1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh

97 133 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 847 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ thời điểm nào cũng đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế- xã hội. Với tư cách là một định chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng có vai trò điều tiết nền kinh tế thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh ngân hàng lại là loại hình chứa đựng nhiều rủi ro, việc đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng không chỉ được các nhà kinh doanh ngân hàng quan tâm mà còn là mối quan tâm của nhiều người sử dụng dịch vụ ngân hàng, các cơ quan quản lý Nhà nước, của cả xã hội vì bất kỳ một sự phá sản nào của ngân hàng đều gây ảnh hưởng dây chuyền đến nền kinh tế. Để ngăn ngừa những tổn thất và các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện pháp thanh tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, mỗi ngân hàng phải có biện pháp hữu hiệu để tự bảo vệ mình. Một trong những biện pháp có ý nghĩa thiết thực nhất với ngân hàng đó là thiết lập và củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị mình. Từ nhận thức trên, em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm đóng góp những ý kiến trong phạm vi kiến thức của em về vấn đề nghiên cứu trên. Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về chất lượng kiểm soát nội bộ, xem xét thực trạng chất lượng kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần(NHTMCP) Ngoại thương chi nhánh Vinh. Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại(NHTM) - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh trong thời gian qua. - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu hoạt động kiểm soát nội bộ của NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh, thông qua tình hình thực tiễn tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh trong thời gian 3 năm từ năm 2014 đến hết năm 2016. 4. Đóng góp của đề tài - Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM. - Đánh giá được thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp thống kê, điều tra chọn mẫu, tổng hợp, so sánh được sử dụng để nghiên cứu. 6. Kết cấu của đề tài Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh”. Ngoài lời nói đầu và kết luận, đề tài được kết cấu theo ba ch¬ương: -Chương I: Hệ thống kiểm soát nội bộ và chất lượng kiểm soát nội bộ trong NHTM. -Chương II: Thực trạng chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh. -Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh.

Trang 1

HÀ LÊ HUYỀN TRANG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội – năm 2017

Trang 2

HÀ LÊ HUYỀN TRANG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH VINH

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số : 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN NGUYỄN HỢP CHÂU

Trang 4

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.

Tác giả

Hà Lê Huyền Trang

Trang 5

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô của Học viện ngânhàng, những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Đặcbiệt tôi xin chân thành cảm ơn Cô giáo - TS Trần Nguyễn Hợp Châu đã tậntình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban Ngân hàng thương mại cổphần Ngoại thương chi nhánh Vinh đã cung cấp những thông tin, số liệu quantrọng có liên quan đến luận văn

Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bàn bè và đồng nghiệp đã tạo mọiđiều kiện, giúp đỡ và động viên tôi những lúc khó khăn nhất để tôi vượt qua

và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Hà Lê Huyền Trang

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 3

1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ 3

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 5

1.1.3 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại cổ phần 7

1.1.4 Yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại 16

1.2 Chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại .18

1.2.1 Khái niệm chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại 18

1.2.2 Các tiêu chí để đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại 20

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại 24

1.2.4 Nguyên tắc đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 24

Trang 7

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH VINH 30 2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 30

2.1.1 Sơ lược về Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánhVinh 302.1.2 Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh VietcombankVinh 33

2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 41

2.2.1 Thực trạng hoạt động kiểm soát tại chi nhánh Vietcombank Vinh 56

2.3 Đánh giá chung về chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm soát nội

bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 60

2.3.1 Những thành tựu đạt được 602.3.2 Những hạn chế trong hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ 632.3.3 Phân tích các nguyên nhân tác động đến chất lượng hoạt động hệthống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chinhánh Vinh 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH VINH 69 3.1 Định hướng phát triển chất lượng kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 69

Trang 8

3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động chất lượng kiểm soát nội bộ 70

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 73

3.2.1Hoàn thiện hệ thống kế toán 73

3.2.2Hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ 76

3.2.3 Thiết kế chính sách chăm sóc khách hàng hợp lý 77

3.2.4Phát triển công tác kiểm tra- kiểm soát 77

3.2.5Xây dựng chính sách nhân sự phù hợp 78

3.2.6 Cải thiện cơ cấu tổ chức 80

3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lương kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh 81

3.3.1.Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 81

3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam .82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84

KẾT LUẬN 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO 2

Trang 9

Từ viết tắt Tên tiếng anh Nghĩa giải thích

AICPA American Instritute of Certified

Public Accountants Hiệp hội KTV công chứng Hoa kỳ

Coso Committeee of Sponsoring

Trang 10

Bảng số 2.1: Tình hình huy động vốn năm 2016 35

Bảng số 2.2: Cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền và kỳ hạn (31/12/2016) 35

Bảng số 2.3: Dư nợ phân theo đối tượng khách hàng và loại hình doanh nghiệp 38 Bảng số 2.4: Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tại thời điểm 31/12/2016 39 Bảng số 2.5: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu cơ bản năm 2016 41

HÌNH Hình vẽ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng 37

Hình vẽ 2.2: Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế và đối tượng cho vay (31/12/2016) 37

Hình vẽ 2.3: Cơ cấu dư nợ theo quy mô tại chi nhánh VietcomBank Vinh 39

SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thương mại cổ phần 16

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh VietcomBank Vinh 31

Sơ đồ 2.2: Mạng lưới chi nhánh của VietcomBank Vinh 32

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức phòng kế toán chi nhánh Vietcombank Vinh 44

Sơ đồ 3.1: Quy trình kiểm toán nội bộ 76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ thời điểm nào cũng đóng góp vai tròquan trọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế- xã hội Với tư cách

là một định chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng có vai trò điều tiếtnền kinh tế thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình Tuy nhiên hoạtđộng kinh doanh ngân hàng lại là loại hình chứa đựng nhiều rủi ro, việc đảmbảo an toàn trong hoạt động ngân hàng không chỉ được các nhà kinh doanhngân hàng quan tâm mà còn là mối quan tâm của nhiều người sử dụng dịch

vụ ngân hàng, các cơ quan quản lý Nhà nước, của cả xã hội vì bất kỳ một sựphá sản nào của ngân hàng đều gây ảnh hưởng dây chuyền đến nền kinh tế

Để ngăn ngừa những tổn thất và các rủi ro có thể xảy ra trong quá trìnhhoạt động kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện pháp thanh tra, giám sát củacác cơ quan quản lý Nhà nước, mỗi ngân hàng phải có biện pháp hữu hiệu để

tự bảo vệ mình Một trong những biện pháp có ý nghĩa thiết thực nhất với ngânhàng đó là thiết lập và củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị mình

Từ nhận thức trên, em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm

soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình nhằm đóng góp những ý kiến

trong phạm vi kiến thức của em về vấn đề nghiên cứu trên

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về chất lượng kiểmsoát nội bộ, xem xét thực trạng chất lượng kiểm soát nội bộ tại ngân hàngthương mại cổ phần(NHTMCP) Ngoại thương chi nhánh Vinh Trên cơ sở đó,đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộtại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kiểm soát nội bộ

của các ngân hàng thương mại(NHTM)

Trang 12

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại

NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh trong thời gian qua

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt

động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động kiểm soát nội bộ của NHTMCP Ngoại thươngchi nhánh Vinh, thông qua tình hình thực tiễn tại NHTMCP Ngoại thương chinhánh Vinh trong thời gian 3 năm từ năm 2014 đến hết năm 2016

