Thành Can, xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo

Ngày đăng: 27/09/2019, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w