Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa chung là một sự tổng hợp những thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sử dụng những biện pháp chuyên môn để điều khiển sự phát triển thể chất con người một cách có chủ định, nhằm nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Thể dục thể thao ra đời và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Thể dục thể thao là ngành mang tính khoa học nghệ thuật, là một bộ phận tất yếu của nền văn hóa nghệ thuật, là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn hóa của mỗi dân tộc, cũng như nền văn hóa của nhân loại. Thể dục thể thao không ngừng nâng cao sức khỏe, phục vụ sản xuất, bảo vệ tổ quốc, càng góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh, mang lại nét đẹp cho thẩm mỹ và cho nhân loại. Các hoạt động thể dục thể thao không những là hình thức duy trì nâng cao phẩm chất năng lực, giữ gìn sức khỏe mà còn là niềm say mê, niềm tự hào và cổ vũ to lớn cho nhân dân lao động. Trong giai đoạn kinh tế của đất nước đang trên đà phát triển, thể thao là một bộ phận không thể tách rời của công cuộc đổi mới, nên nó được phát triển mạnh mẽ, được giao lưu cọ sát với nền thể thao của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, không ngừng kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học kỹ thuật của nền thể thao nhân loại. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà ngành thể dục thể thao nói chung và nền kinh tế nói riêng đã đạt được thành tích đáng khích lệ trong các kỳ tranh tài trên đấu trường quốc tế. Mặc dù những thành tích đó còn khiêm tốn nhưng cũng là một tín hiệu đáng mừng và khẳng định được bước phát triển của nền thể thao nước nhà. Điền kinh ở nước ta có quá trình phát triển lâu đời, nó được nhân dân ta tập luyện để tăng cường sức khỏe, tham gia lao động sản xuất và chống ngoại xâm. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục sức khỏe cho nhân dân, thực hiện theo lời Bác Hồ “ Dân cường thì nước thịnh ”. Với phương châm “ Khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc ”, vì thế môn điền kinh đã trở thành nội dung chính trong các trường phổ thông về giáo dục thể chất, nâng cao tinh thần cho học sinh và là tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho các tầng lớp nhân dân, từ đó phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Trong những năm gần đây giáo dục thể chất trong nhà trường ở cấp THCS đã và ngày càng được chú trọng hơn rất nhiều, các câu lạc bộ thể dục thể thao, ngoại khóa trong trường học ngày càng được phát triển nhằm tạo ra sân chơi lành mạnh nên được các em cũng nhưng các bậc phụ huynh hưởng ứng. Chính vì vậy mà thể chất được cải thiện lên rất nhiều. Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường THCS hiện nay là điền kinh. Mỗi một nội dung học tập có tác động làm cho sự thay đổi khác nhau đến từng bộ phận cơ thể học sinh. Từ đó dẫn đến sự thay đổi hay nói đúng hơn là sự phát triển các tố chất thể lực cho học sinh. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, trang thiết bị và điều kiện sân bãi phục vụ cho việc giảng dạy và học tập chưa đáp ứng tốt nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường. Do đó công tác tham gia thi đấu các môn thể thao nói chung và điền kinh nói riêng, thành tích đạt được rất khiêm tốn. Hiện nay ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập nhằm phù hợp với xu thế của thời đại. Đồng thời tiếp tục thực hiện “ Năm học thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lí tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” và “ Năm học đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”. Vấn đề này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giáo viên giảng dạy môn Thể dục cấp THCS là chất lượng bộ môn ngày càng được nâng cao. Nhận thức được điều đó tôi mạnh dạn đưa ra một số sáng kiến nhỏ trong việc nâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh nam khối lớp 8 cấp Trung Học Cơ Sở, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn thể dục trong nhà trường THCS. Muốn giải quyết các vấn đề nêu trên để nâng cao thành tích và áp dụng các bài tập bổ trợ vào thực tế giảng dạy môn Điền kinh và nội dung nhảy cao là hết sức quan trọng, rất có giá trị và cần thiết trong giai đoạn hiện nay đó là một công việc hết sức khó khăn. Với tầm quan trọng trên tôi đã chọn đề tài: “ Một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8 Trường THCS Trần Quang Khải – Ninh Hòa – Khánh Hòa ”.
Trang 1A.ĐẶT VẤN ĐỀ:
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa chung là một sự tổng hợpnhững thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sử dụng những biện phápchuyên môn để điều khiển sự phát triển thể chất con người một cách có chủ định,nhằm nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ Thể dục thể thao ra đời và phát triển theo
sự phát triển của xã hội loài người
Thể dục thể thao là ngành mang tính khoa học nghệ thuật, là một bộ phận tấtyếu của nền văn hóa nghệ thuật, là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn hóacủa mỗi dân tộc, cũng như nền văn hóa của nhân loại Thể dục thể thao khôngngừng nâng cao sức khỏe, phục vụ sản xuất, bảo vệ tổ quốc, càng góp phần xâydựng cuộc sống lành mạnh, mang lại nét đẹp cho thẩm mỹ và cho nhân loại
Các hoạt động thể dục thể thao không những là hình thức duy trì nâng caophẩm chất năng lực, giữ gìn sức khỏe mà còn là niềm say mê, niềm tự hào và cổ vũ
to lớn cho nhân dân lao động Trong giai đoạn kinh tế của đất nước đang trên đàphát triển, thể thao là một bộ phận không thể tách rời của công cuộc đổi mới, nên
nó được phát triển mạnh mẽ, được giao lưu cọ sát với nền thể thao của nhiều nướctrong khu vực và trên thế giới, không ngừng kế thừa và tiếp thu có chọn lọc nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật của nền thể thao nhân loại
Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà ngành thể dục thể thao nói chung
và nền kinh tế nói riêng đã đạt được thành tích đáng khích lệ trong các kỳ tranh tàitrên đấu trường quốc tế Mặc dù những thành tích đó còn khiêm tốn nhưng cũng làmột tín hiệu đáng mừng và khẳng định được bước phát triển của nền thể thao nướcnhà
Điền kinh ở nước ta có quá trình phát triển lâu đời, nó được nhân dân ta tậpluyện để tăng cường sức khỏe, tham gia lao động sản xuất và chống ngoại xâm.Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục sức khỏe cho nhân dân, thựchiện theo lời Bác Hồ “ Dân cường thì nước thịnh ” Với phương châm “ Khỏe đểxây dựng và bảo vệ tổ quốc ”, vì thế môn điền kinh đã trở thành nội dung chínhtrong các trường phổ thông về giáo dục thể chất, nâng cao tinh thần cho học sinh và
là tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho các tầng lớp nhân dân, từ đó phát hiện và bồidưỡng nhân tài