4 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội

bộ của NHTM

- Đánh giá được thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại NHTMCP

Ngoại thương chi nhánh Vinh

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nâng cao chất lượng kiểm soát

nội bộ tại NHTMCP Ngoại thương chi nhánh Vinh

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp thống kê, điều trachọn mẫu, tổng hợp, so sánh được sử dụng để nghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài

Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh”

Ngoài lời nói đầu và kết luận, đề tài được kết cấu theo ba chương:

- Chương I: Hệ thống kiểm soát nội bộ và chất lượng kiểm soát nội

bộ trong NHTM

- Chương II: Thực trạng chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh

- Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại

Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Vinh

Trang 13

CHƯƠNG 1

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ

Các doanh nghiệp đều mong muốn hoạt động của mình có hiệu quả,các thông tin trên Báo cáo tài chính (BCTC) minh bạch, đáng tin cậy, tuân thủpháp luật và hữu hiệu Tuy nhiên, hoạt động và quản lý của doanh nghiệpluôn tiềm ẩn rủi ro do tác động tự bản thân và bên ngoài Để giúp cho các nhàquản lý thực hiện được mục tiêu hoạt động cũng như quản lý đã đề ra và giảmthiểu các rủi ro, doanh nghiệp cần có một hệ thống các biện pháp, quy địnhkiểm soát hữu hiệu Bởi vậy, trong các doanh nghiệp nói chung và các Ngânhàng thương mại (NHTM) nói riêng cần xây dựng một hệ thống Kiểm soátnội bộ (KSNB) để giúp cho các lãnh đạo doanh nghiệp ngăn ngừa các gianlận, sai sót, bảo vệ tài sản, phát hiện các sai phạm và yếu kém trong quản lý,nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình

Dưới góc độ nhà quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soátnội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): “Hệ thống kiểm soát nội bộ

là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sảncủa đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện cácchế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động”

Theo chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế ISA 400: “Hệ thống kiểm soát nội

bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục (kiểm soát nội bộ) do Ban giám đốccủa đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của

Trang 14

hoạt động trong khả năng có thể Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ cácchính sách quản lý, bảo vệ tài sản, ngăn ngừa và phát hiện gian lận hoặc saisót, tính chính xác và đầy đủ của các ghi chép kế toán và đảm bảo lập trongthời gian mong muốn”.

Chuẩn mực Kiểm toán độc lập Việt Nam số 400 hiện hành đề cập đếnkhái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ như sau: “Hệ thống kiểm soát nội bộ

là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng

và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, đểkiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáotài chính trung thực, hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tàisản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệthống kế toán và các thủ tục kiểm soát”

Theo CoSo (Committeee of Sponsoring orgarization) là một ủy banthuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận BCTC CoSo đượcthành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ Theo báo cáo của CoSo đượccông bố dưới tiêu đề kiểm soát nội bộ - khuôn khổ hợp nhất đã định nghĩa vềkiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởingười quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của doanh nghiệp, nó đượcthiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Sựhữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; Sự tin cậy của BCTC; Sự tuân thủ phápluật và các quy định

Theo các định nghĩa trên thì KSNB có 4 nội dung quan trọng cần lưu ý,gồm: Quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu KSNB là một quátrình các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua việc lập kế hoạch,thực hiện và giám sát Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểmsoát các hoạt động của mình KSNB chính là quá trình này KSNB khôngphải là một sự kiện hay một tình huống mà đó là một chuỗi các hoạt động

Trang 15

trong các bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của một tổ chức và là một nộidung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức.

Con người: Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người,

đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trongdoanh nghiệp KSNB là một công cụ được lãnh đạo doanh nghiệp sử dụngchứ không thay thế họ Nói cách khác, nó được thực hiện bởi những conngười trong doanh nghiệp, tổ chức đó

Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho cácnhà quản lý trong việc thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra chứ khôngthể đảm bảo tuyệt đối Bởi vì, hệ thống KSNB có những hạn chế tiềm tàngtrong quá trình thiết kế và vận hành nó

Các mục tiêu: Mỗi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều đề racác mục tiêu cần đạt tới, có thể là mục tiêu chung cho toàn doanh nghiệp, mụctiêu cho từng hoạt động, bộ phận, cũng có thể là mục tiêu cho từng giai đoạn,từng năm Nhiệm vụ của lãnh đạo doanh nghiệp là kiểm soát được các mụctiêu đó để xác định chiến lược cần thực hiện Các mục tiêu đó, trong phạm vibài viết này phân thành 3 nhóm như sau:

+ Nhóm mục tiêu về hoạt động: hữu hiệu và hiệu quả trong việc sửdụng các nguồn lực

+ Nhóm mục tiêu về BCTC: tính trung thực và hợp lý đáng tin cậy củacác thông tin trong BCTC của doanh nghiệp

+ Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Tuân thủ pháp luật và các quy định

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ

KSNB là một quá trình kiểm soát các hoạt động của tổ chức, quyệnchặt vào quá trình hoạt động, phát triển của các tổ chức, bởi vậy nó cũng cómột quá trình hình thành và phát triển theo từng giai đoạn phù hợp với yêu

Trang 16

cầu quản lý của doanh nghiệp Trong luận văn này, có thể tóm tắt lịch sử hìnhthành KSNB theo từng giai đoạn như sau:

Gian đoạn sơ khai: Năm 1892, quyển “sổ tay kiểm toán” của Dickeecông bố, các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến kiểm soát nội bộ Hìnhthức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cáchmạng công nghiệp Do nhu cầu phát triển, các doanh nghiệp(DN) cần có vốn,theo đó có nhu cầu quản lý và giám sát việc sử dụng vốn của các ông chủ Bởivậy, thuật ngữ “KSNB” lần đầu xuất hiện ở giai đoạn này Đến năm 1929,thuật ngữ “KSNB” được đề cập chính thức trong một công bố của cục Dữ trữliên bang Hoa Kỳ Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một công cụ để bảo

vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạtđộng.Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội KTV Công chứng HoaKỳ(AICPA- American Instritute of Certified Public Accountants) đã địnhnghĩa “KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thựchiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác cũng như kiểm tra

sự chính xác trong ghi sổ kế toán” Sau công bố này, KSNB được chú trọngtrong nghiên cứu nói chung và kiểm toán BCTC nói riêng

Giai đoạn hình thành: Vào những năm 1949, AICPA công bố công trìnhnghiên cứu đầu tiên về kiểm soát nội bộ với nhan đề: “Kiểm soát nội bộ, cácnhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đốivới kiểm toán viên độc lập” Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa:

“KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấpnhận trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậycủa thông tin BCTC, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủcác chính sách của người quản lý.” Sau đó AICPA đã đề cập đến những địnhnghĩa và khía cạch khác nhau của KSNB trong nhiều chuẩn mực kiểm toán.Đầu năm 1962, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CPA-Committee on Auditing

Trang 17

Procedue) đã làm rõ hơn về KSNB ở báo cáo thủ tục kiểm toán số 33(SAP.33).Đến năm 1972, CPA tiếp tục ban hành SAP54 “tìm hiểu và đánh giá KSNB”.Như vậy, trong một thời kỳ này khái niệm KSNB không ngừng được mở rộng

ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi sổ kế toán Mặc dù giai đoạn này đãhình thành khái niệm KSNB một cách rõ ràng hơn nhưng vẫn dừng lại như làmột phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán Báo cáo tàichính

Giai đoạn phát triển: Năm 1988, chuẩn mực kế toán số 55(SAS 55)

“Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán BCTC” ra đời đã đưa ra ba bộphận của KSNB là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tụckiểm soát Báo cáo năm 1992 của CoSo đã định nghĩa đầy đủ về KSNB vàduy trì KSNB thay vì KSNB về kế toán Trong định nghĩa KNSB, đã xác định

5 yếu tố của KSNB, gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạtđộng kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát

Giai đoạn hiện đại (1992 đến nay): Báo cáo CoSo năm 1992 tuy chưa thật

sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được cơ sở lý luận rất cơ bản về KSNB Trên cơ

sở báo cáo này, các nhà nghiên cứu đã phát triển KSNB trong nhiều lĩnh vựckhác nhau, như: Phát triển về quản trị doanh nghiệp, phát triển cho DN nhỏ vàvừa, phát triển theo hướng công nghệ thông tin, phát triển theo hướng kiểm toánđộc lập, kiểm toán nội bộ, vào các ngành nghề cụ thể…Giai đoạn này CoSocũng đưa ra “Dự thảo hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB”

1.1.3 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại cổ phần.

1.1.3.1 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàngthương mại cổ phần

Theo công bố năm 1992 của Coso, KSNB của các ngân hàng thươngmại gồm các bộ phận sau: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động

Trang 18

kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát.

+ Môi trường kiểm soát: là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tácđộng đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức Môi trườngkiểm soát là cơ sở, nền tảng cho các bộ phận còn lại của hệ thống KSNBnhằm xây dựng những nguyên tắc cơ bản và cơ cấu hoạt động phù hợp Môitrường kiểm soát được thể hiện thông qua: triết lí quản lí và phong cách điềuhành, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân viên, công tác kế hoạch, môi trườngbên ngoài, cụ thể là:

Thứ nhất, Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc – Hội đồng quản trị: Ban Giám đốc là người đề ra chính sách, kế hoạch, quy chế nội

bộ của ngân hàng như quy chế về thẩm quyền trách nhiệm, quy trình nghiệp

vụ, chính sách khách hàng… Quan điểm của Ban Giám đốc sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức kiểm tra – kiểm soáttrong ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB

Thứ hai, Cơ cấu tổ chức: Đề cập đến các bộ phận được chuyên môn

hóa với những trách nhiệm và quyền hạn nhất định có mối liên hệ mật thiếtvới nhau nhằm thực hiện các chức năng khác nhau trong quản lý Một cơ cấu

tổ chức hợp lý, đảm bảo tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lậptương đối giữa các bộ phận tạo được khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhautrong các bước thực hiện công việc sẽ đảm bảo sự thông suốt cho các thủ tụckiểm soát được phát huy tác dụng mà không bị chồng chéo Ví dụ như tronghoạt động huy động vốn, cơ cấu tổ chức của NHTM thể hiện rõ chức năngtách bạch giữa các bộ phận: người điều hành, kiểm soát, phê duyệt cao nhất(Ban Giám đốc); bộ phận lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạchhuy động vốn (Phòng Kế hoạch); bộ phận giao dịch và thuyết phục kháchhàng thực hiện gửi tiền (Phòng Quan hệ khách hàng); bộ phận tác nghiệphạch toán giao dịch, vào sổ kế toán (Phòng Kế toán giao dịch, Kế toán tổng

Trang 19

hợp); bộ phận kiểm tra nội bộ.

Thứ ba, Chính sách nhân viên liên quan đến yếu tố quan trọng nhất

trong kinh doanh ngân hàng đó là con người: ngân hàng có được đội ngũ nhânviên có trình độ nghiệp vụ và đáng tin cậy thì quá trình kiểm soát sẽ có nhiềuthuận lợi hơn, ngược lại ngân hàng nào có những nhân viên thiếu cả “trí” và

“đức” thì quá trình kiểm soát rất khó thực hiện Đẩy mạnh phát triển nền vốnhuy động trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đòi hỏinhân viên ngân hàng nhanh nhạy với biến động của thị trường lãi suất, sángtạo xây dựng nhiều sản phẩm huy động vốn và năng động, tích cực trong tìmkiếm khách hàng trên các địa bàn Đồng thời, đạo đức trong nghề nghiệp củacán bộ ngân hàng là một trong những yếu tố hạn chế tối đa rủi ro trong nghiệp

vụ huy động vốn, đặc biệt là trong khâu tác nghiệp, hạch toán trên sổ kế toán.Trong thời đại hiện nay, sự cạnh tranh trên địa bàn hoạt động của các ngânhàng càng lớn thì nhu cầu tuyển dụng cán bộ có “trí” và “đức” càng cao Cácngân hàng thương mại đã “đua nhau” đưa ra các chính sách tuyển dụng, đãingộ, chiêu mộ người tài, chính sách khuyến khích người lao động (học tập,nghiên cứu, thi đua lao động), khen thưởng, động viên tinh thần

Thứ tư, Công tác kế hoạch: hơn bất kỳ đơn vị kinh doanh nào, ngân

hàng luôn chú trọng xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và chương trìnhhành động cụ thể về công tác huy động vốn, cơ cấu theo loại tiền, kỳ hạn, sảnphẩm và định hướng phát triển nguồn vốn bền vững trong mối liên hệ cân đốinguồn vốn, tín dụng, hoạt động kinh doanh, lợi nhuận… Xây dựng kế hoạchhuy động vốn phải đáp ứng 2 điều kiện phù hợp với năng lực, thực trạng củachính ngân hàng, đồng thời phải tạo được động lực thúc đẩy phong trào thiđua hoàn thành xuất sắc kế hoạch giữa các cán bộ, bộ phận Việc lập và thựchiện kế hoạch huy động vốn được chấp hành nghiêm túc và khoa học cũng làcông cụ hữu hiệu để ngân hàng thực hiện công tác kiểm soát của mình trong

Trang 20

cả các hoạt động liên quan như tín dụng, thanh toán và mục tiêu lợi nhuận.

Thứ năm, Môi trường bên ngoài: môi trường kiểm soát hoạt động huy

động vốn của ngân hàng thương mại còn phụ thuộc vào các nhân tố bênngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lýngân hàng nhưng có ảnh hưởng lớn đến thái độ, phong cách điều hành của cácnhà quản lý trong việc điều hành công tác huy động vốn, cũng như thiết kế vàvận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ đối với hoạt động huy độngvốn Các nhân tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng củaNhà nước như: Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính, Ủyban giám sát tài chính quốc gia… thông qua các công cụ, chính sách điều tiết

vĩ mô như: quy định của NHNN đối với lãi suất, sự kiểm tra của NHNN đốivới hoạt động huy động vốn và thực thi mức lãi suất trần của các Ngân hàngthương mại, cơ chế hạch toán… Các cơ quan chức năng ban hành các văn bảnluật và dưới luật tạo điều kiện cho các ngân hàng hoạt động hiệu quả và antoàn, hướng dẫn hoạt động kiểm soát nội bộ đối với ngân hàng… điều nàylàm cho NHTM phải có những thay đổi trong công tác kiểm soát huy độngvốn để đáp ứng các quy định của cơ quan quản lý Nhà nước; ảnh hưởng củacác khách hàng như: khi các cơ hội đầu tư mang lại tỷ lệ lợi nhuận thấp kháchhàng sẽ có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng với kỳ hạn dài đảm bảo tính antoàn, ổn định trong huy động vốn, ngược lại nền kinh tế phát triển nóng cónhiều cơ hội đầu tư hơn khách hàng ít có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng và

sẽ gửi với kỳ hạn ngắn hay tài khoản thanh toán sẽ làm cho lượng vốn huyđộng của các NHTM kém ổn định Ngoài ra, đường lối phát triển của đấtnước cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc kiểm soát rủi ro thanh toán củaNHTM, điều này thể hiện ở việc Nhà nước theo đuổi các chính sách lãi suất(cao hoặc thấp) để khuyến khích nhập khẩu hay xuất khẩu do vậy các NHTMbuộc phải thay đổi những chính sách, quy định, quy chế và thủ tục kiểm soát

Trang 21

để đảm bảo an toàn trong huy động vốn và kiểm soát huy động vốn.

