Đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1” A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, bởi “Giáo dục là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai”. Việc đổi mới nội dung chương trình cũng như phương pháp dạy học và giáo dục là một đòi hỏi khách quan đối với nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay. Đáp ứng đòi hỏi đó, giáo dục chủ trương nhấn mạnh mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện, có đức, có tài, có khả năng thích ứng với đời sống, biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào đời sống học tập cũng như đời sống xã hội.
Trang 1Đề tài:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1”
A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến giáo dục, xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, bởi “Giáo dục là chìa khóa mở cửa
tiến vào tương lai” Việc đổi mới nội dung chương trình cũng như phương pháp dạy học
và giáo dục là một đòi hỏi khách quan đối với nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiệnnay Đáp ứng đòi hỏi đó, giáo dục chủ trương nhấn mạnh mục tiêu đào tạo con người pháttriển toàn diện, có đức, có tài, có khả năng thích ứng với đời sống, biết vận dụng sáng tạonhững kiến thức đã học vào đời sống học tập cũng như đời sống xã hội
Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sứcquan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới Hiện nay ởnhà trường Tiểu học, việc rèn kỹ năng đọc rất quan trọng Kỹ năng đọc là sự khởi đầugiúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giaotiếp Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kỹnăng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở
bậc Tiểu học Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em
cái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập Khi biết đọc, biết viết các em có điềukiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo Từ đó có điềukiện học tốt các môn học khác có trong chương trình
Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: nghe, nói, đọc, viết Và kỹ năng đọcrất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các
em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹptrong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc,hiểu được các lệnh, các yêu cầu trong các môn học khác Mặt khác ở lớp Một, các emđược tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ họcvững vàng, học tốt hơn Chính vì những lí do nêu trên mà tôi đã chọn đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1.”
1 Mục đích đề tài:
a) Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Ninh Lộc
b) Cơ sở nghiên cứu
Trang 2- Cơ sở khoa học: Ở bậc Tiểu học, kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó
cũng là sự phản hồi của kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em Nó thể hiệnkết quả nhận biết các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần,ghép chữ cái với vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được mộtbài văn ngắn, một bài thơ ngắn Học sinh đã nhận biết được mặt chữ, biết ghép vần, ghéptiếng, ghép từ, đọc câu Sau đó là yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chínhxác Vì nếu các em phát âm chuẩn, đọc đúng các em sẽ viết đúng và các em sẽ hiểu được
ý của tiếng, từ, câu, bài mà các em viết Do đó, việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 làmột vấn đề rất quan trọng và cấp thiết
- Cơ sở thực tiễn: Năm học 2018–2019 này, tôi được phân công làm công tác chủnhiệm và giảng dạy lớp 1A tại cơ sở Mỹ Lợi Đây là lớp 2 buổi/ngày, học sinh có độtuổi đồng đều Tổng số học sinh là 21 em Các em mới vào lớp 1, bước vào môi trườnghọc tập mới nên còn nhiều bỡ ngỡ Đồng thời vẫn chưa được sự quan tâm và phối hợp
từ phía gia đình của một số học sinh
c) Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận vấn đề giúp học sinh lớp 1 đọc tốt
- Điều tra thực trạng về tinh thần ham học hỏi của học sinh lớp 1A
- Tìm một số giải pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh
- Thử nghiệm các giải pháp
- Quan sát và lấy ý kiến về tác dụng của các giải pháp
Trên cơ sở những hiểu biết đó, từng bước tạo hứng thú và giúp cho học sinh lớp 1A có kĩnăng đọc tốt
2 Phương pháp
a) Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc các tài liệu, giáo trình có nội dung rèn kĩnăng đọc cho học sinh
- Phương pháp khảo sát thực tế từng học sinh: cho học sinh đọc bài để nắm bắt tìnhhình đọc của các em
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ học tập của học sinh, quan sát các hoạt độngđược tổ chức theo nhóm đôi, nhóm 4
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tổ chức so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khithực hiện các biện pháp để thấy được kết quả cũng như hạn chế nhằm tìm ra hướng điềuchỉnh, khắc phục hợp lí
Trang 3- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: phương pháp này được sử dụng để kiểm tra, đánhgiá hiệu quả một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả giờhọc môn Tiếng Việt
- Phương pháp thống kê toán học: thống kê số liệu học sinh trước và sau khi thực hiện cácbiện pháp để thấy được sự tiến bộ của học sinh
b) Giới hạn của đề tài
Đề tài nghiên cứu để tìm ra các biện pháp hữu ích để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1A
II THỰC TRẠNG
1 Thuận lợi
- Trường Tiểu học Ninh Lộc gồm có 26 lớp, gồm 4 điểm trường (điểm Mỹ Lợi, điểm TamÍch, điểm Phong Thạnh, điểm Tân Thủy) Môi trường học tập tương đối thuận lợi, được
sự quan tâm của chính quyền địa phương và các bậc phụ huynh
- Lớp học có sĩ số học sinh là 21 em, thuận lợi cho việc kiểm tra, phát hiện lỗi sai kịp thời