Trong những năm gần đây giáo dục thể chất trong nhà trường ở cấp THCS đã
và ngày càng được chú trọng hơn rất nhiều, các câu lạc bộ thể dục thể thao, ngoạikhóa trong trường học ngày càng được phát triển nhằm tạo ra sân chơi lành mạnhnên được các em cũng nhưng các bậc phụ huynh hưởng ứng Chính vì vậy mà thểchất được cải thiện lên rất nhiều
Chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường THCS hiện nay là điền kinh.Mỗi một nội dung học tập có tác động làm cho sự thay đổi khác nhau đến từng bộphận cơ thể học sinh Từ đó dẫn đến sự thay đổi hay nói đúng hơn là sự phát triểncác tố chất thể lực cho học sinh Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, trang thiết bị vàđiều kiện sân bãi phục vụ cho việc giảng dạy và học tập chưa đáp ứng tốt nhu cầunâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường Do đó công tác tham gia
Trang 2thi đấu các môn thể thao nói chung và điền kinh nói riêng, thành tích đạt được rất
khiêm tốn
Hiện nay ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong hoạt độnghọc tập nhằm phù hợp với xu thế của thời đại Đồng thời tiếp tục thực hiện “ Nămhọc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lí tài chính và triển khaiphong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” và “ Năm học đổimới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục” Vấn đề này đã đặt ra yêucầu cấp thiết đối với giáo viên giảng dạy môn Thể dục cấp THCS là chất lượng bộmôn ngày càng được nâng cao Nhận thức được điều đó tôi mạnh dạn đưa ra một số
sáng kiến nhỏ trong việc nâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh
nam khối lớp 8 cấp Trung Học Cơ Sở, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn thểdục trong nhà trường THCS
Muốn giải quyết các vấn đề nêu trên để nâng cao thành tích và áp dụng cácbài tập bổ trợ vào thực tế giảng dạy môn Điền kinh và nội dung nhảy cao là hết sứcquan trọng, rất có giá trị và cần thiết trong giai đoạn hiện nay đó là một công việc
hết sức khó khăn Với tầm quan trọng trên tôi đã chọn đề tài: “ Một số bài tập bổ
trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8 Trường THCS Trần Quang Khải – Ninh Hòa – Khánh Hòa ”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1 K ỹ thuật nhảy cao kiểu " B ước qua " :
Kỹ thuật nhảy cao gồm 4 giai đoạn: Chạy đà – Giậm nhảy – Trên không –Rơi xuống đất
a.Kỹ thuật chạy đà:
- Kỹ thuật chạy đà 5 – 7 – 9 – 11 bước tùy theo mức xà cao hay thấp và khảnăng của mỗi người
- Các bước đà chia làm hai phần : Một số bước đà đầu và ba bước đà cuối
- Ở những bước đà đầu cần chạy tăng tốc độ và chuẩn bị cho thực hiện cácbước đà cuối được thuận lợi
+ Bước thứ nhất : Bước chân giậm nhảy ra trước nhanh hơn các bước trước
đó và đặt gót bàn chân chạm đất
+ Bước thứ hai : Bước chân lăng ra trước và bước dài nhất trong ba bước đàcuối Chân chạm đất phía trước bằng gót bàn chân, sau đó hơi miết cổ chân xuốngđất Việc duy trì tốc độ đạt được lúc này rất quan trọng, vì vậy cần giữ thân chothẳng , không được ngả vai ra sau trước khi kết thúc thời kỳ chống đỡ
+ Bước thứ ba : Đây là bước đà đưa chân giậm nhảy vào điểm (hoặc khuvực) giậm nhảy và có độ dài ngắn nhất trong ba bước đà cuối Bước này cần đưa rấtnhanh vùng hông và chân giậm ra trước chạm đất bằng gót bàn chân, sao cho trọngtâm cơ thể cách xa phía sau gót chân giậm nhảy Chân lúc này thẳng từ gót đếnhông, thân trên hơi ngả ra sau, hai tay co ở phía sau để chuẩn bị phối hợp khi giậm
Trang 3nhảy Cần chú ý: Không phải thân trên chủ động ngả ra sau, mà chủ yếu do đưanhanh vùng hông và chân giậm nhảy ra trước tạo nên.
b Kỹ thuật giậm nhảy:
- Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong nhảy cao Giậm nhảy cần mạnh,nhanh, phối hợp ăn nhịp giữa chân và tay, giữa chạy đà và giậm nhảy
- Theo luật thi nhảy cao, vận động viên phải nhảy từ mức xà nhất định đến caonhất theo khả năng của mình Mức xà càng cao, điểm giậm nhảy càng cần nhích xa
xà hơn, do đó vận động viên phải biết điều chỉnh đà cho hợp lý
- Chạy đà – giậm nhảy tốt, nhưng nếu đỉnh cao đạt được không trùng với đỉnhcao của xà ngang củng dễ làm rơi xà Ví dụ một học sinh nhảy ba lần đều đạt được
độ cao như nhau, nhưng lần một do điểm giậm nhảy xa quá, đỉnh cao đạt được ởphía ngoài xa, lúc rơi xuống làm rơi xà Lần nhảy hai, giậm nhảy gần xà quá, đỉnhcao đạt được phía trong xà, nên cũng làm rơi xà Lần nhảy ba, giậm nhảy ở điểmgiậm nhảy hợp lý, đỉnh cao đạt được trùng với đỉnh cao của xà, nên đã qua được xà
- Góc độ giậm nhảy hợp lý kiểu “ Bước qua” đối với học sinh THCS khoảng
900, góc độ bay khoảng 70-800
c Kỹ thuật trên không:
- Sau giậm nhảy, khi chuẩn bị qua xà cần gập thân ra trước, không được đểthân thẳng đứng hoặc ngả ra sau, vì như vậy sẽ bị “tụt mông”, nghĩa là không nângđược mông lên cao, dễ làm rơi xà
- Chân đá lăng và tay cùng bên qua xà trước Khi chân lăng qua xà cần duỗithẳng và thực hiện động tác hết sức khéo léo để không làm rơi xà
- Khi chân giậm nhảy chuẩn bị qua xà cần đá thẳng chận mạnh lên cao phốihợp với tay cùng bên khéo léo không để vướng xà
- Ở giai đoạn trên không có nhiều kiểu nhảy cao khác nhau căn cứ vào đường
đi của trọng tâm cơ thể trong không gian Trọng tâm cơ thể nằm khoảng giữa rốn vàđốt sống thắt lưng
d Kỹ thuật rơi xuống đất:
- Chân lăng tiếp đất trước, sau đó đến chân giậâm nhảy Khi chân bắt đầuchạm đất, cần dùng chân để giảm chấn động
- Khi tiếp đất vẫn cần chú ý động tác của tay và thân trên cho khéo để khôngchạm xà
2 P hương pháp giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu bước qua:
Cần sử dụng các biện pháp chính sau đây để giải quyết các nhiệm vụ trongnhảy cao
Nhiệm vụ 1: Xây dựng khái niệm kỹ thuật thông qua các biện pháp sau:
- Giới thiệu, phân tích và làm mẫu kỹ thuật
- Cho xem phim, ảnh, mô hình kỹ thuật
- Cho người tập nhảy tự do để xác định chân giậm nhảy và nắm đặc điểm củatừng người
Nhiệm vụ 2: Dạy kỹ thuật giậm nhảy thông qua các biện pháp sau:
- Phân tích và làm mẫu kỹ thuật
Trang 4- Tại chỗ tập đặt chân vào điểm giậm nhảy (chú ý cả tư thế chân lăng, thânngười và tay)
- Vịn tay phải chân giậm vào thang gióng (hoặc vật cố định) tập đặt chân, giậmnhảy và đá lăng
- Đi bộ, chạy chậm 2-3 bước tập phối hợp giậm nhảy đá lăng
- Chạy đà ngắn (3-5 bước) giậm nhảy đá lăng lên vật chuẩn
- Chạy đà chính diện (3 bước) giậm nhảy đá lăng qua xà thấp
Nhiệm vụ 3: Dạy kết hợp chạy đà và kết hợp giậm nhảy thông qua những
biện pháp sau:
- Chạy đà 3 bước (chính diện) phối hợp giậm nhảy chân đá lăng thẳng qua
xà thấp, khi qua xa chân giậm nhảy co
- Nâng xà cao dần, 5cm một lần nâng
- Chạy đà 3-5 bước đà chếch, giậm nhảy đá lăng dọc theo xà cao, rơi xuốngbằng chân giậm
- Chạy đà 5-7 bước thực như bài tập trên
Nhiệm vụ 4: Dạy kỹ thuật và qua xà và rơi xuống đất.