Tóm lại, môi trường kiểm soát trong ngân hàng thương mại bao gồmtoàn bộ những nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý

dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại liên quan đếncông tác huy động trong đó nhân tố chủ yếu và quan trọng là nhận thức vềhoạt động kiểm tra, kiểm soát và điều hành hoạt động huy động của các nhàquản lý NHTM

+ Đánh giá rủi ro: Kiểm soát nội bộ phải giúp lãnh đạo đơn vị tổ chứckiểm soát được các rủi ro có thể gặp phải Đánh giá rủi ro tức là phải nhậndạng được các rủi ro, phân tích và quản lý các rủi ro có thể đe dọa đến việcđạt được các mục tiêu của đơn vị, tổ chức

Các rủi ro trong hoạt động NHTM thường gặp là:

- Rủi ro về lãi suất: Rủi ro về lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch về kỳhạn, tính thanh khoản giữa vốn huy động và việc sử dụng vốn huy động củangân hàng trong điều kiện lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến, điều nàydẫn đến khả năng giảm thu nhập của ngân hàng so với dự tính

- Rủi ro về tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sảntrong trường hợp khách hàng vay vốn không có khả năng thực hiện một phầnhoặc toàn bộ những cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng

- Rủi ro về ngoại hối: Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự biến động về

tỷ giá ngoại hối trên thị trường đối với các khoản mục tài sản Nợ và tài sản

Có bằng ngoại tệ tại NHTM

- Rủi ro về thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàngkhông thể đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc đột xuất của ngườigửi tiền cũng như không chi trả được kịp thời các nghĩa vụ tài chính khác Rủi

ro thanh khoản bắt nguồn từ sự không phù hợp về quy mô và kỳ hạn giữa các

Trang 22

tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng tại thời điểm hiện tại hay trong tươnglai Ngoài ra, yếu tố tâm lý, niềm tin của nhà đầu tư cũng là một nhân tố quantrọng có thể gây nên rủi ro thanh khoản

- Rủi ro từ các hoạt động ngoại bảng: NHTM thực hiện các hoạt độngcam kết bảo lãnh cho khách hàng chủ yếu là dựa trên uy tín của mình và cáccam kết này được hạch toán ngoại bảng Tuy nhiên trong trường hợp kháchhàng mất khả năng thanh toán cho người thụ hưởng thì NHTM sẽ gặp rủi ro

vì phải thay khách hàng trả tiền cho người thụ hưởng Lúc đó, nghĩa vụ phátsinh của khách hàng sẽ được hạch toán trong nội bảng với tư cách là nhữngkhoản tín dụng bắt buộc Đối với các cam kết giao dịch ngoại hối, nếu đếnngày thanh toán mà phía đối tác không thực hiện thì ngân hàng cũng sẽ gặprủi ro NHTM tham gia vào các hợp đồng giao dịch ngoại hối không chỉ mangmục đích kinh doanh mà còn để đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng

Do đó, các giao dịch kỳ hạn nếu không được thực hiện sẽ là nguồn phát sinh rủi

ro dẫn đến những sai lệch so với kế hoạch Điều này có thể gây ra những tổn thấtcho ngân hàng

- Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động là loại rủi ro dẫn đến tổn thất (trựctiếp hoặc gián tiếp) xảy ra do quy trình nghiệp vụ, do con người hoặc do hệthống hoạt động nội bộ bị lỗi, không phù hợp hoặc do tác động của các sựkiện bên ngoài NHTM chủ yếu tích hợp các biện pháp kiểm soát rủi ro hoạtđộng trong các hoạt động hàng ngày của từng phòng ban, chứ không quản lýrủi ro hoạt động thông qua một phòng trung tâm

- Rủi ro luật pháp: NHTM là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tàichính, tiền tệ - một lĩnh vực nhạy cảm, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bảnpháp luật, có quan hệ và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều đối tượng khách hàng,tầng lớp trong xã hội Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vớinền kinh tế thế giới Do vậy hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước không

Trang 23

ngừng được chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới để hoàn thiện cho phù hợp vớithông lệ quốc tế và cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế Việckhông áp dụng kịp thời, không đúng các văn bản pháp luật điều chỉnh sẽ dẫnđến rủi ro về mặt luật pháp đối với hoạt động ngân hàng

- Rủi ro khác: Các rủi ro khác như thiên tai, dịch họa… xảy ra một cáchkhách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù

đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép là những rủi ro bấtkhả kháng, nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản, con người và tình hìnhhoạt động chung của NHTM

+ Hoạt động kiểm soát: là những quy định và thủ tục kiểm soát để đảmbảo việc lãnh đạo của các nhà quản lý được thực hiện nhằm đạt được các mụctiêu đề ra Hoạt động của hệ thống KSNB là một phần không tách rời các hoạt độnghàng ngày của NHTM Hệ thống KSNB được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiệnngay trong mọi quy trình nghiệp vụ tại tất cả các đơn vị, bộ phận của cácNHTM dưới nhiều hình thức như:

- Phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; bảo đảm tách bạch nhiệm vụ,quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong NHTM

- Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phậntrong việc thực hiện giao dịch;

- Quy trình thẩm định, chấp thuận và phê duyệt cho phép thực hiện giaodịch; bảo đảm một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia,một người thực hiện giao dịch và một người kiểm soát giao dịch, không có cánhân nào có thể một mình thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ,một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được NHTMcho phép phù hợp với quy định của pháp luật

Phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện hợp lý, cụ thể, rõràng, tránh xung đột lợi ích; bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng

Trang 24

một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặcchồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong NHTM không có điềukiện để thao túng hoạt động, không minh bạch thông tin phục vụ cho mụcđích cá nhân hoặc che giấu hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quyđịnh nội bộ của NHTM.