để sửa chữa và khắc phục lỗi phát âm cho học sinh
- Giáo viên có kế hoạch rèn kĩ năng đọc cho học sinh ngay từ tuần đầu năm học (thống kê phân loại học sinh đọc chậm, mắc lỗi để theo dõi thường xuyên)
* Minh chứng 1: Thống kê số lượng học sinh phát âm trước khi nghiên cứu đề tài (thời điểm đầu năm học 2018-2019): Phụ lục 1
Điều đó cho thấy kĩ năng đọc của các em còn hạn chế, làm ảnh hưởng tới kết quả họctập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 4Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên
đối với mỗi người đi học Đọc là công cụ để học tập các môn học Đọc tạo ra hứng thú vàđộng cơ học tập Việc dạy đọc sẽ giúp các em hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêucái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy cóhình ảnh, Dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thịhiếu thẩm mỹ cho học sinh
Muốn đọc đúng, đọc diễn cảm thì trước hết giáo viên cần luyện phát âm đúng cho họcsinh Tiểu học Muốn vậy, trước hết phải giải quyết vấn đề phương ngữ Mục tiêu củachúng ta là vươn đến một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh.Muốn như vậy, chúng ta cần luyện cho học sinh phát âm chuẩn, đọc đúng, đọc hay Phát
âm chuẩn sẽ được nhiều cái lợi, trước hết nó giúp học sinh viết đúng chính tả sau đó còngiúp học sinh phát âm dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ và học các môn học khác
II CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
- Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tựlàm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiết dạy vui, sinhđộng Đồng thời mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàn cảnh khókhăn
- Xây dựng đôi bạn học tốt – chậm tiến giúp nhau
- Giáo viên có thể cho học sinh đọc chậm để ngồi gần với một học sinh đọc tốt
- Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu năm
2 Phần học các nét cơ bản, âm, vần, tập đọc:
2.1 Các nét cơ bản:
Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản Để cho họcsinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạogần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh Dựa vào các nét cơbản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạogiống nhau
VD: Các nét chữ cơ bản và tên gọi:
+ Nét sổ thẳng
Trang 5+ Nét ngang
Nhóm 1: Nét xiên + Nét xiên phải
+ Nét xiên tráiNhóm 2: Nét móc + Nét móc trên
+ Nét móc dưới + Nét móc hai đầuNhóm 3: Nét cong + Nét cong phải
+ Nét cong trái + Nét cong trònNhóm 4: Nét khuyết + Nét khuyết trên
+ Nét khuyết dưới + Nét thắt
Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếuchữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sáchbáo như chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ a haychữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in trong sách báo học sinh dễ hiểu, dễ đọc không bịlúng túng
Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ củahọc sinh thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ, từ đó củng cố thêm kiến thứccho các em
2.3 Phần học vần:
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen vớicác kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữhoa một cách chính xác để các em đọc đúng
Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạocủa vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững
Trang 6VD: Học vần ăm :
1/ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ăm: vần ăm gồm 2 âm: âm ă và âm m đứng sau
Vị trí âm trong vần: âm ă đứng trước, âm m đứng sau
Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế, nếuđược áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năngphân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng vàthành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt Trong các bài dạy vần, sách giáokhoa Tiếng Việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn đểhọc sinh luyện đọc Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáoviên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học
để đọc tiếng, đọc từ của bài
VD: dạy vần ăm có từ “con tằm”
Sau khi học sinh nắm vững vần ăm, nhìn và đọc được vần ăm một cách chắc chắn.Giáo viên đưa ra từ “con tằm” và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứng trước (âm t), vần
gì đứng sau (vần ăm), dấu thanh gì ở trên (dấu huyền) vậy ta có thể ghép và đánh vần: tờ
-ăm – t-ăm- huyền – tằm, đọc trơn: tằm, ghép từ: con tằm
Giáo viên có thể sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú nhìn vào tranh ảnhsinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tò mò, ham học hỏi của học sinh, giúp các em chủđộng trong giờ học
2.4 Phần tập đọc:
Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh Nhất là đối tượng học sinh chậm tiến.Học sinh học tốt đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ nhìn vào bài là các emđọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt Còn học sinh chậmtiến nhận biết còn chậm, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếngchậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn Vì thế đối với các học sinh này, sangphần tập đọc giáo viên cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp
Trang 7các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều Giáo viên tránh nóng vội để đọc trước chocác em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh Giáo viênnên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng
đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vầnrồi đọc lại từng cụm từ
VD: Dạy bài tập đọc Trường em (sách giáo khoa Tiếng Việt 1)
1/ Học sinh chưa đọc được tiếng trường, giáo viên nên cho các em đánh vần tiếng trườngbằng cách phân tích như sau:
GV: Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì?
HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền
GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào?
HS: trờ - ương – trương – huyền – trường
GV: Đọc trơn tiếng này thế nào?
Hs: trường
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: trường em
2/ Học sinh chậm không đọc được tiếng trường
GV nên cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường
GV: Vần ương gồm có mấy âm?
HS: Vần ương gồm có 2 âm Âm đôi ươ và âm ng
GV: Vị trí các âm trong vần thế nào?
HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau
GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương
HS: ươ- ng- ương, ương
GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương.Ta đánh vần, đọc trơntiếng thế nào?
HS: trờ - ương – trương- huyền – trường, trường
Sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để khắc sâuvào trí nhớ học sinh
3 Chữa lỗi phát âm:
3.1 Bằng biện pháp luyện theo mẫu:
Trang 8Bằng phát âm mẫu của mình giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các
từ cần luyện, yêu cầu học sinh phát âm theo
Âm k ≠ c, kẻ vở ≠ (cẻ vở: không hợp lệ)
Âm kh trong tiếng “khế” học sinh phát âm nhầm lẫn đọc thành tiếng “thế”
Bài 20: Trang 42 Tiếng Việt Tập 1
Vần an: (bàn) ≠ ang: (bàng) Bài 44: trang 90 Tiếng Việt Tập 1
Tiếng: ý muốn ≠ rau muống.
Câu: Nắng đã lên lúa trên nương chín vàng
Trai gái bản mường cùng vui vào hội
Học sinh đọc Lắng đã nên núa chên lương chín quàng.
3.2 Bằng biện pháp cấu âm:
Giáo viên mô tả cấu âm của một âm nào đó rồi hướng dẫn học sinh phát âm theo Với phụ âm cần mô tả vị trí của lưỡi, phương thức cấu âm Tôi đã tiến hành sửa từng âm:
Sai phát âm /p/ pờ thành /b/ bờ, (p và b) đều là hai phụ âm đồng vị về mặt cấu âm môi
-môi nhưng khác nhau về mặt thanh tính, /p/ là phụ âm vô thanh, /b/ là phụ âm hữu thanh
Để luyện đọc đúng /p/, tôi đã hướng dẫn học sinh tự đặt lòng bàn tay trước miệng, một tayđặt lên thanh quản Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ rung nhẹ của thanhquản và không thấy luồng hơi phát ra
Cho học sinh bậm hai môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn, tạo âm /p/ câm Cho các emlàm lại như trên nhưng phát thành tiếng /p/ hay ''đèn pin ", pí pa -pí pô'' Cho học sinhđặt một tay lên thanh hầu và lòng bàn tay trước miệng, các em sẽ dễ dàng nhận biết được
sự khác biệt giữa hai âm Khi phát âm /p/ dây thanh rung mạnh và có luồng hơi từ miệngphát ra đập vào lòng bàn tay
- Sai phát âm /n/ nờ - /l/ lờ lẫn lộn: Học sinh hay phát âm lẫn giữa l/n, ch/tr, d/gi và phần
lớn các em không ý thức được mình đang phát âm âm nào
Để chữa lỗi phát âm cho học sinh, tôi phải trực quan hóa sự mô tả âm vị và hướng dẫn
học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào: /n/ là một âm mũi, khi
phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung, còn khi phát âm âm /l /mũi không rung Sau đó,
ta cho học sinh luyện phát âm /l/ bằng cách bịt chặt mũi đọc la, lo, lô, lu, lư, Khi bịt chặtmũi học sinh không thể phát âm các tiếng na, no, nô, nu, nư Cho học sinh luyện nói câu''con lươn nó lượn trong lọ, ''cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc '' Hoặc hướng dẫn học sinhkhi phát âm âm /l/ thì đưa lưỡi lên phía bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng, còn khi phát
âm /n/ thì đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng
Trang 93.3 Bằng âm trung gian:
Là biện pháp chuyển từ âm sai về âm đúng qua âm trung gian Biện pháp này thườngđược dùng để chữa từ thanh nặng về thanh hỏi, thanh sắc về thanh ngã Để chữa lỗi nàycho học sinh tôi đã làm công việc tạo mẫu luyện cho trẻ phát âm riêng từng thanh hỏi,ngã Phát âm các tiếng có thanh hỏi ngã cần qua các bước sau đây:
+ Đầu tiên chắp các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi thanh
Giáo viên đang hướng dẫn cho học sinh đọc bài trên bảng lớp trong giờ học vần tiết 92
Ví dụ: rồi ≠ dồi; ra ≠ da Con cá rô bỏ vào rổ ≠ Con cá gô bỏ vào gỗ
+ Cuối cùng chắp bất kỳ âm đầu các vần với các thanh
Giáo viên hướng dẫn đọc theo nhóm để học sinh tự thực hiện theo
4 Tăng cường luyện đọc cho học sinh:
Giáo viên cho học sinh luyện đọc các bài tập đọc vào giờ đọc cụ thể, học sinh đượcthực hành, được tự rèn luyện kỹ năng kỹ xảo đã học Tôi luôn hướng dẫn học sinh luyệnđọc mọi lúc và có ý thức kiểm tra ngay kết quả luyện đọc của học sinh tại lớp rồi nhậnxét
- Đối với lớp 1 cần chú trọng vào luyện đọc đúng cho các em
- Đọc đúng ở học sinh là cách đọc thành tiếng, mức độ trôi chảy rành mạch lưu loát.+ Rèn cho các em phát âm đúng chính xác bài đọc
+ Ngắt nghỉ đúng dấu câu, đọc dứt khoát
+ Bước đầu biết đọc lên giọng xuống giọng và biêt phân biệt cách đọc bài văn xuôi vớibài văn thơ
* Minh chứng 2: Phụ lục 2
5 Khuyến khích học sinh rèn kĩ năng đọc qua các hình thức giải trí:
Học sinh Tiểu học thường rất hiếu động và sáng tạo, do đó để luyện kĩ năng đọc chohọc sinh, ngoài các giờ học trên lớp, giáo viên cần khuyến khích các em giải trí thông quacác hoạt động vui chơi để học
Trang 10Các hình thức giải trí như xem phim hoạt hình, chơi các trò chơi đấu trí hoặc hátnhững bài hát thiếu nhi Các biện pháp này sẽ giúp cho các em dần dần phát âm đúng, rèn
kĩ năng đọc Các em sẽ thích thú hơn với môn học, giảm bớt đi áp lực, tạo tinh thần thoảimái, phấn khởi trong tiết học Bên cạnh đó học sinh sẽ có nhiều cơ hội để được nghe vàhiểu tiếng Việt nhiều hơn, trau dồi được vốn từ vựng, nắm chắc được các cách phát âm đểnghe hiểu nhanh hơn, từ đó góp phần nâng cao kĩ năng đọc, nói, nghe, viết
* Minh chứng 3: Phụ lục 3
6 Tổ chức “Đôi bạn/ Nhóm bạn cùng tiến” trong việc học môn Tiếng Việt nói chung
và rèn kĩ năng đọc nói riêng:
Đa số các em học sinh nhà rất gần nhau vì vậy giáo viên nên tổ chức cho các em thànhlập đôi bạn cùng nhau học ở nhà vào thời gian rảnh Sau mỗi tiết học trên lớp, giáo viêncần đưa ra bài đọc và giao nhiệm vụ các mỗi nhóm để các em luyện đọc và hiểu nội dungbài đọc Mục đích chính là giúp các em rèn cho mình kĩ năng đọc Sau đó trước khi vàotiết học mới, giáo viên mời các đôi bạn hay nhóm bạn trình bày kết quả trước lớp Giáoviên nhận xét, tuyên dương và đưa ra các chỉnh sửa nếu như các em thực hiện chưa tốt
* Minh chứng 4: Phụ lục 4
III HIỆU QUẢ
Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi, tôi đã tìm thấy một số biện pháp như trên để rèn kỹnăng đọc cho học sinh lớp 1 Qua việc áp dụng những biện pháp trên, tôi thấy học sinh cónhiều tiến bộ rõ rệt: có hứng thú học tập, các em phát âm chuẩn, đọc rõ ràng, lưu loát,ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, một số em đọc diễn cảm
* Minh chứng 5: Thống kê số lượng học sinh phát âm sau khi nghiên cứu và áp dụng
đề tài (tính đến cuối tháng 4 năm 2019): Phụ lục 5