- Chạy đà 3 bước, giậm nhảy, đá lăng qua xà Chân đá lăng gần như thẳng,kéo theo chân giậm cũng gần như thẳng, qua xà và rơi xuống đất bằng chân lăng rồiđến chân giậm
- Chạy 3 bước đà chếch, giậm nhảy xoay hông rồi kết hợp với thân người rơixuống bằng chân lăng rồi đến chân giậm
- Chạy 3 bước đà chếch giậm nhảy qua xà xoay thân rơi xuống đất bằng chânlăng và chân giậm, xốc vai đánh tay lên cao, hai tay co ở khớp khuỷu
- Nhảy qua xà với cự ly chạy đà và chiều cao đà tăng dần đến mức trung bình
Nhiệm vụ 5: Hoàn thiện kỹ thuật thông qua các biện pháp sau:
- Nhảy qua xà với cự ly đà và chiều cao đà tăng dần
- Nhảy qua xà với chiều dài đà và nhịp điệu ổn định, góc độ chạy đà thích hợp
- Nhảy toàn đà với kỹ thuật hoàn chỉnh và nâng cao dần mức xà
- Thi đấu và kiểm tra đánh giá kết quả
3 Đặc điểm phát triển tố chất thể lực lứa tuổi 13-14:
Trang 5mạnh sẽ không được phát triển Nếu tập luyện với mức căng cơ quá nhỏ, sẽ làmgiảm sút sức mạnh Đối với những người không phải là vận động viên, sự giảm sútsức mạnh xảy ra khi mức hoạt động của cơ bắp trong tập luyện nhỏ hơn sức mạnhtối đa 20% Mức căng cơ càng nhỏ, thì quá trình giảm sút sức mạnh và hiện tượngteo cơ diễn ra càng nhanh.
Sự phát triển tố chất mạnh có liên quan đến sự phát dục của hệ thần kinh vàmức độ hình thành tổ chức xương cơ và dây chằng, tức là phụ thuộc vào bộ máyvận động Nhưng ở các bộ phận khác nhau của cơ thể sự phát triển tố chất mạnhkhông giống nhau Sức mạnh lưng bụng phát triển sớm Học sinh tiểu học pháttriển nhanh sức mạnh tốc độ, sức mạnh tĩnh lực phát triển chậm, còn sức mạnh bộtphát sau 14 tuổi mới phát triển nhanh Ngoài ra tỷ lệ sức mạnh giữa các nhóm cơthay đổi tuỳ theo lứa tuổi Sức mạnh của các nhóm cơ duỗi thân mình, đùi, cơ cobàn chân phát triển mạnh, trong khi các nhóm cơ như duỗi bàn tay, cẳng tay, cổtay phát triển yếu hơn, do đó mỗi lứa tuổi lại có một tỷ lệ phân bổ sức mạnhgiữa các nhóm cơ đặc trưng của mình Về nguyên tắc, sức mạnh của các cơ duỗiphát triển nhanh hơn sức mạnh của các cơ co, các cơ hoạt động nhiều sẽ phát triểnvới nhịp độ nhanh hơn Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giaiđoạn từ 13 – 15 đến 16 – 17 tuổi Các năm sau đó sức mạnh phát triển chậm lại(nếu không có tập luyện đặc biệt) Tuy nhiên, do hiện tượng phát triển sớm một sốnhóm cơ có thể phát triển sức mạnh ngay từ 12 – 13 tuổi, đặc biệt là các nhóm cơchân Do đó, cần phải sắp xếp hợp lý các bài tập phát triển sức mạnh; phát triển tốtnhất là trong thời kỳ mẫn cảm sức mạnh Các bài tập sức mạnh đó chỉ nhằm pháttriển thể lực toàn diện không nên dùng các bài tập sức mạnh chuyên môn
Tóm lại: Việc phát triển tố chất mạnh cho thanh thiếu niên cần được chú ý ở
lứa tuổi 14 và được đẩy mạnh ở lứa tuổi 18 – tương ứng với thời gian hoàn thiện hệ
Có thể phản ứng thì vô cùng mau lẹ và trái lại thì động tác thì tương đối chậm hoặcngược lại Sự kết hợp 3 hình thức đã nêu trên xác định mọi trường hợp biểu hiện sứcnhanh
Thời gian phản ứng có thể đo được từ 2 – 3 tuổi Trong lứa tuổi này thời gian
đó vào khoảng 0,50 đến 0,90 giây Song thời gian phản ứng biến đổi rất nhanh đến
5 – 7 tuổi giảm xuống còn 0,30 – 0,40 giây và đến 13 – 14 tuổi đã đạt mức xấp xỉngười lớn (0,11 – 0,25 giây) Sự phát triển thời gian phản ứng xảy ra không đều Từnhỏ đến 9 – 11 tuổi thời gian phản ứng giảm nhanh; các năm sau, nhất là sau 14
Trang 6tuổi, thời gian này giảm chậm Vì vậy tập luyện có tác dụng làm giảm thời gianphản ứng rỏ rệt, nhất là 9 – 12 tuổi Trong thời kỳ này sự khác biệt giữa các em có
và không có tập luyện cũng rỏ rệt nhất Nếu ở lứa tuổi 9 – 12 không phát triển tốc
độ thì ở những năm sau hiệu quả tập luyện phát triển tốc độ sẽ rất hạn chế
Tốc độ của động tác đơn lẻ cũng biến đổi rõ rệt trong quá trình phát triển, đến
13 – 14 tuổi nó xấp xỉ mức độ của người lớn, tuy nhiên ở lứa tuổi 16 – 17 lại hơigiảm xuống và ở tuổi 20 – 30 lại tăng lên Nếu được tập luyện, tốc độ của động tácđơn lẻ sẽ phát triển tốt hơn Ở tuổi 13 – 14 các em được tập luyện đã khác hẳn các
em không được tập luyện và sự khác biệt này duy trì lâu dài Phát triển tốc độ độngtác đơn lẻ hiệu quả nhất là vào 9 – 10 tuổi
Tần số động tác (trong 10 giây) ở khớp khủy từ 4 tuổi đến 17 tuổi tăng lêngấp 3 – 4 lần
- Sự phát triển tố chất nhanh sớm hơn sự phát triển tố chất mạnh, khi đánhgiá tố chất nhanh, người ta thường xác định tốc độ chạy ở các cự ly ngắn Những sốliệu thu được từ các công trình nghiên cứu cho thấy tốc độ chạy của học sinh phổthông hiện nay được tăng dần Nam học sinh ở tuổi 15 – 16 tốc độ phát triển gầnđạt đỉnh cao Thời kỳ phát triển tố chất nhanh quan trọng nhất ở học sinh tiểu học