Bảo đảm chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có

hệ thống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủtrong NHTM và tình hình kinh tế, thị trường bên ngoài hợp lý, tin cậy, kịpthời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành hiệu quả

Hệ thống thông tin, công nghệ thông tin của NHTM phải được giámsát, bảo vệ hợp lý, an toàn và phải có cơ chế quản lý dự phòng độc lập nhằm

xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ, bao gồm cả thiên tai, cháy, nổ, hệthống bị xâm nhập, đảm bảo tuân thủ các quy định về an toàn, bảo mật hệthống công nghệ thông tin của ngành ngân hàng, đảm bảo hoạt động kinhdoanh thường xuyên, liên tục của NHTM

Bảo đảm cán bộ, nhân viên của NHTM đều phải hiểu được tầm quantrọng của hoạt động kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quátrình kiểm soát nội bộ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được giao vàphải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định, quy trình kiểm soát nội bộ cóliên quan

Người điều hành bộ phận, đơn vị nghiệp vụ và cá nhân có liên quanphải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệthống kiểm soát nội bộ; các tồn tại, bất cập của hệ thống kiểm soát nội bộphải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp; các tồn tại, bất cập lớn

có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổnggiám đốc (Giám đốc), Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát

Cá nhân, bộ phận ở các cấp của NHTM phải thường xuyên, liên tục

Trang 25

kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ có liênquan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ đượcgiao trước NHTM và trước pháp luật.

Lãnh đạo đơn vị, bộ phận của NHTM báo cáo về kết quả tự đánh giá về

hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình; đề xuất biện pháp xử lý đối vớinhững tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳhoặc đột xuất, theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp

+ Thông tin và truyền thông: các thông tin cần thiết phải được nhậndạng, thu thập và trao đổi trong tổ chức, đơn vị dưới các hình thức và thờigian phù hợp để mọi thành viên trong đơn vị, tổ chức hiểu và thực hiện đúngnhiệm vụ, trách nhiệm của mình

+ Giám sát: là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống KSNB theothời gian Các bộ phận của KSNB có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kếtvới nhau tạo thành một hệ thống KSNB

1.1.3.2 Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

Đối với các NHTM, hệ thống KSNB luôn là một yếu tố mang tính sốngcòn Hệ thống KSNB điều chỉnh hành vi của các thành phần nghiệp vụ, khôngchỉ giới hạn trong kiểm soát hoạt động kinh doanh, kiểm soát tài chính màcòn điều chỉnh toàn bộ các chức năng của ngân hàng như: Quản trị điều hành,

bộ máy tổ chức, nhân sự…Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thốngKSNB đối với hoạt động của các NHTM, ngày 1/8/2006 NHNN Việt Nam đãban hành quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN về việc tổ chức hệ thống kiểmsoát nội bộ của các NHTM Trên cơ sở đó các NHTM cổ phần ở Việt Namthiết lập một bộ phận chuyên trách, với tên gọi khác nhau (Ban kiểm tra nội

bộ, Phòng kiểm tra nội bộ, Phòng kiểm tra, kiểm soát), chịu sự quản lý, điềuhành của Tổng Giám đốc (Giám đốc) theo hệ thống ngành dọc tại trụ sở chính

Trang 26

(Phòng, Ban) và tới các chi nhánh (tổ kiểm tra, kiểm soát hoặc bố trí một cán

bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ) Về thựcchất, bộ phận này làm chức năng kiểm toán và chịu sự quản lý của Tổng giámđốc (Giám đốc), do vậy, các kết quả kiểm tra, kiểm toán khó có thể mang tínhđộc lập

Hiện nay, với sự ban hành Thông tư số 44/2011/TT-NHNN của NHNNthì định nghĩa và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ đã được thay đổi chophù hợp:” Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quytrình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngânhàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này vàđược tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thờirủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.”

Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng

Kiểm tra nội bộ chi nhánh và sở giao dịch

Giám đốc các chi nhánh

và sở giao dịch

Tổng giám đốc

Trang 27

tục, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp.Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và hoạt độngkinh doanh mới, NHTM phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng,sửa đổi, bổ sung quy trình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp Các NHTMđều mong muốn hoạt động của đơn vị mình hữu hiệu và hiệu quả, báo cáo tàichính đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định tuy nhiên luôn tiềm ẩnrủi ro do các yếu kém hoặc sai phạm của các nhà quản lý, đội ngũ nhân viênhay bên thứ ba thực hiện gây ra thiệt hại Việc xây dựng hệ thống KSNB làmột trong những biện pháp quan trọng nhất vì chúng giúp ngăn ngừa, pháthiện các sai phạm và yếu kém, giảm thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả nhằmgiúp tổ chức đạt được các mục tiêu.

Một hệ thống KSNB có hiệu quả cần phải đạt được các yêu cầu vànguyên tắc hoạt động sau:

+ Xây dựng hệ thống KSNB phải gắn với quản lý rủi ro, hoạt động chủyếu của hệ thống KSNB phải chú trọng vào việc dự đoán rủi ro có thể xảy ratrong tương lai và đưa ra các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu Quản lý rủi ro

là một chức năng quan trọng trong hệ thống KSNB

+ Hoạt động KSNB là một quá trình gắn với các hoạt động của NHTM

và là một nội dung cơ bản trong hoạt động của NHTM KSNB nó sẽ phát huyhiệu quả khi nó là một bộ phận không tách rời với hoạt động của NHTM chứkhông phải chức năng bổ sung cho hoạt động của NHTM

+ Các bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB cần có tính linh hoạt cao.Các mục tiêu cụ thể của NHTM ở những thời điểm khác nhau có thểkhác nhau tùy thuộc vào quy mô, văn hóa và phong cách quản lý, … vìvậy, hệ thống KSNB cần phải có sự điều chỉnh thích hợp để có thể pháthiện và đánh giá được các rủi ro Cần phải có hoạt động giám sát hệ thốngKSNB một cách thường xuyên và định kì để kịp thời báo cáo các hạn chế

Trang 28

Như vậy chất lượng hoạt động KSNB trong NHTM là một khái niệmtương đối vì nó được đánh giá bằng cách so sánh mục tiêu NHTM đặt ra khithiết lập và duy trì KSNB (yếu tố đầu ra) đạt được và nguồn lực sử dụng choKSNB (yếu tố đầu vào) Yếu tố đầu vào của hoạt động KSNB là số lượng,chất lượng (trình độ) nhân sự làm công tác KSNB; chi phí dành cho bộ phậnKSNB, yếu tố đầu ra của hoạt động KSNB trong NHTM mang tính chất vôhình (tính trung thực của thông tin tài chính; khả năng dự đoán để giảm thiểurủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng; khả năngphát hiện kịp thời các vi phạm xử lý phù hợp; hoạt động giám sát chặt chẽ,các vi phạm được chỉ ra đều được sửa chữa thích hợp…).

Như phần trên đã trình bày, mục tiêu của một doanh nghiệp nói chung

và NHTM nói riêng thì các mục tiêu trên có thể phân thành: nhóm mục tiêuhoạt động kinh doanh, nhóm mục tiêu về BCTC và nhóm mục tiêu về tuânthủ Hay nói một cách khác thì các mục tiêu của NHTM là: bảo vệ tài sản và

sử dụng tài sản có hiệu quả; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin và bảo đảm

Trang 29

việc thực hiện các quy định, quy chế của pháp luật.

