MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế, nảy sinh trong quá trình phân phối các khoản tiền, gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền mặt của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh. Chính vì thế vai trò của việc quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan và bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác quản lý Công ty, bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự án sản xuất và kinh doanh, theo dõi và đánh giá, điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính, quản lý công nợ của khách hàng, của các đối tác để từ đó thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo… Tất cả những công việc như vậy rất cần cho nhà quản lý trong việc hoạch định nguồn lực tài chính. Như chúng ta đã biết một thời gian dài qua, tuy các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả đóng góp lớn cho ngân sách đất nước, thì còn nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thậm chí phá sản mà điển hình trong thời gian qua là Tập đoàn Vinashin, Vinalines, Ngân hàng ACB….. Đây chính là do sự lỏng lẻo trong quản lý tài chính tại các tập đoàn, các doanh nghiệp nói trên. Công ty cổ phần CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may trước đây là doanh nghiệp Nhà nước, thành viên hạch toán phụ thuộc của Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Năm 2007, Công ty thực hiện cổ phân hóa theo quyết định số 87/QĐ-HĐQT ngày 21/02/2006 của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất 2 đơn vị thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam là Công ty dịch vụ thương mại số 1 và Công ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Dệt may. Nhà nước chỉ giữ lại 68.34% vốn, còn lại 31.66% là vốn của các cổ đông khác và cán bộ công nhân viên trong công ty, về bản chất thì công ty vẫn là doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Nhưng so với trước khi cổ phần hóa công ty hoạt động có hiệu quả hơn, liên tục hoàn thành và nhiều năm còn hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra. Thành công này là do mọi việc từ bầu ban lãnh đạo, các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư, kiểm soát tài chính của công ty đều được làm chặt chẽ công khai và dân chủ. Hay nói cách khác quản lý tài chính của công ty về các hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao hơn trước khi cổ phần hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nói trên thì quản lý tài chính của công ty còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn như: quy trình quản lý tài chính, phương thức quản lý, các công cụ quản lý…., nhằm mục đích đem lại hiệu quả ngày càng cao hơn cho công ty. Đây cũng chính là những vấn đề cần đặt ra và cần phải giải quyết đối với các công ty cổ phần giống như Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may. Nhằm góp phần nhỏ bé và giải quyết những vấn đề trên, em mạnh dạn chọn đề tài làm Luận văn tốt nghiệp : “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam” 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề hoàn thiện quản lý tài chính ở doanh nghiệp đã có một số đề tài nghiên cứu cụ thể như: - Phạm Minh Đức, Bàn về đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở Tổng công Ty Dầu khí Việt Nam, tạp trí công nghiệp, bài đăng 29/11/2004. Bài viết bàn về vấn đề đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam. Trong đó, vấn đề được đề cập là hạn chế của quyền chủ động vốn đầu tư của tổng công ty bên cạnh đó cơ chế đầu tư chưa thực sự rõ ràng do các đơn vị cấp dưới chưa thực sự được chủ động về vốn đầu tư. Tác giả còn phân tích thực trạng tài chính và tiềm lực tài chính của công ty qua đó đề ra những giải pháp đổi mới cơ chế tài chính trong đó có đổi mới về nâng cao tính tự chủ cho các đơn vị thành viên, các biện pháp hoàn thiện chế tài tài chính và hệ thống kiểm soát quản trị của Tổng công ty dầu khí Việt Nam. Bài viết đã nhận định được những thiếu sót trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý theo quy định của nhà nước của công ty Dầu Khí Việt Nam qua đó đề xuất được những biện pháp giúp cơ chế mới được thực hiện đúng theo bản chất của cơ chế tài chính mới của nhà nước. - Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Kế toán, ngày 5/6/2006. Trong bài viết, tác giả đã phân tích nguyên nhân về cơ chế tài chính khiến các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân hàng đầu là do doanh nghiệp nhà nước còn phụ thuộc tài chính vào nhà nước mà thiếu tính chủ động. Bài viết phân tích chi tiết khía cạnh về sở hữu và quyền với vốn, tài sản, lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước.Dựa trên phân tích đó, bài viết đưa ra một cơ chế mới về quản lý tài chính của các doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế này tăng tính năng động và chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước để tăng tính hiệu quả của các doanh nghiệp này. Bài viết đã chỉ ra được tính tất yếu của việc đổi mới cơ chế tài chính của các doanh nghiệp nhà nước trong thời buổi kinh tế thị trường góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng của nhà nước Việt Nam. - Nguyễn Anh Thư, xây dựng cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, năm 2006. Bài nghiên cứu về Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (tên viết tắt là VPN). Trong đó bao gồm hai nội dung chính đó là + Cơ chế quản lý tài chính của VNP đối với các đơn vị thành viên + Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với VNP. Bài viết chỉ ra được những bất cập về cơ chế quản lý vốn của Tổng Công ty với các công ty con trong những giai đoạn trước đây trong việc phân cấp và quản lý vốn. Bài viết trình bày về sự chuyển đổi cơ chế chủ sở hữu vốn của tổng công ty và các công ty con trong đó nói rõ sự thay đổi cách thức liên kết vốn kéo theo thay đổi trình tự và cách thức liên kết lợi nhuận. Trên cơ sở phân tích về cơ chế quản lý mới, bài viết đề xuất hai phương án với nhà nước trên hai khía cạnh VNP là đơn vị kinh doanh và VNP là đơn vị công ích. Bài viết đã phân tích và chỉ ra những ưu điểm của cơ chế mới tuy nhiên do giới hạn về mặt thực tiễn (cơ chế trên mới được ban hành) nên chưa nhìn ra được nhược điểm của cơ chế này. - Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con- Luận văn Thạc sỹ Trần Vĩnh Hưng - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài ngành viễn thông.( Lấy ví dụ ở Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU). Về mặt lý luận đề tài đã khái quát hóa một số lý luận chung về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Về thực tiễn đề tài đã phân tích, đánh giá khách quan và khoa học thực trạngcơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU; rút ra các kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU.Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện việc hoàn thiện quản lý tài chính ở một doanh nghiệp.Vì vậy đề tài vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may - Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. - Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính tại Công ty . 4.2. Phạm vi nghiên cứu: 4.2.1. Phạm vi về không gian: Quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may. 4.2.2. Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may giai đoạn từ năm 2012-2016, đề xuất giải pháp đến năm 2020. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp tiếp cận : Luận văn tiếp cận từ tài chính tại doanh nghiệp dệt may, từ đó luận giải nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính tại doanh nghiệp dệt may. Để đảm bảo logic, Luận văn lấy nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may để xây dựng mạch phát triển. - Phương pháp luận : Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử . - Phương pháp cụ thể : Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, logic và lịch sử. Luận văn sử dụng các tài liệu là sách giáo trình về quản lý tài chính, các quy định của pháp luật về chế độ tài chính trong các doanh nghiệp, các quy định của pháp luật về tổ chức, quản lý doanh nghiệp có vốn Nhà nước, Công ty Cổ phần. Quan sát cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, các văn bản chế độ, các quy chế nội bộ, so sánh số liệu thực tế với kế hoạch tài chính, với các định mức kinh tế - kỹ thuật, giữa các năm, so sánh giữa thực tế và chuẩn mực… 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn đã khái quát hóa và làm rõ các vấn đề cơ bản về quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may thông qua việc phân tích, làm rõ quan niệm, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn - Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp để hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty. 7. Bố cục luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục gồm 3 chương. Chương 1. Những vấn đề cơ bản và kinh nghiệm về quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may. Chương 2. Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may. Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may.