và trung học cơ sở (6 – 12 tuổi) ở thời gian đó, các thành phần của sức nhanh đượcphát triển không phụ thuộc vào sức mạnh mà cũng không phụ thuộc vào trình độ kỹthuật của con người; do đó trong giảng dạy và huấn luyện cần tiến hành các bài tậpphát triển tố chất nhanh trong giai đoạn này là chính
- Sức nhanh nói chung và sức nhanh khi di chuyển nói riêng đều rất cần thiếttrong các hoạt động đời sống Chính vì vậy cần phát triển tố chất nhanh, với nhữnghình thức đa dạng, phong phú, đúng lúc phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi
Là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là nănglực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựngđược Nói một cách khác tố chất bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trongmột hoạt động nào đó Sức bền của con người do nhiều nguyên nhân quyết định,đặc biệt là do các tố chất và hoạt động của hệ thần kinh trung ương Sức bền biếnđổi rất rõ dưới tác động của tập luyện, đối với học sinh phổ thông sức bền rất cầnthiết để hoàn thành nhiệm vụ học tập; lao động trí óc và hoạt động thể lực, sức bền
đó mang tính chất sức bền chung Để có sức bền trên, các em phải rèn luyện khôngchỉ với cơ quan vận động, các cơ quan hô hấp, tuần hoàn mà cả ý chí và nghị lực
Sự phát triển tố chất bền muộn hơn sự phát triển tố chất nhanh, bởi vì tố chấtbền có liên quan mật thiết đối với sự phát dục của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và khả năng
ổn định của cơ thể Do vậy, ở tuổi thanh thiếu niên khi sự phát dục của hệ tuần hoàn và
hô hấp chưa hoàn thiện thì sự chịu dựng lượng vận động sức bền có hạn chế Trongquá trình trưởng thành của cơ thể, tố chất sức bền cũng biến đổi đáng kể trong cả cáchoạt động tĩnh lực cũng như động lực
Sức bền tĩnh lực được đánh giá bằng thời gian duy trì một gắng sức tĩnh lực nào
đó Chỉ số này nói chung tăng dần theo lứa tuổi, mặc dù khác nhau đối với các nhóm
Trang 7cơ Từ 8 – 11 tuổi các cơ duỗi thân mình (cơ lưng) có sức bền lớn nhất Từ 11 đến 14tuổi sức bền của các cơ đùi và cẳng chân lại phát triển nhanh và đạt chỉ số cao hơn Từ
13 – 17 tuổi sức bền trong các động tác treo, chống trong thể dục có thể tăng lên từ 4 –4,5 lần
Sức bền động lực thường được đánh giá thông qua khả năng hoạt động thể lực,
cụ thể là qua các chỉ số hoạt động trên xe đạp lực kế Ở 8 – 9 tuổi chỉ số này khoảng
500 kgm/phút và sẽ tăng đến 2700 kgm/ phút ở tuổi trưởng thành Sức bền động lựccũng phát triển với nhịp điệu không đồng đều Sức bền ưa khí phát triển mạnh ở cáclứa tuổi 15 – 16 – 17 – 18, trong khi sức bền yếm khí phát triển mạnh ngay ở lứa tuổi
10 – 12 đến 13 – 14
Sức bền biến đổi rất rõ rệt dưới tác động của sự tập luyện, vì vậy ở các em cótập luyện sức bền phát triển khác hẳn so với các em không tập luyện Khi 10 tuổi, các
em được tập luyện có sức bền hơn các bạn cùng lứa khoảng 14%, nhưng ở tuổi 13-14
sự khác biệt ấy đã đạt tới mức 50%
- Việc phát triển sức bền cần nhiều thời gian cho nên không thể chỉ dùng các giờhọc thể dục nội khoá, mà các em cần phải tự tập, tập kết hợp trong các hoạt động thểlực hàng ngày Tăng cường các bài tập đi, chạy với các cự ly trung bình và dài như800m,1500m, 3000m,5000m có tác dụng tốt trong việc rèn luyện sức bền
* Tố chất khéo léo:
Khéo léo cũng là một tố chất thể lực Khéo léo là tổng hợp các năng lực phối
hợp vận động hay nói cách khác khéo léo là năng lực tiếp thu nhanh các động tácmới
Việc xác định tố chất khéo léo, về cơ bản được dựa trên cơ sở lý luận củatâm lý học hiện đại về khái niệm năng lực là dựa trên cơ sở học thuyết vận động,năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề để thực hiện thắng lợi mộthoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua cácquá trình điều khiển và được các em hình thành và phát triển trong tập luyện Nănglực phối hợp vận động có quan hệ chặc chẽ với các phẩm chất tâm lý và năng lựckhác như sức mạnh, sức nhanh và sức bền Năng lực phối hợp được thể hiện ở mức
độ tiếp thu nhanh chóng và có chất lượng cũng như việc hoàn thiện củng cố và vậndụng các kỹ xảo về kỹ thuật thể thao Muốn phát triển năng lực phối hợp vận động,phải thông qua sự tập luyện một cách tích cực cho các em, cần cho các em thựchiện các bài tập được sử dụng làm phương tiện phát triển khả năng phối hợp vậnđộng; cần yêu cầu thực hiện chính xác và thường xuyên và trong những điều kiệnbiến đổi
Mặt khác khéo léo thể hiện khả năng điều khiển các yếu tố lực, không gian,thời gian của động tác
Một trong các yếu tố quan trọng của sự khéo léo là khả năng định hướngchính xác trong không gian Khả năng định hướng trong không gian bắt đầu pháttriển mạnh lúc 5 – 6 tuổi và đạt nhịp điệu phát triển cao nhất từ 7 – 10 tuổi Từ 10 –
12 tuổi khả năng này ổn định dần và ở tuổi 13 – 15 thậm chí còn hơi giảm xuống
Trang 8Đến 16 – 17 tuổi khả năng định hướng trong khơng gian sẽ đạt mức độ của ngườilớn.