Để đạt được các mục tiêu này, đòi hỏi NHTM phải có một hệ thốngKSNB hữu hiệu Sự biểu hiện của một hệ thống KSNB được thể hiện trên haiphương diện cơ bản: Hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ nóichung và chất lượng từng cuộc kiểm soát nói riêng

Hiệu quả của hệ thống KSNB đó là:

+ NHTM ban hành những chính sách và thủ tục đầy đủ, phù hợp, yêucầu quản trị và các thủ tục chính sách đó được phổ biến đến các bộ phận,thành viên trong đơn vị

+ Các chính sách, thủ tục quy định được các thành viên trong đơn vịđảm nhận và thực hiện thường xuyên, đầy đủ

+ Các chính sách, quy định, thủ tục được rà soát thường xuyên, cậpnhật, chỉnh sửa, hoàn thiện một cách kịp thời cho phù hợp và tuân thủ quyđịnh của pháp luật và thực tiễn kinh doanh

Kiểm soát chất lượng từng cuộc kiểm soát tại chỗ: Trưởng đoàn KSNB

và các nhóm trưởng có trách nhiệm giám sát đối với các thành viên kiểm tra,đảm bảo cuộc kiểm tra theo đúng quy trình, phương pháp Bộ phận kiểm soátnội bộ hoạt động đúng hiệu quả nhất khi nó được hoạt động trong một khungchiến lược rõ ràng Một yếu tố không thể thiếu giúp cho hệ thống KSNB cóchất lượng tốt đó là nhân lực thực hiện cuộc kiểm tra, kiểm soát Một bộ máytốt chắc chắn hiệu quả công việc sẽ cao Tóm lại, chất lượng của hệ thốngKSNB là sự hữu hiệu, hiệu quả của hệ thống KSNB Sự hữu hiệu, hiệu quả đóđược đánh giá trên cơ sở hệ thống KSNB mang lại cho các NHTM các lợi ích,như: giảm bớt các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh, bảo vệ tài sản antoàn, các thông tin số liệu BCTC và các báo cáo quản trị đơn vị trung thực,hợp lí, đáng tin cậy và minh bạch; các thành viên trong NHTM tuân thủ nộiquy, quy chế, quy trình hoạt động đã đề ra Một hệ thống KSNB có chất

Trang 30

lượng giúp cho đơn vị, tổ chức NHTM đó hoạt động có hiệu quả, sử dụng tối

ưu các nguồn lực, đạt được mục tiêu đề ra và tuân thủ quy định của pháp luật.Một hệ thống ngân hàng lành mạnh, hoạt động ổn định, có khả năng phòngngừa và chống chịu rủi ro; tuân thủ các luật và quy chế; có đủ điều kiện cơbản để thực hiện tốt chức năng của một trung gian tài chính, phục vụ cho tăngtrưởng kinh tế là một NHTM có hệ thống KSNB chất lượng

1.2.2 Các tiêu chí để đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại

Để một hệ thống KSNB trong các NHTM hoạt động có chất lượng, nóphải có đủ năm bộ phận, và từng bộ phận phải hoạt động hiệu quả, cụ thể:

+ Môi trường kiểm soát: là môi trường mà trong đó toàn bộ hoạt độngKSNB được triển khai Môi trường này chỉ tốt nếu các công việc sau đượcđảm bảo:

NHTM đã ban hành dưới dạng văn bản các quy tắc, chuẩn mực phòngngừa ban lãnh đạo và các nhân viên lâm vào tình thế xung đột quyền lợi vớingân hàng đó, kể cả việc ban hành các quy định xử phạt thích hợp khi các quytắc chuẩn mực này bị vi phạm

NHTM đã phổ biến rộng rãi các quy tắc, chuẩn mực nêu trên, yêu cầu tất

cả các nhân viên ký bản cam kết tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực được thiếtlập

Tư cách đạo đức, hành vi ứng xử và hiệu quả công việc của lãnh đạo làtấm gương sáng để nhân viên noi theo

NHTM có sơ đồ tổ chức hợp lí đảm bảo công tác quản lý (lập kế hoạch,

tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát) được triển khai chính xác,kịp thời, hiệu quả

NHTM có bộ phận kiểm toán nội bộ hoạt động theo các chuẩn mực củakiểm toán nhà nước và kiểm toán quốc tế Bộ phận kiểm toán nội bộ phải có

Trang 31

khả năng hoạt động hữu hiệu do được trực tiếp báo cáo độc lập, cởi mở với cơquan kiểm toán cấp trên hoặc với các lãnh đạo cấp cao của tổ chức.

NHTM có các văn bản quy định chung cũng như hướng dẫn cụ thểtrong hoạt động quản lý tổng thể và trong các hoạt động chuyển ngân

NHTM có hệ thống văn bản thống nhất quy định chi tiết việc tuyểndụng, đào tạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, trả lương, phụ cấp để khuyến khíchmọi người làm việc liêm chính, hiệu quả

NHTM đã sử dụng “bản mô tả công việc” quy định rõ ràng yêu cầukiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức

NHTM không đặt ra những chuẩn mực chi tiêu thiếu thực tế hoặcnhững danh sách ưu tiên, ưu đãi, lương, thưởng… bất hợp lý tạo cơ hội chocác hành vi vô kỷ luật, gian dối, bất lương

NHTM đã áp dụng các quy tắc, công cụ kiểm toán phù hợp với nhữngchuẩn mực thông dụng đã được chấp nhận cho loại hình hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình đảm bảo kết quả kiểm toán không bị méo mó, sai lệch

do sử dụng các chuẩn mực, công cụ kiểm toán không phù hợp

NHTM thường xuyên luân chuyển nhân sự trong các khu vực, vị trínhảy cảm Quan tâm, nhắc nhở, bảo vệ quyền lợi của những người làm việctrong các khu vực, vị trí độc hại, nặng nhọc theo đúng quy định

+ Đánh giả rủi ro: Việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu:Ban lãnh đạo đã quan tâm và khuyến khích nhân viên, phát hiện, đánhgiá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn

NHTM đã đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thểnhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặcNHTM đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hạicủa rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhậnđược

Trang 32

NHTM đã đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên

có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc

+ Hoạt động kiểm soát: Chất lượng hoạt động kiểm soát được coi là tốtnếu các nội dung sau được đảm bảo:

NHTM đã đề ra các định mức xác định về tài chính và các chỉ số cănbản đánh giá hiệu quả hoạt động như những chỉ số quản lý khi lập kế hoạch

và kiểm soát để điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với mục tiêu đề ra

NHTM đã tổng hợp và thông báo kết quả sản xuất đều đặn và đối chiếucác kết quả thu được với các định mức, chỉ số trước để điều chỉnh, bổ sungkịp thời

NHTM có quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong ba lĩnh vực: Cấpphép và phê duyệt các vấn đề tài chính, kế toán và thủ kho được phân địnhđộc lập, rõ ràng

NHTM đã ban hành văn bản quy định rõ ràng những ai có quyền và/hoặc được ủy quyền phê duyệt toàn bộ hay một loại vấn đề tài chính nàođó

NHTM đã lưu giữ các chứng cứ dưới dạng văn bản tạo điều kiệnphân định rõ ràng phần thực hiện công việc với phần giám sát tại bất kỳthời điểm nào, kể cả việc xác định những cá nhân có trách nhiệm về các saiphạm xảy ra

NHTM đã giám sát, bảo vệ và bảo dưỡng tài sản, vật tư trang thiết bịkhỏi bị mất mát, hao hụt, hỏng hóc hoặc bị sử dụng không đúng mục đích

NHTM đã cấm hoặc có biện pháp ngăn ngừa các lãnh đạo cao cấp củamình sử dụng kinh phí và các tài sản ngân hàng vào mục đích riêng

+ Hệ thống thông tin và truyền thông: Chất lượng hệ thống là tốt khicác nội dung sau được đảm bảo:

Trang 33

NHTM thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng cho ban lãnhđạo và những người có thẩm quyền.