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN VIỆT TIẾN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật Đây là đề tài nghiên cứu do tôi thựchiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS TS Trần Việt Tiến.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Duy Tuấn
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.Với tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đếnBan Giám hiệu, Khoa Lý luận chính trị, Viện Đào tạo sau đại học - Trường Đại họcKinh tế quốc dân Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Việt Tiến đã trựctiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp tại Công ty
CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôihoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Duy Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP DỆT MAY 7
1.1 Tài chính doanh nghiệp dệt may: Khái niệm, đặc điểm và vai trò 7
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp dệt may 7
1.1.2 Đặc điểm tài chính doanh nghiệp dệt may 9
1.1.3 Vai trò của tài chính đối với doanh nghiệp dệt may 11
1.2 Quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may 13
1.2.1 Quan niệm, mục tiêu và sự cần thiết quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may 13
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may 18
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may 26
1.3 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số doanh nghiệp và bài học rút ra cho Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt May 32
1.3.1 Kinh nghiệm về quản lý tài chính doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp Dệt may 32
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CP SẢN XUẤT XUẤT NHẬP KHẨU DỆT MAY 37
2.1 Khái quát về Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt May 37
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ của Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 37
2.1.2 Tình hình nhân sự và tổ chức bộ máy của Công ty 38
2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty 41
2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 43
2.2.1 Thực trạng quản lý thu 43
2.2.2 Thực trạng phân bổ các quỹ tại Công ty 47
2.2.3 Thực trạng quản lý sử dụng các quỹ tài chính 51
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 57
Trang 5TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT XUẤT NHẬP KHẨU
DỆT MAY 64
3.1 Những căn cứ đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất - Xuất nhập khẩu Dệt may 64
3.1.1 Chiến lược phát triển của ngành Dệt may Việt Nam 64
3.1.2 Định hướng phát triển của Tập đoàn Dệt may Việt Nam 68
3.1.3 Định hướng phát triển của Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 69
3.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 71
3.2.1 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phù hợp với nguyên tắc của cơ chế thị trường và phù hợp với hội nhập quốc tế 71
3.2.2 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phù hợp với sự đổi mới mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh 72
3.2.3 Hoàn thiện quản lý tài chính phải đảm bảo tính minh bạch, tăng lòng tin giữa các chủ sở hữu đồng thời nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý tài chính Công ty 73
3.2.4 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phát huy được các nguồn lực của Công ty 75
3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 75
3.3.1 Hoàn thiện quản lý thu 75
3.3.2 Hoàn thiện quản lý phân bổ nguồn thu thành các quỹ 76
3.3.3 Hoàn thiện quản lý sử dụng các quỹ tài chính 78
3.3.4 Hoàn thiện phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh và nâng cao trình độ phát triển, quy mô của Công ty 80
3.3.5 Hoàn thiện bộ máy và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính 81
3.3.6 Tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện quản lý tài chính có hiệu quả 84
3.3.7 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát tổ chức thực hiện quản lý tài chính tại Công ty 85
3.4 Một số kiến nghị 87
3.4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 87
3.4.2 Kiến nghị đối với Tập đoàn Dệt may Việt Nam 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6Stt Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1 CBCNV Cán bộ công nhân viên
Trang 7Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả SXKD của Công ty qua các năm 42
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp nguồn thu từ bán hàng của Công ty qua các năm 43
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp thu từ cung cấp dịch vụ và cho thuê của Công ty qua các năm 44
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp thu từ hoạt động tài chính của Công ty qua các năm 45 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp quản lý và phân bổ vốn của Công ty qua các năm 50
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp quản lý và sử dụng quỹ tiền lương của Công ty qua các năm .51
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp chi phí nguyên vật liệu của Công ty qua các năm 53
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp chi phí tài chính của Công ty qua các năm 53
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp chi không thường xuyên của Công ty các năm 56
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp phân bổ và quản lý sử dụng quỹ khen thưởng phúc lợi của Công ty qua các năm 56
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Chuỗi giá trị ngành Dệt may 19
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy của Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may.39 Sơ đồ 3.1: Định hướng phát triển Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may 69
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế, nảy sinh trong quátrình phân phối các khoản tiền, gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền mặtcủa doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh Chính vì thế vai tròcủa việc quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan
và bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác quản
lý Công ty, bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự
án sản xuất và kinh doanh, theo dõi và đánh giá, điều chỉnh kịp thời kế hoạch tàichính, quản lý công nợ của khách hàng, của các đối tác để từ đó thực hiện báo cáocho các cấp lãnh đạo… Tất cả những công việc như vậy rất cần cho nhà quản lýtrong việc hoạch định nguồn lực tài chính
Như chúng ta đã biết một thời gian dài qua, tuy các doanh nghiệp Nhà nướcđóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh nhiều doanh nghiệplàm ăn có hiệu quả đóng góp lớn cho ngân sách đất nước, thì còn nhiều doanhnghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thậm chí phá sản mà điển hình trong thờigian qua là Tập đoàn Vinashin, Vinalines, Ngân hàng ACB… Đây chính là do sựlỏng lẻo trong quản lý tài chính tại các tập đoàn, các doanh nghiệp nói trên
Công ty cổ phần CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may trước đây là doanhnghiệp Nhà nước, thành viên hạch toán phụ thuộc của Tập đoàn Dệt may ViệtNam Năm 2007, Công ty thực hiện cổ phân hóa trên cơ sở hợp nhất 2 đơn vị thànhviên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam là Công ty dịch vụ thương mại số 1 và Công
ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Dệt may Nhà nước chỉ giữ lại 68.34% vốn, còn lại31.66% là vốn của các cổ đông khác và cán bộ công nhân viên trong công ty, về bảnchất thì công ty vẫn là doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối Nhưng so với trướckhi cổ phần hóa công ty hoạt động có hiệu quả hơn, liên tục hoàn thành và nhiềunăm còn hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra Thành công này là do mọi việc từbầu ban lãnh đạo, các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư, kiểm soát tàichính của công ty đều được làm chặt chẽ công khai và dân chủ Hay nói cách khác
Trang 10quản lý tài chính của công ty về các hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng caohơn trước khi cổ phần hóa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nói trên thì quản lý tài chính củacông ty còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn như: quy trình quản lý tài chính,phương thức quản lý, các công cụ quản lý…., nhằm mục đích đem lại hiệu quả ngàycàng cao hơn cho công ty Đây cũng chính là những vấn đề cần đặt ra và cần phảigiải quyết đối với các công ty cổ phần giống như Công ty CP Sản xuất Xuất nhậpkhẩu Dệt may
Nhằm góp phần nhỏ bé và giải quyết những vấn đề trên, em mạnh dạn chọn
đề tài làm Luận văn tốt nghiệp : “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam”
2 Nội dung chính của luận văn
Thứ nhất, luận văn đã làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong phần này luận văn đã khái quát được khái niệm, đặc điểm và vai tròcủa tài chính doanh nghiệp dệt may Doanh nghiệp dệt may đơn vị chủ thể kinh tếđộc lập hoạt động sản xuất kinh doanh chính trong ngành dệt may, là một trongnhững ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việcsản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuốicùng là phân phối hàng may mặc đến tay người tiêu dùng Về khái niệm tài chínhdoanh nghiệp dệt may là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị nảysinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trìnhhoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Đặc điểmtài chính doanh nghiệp dệt may là luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động tài chính doanh nghiệp bị chi phối bởi tínhchất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp và hoạt động của tài chính doanh nghiệpluôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận Vai trò của tài chính doanh nghiệp đượcbiểu hiện qua các mặt là huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp; tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệuquả; giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Trang 11Luận văn cũng đã nêu được quan niệm về quản lý tài chính doanh nghiệp dệtmay là quản lý việc thu hút, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệpnhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.
Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp là tăng hiệu quả sử dụng vốn,tránh thất thoát và sử dụng vốn đúng mục đích
Luận văn cũng đã xác định nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may
là quản lý nguồn thu của doanh nghiệp;quản lý việc phân bổ nguồn thu vào cácquỹ; quản lý việc sử dụng các quỹ
Trên cơ sở các lý luận trên luận văn cũng đã phân tích những nhân tố ảnhhưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may bao gồm: Luật pháp, chính sách
có liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may; Hình thức, phương thức tổchức kinh doanh và trình độ phát triển, quy mô của doanh nghiệp dệt may; Hiệu lựccủa bộ máy quản lý và trình độ của đội ngũ quản lý tài chính; Kiểm tra, giám sát vềquản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may; Cơ sở vật chất phục vụ cho quá trìnhquản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
Sự cần thiết quản lý tài chính doanh nghiệp do yêu cầu phát triển bền vững sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp; Do yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường; hoàn thiện quản lý tài chính của doanhnghiệp để phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Luận văn đã tổng hợp được kinh nghiệm quản lý tài chính của một số công
ty trong ngành dệt may như quản lý chi phí tại Tổng công ty may 10; công tác kiểmtra tài chính tại Công ty CP Dệt may Huế
Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm bao gồm: Tăng cường hoàn thiện công táchoạch định tài chính của công ty; tăng cường quản lý chi phí sản xuất kinh doanh;Tăng cường quản lý chi phí sản xuất kinh doanh ; Tỏ chức thực hiện quản lý tàichính; Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh vàhoạt động tài chính của Công ty
Thứ hai, trên cơ sở lý luận chương 1, luận văn đã phân tích thực trạng quản lý tài chính Công ty CP SX XNK Dệt May
Một là, luận văn đã khái quát được về Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu
Dệt may bao gồm quá trình hình thành và phát triển và cơ cấu tổ chức của Công ty
Trang 12Hai là, thực trạng quản lý tài chính của Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu
Dệt may
Luận văn đã xác định nội dung quản lý tài chính là quản lý thu, quản lý phân
bổ các quỹ tại Công ty, quản lý sử dụng các quỹ tài chính Mục tiêu quản lý tàichính là tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh thất thoát và sử dụng vốn đúng mục đích
Thực trạng quản lý thu tại Công ty bao gồm: Thu từ bán hàng hóa như :Bông, xơ sợi, sản phẩm dệt may ( Vải, thảm, khăn bông, quần áo…), thiết bị dệtmay, nguyên phụ liệu dệt may, hàng hóa khác (mặt hàng ngoài ngành); thu từ cungcấp dịch vụ và cho thuê; thu do hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: lãi tiềngửi ngân hàng, lãi từ chênh lệch tỷ giá, lãi từ việc đầu tư vốn ra ngoài Công ty, lãi
từ kinh doanh chứng khoán; các khoản thu khác của Công ty
Thực trạng phân bổ các quỹ tại công ty, bao gồm:
Quỹ chi thường xuyên được phân bổ thành: Quỹ tiền lương bao gồm tất cảcác khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (tiền
ăn giữa ca, tiền hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần áo đồng phục ) mà công ty trảcho các loại lao động thuộc công ty quản lý; Quỹ chi hoạt động sản xuất chung củaCông ty dùng để thanh toán chi phí nguyên vật liệu sản xuất, chi phí chung phục vụsản xuất, khấu hao TSCĐ, sửa chữa thường xuyên TSCĐ, nộp thuế môn bài, tiềnthuê đất; Quỹ chi quản lý doanh nghiệp dùng để chi thanh toán dịch vụ công cộng,chi vật tư văn phòng phẩm, đàm thoại, báo chí, điện nước, chi các khoản đặc thù,phục vụ công tác chuyên môn, hội nghị, tiếp tân, tiếp khách, chi hoạt động tiếp thị,quảng cáo
Quỹ chi không thường xuyên: Ngoài kinh phí dùng để chi thường xuyên,hàng năm doanh nghiệp bố trí kinh phí không thường xuyên để thực hiện các nhiệm
vụ như: Mua sắm sửa chữa lớn TSCĐ phục vụ sản xuất kinh doanh, kinh phí đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, người lao động, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khôngthường xuyên khác…
Quỹ khen thưởng - phúc lợi để khen thưởng CBCNV và thực hiện các hoạtđộng phúc lợi xã hội
Thực trạng quản lý sử dụng các quỹ tài chính tại công ty bao gồm: thực trạngquản lý sử dụng quỹ chi thường xuyên, thực trạng quản lý chi không thường xuyên,
Trang 13thực trạng quản lý sử dụng quỹ khen thưởng - phúc lợi.
Ba là, luận văn cũng đã rút ra được những nhận xét khi phân tích, đánh giá
thực trạng quản lý tài chính tại Công ty, đó là:
Công ty đã xác định đúng nội dung quản lý tài chính là quản lý thu, quản lýphân bổ các quỹ tài chính và quản lý sử dụng các quỹ tài chính của Công ty Công
ty đã xác định đúng mục tiêu quản lý đó là tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh thấtthoát và sử dụng vốn đúng mục đích
Thành tựu về quản lý nguồn thu: Công ty đã thực hiện rất tốt chế độ báo cáothống kê, kế hoạch của nhà nước và Tập đoàn Dệt may Viêt Nam qua đó nắm bắtkịp thời hoạt động SXKD của Công ty giúp xây dựng kế hoạch tài chính bám sátvới thực tiễn Công ty đã thực hiện tốt và nghiêm túc công tác lập phương án và theodõi phương án kinh doanh đối với từng dự án, đơn hàng.Công ty đã phát triển theohướng mở rộng các nguồn thu
Thành tựu về quản lý phân bổ các quỹ tài chính: Công ty đã có nhữngchuyển biến tốt trong việc phân bổ nguồn thu khá hợp lý cho các quỹ
Thành tựu về quản lý sử dụng các quỹ: Công ty đã đảm bảo chi tiêu tiếtkiệm, đúng mục đích và hiệu quả
Bên cạnh thành tựu đã đạt được, luận văn cũng đã đánh giá những hạn chế vềquản lý tài chính tại Công ty CP Sản Xuất Xuất Nhập Khẩu Dệt may, bao gồm:
Hạn chế trong công tác quản lý nguồn thu: Công tác xây kế hoạch sản xuấtkinh doanh chưa bám sát thực tế, chạy theo doanh thu mà không đảm bảo được lợinhuận Chưa thật sự chú trọng theo dõi kỹ biến động giá cả thị trường, tỷ giá hốiđoái Công nợ phải thu lớn, nợ khó đòi, thậm chí có khách hàng bỏ chốn
Hạn chế trong công tác phân bổ các quỹ: Các chế độ, định mức chi tiêu chưađược sát với thực tế, chưa được thay đổi và hoàn thiện dẫn tới kinh phí dự toán vàkinh phí phân bổ chênh lệch nhiều; thời gian phân bổ chậm
Hạn chế trong quản lý sử dụng các quỹ: Chi tiêu vượt định mức, một sốkhoản chưa đúng mục đích và hiệu quả Một số khoản chi đầu tư tài chính chưa đemlại hiệu quả Sử dụng một số quỹ chưa đúng mục đích
Luận văn phân tích rõ các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên, cụ thể là:cácchế độ chính sách của Nhà nước thay đổi không kịp thời so với tình hình thực tế,
Trang 14quy định chung chùng không cụ thể; mô hình quản lý từ trên Công ty xuống đến các
bộ phận và Xí nghiệp chậm đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế; tư duy của
bộ máy quản lý và người lao động vẫn là tư duy cũ thời bao cấp, bộ máy quản lý tàichính của Công ty còn yếu về nghiệp vụ quản lý tài chính; công tác tuyên truyền vềtầm quan trọng của quản lý tài chính cho các cổ đông và người lao động khôngđược chú trọng; công cụ quản lý tài chính còn bị hạn chế ở các quy định quản lý tàichính của Công ty; kiểm tra, kiểm soát nội bộ vẫn còn nhiều hạn chế do các bộ phậnchưa nâng cao vai trò tự kiểm soát tại đơn vị
Thứ ba, trên cở sở lý luận chương 1 và đánh giá thực trạng tại chương 2 luận văn đã đề xuất các giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý tài chính tại Công
ty CP Sản xuất Xuất Nhập Khẩu Dệt May.
Căn cứ đề xuất:
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương số Số: 3218/QĐ-BCT ngày 11
tháng 04 năm 2014 phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt may
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
Định hướng phát triển của Tập đoàn Dệt may Việt Nam: Tập đoàn Dệt may Việt Nam là doanh nghiệp lớn nhất của ngành Dệt may Việt Nam sẽ tham gia tích cực nhất vào chiến lược chung của toàn ngành đã đề ra, theo đuổi mục tiêu đưa Vinatex trở thành một tập đoàn đa sở hữu trong top 10 các tập đoàn dệt may trên toàn thế giới.
Định hướng phát triển của Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may: Xây dựng Công ty trở thành một Công
ty vững mạnh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Chiếm lĩnh vị thế tại Thượng nguồn và Hạ nguồn của Chuỗi giá trị Dệt May,
sẽ trở thành các Đại lý Phân phối lớn/độc quyền của các nhà sản xuất Bông, Xơ, Sợi tại thị trường Việt Nam, tham gia góp vốn, từng bước làm chủ hệ thống các siêu thị bán lẻ hàng may mặc VINATEXMART trên toàn quốc Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động và xây dựng Công
ty phát triển bền vững.