Khả năng định hướng về thời gian, tức là khả năng phân biệt nhịp điệu độngtác, phát triển từ 7 – 8 tuổi, đến 13 – 14 tuổi thì đạt mức của người lớn Chỉ số này
là một trong các chỉ số ít ổn định và cĩ độ dao động lớn trong cùng một độ tuổi
Khả năng cảm giác dùng sức của động tác ở trẻ em phát triển đều và đếnnăm 15 – 17 tuổi đạt mức hồn chỉnh Từ đĩ chúng ta thấy rằng trước tuổi 13 –14
sử dụng các bài tập phát triển tố chất khéo léo đạt kết quả tốt
Ngồi ra cần dạy cho các em cĩ khả năng phối hợp chính xác các bộ phậncủa cơ thể trong các động tác phức tạp, cần thực hiện nhiều động tác trong các điềukiện biến đổi Qua thực tế ta thấy rằng : cần phát triển tố chất khéo léo ngay từ nhỏ,các em nhỏ thường cĩ khả năng khéo léo hơn
Độ mềm dẻo là khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa
của động tác là thước đo độ mềm dẻo
Cĩ hai loại mềm dẻo: Độ mềm dẻo chủ động và độ mềm dẻo thụ động Độmềm dẻo chủ động là khả năng đạt biên độ động tác lớn nhất ở một khớp xươngnào đĩ nhờ sự chủ động của các nhĩm cơ tạo ra thơng qua cá khớp xương dâychằng Ở trẻ em độ mềm dẻo lớn hơn người lớn, nhưng khơng phải bao giờ cũngthế, theo số liệu của L Xaario (1961) và B.V Xecmêeva (1964), thì độ mềm dẻo đạttới mức tối đa ở lứa tuổi 15 – 16 Ở những khớp xương cá biệt và trong một sốđộng tác cĩ tính linh hoạt tối đa đến muộn hơn (Dojelzvei, 1962) Vì vậy, cĩ thểkhẳng định phát triển độ mềm dẻo ở lứa tuổi thanh thiếu niên dễ hơn Khơng nhấtthiết phát triển độ mềm dẻo đến mức cao nhất Chỉ nên phát triển nĩ đến mức độđảm bảo tính linh hoạt của cột sống, đặc biệt là các đốt sống ngực, ở các khớpxương hơng và vai trị cĩ ý nghĩa quan trọng
Tĩm lại: Phát triển tố chất thể lực nhằm mục đích nâng cao năng lực điều
khiển của hệ thống thần kinh trung ương cùng với các trung khu của nĩ, của các cơquan nội tạng để cơ thể chịu được lượng vận động lớn, ổn định trạng thái sung sứcthể thao, phịng chống chấn thương, giúp cho các em nắm kỹ chiến thuật nhanh,hiệu suất cao hơn, từ đĩ nâng cao khơng ngừng thành tích thể thao
4 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 13-14:
* Hệ thần kinh:
Hệ thần kinh là cơ quan phát dục sớm nhất Trẻ em mới sinh ra trọng lượngnão đạt khoảng 350 –380g Sau đĩ tăng trưởng nhanh, đến 7 – 8 tuổi đạt bằngngười lớn Trọng lượng tăng lên, số lượng tế bào não cũng tăng nhiều lên Số lượng
tế bào não tăng theo lứa tuổi, thể tích não cũng tăng theo, các đuơi gai thần kinh dài
ra và đi sâu vào vỏ não, trọng lượng thần kinh dưới vỏ não ở tuổi nhi đồng chiếm
94 – 98 % của người trưởng thành Các hạch thần kinh vận động ở trung tâm điềukhiển vận động vỏ não chiếm 75 – 85% trọng lượng người trưởng thành Khi đến 7– 8 tuổi, sự phân hố tế bào thần kinh trên cơ bản đã hồn thành Các thùy vỏ nãosinh trưởng nhanh, làm cho khả năng phối hợp vận động, tính nhịp điệu, tính chính
Trang 9xác động tác bắt đầu phát triển Sau đó, các đuôi gai của các tế bào thần kinh pháttriển nhiều hơn, các sợi thần kinh liên lạc tăng nhiều hơn, hình thành các đườngliên lạc mới nhiều hơn ở não, chức năng não hoàn thiện liên tục, có xu thế phức tạphoá Ở tuổi 13 – 14, chức năng quá trình ức chế vỏ não đạt trình độ nhất định, nănglực phân tích tổng hợp nâng cao và đã hình thành được nhiều loại phản xạ có điềukiện, nhưng do năng lực phân hoá vẫn chưa hoàn thiện và do ảnh hưởng sự hoạtđộng phát dục các nhóm cơ nhỏ còn chậm, nên có khó khăn khi tập những động tácphức tạp và tinh tế
* Hệ tuần hoàn:
Sự phát dục tim của nhi đồng chưa hoàn thiện và sự điều tiết thần kinh cũngchưa hoàn thiện, nhưng quá trình trao đổi chất cơ thể lại ở thời kỳ hưng thịnh Dovậy, mạch đập tương đối nhanh, nhịp đập tim sẽ giảm theo lứa tuổi và ổn định đếntuổi 20 Có thể nhận thấy, tim phát dục sớm hơn nhịp tim, thành động mạch có tínhđàn hồi tốt, đường kính huyết quản tương đối lớn hơn người trưởng thành, lực cảnngoài động mạch nhỏ, cho nên huyết áp trẻ em thấp hơn người lớn và tăng theo bậc
ở các lứa tuổi Nói chung, người ta thấy ở những em có cơ thể phát dục trưởng thànhtốt, đó là thanh thiếu niên có sự tăng trưởng chiều cao nhanh, đặc điểm của hiệntượng này là huyết áp tối đa cao, nhưng không quá 150mmHg, có hiện tượng độtxuất huyết áp tối thiểu bình thường Hiện tượng huyết áp cao thanh thiếu niên bắtđầu từ 11 – 12 tuổi và tăng theo lứa tuổi trưởng thành cao nhất ở lứa tuổi 15 – 16, sau
đó giảm dần Phản ứng của chức năng hệ tim mạch khi tập luyện ở lứa tuổi khácnhau thì có khác nhau, do vậy phản ứng đối với tập luyện cũng có khác nhau Tậpluyện làm tăng nhịp tim để tăng nhu cầu thích ứng lượng tâm thu/phút Cho nên khitập luyện nhịp tim tăng nhanh nhưng sự biến đổi huyết áp không rõ ràng lắm Ví dụ,cùng chạy tốc độ như nhau 5 – 6km (100m/phút) nhịp tim 10 tuổi đạt 164 lần/phút,
18 tuổi đạt 150 lần/phút, người trưởng thành đạt 134 – 146 lần/phút Từ đó, ta thấyrằng : sự phản ứng của chức năng tim mạch tăng theo tuổi, mạch ngày càng nhỏ cònhuyết áp thay đổi không rõ lắm, sau 16 tuổi thì giống người lớn Cho nên đối với họcsinh phổ thông các bài tập sức bền với thời gian hoạt động vừa phải và cường độtrung bình có tác dụng tích cực đến sự phát triển của hệ tim mạch Căn cứ vào đặcđiểm chức năng của hệ tuần hoàn thanh thiếu niên, khi tập luyện cần chú ý cơ thể các
em chịu đựng lượng vận động, nhưng lượng vận động không nên quá lớn, chỉ cầnsắp xếp hợp lý, tức là không nên để cho tim mạch chịu đựng trạng thái nín thở
* Hệ hô hấp:
Lồng ngực của học sinh phổ thông còn hẹp, lực cơ hô hấp tương đối yếu, hôhấp còn nông, dung tích sống nhỏ, song sự trao đổi chất lại mãnh liệt, nhu cầu oxytương đối nhiều Do vậy tần số hô hấp nhanh, khả năng thở sâu của các em tăngtheo lứa tuổi, nhịp thở giảm theo lứa tuổi và dung tích sống lại tăng theo lứa tuổi
Nhu cầu oxy ở tuổi 13 – 14 tăng rõ rệt vì vậy nhu cầu tiêu thụ oxy tối đa vàkhả năng nợ oxy đều thấp, cho nên năng lực yếm khí và hiếu khí thấp hơn ngườitrưởng thành Khi luyện tập; các bài tập phát triển khả năng hiếu khí được sử dụngnhiều, không nên dùng các bài tập kéo dài, cường độ lớn, tăng cường hướng dẫn sự
Trang 10phối hợp thở cho thanh thiếu niên, khi thực hiện động tác gập thân thì thở ra, khiưởn ngực thì hít vào, phải có ý thức thở sâu có ý nghĩa rất quan trọng phát triển tínhnhịp điệu chức năng cơ quan hô hấp.