Hệ thống truyền thông của NHTM đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độđều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thôngtin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định

NHTM đã thiết lập các kênh thông tin nóng (một ủy ban hay một cánhân nào đó có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác, hoặc lắp đặt hộp thưgóp ý) cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khảnăng gây thiệt hại cho ngân hàng

NHTM đã lắp đặt hệ thống bảo vệ số liệu phòng ngừa sự truy cập, tiếpcận của những người không có thẩm quyền

NHTM đã xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng chống thiên tai,hiểm họa hoặc kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu

+ Hệ thống giám sát và thẩm định: Đây là quá trình theo dõi và đánhgiá chất lượng kiểm soát nội bộ để đảm bảo việc này được triển khai, điềuchỉnh và cải thiện liên tục Hệ thống này hoạt động tốt nếu:

NHTM có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉtiêu, kế hoạch đã định Khi phát hiện sai lệch, ngân hàng đã triển khai cácbiện pháp điều chỉnh thích hợp

Việc kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi người có trình độ chuyênmôn thích hợp và người này có quyền báo cáo trực tiếp cho cấp phụ trách caohơn và cho ban lãnh đạo

Những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát hiện bởikiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịp thờivới cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc

NHTM đã yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với lãnhđạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy,

Trang 34

quy định của ngân hàng cũng như quy định của luật pháp hiện hành có khảnăng làm giảm uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế.

Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ NHTM có đủ năm bộ phận và nếu tất cảnhững nội dung nêu trên được đảm bảo thì hệ thống này chắc chắn mang lạinhững lợi ích quản lý và kinh tế to lớn cho NHTM

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại

+ Nhân tố chủ quan

- Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về vai trò của kiểm soát, kiểm

toán nội bộ;

- Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng.;

- Hệ thống thống thông tin, đặc biệt là hệ thống thông tin về tình hình

quản trị tài chính của ngân hàng;

- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kiểm soát, kiểm toán nội bộ;

- Số lượng và chất lượng cán bộ ngân hàng;

- Tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin được cung cấp bởi bộ phận

kiểm toán một cách khách quan, kịp thời

+ Nhân tố khách quan

- Nhân tố pháp lý

- Do áp lực về hội nhập, bản thân các NHTM phải tự điều chỉnh công

tác quản trị doanh nghiệp trong đó có hoạt động kiểm soát nội bộ

- Các nhân tố khác như sự hỗ trợ, đánh giá đúng mức của các cơ quan

ban ngành về hoạt động kiểm soát nội bộ là cơ sở để nâng cao chất lượng hoạtđộng kiểm soát nội bộ của các NHTM

1.2.4 Nguyên tắc đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại

Như phần trên đã phân tích chất lượng của hệ thống KSNB chính là sự

Trang 35

hữu hiệu của hệ thống KSNB.Hệ thống KSNB của các tổ chức khác nhau,được vận hành với các mức độ hữu hiệu khác nhau Hệ thống KSNB của một

tổ chức cũng hoạt động với mức độ hữu hiệu khác nhau ở những thời điểmkhác nhau Theo báo cáo CoSo cho rằng, một hệ thống KSNB hữu hiệu (xéttại một thời điểm xác định) nếu hội đồng quản trị và các nhà quản lý đảm bảohợp lý đạt được ba tiêu chí sau: Họ hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chứcđang đạt được ở mức độ nào? Báo cáo tài chính đang được lập và trình bàymột cách đáng tin cậy; Pháp luật và các quy định đang được tuân thủ

Như vậy, trong khi KSNB là một quá trình thì sự hữu hiệu của KNSB

là một trạng thái (tình trạng) của quá trình đó ở một thời điểm nhất định Việcđánh giá sự hữu hiệu của KSNB là mang tính xét đoán Bên cạnh đó, để đánhgiá KSNB là hữu hiệu, ngoài ba tiêu chí trên, còn phải đánh giá thêm: Năm bộphận cấu thành của hệ thống KSNB có hữu hiệu không?

Có thể thấy, sự hữu hiệu của năm bộ phận cấu thành của một hệ thốngkiểm soát nội bộ cũng chính là tiêu chí để đánh giá sự hữu hiệu của KSNB.Tuy nhiên, cần nhận thức được là sự hoạt động của từng bộ phận của hệ thốngKSNB tại từng thời điểm, từng bộ phận có thể là khác nhau cũng có thể lànhư nhau, bởi vì:

+ Có sự bù trừ giữa các bộ phận của hệ thống KSNB trong vận hành,xuất phát từ mục tiêu vì vậy kiểm soát hữu hiệu ở bộ phận này có thể phục vụcho mục tiêu kiểm soát của bộ phận kia

+ Tùy vào sự rủi ro của từng hoạt động, bộ phận để các nhà quản lý đưa

ra các yêu cầu kiểm soát khác nhau, bởi vậy, năm tiêu chí trên được thỏa mãn

mà không cần thiết phải đồng nhất về mức độ hoạt động của các bộ phận.Năm bộ phận cấu thành hệ thống KSNB và năm tiêu chí phân tích trên được

áp dụng cho toàn bộ hệ thống KSNB Bởi vậy khi xét tính hữu hiệu của hệthống KSNB ta phải đánh giá theo từng mục tiêu cụ thể

Tóm lại, KSNB là một phần của quá trình quản lý và gắn chặt với quá

Trang 36

trình quản lý của đơn vị Một hệ thống KSNB hữu hiệu giúp cho đơn vị giảmthiểu rủi ro và góp phần đạt được các mục tiêu đề ra.

Để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB, trong phạm vi luận vănnày tổng kết một số nguyên tắc sau:

+ Việc đánh giá chất lượng hệ thống KSNB là một sự xét đoán tại mộtthời điểm xác định Như trên đã phân tích thì việc đánh giá chất lượng KSNB

có tính xét đoán tại một thời điểm nhất định vì hoạt động kiểm soát được xâydựng không phải chỉ mang tính hình thức mà chính là cái mà đơn vị cần thựchiện Các hoạt động kiểm soát vì vậy phải mang tính thực tế phù hợp với từnghoạt động trong từng giai đoạn Kiểm soát nội bộ có thể hữu hiệu trong thờiđiểm này, hoạt động này mà không hữu hiệu trong thời điểm khác, hoạt độngkhác Nền kinh tế, môi trường pháp lý, hoạt động của các NHTM luôn thayđổi và phát triển, vì vậy kiểm soát nội bộ cũng phải luôn thay đổi phù hợp đểtác động tích cực đến khả năng đạt mục tiêu của đơn vị

+ Đánh giá chất lượng hệ thống KSNB của các tổ chức nói chung vàNHTM nói riêng bao gồm: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ Hoạtđộng kiểm soát là một trong năm bộ phận của hệ thống KSNB Hoạt độngkiểm soát bao gồm: chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm soát Để hệ thốngkiểm soát nội bộ phát huy hiệu quả việc đánh giá chất lượng một cách thườngxuyên là một việc làm cần thiết Đánh giá hệ thống KSNB thường xuyên, kịpthời phát hiện được những hạn chế của KSNB để có quyết định thay đổi phùhợp Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến các chính sách kiểm soát, thủ tụckiểm soát trở nên kém hiệu lực, hiệu quả mà mục tiêu chính là đảm bảo hệthống kiểm soát nội bộ luôn hoạt động hữu hiệu do vậy việc giám sát, đánhgiá thường xuyên để giám sát được tất cả các hoạt động của đơn vị Việc đánhgiá, giám sát thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động thườngngày và lặp đi lặp lại Do đó, việc thực hiện đánh giá thường xuyên sẽ hữu