Trang 15lý tài chính Công ty.
Hoàn thiện quản lý tài chính phải phát huy các nguồn lực của Công ty
Giải pháp:
Hoàn thiện quản lý thu Đối với các nguồn thu, Công ty phải xác định đúngnhư đã nêu ở phần thực trạng, cần phải quản lý chặt chẽ, đồng thời phải có các biệnpháp để tăng các nguồn thu cho Công ty Công tác xây kế hoạch sản xuất kinhdoanh phải bám sát thực tế Theo dõi sát những biến động của thị trường Dệt maycũng như tỷ giá hối đoái Khai thác thêm những dịch vụ mới trong lĩnh vực xuấtnhập khẩu dệt may
Hoàn thiện quản lý phân bổ các quỹ: Công ty phải phân bổ nguồn thu chocác quỹ một cách hợp lý, đúng quy định của Nhà nước và đúng thực trạng doanhnghiệp để phát huy hết tiềm năng Việc phân bổ nguồn vốn hàng năm đều được lập
kế hoạch tài chính cụ thể, thống nhất kế hoạch sản xuất trong năm Lập kế hoạch là
dự kiến phân bổ nguồn vốn hàng năm của Công ty cho phù hợp với các quy địnhcủa Nhà nước và đặc thù cụ thể của doanh nghiệp, việc lập kế hoạch hàng năm đượcchia ra các mục chi cơ bản và trích lập quỹ khen thưởng - phúc lợi của Công tyhằng năm theo quy định
Hoàn thiện quản lý sử dụng các quỹ tài chính: Hoàn thiện, điều chỉnh cơ cấuchi phí tại Công ty phù hợp với yêu cầu phát triển của Công ty trong giai đoạn hiệnnay Đưa tiết kiệm thành chế định pháp lý để đảm bảo tính hiệu quả trong thực hiện
Hoàn thiện phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh và nâng cao trình độphát triển, quy mô của Công ty
Hoàn thiện bộ máy và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tài chínhTăng cường cơ sở vật chất để thực hiện quản lý tài chính có hiệu quả
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát tổ chức thực hiện quản lý tài chính tại Công ty
Trang 16KẾT LUẬN
Nâng cao năng lực quản lý tài chính là một trong những yêu cầu quan trọng
để nâng cao hiệu quả hoạt động đối với tất cả các tổ chức, các chủ thể kinh tế.Trong điều kiện xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, các quan hệ kinh tế ngàycàng mở rộng và dần phản ánh đúng bản chất vốn có của nó, thì việc làm chủ cácquan hệ kinh tế, quan hệ tài chính để hướng nó đi theo đúng mục đích của ngườiquản lý lại càng cần thiết, đồng thời cũng đòi hỏi các chủ thể phải có năng lực quản
lý tài chính tốt
Đề tài hy vọng sẽ đem đến một cách nhìn nhận đầy đủ và toàn diện hơn
về lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý tài chính của các doanh nghiệp nóichung và vấn đề quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệtmay nói riêng
Để góp phần củng cố, phát triển năng lực quản lý tài chính tại Công ty CPSản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may ngày càng lớn mạnh và bền vững,em đã hoàn
thành đề tài “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất
nhập khẩu Dệt may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam”
Với lượng thời gian nghiên cứu còn hạn chế, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng,song luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Em hy vọng sẽ nhận đượcnhiều ý kiến góp ý để hoàn thiện công trình nghiên cứu về sau này
Trang 17ĐẶNG DUY TUẤN
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY CP SẢN XUẤT XUẤT NHẬP KHẨU DỆT MAY THUỘC TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN VIỆT TIẾN
HÀ NỘI - 2017
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế, nảy sinh trong quátrình phân phối các khoản tiền, gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền mặtcủa doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh Chính vì thế vai tròcủa việc quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan
và bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác quản
lý Công ty, bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự
án sản xuất và kinh doanh, theo dõi và đánh giá, điều chỉnh kịp thời kế hoạch tàichính, quản lý công nợ của khách hàng, của các đối tác để từ đó thực hiện báo cáocho các cấp lãnh đạo… Tất cả những công việc như vậy rất cần cho nhà quản lýtrong việc hoạch định nguồn lực tài chính
Như chúng ta đã biết một thời gian dài qua, tuy các doanh nghiệp Nhà nướcđóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh nhiều doanh nghiệplàm ăn có hiệu quả đóng góp lớn cho ngân sách đất nước, thì còn nhiều doanhnghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thậm chí phá sản mà điển hình trong thờigian qua là Tập đoàn Vinashin, Vinalines, Ngân hàng ACB… Đây chính là do sựlỏng lẻo trong quản lý tài chính tại các tập đoàn, các doanh nghiệp nói trên
Công ty cổ phần CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may trước đây là doanhnghiệp Nhà nước, thành viên hạch toán phụ thuộc của Tập đoàn Dệt may ViệtNam Năm 2007, Công ty thực hiện cổ phân hóa theo quyết định số 87/QĐ-HĐQTngày 21/02/2006 của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, trên cơ
sở hợp nhất 2 đơn vị thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam là Công ty dịch vụthương mại số 1 và Công ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Dệt may Nhà nước chỉ giữlại 68.34% vốn, còn lại 31.66% là vốn của các cổ đông khác và cán bộ công nhânviên trong công ty, về bản chất thì công ty vẫn là doanh nghiệp có vốn nhà nước chiphối Nhưng so với trước khi cổ phần hóa công ty hoạt động có hiệu quả hơn, liên
Trang 19tục hoàn thành và nhiều năm còn hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra Thành côngnày là do mọi việc từ bầu ban lãnh đạo, các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các dự ánđầu tư, kiểm soát tài chính của công ty đều được làm chặt chẽ công khai và dân chủ.Hay nói cách khác quản lý tài chính của công ty về các hoạt động sản xuất kinhdoanh được nâng cao hơn trước khi cổ phần hóa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nói trên thì quản lý tài chính củacông ty còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn như: quy trình quản lý tài chính,phương thức quản lý, các công cụ quản lý…., nhằm mục đích đem lại hiệu quả ngàycàng cao hơn cho công ty Đây cũng chính là những vấn đề cần đặt ra và cần phảigiải quyết đối với các công ty cổ phần giống như Công ty CP Sản xuất Xuất nhậpkhẩu Dệt may
Nhằm góp phần nhỏ bé và giải quyết những vấn đề trên, em mạnh dạn chọn
đề tài làm Luận văn tốt nghiệp : “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hoàn thiện quản lý tài chính ở doanh nghiệp đã có một số đề tàinghiên cứu cụ thể như:
- Phạm Minh Đức, Bàn về đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở Tổng công Ty
Dầu khí Việt Nam, tạp trí công nghiệp, bài đăng 29/11/2004.
Bài viết bàn về vấn đề đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở Tổng công ty DầuKhí Việt Nam Trong đó, vấn đề được đề cập là hạn chế của quyền chủ động vốnđầu tư của tổng công ty bên cạnh đó cơ chế đầu tư chưa thực sự rõ ràng do các đơn
vị cấp dưới chưa thực sự được chủ động về vốn đầu tư Tác giả còn phân tích thựctrạng tài chính và tiềm lực tài chính của công ty qua đó đề ra những giải pháp đổimới cơ chế tài chính trong đó có đổi mới về nâng cao tính tự chủ cho các đơn vịthành viên, các biện pháp hoàn thiện chế tài tài chính và hệ thống kiểm soát quản trịcủa Tổng công ty dầu khí Việt Nam
Bài viết đã nhận định được những thiếu sót trong quá trình chuyển đổi cơ chếquản lý theo quy định của nhà nước của công ty Dầu Khí Việt Nam qua đó đề xuất
Trang 20được những biện pháp giúp cơ chế mới được thực hiện đúng theo bản chất của cơ
chế tài chính mới của nhà nước.
- Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Kế toán,
ngày 5/6/2006
Trong bài viết, tác giả đã phân tích nguyên nhân về cơ chế tài chính khiếncác doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả Nguyên nhân hàng đầu là dodoanh nghiệp nhà nước còn phụ thuộc tài chính vào nhà nước mà thiếu tính chủđộng Bài viết phân tích chi tiết khía cạnh về sở hữu và quyền với vốn, tài sản, lợinhuận của các doanh nghiệp nhà nước.Dựa trên phân tích đó, bài viết đưa ra một cơchế mới về quản lý tài chính của các doanh nghiệp nhà nước Cơ chế này tăng tínhnăng động và chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước để tăng tính hiệuquả của các doanh nghiệp này
Bài viết đã chỉ ra được tính tất yếu của việc đổi mới cơ chế tài chính của cácdoanh nghiệp nhà nước trong thời buổi kinh tế thị trường góp phần xây dựng nềnkinh tế thị trường theo định hướng của nhà nước Việt Nam
- Nguyễn Anh Thư, xây dựng cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty Bưu
Chính Viễn Thông Việt Nam, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, năm 2006.
Bài nghiên cứu về Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Bưu Chính ViễnThông Việt Nam (tên viết tắt là VPN) Trong đó bao gồm hai nội dung chính đó là
+ Cơ chế quản lý tài chính của VNP đối với các đơn vị thành viên
+ Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với VNP
Bài viết chỉ ra được những bất cập về cơ chế quản lý vốn của Tổng Công tyvới các công ty con trong những giai đoạn trước đây trong việc phân cấp và quản lývốn Bài viết trình bày về sự chuyển đổi cơ chế chủ sở hữu vốn của tổng công ty vàcác công ty con trong đó nói rõ sự thay đổi cách thức liên kết vốn kéo theo thay đổitrình tự và cách thức liên kết lợi nhuận Trên cơ sở phân tích về cơ chế quản lý mới,bài viết đề xuất hai phương án với nhà nước trên hai khía cạnh VNP là đơn vị kinhdoanh và VNP là đơn vị công ích Bài viết đã phân tích và chỉ ra những ưu điểm của
Trang 21cơ chế mới tuy nhiên do giới hạn về mặt thực tiễn (cơ chế trên mới được ban hành)nên chưa nhìn ra được nhược điểm của cơ chế này.
- Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giaothông 8 theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con- Luận văn Thạc sỹ Trần Vĩnh Hưng
- Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu
tư nước ngoài ngành viễn thông.( Lấy ví dụ ở Công ty TNHH các hệ thống viễnthông VNPT-FUJITSU)
Về mặt lý luận đề tài đã khái quát hóa một số lý luận chung về cơ sở lý luận
và kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liêndoanh có vốn đầu tư nước ngoài
Về thực tiễn đề tài đã phân tích, đánh giá khách quan và khoa học thực trạngcơchế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU;rút ra các kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế cơ chế quản
lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU.Đề xuấtmột số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các
hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống cơ sở
lý luận và thực tiễn thực hiện việc hoàn thiện quản lý tài chính ở một doanhnghiệp.Vì vậy đề tài vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty
CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháphoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
- Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuất Xuất nhậpkhẩu Dệt may, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
Trang 22- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công
ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính tại Công ty
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Phạm vi về không gian: Quản lý tài chính tại Công ty CP Sản xuấtXuất nhập khẩu Dệt may
4.2.2 Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý tài chính tại Công
ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may giai đoạn từ năm 2012-2016, đề xuất giảipháp đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận : Luận văn tiếp cận từ tài chính tại doanh nghiệp dệt
may, từ đó luận giải nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính tại doanh nghiệpdệt may
Để đảm bảo logic, Luận văn lấy nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp
dệt may để xây dựng mạch phát triển
- Phương pháp luận : Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Quan sát cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, các văn bản chế độ, các quy chếnội bộ, so sánh số liệu thực tế với kế hoạch tài chính, với các định mức kinh tế - kỹthuật, giữa các năm, so sánh giữa thực tế và chuẩn mực…
Trang 236 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã khái quát hóa và làm rõ các vấn đề cơ bản về quản lý tài chínhtại doanh nghiệp dệt may thông qua việc phân tích, làm rõ quan niệm, nội dung vànhững nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công
ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may
Trang 24CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM VỀ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP DỆT MAY
1.1 Tài chính doanh nghiệp dệt may: Khái niệm, đặc điểm và vai trò
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp dệt may
Doanh nghiệp là các đơn vị chủ thể kinh tế độc lập được thành lập theo quiđịnh của pháp luật nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinhdoanh theo mục đích sinh lời Doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp hoạt động sảnxuất kinh doanh chính trong ngành hàng dệt may, là một trong những ngành chủ đạocủa công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm,vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng maymặc đến tay người tiêu dùng Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng,cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành đem lại thặng dưxuất khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm; tăng phúc lợi xã hội
Tài chính là một phạm trù kinh tế Sự ra đời và phát triển của tài chính gắnliền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ Tài chính còn là mộtphạm trù giá trị tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá, là khái niệm dùng để chỉ nhữngquan hệ kinh tế nẩy sinh trong phân phối và chi dùng những của cải bằng tiền giữa conngười với nhau, bao gồm quan hệ giữa pháp nhân với pháp nhân , quan hệ giữa phápnhân với thể nhân, thể nhân với thể nhân
Hay ta có thể hiểu, tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằmđáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sựvận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông quaviệc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính trongnền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tếhàng hóa tiền tệ Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệpnào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết và quan trọng.Quá
Trang 25trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là quá trình hình thành,phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ.Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệgắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như mọihoạt động khác của doanh nghiệp.Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền tệ đến và rakhỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanhnghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủyếu bao gồm:
Thứ nhất, quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đốivới Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
Thứ hai, quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Đây là mối quan hệ cơ bản và quan trọng của doanh nghiệp, quan hệ nàyđược thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ.Nguồn vốnkinh doanh là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.Thông quathị trường tài chính doanh nghiệp có thể vay vốn để đáp ứng các nhu cầu về vốn.Các doanh nghiệp có thể tạo được các nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành cácgiấy tờ có giá trị như: chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu… Bên cạnh đó, doanhnghiệp cũng có thể tiến hành kinh doanh những mặt hàng này trên thị trường tàichính để thu lợi nhuận
Thứ ba, quan hệ giữa doanh nghiệp và các thị trường khác
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệpkhác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường hàng hóa sức lao động Đây lànhững thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhàxưởng, tìm kiếm lao động v.v… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanhnghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng.Trên
cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thịnhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
Thứ tư, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và
Trang 26người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữuvốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanhnghiệp như: chính sách cổ tức ( phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách
về cơ cấu vốn, chi phí…
Như vậy, tài chính doanh nghiệp dệt may là một hệ thống các quan hệ kinh
tế dưới hình thái giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.2 Đặc điểm tài chính doanh nghiệp dệt may
Tài chính của doanh nghiệp dệt may cũng có những đặc điểm của tài chínhdoanh nghiệp Đó là :
Thứ nhất, hoạt động tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần đến vốn, muốn sản xuất rasản phẩm doanh nghiệp phải bỏ vốn ra để mua nguyên vật liệu, để trả lương chongười lao động, chi trả tiền điện nước….ngoài ra còn phải đầu tư mua trang thiết bị,nhà xưởng mới có thể sản xuất ra sản phẩm bán ra thị trường Muốn bán được sảnphẩm thì doanh nghiệp lại phải tổ chức bộ phận bán hàng, đầu tư cửa hàng, chi phítiếp thị, quảng cáo, chi phí bảo quản hàng hóa…Mà tài chính doanh nghiệp suy chocùng chính là tiền, là vốn của doanh nghiệp, bởi vậy hoạt động tài chính doanhnghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Thứ hai, hoạt động tài chính doanh nghiệp bị chi phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp.