* Hệ vận động:
Xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàntay đã phát triển hoàn thiện Cột sống đã ổn định hình dáng, tuy nhiên vẫn phải tiếptục chú ý các bài tập rèn luyện tư thế, xương chậu của nữ to hơn nam
Cơ: Ở lứa tuổi này cơ vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đốinhanh (như cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, các
cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển hơn các cơduỗi do đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh cơ thể
Giáo viên cần phải lựa chọn các bài tập phù hợp đặc điểm phát triển tố chấtthể lực, tâm sinh lí lứa tuổi để nâng cao thành tích và áp dụng các bài tập bổ trợ vàothực tế giảng dạy môn Điền kinh và nội dung nhảy cao là hết sức quan trọng, rất cógiá trị và cần thiết trong giai đoạn hiện nay đó là một công việc hết sức khó khăn vìtheo thực tế thành tích nội dung này của học sinh nam khối 8 trường THCS TrầnQuang Khải - Ninh Hòa – Khánh Hòa chưa cao
Tố chất thể lực tăng trưởng đều đặn cùng với sự tăng của lứa tuổi Sự tăngtrưởng này gọi là tăng trưởng tự nhiên, khuynh hướng của sự tăng trưởng này có tốc
độ nhanh, biên độ lớn trong thời kỳ dậy thì: Nam vào khoảng 14 tuổi, nữ vào khoảng
12 tuổi Giữa nam và nữ trước 12 tuổi, sự khác biệt các tố chất thể lực không lớnlắm, nhưng từ 13 -14 tuổi sự khác biệt này tăng lên, sau 18 tuổi thì có xu hướng ổnđịnh Giai đoạn lứa tuổi khác nhau, tốc độ phát triển tố chất thể lực khác nhau, tức làtrong cùng một lứa tuổi tố chất thể lực khác nhau phát triển thay đổi cũng khônggiống nhau Sự phát triển tố chất thể lực tự nhiên bao gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn tăng trưởng là giai đoạn tố chất thể lực tăng liên tục, trong đó cógiai đoạn tăng nhanh và tăng chậm
Giai đoạn ổn định là giai đoạn tố chất thể lực tăng chậm rõ ràng hoặc dừng lạihoặc giảm xuống
Qua các khái niệm ở các phần trên cho ta biết tố chất thể lực bao gồm :(nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo và khéo léo), như ta biết trong quá trình phát triển tựnhiên các tố chất thể lực tăng theo lứa tuổi Ở lứa tuổi 13 -14 tuổi quá trình phát triểntheo 3 giai đoạn : giai đoạn tăng nhanh, giai đoạn tăng chậm và giai đoạn ổn định Tốchất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển sang giai đoạn ổn định theo thứ tự pháttriển như sau : Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất bền và tố chấtmạnh Quy luật này ở nam và nữ đều giống nhau Ở lứa tuổi này cơ thể học sinhnam đang phát triển tương đối cao vì đây là lứa tuổi dậy thì các bộ phận lớn nhanhdần, chức năng sinh lý chưa ổn định Khả năng hoạt động của các bộ phận cơ thểđược nâng cao hơn Giai đoạn này các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn sovới chiều ngang Hệ thần kinh trung ương đã hoàn thiện, hoạt động phân tích trên
võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn, khả năng nhận hiểu cấu trúc động tác
Trang 11và tái hiện chính xác hoạt động vận động được nâng cao, đặc biệt các cảm giáctrong điều khiển động tác, khả năng phân biệt chính xác về không gian của nam đạt
ở mức cao Nam – nữ phát triển theo hai hướng hoạt động sinh lý khác nhau rõ rệt
về tầm vóc, sức chịu đựng và tâm lý Vì vậy giáo dục thể chất cần phân biệt tínhchất, cường độ, khối lượng tập luyện sao cho hợp lý giữa nam và nữ học sinh.Đồng thời cũng chưa nắm được hết các hiểu biết cần thiết, một số nguyên tắc vàphương pháp tập luyện đơn giản có hiệu quả cao giúp các em tập luyện phát triển,nâng cao thành tích nhảy cao bước qua của học sinh nam khối 8 Đa số học sinh chỉthực hiện theo các bài tập của giáo viên một cách máy móc mà chưa thực sự hứngthú trong giờ học nhảy cao
Điền kinh là một môn có lịch sử phát triển lâu đời so với nhiều môn thể thao
khác Đi bộ, chạy, nhảy và ném đẩy là những hoạt động tự nhiên của con người Từnhững hoạt động di chuyển với mục đích tìm kiếm thức ăn, tự vệ và phòng chốngthiên tai, vượt chướng ngại vật, hoạt động này ngày càng được hoàn thiện cùng với
sự phát triển của xã hội loài người dần dần trở thành một phương tiện giáo dục thểchất, một môn thể thao có vị trí xứng đáng thu hút nhiều người tham gia tập luyện
Các bài tập điền kinh đã được loài người sử dụng từ thời cổ Hy Lạp Songlịch sử phát triển của nó được ghi nhận trong cuộc thi đấu chính thức vào năm 776trước công nguyên
Năm 1837 tại thành phố Legbi ( Anh) cuộc thi đấu 2km lần đầu tiên được tổchức Từ năm 1851 các môn chạy tốc độ, chạy vượt chướng ngại vật, nhảy xa, nhảycao, ném vật nặng bắt đầu được đưa vào thi đấu tại các trường đại học nước Anh
Năm 1880, liên đoàn điền kinh nghiệp dư nước Anh ra đời Đây là liên đoànđiền kinh nghiệp dư đầu tiên trên thế giới Từ năm 1880 đến năm 1990, môn điềnkinh phát triển ở nhiều nước như Phát, Mỹ, Đức, Na Uy, Thuỵ Điển và các liênđoàn điền kinh quốc gia được thành lập ở hầu hết các châu lục
Đặc biệt từ năm 1986, việc khôi phục các cuộc thi đấu truyền thống của Đạihội thể thao Olympic đã đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong việc phát triển mônđiền kinh Từ Đại hội Olympic Aten ( Hy Lạp 1896), Điền kinh trở thành nội dungchủ yếu trong chương trình thi đấu của các đại hội Olympic ( 4 năm được tổ chứcmột lần)