Trang 37

hiệu hơn là đánh giá định kỳ Giám sát định kỳ thường được thực hiện sau khi

sự việc đã xảy ra và phụ thuộc vào sự xét đoán của người quản lý dựa trên cácnhân tố: bản chất và mức độ của các thay đổi, rủi ro và năng lực kinh nghiệmcủa người quản lý

+ Việc đánh giá chất lượng KSNB là một quy trình

Có nhiều cách tiếp cận và kỹ thuật đánh giá, tuy nhiên quy trình đánhgiá dựa trên những nguyên tắc thống nhất chung Trước hết người đánh giácần hiểu rõ đặc điểm, hoạt động của đơn vị và từng yếu tố của hệ thốngKSNB Cần tập trung tìm hiểu sự thiết kế và vận hành của hệ thống KSNB.Sau khi đánh giá sự thiết kế hệ thống KSNB, cần xác định hiệu quả hoạtđộng thực tế của KSNB Cuối cùng, sau khi đã hiểu rõ sự vận hành trongthực tế, người đánh giá phải phân tích tính hữu hiệu của việc thiết kế và việcvận hành hệ thống KSNB Sự đánh giá cần xác định được hệ thống KSNB

có cung cấp một sự đảm bảo hợp lí giúp đạt được các mục tiêu đề ra của đơn

vị hay không?

+ Đánh giá thông qua việc đạt được các mục tiêu đề ra

Bảo vệ tài sản của ngân hàng: Mỗi ngân hàng đều đối mặt với các rủi ro

cố hữu như: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tácnghiệp, rủi ro về tính tuân thủ, rủi ro về danh tiếng và rủi ro kinh doanh Một

hệ thống kiểm soát nội bộ tốt trước hết phải đánh giá được các rủi ro tronghoạt động của ngân hàng và sắp xếp chúng theo một thứ tự ưu tiên nhằm hạnchế các vấn đề xấu xảy ra cho ngân hàng

Bảo vệ sổ, tài liệu kế toán: Kiểm soát nội bộ phải thực hiện đánh giáhoạt động kế toán của ngân hàng có được phản ánh đầy đủ, chính xác và kịpthời hay không Công tác chi tiêu tài chính và mua sắm, thanh lý tài sản cốđịnh có thực hiện đúng quy định hay không Bảng cân đối kế toán, báo cáo tàichính, báo cáo doanh số thu chi của ngân hàng có được khớp đúng với các

Trang 38

nghiệp vụ phát sinh theo dõi trên sổ phụ của từng loại khoản hay không, cóphản ánh được mức độ tin cậy và hợp lý của các chỉ tiêu trọng yếu hay không.

Hệ thống kiểm soát nội bộ có chất lượng phải phân định được mối quan

hệ giữa kiểm soát nội bộ và người quản lý rủi ro Công việc của người quản lýrủi ro là xác định, đo lường, sắp xếp ưu tiên và quản lý rủi ro, đây là một phầntrong quản trị doanh nghiệp Kiểm soát nội bộ đóng vai trò chính trong hoạtđộng của các hệ thống quản lý rủi ro của ngân hàng bằng cách: cung cấp phảnhồi chính xác, khách quan và kịp thời cho nhóm quản trị ngân hàng

+ Không lãng phí các nguồn lực

Về con người: Hệ thống kiểm soát nội bộ có chất lượng cần tập hợp cáckiểm soát viên am hiểu quy trình nghiệp vụ, nắm vững quy chế, chế độ củangành ngân hàng nói chung cũng như bản thân mỗi ngân hàng thương mại để

có các bước kiểm soát phù hợp và không làm ảnh hưởng nhiều tới công việccủa các nhân viên khác Số lượng kiểm soát viên phải phụ thuộc vào quy môcủa ngân hàng, tuy nhiên theo chuyên gia Gunter Hofmann tham gia chươngtrình hợp tác của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tổ chức hợp tác kỹ thuậtĐức thì số lượng hợp lý là 1 kiểm soát viên cho 80 nhân viên

Về thời gian: Hoạt động kiểm soát nội bộ có chất lượng cũng đảm bảothời gian kiểm soát cho một lĩnh vực nghiệp vụ của ngân hàng không quá dàihay không quá ngắn Vì nếu thời gian quá dài sẽ gây ảnh hưởng đến công việccủa các đối tượng được kiểm tra, không đảm bảo tính kịp thời, và nếu quángắn thì các nội dung kiểm soát sẽ không đảm bảo và thường đẩy chi phí vềcác thủ tục hành chính lên cao

Về chi phí: Chi phí cho hoạt động kiểm soát nội bộ phải được địnhlượng rõ ràng và cũng có thể giảm các loại chi phí bằng nhiều biện pháp nhưkết hợp với các phòng ban chức năng khác để tự đào tạo nhân viên kiểm soát.Rất khó để tìm ra một công thức chung để đánh giá chất lượng hệ thống

Trang 39

KSNB vì vậy tuỳ từng đơn vị, từng lĩnh vực hoạt động, từng môi trường vàthời điểm mà cần có hệ thống KSNB thích hợp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mặc dù có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của một ngân hàngthương mại, tuy nhiên muốn tồn tại lâu dài và ổn định thì chất lượng của hệ thốngkiểm soát nội bộ của ngân hàng đó phải được đảm bảo Vì vậy, với thực trạng và sựphù hợp với hoạt động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánhVinh nên luận văn sẽ chỉ sử dụng những nội dung đã trình bày trong chương 1 đểphục vụ cho việc nghiên cứu tại chương 2 Như vậy có thể thấy, chương 1 đã hệthống các cơ sở lý thuyết quan trọng về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngânhàng thương mại như: Khái niệm về hệ thống KSNB, vai trò của hệ thống KSNB,yêu cầu về chất lượng hệ thống KSNB trong ngân hàng, tổng kết các nhân tố ảnhhưởng đến chất lượng hệ thống KSNB trong ngân hàng thương mại

Hệ thống kiểm soát nội bộ có thể xem như là một công cụ hữu íchvới quátrình sử dụng các phương pháp, công cụ và kỹ thuật thích hợp, để có thể giúp ngânhàng thương mại quản lý và đưa ra những chính sách kinh doanh phù hợp trongtừng giai đoạn Các bước công việc trong quá trình hoàn thiện chất lượng hệ thốngkiểm soát nội bộ bao gồm: đưa ra các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ; đánh giá ảnhhưởng của môi trường bên ngoài và bên trong tới hệ thống kiểm soát nội bộ củangân hàng; phân tích, đánh giá và lựa chọn cách thức hoạt động hệ thống kiểm soátnội bộ phù hợp

Như vậy, nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ là bước đệm quantrọng của việc xây dựng chiến lược và cũng là bước khởi đầu cho quá trình tổ chứcthực hiện chiến lược kinh doanh của ngân hàng Việc lựa chọn chiến lược kinhdoanh phù hợp có ý nghĩa quyết định việc thành công trên thị trường của ngân hàngthương mại Đây là giai đoạn quan trọng và là bước chuyển hoá những mong muốn

Trang 40

chiến lược kinh doanh của ngân hàng thành hiện thực.

Ngày đăng: 26/09/2019, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w