Nói đến vốn là chúng ta nói đến sở hữu vốn, vốn đó là vốn tự có của doanhnghiệp hay vốn góp của các cổ đông, hay là vốn vay…Tức là vốn luôn thuộc sở hữucủa người nào đó Sở hữu vốn luôn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh,một người nào đó bỏ vốn ra bao giờ cũng phải tính đến lợi ích mang lại cho họ là gì,
có thể là lợi nhuận cao, có thể hoạt động xã hội, từ thiện…Người nào bỏ vốn nhiềunhất người đó sẽ chi phối nhiều nhất vào quá trình sử dụng vốn vào SXKD Chính
Trang 27vì vậy ta có thể nói hoạt động tài chính doanh nghiệp bị chi phối bởi tính chất sởhữu vốn trong mỗi doanh nghiệp.
Thứ ba, hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận.
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục đích khác nhau nhưngsuy cho cùng mục đích bao trùm cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.Bất kỳ mộtquyết định đầu tư tài chính, đầu tư vốn nào đều được doanh nghiệp tính toánkhông được lỗ, phải thu hồi vốn nhanh và thu được lợi nhuận lớn nhất Cho nênchúng ta thường thấy nhà đầu tư sẽ bỏ vốn nhiều nhất trong các lĩnh vực đem lạilợi nhuận cao, bỏ vốn ít vào các lĩnh vực khó thu hồi vốn, thu lợi nhuận thấp và
thậm chí không tham gia đầu tư Chính vì vậy có thể nói,hoạt động của tài chính
doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận
Ngoài ra tài chính doanh nghiệp dệt may cũng có những đặc thù:
Thứ nhất, tài chính doanh nghiệp dệt may chịu ảnh hưởng lớn bởi công tác quản lý vốn lưu động.
Ngành công nghiệp Dệt May có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có điềukiện mở rộng thương mại quốc tế và mang lại nhiều nguồn thu cho đất nước Mặthàng của ngành dệt may rất đa dạng phong phú nhưng đều chung một đặc điểm
là quy trình sản xuất ngắn, có tính chất mùa vụ và sử dụng nhiều nhân công dẫntới tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh Việc quản lý vốn lưu động là để đảmbảo rằng công ty có thể tiếp tục các hoạt động của nó và đáp ứng đủ dòng tiềncho trả nợ trong ngắn hạn và các chi phí hoạt động sắp tới như chi phí để đầu tưcho nguyên vật liệu, chi phí sản xuất kinh doanh chung và trả tiền công chongười lao động Việc quản lý vốn lưu động bao gồm việc quản lý tiền mặt đápứng chi phí ngày qua ngày, quản lý hàng tồn kho, quản lý công nợ phải thu vàcác khoản tài chính ngắn hạn khác Vì vậy, có thể nói tài chính doanh nghiệp dệtmay chịu ảnh hưởng lớn bởi công tác quản lý vốn lưu động
Thứ hai, tài chính doanh nghiệp dệt may có cơ cấu chi phí cho khấu hao tài sản cố định, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh lớn.
Trang 28Hao mòn tài sản cố định là hiện tượng khách quan và tại mỗi thời điểmtrong cuộc đời hữu dụng của tài sản cố định việc xác định mức độ hao mòn làkhá khó khăn Tuy nhiên, thông qua hình thức trích khấu hao sẽ cho phép doanhnghiệp phản ánh giá trị thực của tài sản cố định Tiền khấu hao là một yếu tố củachi phí sản xuất kinh doanh, do đó nó cũng là một bộ phận của giá thành sảnphẩm Khi sản phẩm được tiêu thụ, tiền khấu hao được để lại hình thành quỹkhấu hao, dùng để tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định như việc đổi mới, mua sắmmới tài sản cố định, sửa chữa thay thế các chi tiết của tài sản cố định nhằm khôiphục duy trì và nâng cấp năng lực sản xuất của chúng.
Ngành dệt may ngoài việc sử dụng nhiều nhân công cho sản xuất kinhdoanh còn có tốc độ hao mòn tài sản cố định, máy móc thiết bị nhanh Do chutrình sản xuất ngắn lại có tính chất mùa vụ, tài sản cố định, máy móc thiết bịtrong ngành dệt may thường được sử dụng với tần suất cao để đảm bảo thời giangiao hàng cho khách hàng dẫn tới tuổi thọ và niên hạn sử dụng còn lại giảmnhanh Trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tế thị trường đang phát triểnmạnh cạnh tranh trên thị trường diễn ra hết sức khốc liệt Một trong những biệnpháp là tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chấtlượng mẫu mã sản phẩm là đổi mới công nghệ trang thiết bị máy móc Chính vìvậy, có thể nói khấu hao tài sản cố định có ảnh hưởng lớn đến quản lý tài chínhtại doanh nghiệp dệt may nói riêng và sự phát triển của doanh nghiệp nói chung
1.1.3 Vai trò của tài chính đối với doanh nghiệp dệt may
Tài chính doanh nghiệp dệt may là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quantrong nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ Sự vận động của nó một mặt phải tuân theonhững quy luật kinh tế khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp là các quan
hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanhnên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu chi phối bởi các mục tiêu và phươnghướng kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp Nhưng đến lượt mình, tài chínhdoanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh
Trang 29doanh Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp được xem là một trong những công
cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh
Vai trò của tài chính doanh nghiệp dệt may được biểu hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất, huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Sự hoạt động của quy luật cung cầu rất mạnh mẽ.Ở đâu, ở lĩnh vực nào cónhu cầu thì ở đó sẽ có nguồn cung cấp.Vì vậy, khi các doanh nghiệp có nhu cầu vốnthì tất yếu thị trường vốn sẽ được hình thành với những hình thức đa dạng của nó.Vấn đề là ở chỗ người quản lý phải xác định chính xác nhu cầu vốn, cân nhắc lựachọn các hình thức, phương pháp thích hợp để khai thác thu hút vốn, sử dụng cáccông cụ đòn bẩy kinh tế như lãi suất vay, cổ tức khi phát hành trái phiếu, cổ phiếunhằm khai thác huy động vốn, lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả, linh hoạt sửdụng các nguồn vốn, đảm bảo khả năng thanh toán chi trả… Đó chính là việc khaithác các chức năng phân phối và giám đốc tài chính để nâng cao vai trò của tàichính doanh nghiệp trong việc tạo lập, khai thác, huy động vốn phục vụ cho cácmục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai, tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
Việc khai thác, huy động vốn, việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quảđược coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Đã đặt ra trước mọidoanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt: sản xuất không thể với bất kỳ giánào, phải bán được những hàng hóa, dịch vụ mà thị trường cần và chấp nhận đượcchứ không phải bán những gì mà mình có Trước sức ép nhiều mặt của thị trường đãbuộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả
Điều lưu ý ở đây là cần có sự phân biệt giữa chỉ tiêu lợi nhuận với chỉ tiêu hiệuquả kinh tế Nói chung, sự gia tăng hiệu quả kinh tế sẽ bao hàm cả yếu tố tăng chỉ tiêulợi nhuận Song ngược lại, có những trường hợp tăng chỉ tiêu lợi nhuận nhưng lạikhông có hiệu quả.Vì thế, hiệu quả kinh tế chỉ có thể có được khi vốn được sử dụng tiếtkiệm mà vẫn đảm bảo mức gia tăng lợi nhuận
Thứ ba, giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản
Trang 30xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các số liệu kế toán, các chỉtiêu tài chính như hệ số kế toán, hiệu quả sử dụng vốn, hệ số sinh lời, cơ cấu cácnguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn… người quản lý có thể dễ dàng nhậnbiết thực trạng tốt xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Với khảnăng đó, người quản lý có thể kịp thời phát hiện các khuyết tật và các nguyên nhâncủa nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm đạt các mực tiêu đã được dự định
Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý cần tổchức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựng hệ thống các chỉtiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế củadoanh nghiệp
1.2 Quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
1.2.1 Quan niệm, mục tiêu và sự cần thiết quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may.
1.2.1.1 Quan niệm quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may.
Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản
lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Quản lý tài chính doanh nghiệp hiểu một cách đơn giản là công tác quản lýcác vấn đề trong doanh nghiệp có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các biệnpháp đảm bảo sự cân đối, hài hòa các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp nhằmđảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt năng suất, chất lượng
và hiệu quả ngày càng cao
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tàichính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tàichính của doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, phát triển ổn định, khôngngừng gia tăng giá trị của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình
Trang 31của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra cácquyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảocác quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tàichính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theomột cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc quản lý làm cách nào để huy động vốnnhanh và ổn định nhất, phân phối và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợinhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạtđộng của doanh nghiệp phát triển ổn định.