Năm 1912, liên đoàn điền kinh nghiệp dư thế giới ra đời, với tên gọi tắt làIAAF ( International Amateur Athletic Federation) Đây là tổ chức cao nhất lãnhđạo phong trào điền kinh thế giới IAAF hiện có 170 thành viên là các liên đoànđiền kinh quốc gia và các vùng lãnh thổ ở các châu lục, trong đó có liên đoàn điềnkinh Việt Nam, trụ sở hiện nay của IAAF đặt tại Monaco
Trong Điền kinh, nhảy cao là một môn có lịch sử phát triển lâu đời Từ cáchthức vượt qua các chướng ngại vật thẳng đứng của người xưa, nhảy cao dần trởthành một phương tiện giáo dục thể chất Cách đây 2 thế kỷ, Ph Gutxmut và F.L.Gian đã đưa nhảy cao và trường học và coi đó như một biện pháp rèn luyện thể lực
để phát triển sức mạnh – tốc độ ( sức bật ), khả năng khéo léo, mềm dẻo và biếtđịnh hướng khi ở trên không
Trang 12Năm 1886, lần đầu tiên trên thế giới, một cuộc thi nhảy cao chính thức được
tổ chức tại Anh và sau đĩ được lan rộng sang nhiều nước khác
Năm 1896, tại Đại hội Olympic đầu tiên ở Aten ( Hy Lạp), nhảy cao là mộttrong 12 mơn Điền Kinh được tổ chức thi đấu đầu tiên và kỷ lục Olympic là của E.Clac với thành tích 1,81m bằng kiểu tương tự như kiểu bước qua
Qua hơn một thế kỷ phát triển, cùng với sự thay đổi đáng kể về kỹ thuật(bước qua, cắt kéo (làn sĩng), nằm nghiêng, úp bụng và lưng qua xà) và áp dụngcác phương pháp huấn luyện hiện đại, hiệu quả, thành tích nhảy cao đã khơngngừng được nâng lên
Ngày 18 5 1912, Đ Horin (Mỹ) là người đầu tiên vượt qua mức xà 2mbằng kiểu nhảy nằm nghiêng
Ngày 13 7 1957, Iu Xtêpanốp ( Liên Xơ cũ) đã vượt mức xà 2,16m bằngkiểu nhảy úp bụng ( kiểu này do Vdơlốp ( Liên Xơ cũ) thực hiện lần đầu năm1924)
Từ năm 1960 – 1963, V.Brumen, bằng cách chạy đà với tốc độ cao ( gần8m/giây) đã ghi tên mình trên 6 nấc thang kỷ lục và đưa thành tích nhảy cao lên2,28m
Năm 1968, tại Đại hội Olympic lần thứ 19 tổ chức tại Mêhicơ, một kỹ thuậtnhảy cao mới được ra đời – kiểu lưng qua xà và chẳng lâu sau đĩ kiểu nhảy tưởngnhư khĩ khăn này đã được các vận dộng viên tiếp thu rất nhanh và thực hiện cĩhiệu quả để rồi trở thành “ kỹ thuật nhảy của các nhà vơ địch ”
Năm 1988, 1989, 1993, J Xơtơmayo ( Cu Ba) đã ba lần liên tiếp phá kỷ lụcthế giới và đưa thành tích nhảy cao mức 2,45m
* Với các cơ sở nêu trên việc lựa chọn và ứng dụng các bài tập bổ trợ nhằm
nâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8Trường THCS Trần Quang Khải – Ninh Hịa – Khánh Hịa tơi thống nhất đề ra
và giải quyết các mục tiêu sau:
• Mục tiêu 1: Lựa chọn các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao
kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8 Trường THCS Trần Quang Khải –Ninh Hịa – Khánh Hịa”
• Mục tiêu 2: Ứng dụng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao thành tích nhảy cao
kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8 Trường THCS Trần Quang Khải –Ninh Hịa – Khánh Hịa
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
- Với giáo viên:
+ Đa số giáo viên chưa chú trọng nhiều đến việc lựa chọn bài tập bổ trợ nhằmnâng cao thành tích nhảy cao kiểu bước qua cho học sinh nam khối 8 cấpTHCS
+ Việc tổ chức giảng dạy cịn nhiều hạn chế do giáo viên chưa cĩ thời gianứng dụng bài tập
+ Cơ sở vật chất cịn nhiều hạn chế
Trang 13Cụ thể: Ngày nay, việc nâng cao thành tích thể thao trong điền kinh cần phải đitheo hướng tìm tòi các phương tiện và phương pháp mới nhằm nâng cao hiệuquả bài tập mà không làm tăng đáng kể khối lượng và cường độ tập luyện Đểgiải quyết nhiệm vụ trên, trong quá trình tập luyện có thể áp dụng các bài tậpchuyên môn và các thiết bị tập luyện Mục đích chủ yếu là tạo khả năng tác động
có mục tiêu rõ rệt đến từng cơ hoặc các nhóm cơ, song cơ thể người gồm khoảng
500 cơ, những cơ nào là cơ chủ yếu, những nhóm cơ bắp nào cần phát triểntrước, cơ nào phát triển sau, chính vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng “cần căn
cứ vào tố chất và tính đặc trưng của môn thể thao để xác định và phân loại cácnhóm cơ”
- Theo các tác giả Nguyễn Đình Cách - Ngô Thị Thì - Cao Thanh Vân trong
đề tài “ Đánh giá khối lượng tập luyện của các vận đông viên nhảy cao nữ độituyển trẻ quốc gia năm 2000”, 4 test thể lực (trong đó có 3 test liên quan tới sứcmạnh cơ chân) cần được coi trọng trong khi đánh giá khả năng phát triển thành tíchcủa vận động viên nhảy xa, đó là: Chạy 60m (s), bật xa tại chỗ (cm), giật tạ lênngực (số lần), thành tích nhảy cao (cm)
- Cũng theo Lê Bửu – Nguyễn Thế Truyền trong sách “ Lý luận và phươngpháp thể thao trẻ”, tuy có những test khác nhau, nhưng 2 ông cũng đã giới thiệu 7 chỉtiêu mà hầu như chỉ để kiểm tra các mặt khác nhau của sức mạnh cơ chân với mụcđích tuyển chọn vận động viên nhảy xa trẻ 11 – 14 tuổi vào trường năng khiếu thểthao bao gồm: Nhảy 3 bước tại chỗ (cm), bật xa tại chỗ (cm), chạy 30m xuất phátthấp (s), chạy 30m xuất phát từ xa (s), chạy 60m xuất phát thấp (s), nhảy cao có chạy
đà (cm), nhảy xa có chạy đà (cm)
Theo Dương Nghiệp Chí, Võ Đức Hùng, Phạm Văn Thụ trong sách “ Điềnkinh” nhà xuất bản TDTT Hà Nội năm 1976 đã đưa ra một số bài tập kiểm trachuyên môn và một số bài tập phụ trong nhảy cao nhằm nâng cao thành tích trongnhảy cao như: Nhảy qua xà chính diện giữ thăng bằng, chạy đà dài giậm nảy đáchân lăng, tay hoặc đầu chạm vật cao, nhảy ba bước tại chỗ hoặc bật cao bằng 2chân, chạy xuất phát thấp 30m, nâng và giật tạ, gánh tạ đứng lên, ném tạ (4 kg –7,257 kg) hai tay từ dưới qua đầu ra sau, thành tích nhảy cao, chạy 100m, chạy 30m
có xuất phát, chạy 20m tốc độ cao, nâng tạ
Một số bài tập phụ: Chạy nhẹ 2 – 3 phút, nhảy cò cò, bật nhảy, giậm nhảy liêntục 3 – 5 bước đà
Cũng theo P.N.GôiKhơMan – Ô.N.TơRôPhimMôp trong sách “ Điền kinhtrong trường phổ thông” Nhà xuất bản TDTT Hà Nội năm 2003 đã đưa ra một sốbài tập trong huấn luyện môn nhảy cao như: Nhảy bật tại chỗ, nhảy bật về trước,nhảy từ trên dụng cụ xuống, nhảy lên dụng cụ, chạy 2 – 3 bước đà giậm nhảy, tạichỗ đá lăng bật cao, tại chỗ bật nhảy một chân, ngồi trên chân giậm, tập bật thẳnglên tại chỗ với tạ, bật nhảy đổi chân, bật nhảy ôm gối, chạy đà 3 bước giậm nhảy đálăng lên cao chạy đà 5 – 7 bước giậm nhảy đá lăng lên cao, chạy 40m – 60m
Trang 14Theo nhà nghiên cứu Quang Hưng trong sách “ Bài tập chuyên môn trongĐiền kinh” Nhà xuất bản TDTT đã đưa ra một số bài tập nâng cao thành tích từnggiai đoạn trong nhảy cao như:
* Các bài tập bổ trợ chạy đà: Chạy đà trên đường chạy, chạy qua phần đầu
tiên của đà bằng 6 bước chạy có đàn tính, chạy qua bình thường có giậm nhảy 5 – 6lần
* Các bài tập bổ trợ giậm nhảy: Gánh tạ 20 – 40 kg đi bước dài, chạy đà bật
lên bằng hai chân giậm, chạy đà 4 – 6 bước giậm nhảy và rơi xuống trên chânlăng, chạy đà 4 – 6 bước giậm nhảy bước bộ bay qua rào, chạy đà 4 – 8 bước nhảycao chạm tay vào vật được treo trên cao
* Các bài tập bổ trợ động tác trên không: Chạy đà 4 – 6 bước giậm nhảy
bay qua xà 60 – 80 cm rơi xuống bằng chân lăng và chân giậm
* Các bài tập bổ trợ giai đoạn rơi xuống đất: Chạy 4 – 6 bước làm động tác
nhảy qua xà thực hiện phối hợp chống tay xoay thân rơi xuống nệm
Từ những nghiên cứu và các chỉ dẫn của các tác giả ở trên, tôi đã tổng hợp lạicác chỉ tiêu đánh giá thể lực và một số bài tập ảnh hưởng đến thành tích nhảy cao củahọc sinh trong đó hầu hết là các chỉ tiêu đánh giá các mặt khác nhau của sức mạnh
cơ chân và các bài tập liên quan đến sức mạnh của chân bao gồm: Chạy 30m có xuấtphát, chạy 20m tốc độ cao, bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ, chạy đà 3 – 5 bước, chạy
đà 3 – 5 bước có giậm nhảy
Khảo sát các bài tập ứng dụng trong giảng dạy, huấn luyện môn nhảy caotại một số trường THCS ở Thị xã Ninh Hòa Qua tham khảo tập luyện, quan sáttrực tiếp các buổi học, tập luyện, trao đổi với các giáo viên các trường THCStrong Thị xã cho thấy, việc tập luyện các bài tập kỹ thuật chiếm vị trí quan trọngtrong thời gian tập luyện, khoảng 50% thời gian tập luyện Yêu cầu chung vềhọc sinh là không được coi nhẹ việc rèn luyện để nắm vững kỹ thuật động táccũng như phối hợp động tác
Qua điều tra công tác giảng dạy, huấn luyện môn nhảy cao cho học sinhcác trường THCS ở Thị xã Ninh Hòa cho thấy để ứng dụng các bài tập chuyênmôn trong giảng dạy, huấn luyện nhảy cao, hầu hết các giáo viên giảng dạy, huấnluyện các trường đều sử dụng các bài tập bổ trợ sau đây:
* Các bài tập bổ trợ động tác chạy đà:
1 Chạy 30m xuất phát cao
2 Chạy đà với tốc độ cao
3 Chạy 30m tốc độ cao
4 Chạy đà bình thường giậm nhảy đá lăng
5 Chạy qua phần đầu tiên của đà bằng 6 bước chạy có đàn tính
* Các bài tập bổ trợ động tác giậm nhảy
Trang 155 Chạy đà giậm nhảy đá lăng và rơi xuống bằng chân giậm.
6 Bật cao tại chỗ
7 Chạy đà giậm nhảy tay chạm vật cao
* Các bài tập bổ trợ động tác trên không
1 Chạy đà 3 – 5 bước giậm nhảy đá lăng xoay hông rơi xuống bằng chân lăng
và chân giậm
2 Chạy đà 3 – 5 bước nhảy cao chạm tay vào vật được treo trên cao
3 Chạy đà 5 – 7 bước, giậm nhảy qua xà cao 60 – 80 cm
4 Gánh tạ 20 – 30 kg đi bước dài
5 Chạy đà 3 – 5 bước giậm nhảy và rơi xuống trên chân lăng
* Các bài tập bổ trợ động tác rơi xuống đất.
1 Chân lăng rơi xuống và phối hợp với chân giậm kết hợp đánh tay
2 Giậm nhảy, đá lăng qua xà thấp phối hợp tay, xoay thân rơi xuống nệm.Kết quả thu được cho thấy, các giáo viên thể dục sử dụng các bài tập bổ trợtrong giảng dạy, huấn luyện nhảy cao tương đối gần giống nhau, chủ yếu các bàitập chuyên về kỹ thuật
Thực trạng việc sử dụng các bài tập trong giảng dạy, huấn luyện nhảy caokiểu bước qua ở học sinh nam khối 8 Trường THCS Trần Quang Khải – Ninh Hòa– Khánh Hòa chưa cụ thể
Giáo dục thể chất là môn học chính khoá nằm trong kế hoạch học tập, giảngdạy môn thể dục Yêu cầu đối với học sinh khi kết thúc môn học là phải nắm vững
cơ bản hệ thống lý thuyết và thực hiện kỹ thuật cơ bản, phương pháp trọng tài Mônhọc thể dục có tổng thời gian là 70 tiết, được giảng dạy trong hai học kỳ và chươngtrình giảng dạy nội dung nhảy cao có 10 tiết
Căn cứ vào chương trình giảng dạy thực tiễn giảng dạy môn nhảy cao cácgiáo viên đều sử dụng các bài tập chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao kiểu bướcqua, thuộc hai nhóm sau:
+ Chạy đà tự do giậm nhảy
+ Thực hiện động tác đá lăng qua xà thấp + Chạy đà đặt chân giậm và đá lăng qua xà 25 – 35cm
+ Bật xa tại chỗ.
+ Bật cao tại chỗ
+ Chạy 30m tốc độ cao
+ Nhảy bước bộ 6 – 8 bước liên tục
+ Lò cò bằng chân giậm nhảy
+ Nhảy dây
+ Tại chỗ bật nhảy hai chân qua dây
Qua quá trình tìm hiểu, thu thập tổng hợp, phân tích các bài tập bổ trợ nâng caothành tích nhảy cao kiểu bước qua của các tác giả trong và ngoài nước mà tôi đã