Như vậy có nhiều quan niệm về quản lý tài chính doanh nghiệp Trong luận vănnày tác giả đưa ra quan niệm về quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may như sau:
Quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may là quản lý việc thu hút, phân bổ
và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp dệt may nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.
1.2.1.2 Mục tiêu quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
Thứ nhất, quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh thất thoát.
Mỗi doanh nghiệp dệt may đều có những mục tiêu khác nhau trong từng
thời kỳ phát triển Nhưng mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị cho nhữngngười chủ sở hữu doanh nghiệp Muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì doanh
nghiệp dệt may phải áp dụng quản lý tài chính tối ưu nhằm khai thác nguồn lực
vốn một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi, lãng phí, sử dụng vốn đúng mục
đích, tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp dệt may phải xác định được thời điểm
bỏ vốn, quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất
từ đó sẽ tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Đồng thời quản lý tài chính tốt sẽ giúp
doanh nghiệp dệt may có chiến lược sản xuất kinh doanh, có kế hoạch quản lý
phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý và quan trọng là phải luôn huy động, đầu
tư thêm để mở rộng qui mô sản xuất và lĩnh vực hoạt động, từ đó tăng thêmnguồn thu và tăng giá trị doanh nghiệp Như vậy, quản lý tài chính là nhằm đạtđược mục tiêu tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh thất thoát từ đó giúp doanh
Trang 32nghiệp dệt may tối đa hóa giá trị.
Thứ hai, quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may nhằm sử dụng vốn đúng mục đích.
Ngoài mục tiêu nói trên, quản lý tài chính doanh nghiệp dệt may còn nhằm mục
tiêu sử dụng vốn đúng mục đích Nếu sử dụng sai mục đích thì dẫn đến đảo lộn kếhoạch vốn của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn và thậm chí thiếu vốn chomột số mục đích quan trọng.Ví dụ như khi chúng ta phân bổ vốn cố định nhưng doanhnghiệp lại chi dùng cho vốn lưu động thì sẽ dẫn đến hụt vốn cố định không thanh toán
đủ cho việc mua sắm trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn tài sản ảnhhưởng đến tiến độ đầu tư, tiến độ hình thành tài sản cố định doanh nghiệp, làm giảmnăng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất kinhdoanh Hay khi dùng vốn lưu động chi trả các khoản chi vốn cố định thì sẽ hụt vốn lưuđộng, dẫn đến thiếu vốn để trả tiền lương cho người lao động, mua nguyên liệu vậtliệu, mua hàng hóa, chi trả mua dịch vụ ngoài….phục vụ thường xuyên cho sản xuấtkinh doanh, làm cho sản xuất kinh doanh bị chậm, đình trệ, sản phầm làm ra khôngđúng kế hoạch, không đủ số lượng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh Hoặc khi chúng ta sử dụng vốn đúng mục đích của các quỹ sẽ đem lại hiệu quảcao không những trong sản xuất kinh doanh mà còn hiệu quả gia tăng trách nhiệm xãhội của doanh nghiệp Đó là khi dùng đúng mục đích khen thưởng thì sẽ giúp kíchthích, phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, làm cho năng suất lao động tăng,đẩy nhanh tiến độ công việc, rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm, giảm giá thànhsản phẩm dẫn đến hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, tăng giá trị doanh nghiệp.Khi chi đúng mục đích quỹ phúc lợi như chi các khoản trợ cấp khó khăn, chi nghỉ mát,chi các phong trào văn thể cho người lao động, cũng là quan tâm đến người lao độngđồng thời gia tăng trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp…
1.2.1.3 Sự cần thiết quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
Tài chính của doanh nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng đối với tất cả cáchoạt động của doanh nghiệp Do vậy, nếu hoàn thiện quản lý tài chính tốt thì hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng thu được hiệu quả cao Trong điều
Trang 33kiện hiện nay ở Việt Nam, cơ chế thị trường đang được hình thành, sức cạnh tranhcao.Vì thế để tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tối
đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp tất yếu phải chú trọnghoàn thiện quản lý tàichính doanh nghiệp mình Đây là một đòi hỏi tất yếu khách quan Đòi hỏi tất yếukhách quan này được xuất phát từ những yêu cầu sau:
Thứ nhất, do yêu cầu phát triển bền vững sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dệt may
Hiện nay các doanh nghiệp rất cần thiết phải phát triển bền vững đó là sựphát triển mọi mặt trong hiện tại mà vẫn bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tươnglai xa của doanh nghiệp Các doanh nghiệp khi đưa ra các quyết định tài chính vớimục đích bao trùm là tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận nhưng không vì lợiích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài Có thể lúc này doanh nghiệp đang có lợithế lớn nên tăng giá cao để bán hàng vẫn được khách hàng tuy không bằng lòngnhưng vẫn chấp nhận mua, nhưng khi các đối thủ cạnh tranh củng cố lại chiến lượckinh doanh, xây dựng được mức giá hợp lý, chất lượng đảm bảo thì lập tức doanhnghiệp sẽ mất khách hàng, doanh thu và lợi nhuận sẽ giảm theo
Nếu như doanh nghiệp dệt may đưa ra quyết định tài chính đúng đắn, huy động
vốn kịp thời, đầy đủ; lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp
sẽ giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, từ đó sẽ góp phần tăng lợi nhuận; có biện pháphuy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tránh được thiệthại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiềntrả lãi….; quản lý tài chính làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh thất thoátlàm giảm giáthành sản phẩm giúp cho doanh nghiệp xây dựng được mức giá bán hợp lý mà vẫnđảm bảo có lãi, điều này làm tăng uy tín doanh nghiệp, thu hút được khách hàng Trên
cơ sở đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phát triển bền vững
Thứ hai, do yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may trong nền kinh tế thị trường.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may, thực chất là nângcao quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật, quản lý và
Trang 34thương mại của doanh nghiệp Có nhiều biện pháp làm tăng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, trong đó có biện pháp tài chính Doanh nghiệp dệt may không thể
chiến thắng trong cạnh tranh nếu nguồn lực tài chính yếu và bị động Chiến lược tàichính là một trong những chiến lược chức năng quan trọng nhất để thực hiện chiếnlược cạnh tranh của doanh nghiệp Để có chiến lược tài chính hiệu quả thì doanhnghiệp phải hoàn thiện quản lý tài chính để kiểm soát được chiến lược tài chính đó
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, vai trò của tài chính ngày càng trởnên quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dệt may
Chỉ có doanh nghiệp dệt may nào có nền tài chính ổn định và mạnh mới có thể tồn
tại và thắng thế trong cạnh tranh.Trong thị trường tài chính, các công cụ tài chính đểhuy động vốn ngày càng phong phú và đa dạng Chính vì vậy, các quyết định huyđộng vốn, quyết định đầu tư của nhà quản lý ảnh hưởng ngày càng lớn đến tình hìnhhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi các nhà quản lýphải nắm bắt tốt các công cụ tài chính phù hợp, qua đó có thể kiểm soát và chỉ đạocác hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng những tồn tại vànhững tiềm năng cần được khai thác để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
Gắn liền với quá trình toàn cầu hóa là sự hội nhập kinh tế của các nước vàonền kinh tế quốc tế Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ
và sâu rộng đã trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế Hội nhập kinh tế mang lạinhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức buộc các doanh nghiệp dệt may phải luôn
Trang 35tìm ra các giải pháp để nâng cao hoạt động kinh doanh cũng như khả năng cạnhtranh của mình.Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp dệt may cóthể mở rộng thị trường ra các nước khác trong khu vực và trên thế giới Chính vìvậy, quản lý tài chính của các doanh nghiệp dệt may nhằm nâng cao hoạt động kinhdoanh cũng như khả năng cạnh tranh của mình
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp dệt may
1.2.2.1 Quản lý thu
Thứ nhất, quản lý thu từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, là nguồn thu
quan trọng và chủ yếu để bù đắp các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra đểphục vụ quá trình sản xuất kinh doanh: để thanh toán tiền lương, tiền công và tiềnthưởng phải trả cho người lao động, thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảohiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn và các khoản chi làm nghĩa vụ tài chính choNhà nước như: các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật
Thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu
được từ các giao dịch như bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ…bao gồm cả các khoảnphụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán, các khoản trợ giá theo quy định của nhànước đối với một số hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ được nhà nước cho phép Tiền thubán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi doanh nghiệp đã chuyển giao phầnlớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quỳên sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngườimua, doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý kiểm soát hàng hóa đó và khi
đã xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Để có được nguồn thu quan trong này doanh nghiệp phải định hình mìnhtrong chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 36Sơ đồ 1.1: Chuỗi giá trị ngành Dệt may
Chuỗi giá trị là tập hợp các giá trị được tạo ra từ các giai đoạn của quá trìnhsản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, từ khâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, cungcấp đầu vào, sản xuất, marketing và phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng Nếumột chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra qua nhiều nước trên phạm vitoàn cầu thì chuỗi giá trị đó được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu
Ngành dệt may là một minh họa kinh điển của chuỗi giá trị do người muaquyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt độngsản xuất thường được tiến hành ở nhiều nước Trong đó các nhà sản xuất vớithương hiệu nổi tiếng, các nhà buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trongviệc thiết lập mạng lưới sản xuất và định hình việc tiêu thụ hàng loạt thông qua cácthương hiệu mạnh và sự phụ thuộc của chúng vào những chiến lược thuê gia côngtoàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu này
Thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp dệt may có thể phânthành 2 nguồn:
Trang 37Một là, thu từ xuất khẩu các sản phẩm dệt may
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế Nókhông phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bántrong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm,hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ.Xuất khẩu hàng hoá nằmtrong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mởrộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác
Hai là, thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ trong nước như:
Nhập khẩu các mặt hàng Bông, xơ, sợi, vải, máy móc thiết bị phụ liệu ngànhdệt may cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp trong nước Hoạt động này chiếmdụng vốn lớn của doanh nghiệp, cần chú trọng đến thời gian thanh toán, phươngthức giao hàng trong hợp đồng ngoại thương cũng như trong hợp đồng với cácdoanh nghiệp trong nước
Sản xuất hoặc gia công các sản phẩm may mặc cung cấp cho doanh nghiệpkhác hoặc bán lẻ ra thị trường qua các kênh phân phối Cần chú trọng đến khâu thiết
kế mẫu mã sản phẩm tránh hàng tồn kho
Thứ hai, thu do hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: lãi tiền gửi ngân
hàng, lãi từ chênh lệch tỷ giá, lãi từ việc đầu tư vốn ra ngoài Công ty, lãi từ kinhdoanh chứng khoán: Trong quá trình hoạt động SXKD, có những thời điểm, nguồnvốn của doanh chưa cần dùng đến sẽ được doanh nghiệp gửi vào ngân hàng để pháthuy hiệu quả của vốn nhàn rỗi Đối với những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu thì nguồn thu từ chênh lệch tỷ giá do bán ngoại tệ cũng là một nguồn thu đáng
kể Ngoài ra, doanh nghiệp có thể đầu tư, góp vốn với các doanh nghiệp khác đểkinh doanh, hàng năm, căn cứ vào hiệu quả SXKD, doanh nghiệp sẽ được trả lợinhuận theo tỷ lệ vốn góp đầu tư kinh doanh với doanh nghiệp khác Doanh nghiệpcũng có thể có nguồn thu từ việc đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Thứ ba, thu do cho thuê tài sản hoặc chuyển nhượng cơ sở hạ tầng: Nhiều
doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa từ công ty nhà nước sở hữu nhiều tài sản cố định
Trang 38như đất đai, nhà xưởng, cơ sở vật chất chưa đưa vào sản xuất có thể cho các doanhnghiệp hoặc cá nhân thuê hoặc chuyển nhượng để thu tiền từ hoạt động này Đây lànguồn thu thường xuyên và tương đối quan trọng đối với doanh nghiệp.
Thứ tư, các khoản thu khác của doanh nghiệp như thu bán hàng hóa, sản
phẩm khác, thu do nhượng bán, thanh lý tài sản cố định công cụ dụng cụ, thu tiềnbảo hiểm do các tổ chức bồi thường khi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, thu tiềnphạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế…
1.2.2.2 Quản lý phân bổ nguồn thu vào các quỹ tại doanh nghiệp dệt may
Doanh nghiệp dệt may thực hiện phân bổ tài chính theo các định mức kinh tế
-kỹ thuật của doanh nghiệp ban hành và quy chế quản lý tài chính, quy chế chi tiêu nội
bộ của doanh nghiệp Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính với mục tiêu đủ cânđối thu chi, chi trả cổ tức hàng năm, trích lập đủ 2 quỹ khen thưởng phúc lợi và phânphối lợi nhuận cho năm sau
Trong doanh nghiệp bao gồm các quỹ sau:
Thứ nhất, quỹ chi thường xuyên Quỹ này gồm:
Một là, quỹ tiền lương:Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền
lương của doanh nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý
và sử dụng Thành phần quỹ lương bao gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả chongười lao động trong thời gian thực tế làm việc ( theo thời gian, theo sản phẩm ) vàcác khoản đóng góp (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phícông đoàn)
Tiền lương chính: Là tiền Lương trả cho người lao động trong thời gian làmnhiệm vụ chính đã được quy định, bao gồm: tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấpthường xuyên và tiền thưởng trong sản xuất
Tiền lương phụ : Là tiền lương phải trả cho người lao động trong thời giankhông làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định nhưtiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ phép, thời gian đi làm nghĩa
vụ xã hội, hội họp, đi học, tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừngsản xuất
Trang 39Các khoản đóng góp: Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ dùng để trợ cấp cho ngườilao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng laođộng như ốm đau, thai sản, tai nan lao động, hưu trí, mất sức Quỹ bảo hiểm y tếđược sử dụng để trợ cấp cho những người tham gia đóng góp quỹ trong các hoạtđộng khám chữa bệnh Kinh phí công đoàn là nguồn tài trợ cho hoạt động côngđoàn ở các cấp.
Quỹ tiền lương nhằm đảm bảo cuộc sống cho cán bộ, người lao động ở mứctối thiểu góp phần tái sản xuất sức lao động của cán bộ, người lao động
Theo quy định mới hiện nay ,Nhà nước không trực tiếp quản lý tổng quỹlương của doanh nghiệp ,doanh nghiệp tự xây dựng quỹ lương của mình:
Hai là, quỹ chi hoạt động sản xuất chung của doanh nghiệp
Quỹ này được dùng để thanh toán chi phí nguyên vật liệu sản xuất, chi phíchung phục vụ sản xuất, khấu hao TSCĐ, sửa chữa thường xuyên TSCĐ, nộp thuếmôn bài, tiền thuê đất
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu,nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản… mà doanh nghiệp
sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ giá trị khấu hao phải trích của cácTSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp
- Chi phí phục vụ sản xuất chung: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả
về các dịch vụ như: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Ngoài ra hàng năm doanh nghiệp còn phải nộp cho nhà nước như thuế mônbài, tiền thuê đất, thuế đất
Ba là, quỹ chi quản lý doanh nghiệp
Quỹ này dùng để chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi vật tư văn phòngphẩm, đàm thoại, báo chí, điện nước, chi công tác phí, ăn ca, chi các khoản đặc thù,phục vụ công tác chuyên môn, hội nghị, tiếp tân, tiếp khách, chi hoạt động tiếp thị,quảng cáo
Trang 40Thứ hai, quỹ chi không thường xuyên.
Ngoài kinh phí dùng để chi thường xuyên, hàng năm doanh nghiệp bố tríkinh phí không thường xuyên phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Mua sắm sửa chữa lớn TSCĐ phục vụ sản xuất kinh doanh; Kinh phí đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, người lao động Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khôngthường xuyên khác…
Thứ ba, quỹ khen thưởng phúc lợi.
Căn cứ vào lợi nhuận thực hiện trong năm của công ty bao gồm: chênh lệchdoanh thu từ việc bán sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ với tổng giá thànhtoàn bộ sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ hoặc chi phí dịch vụ hàng hóa tiêu thụ phátsinh trong kỳ , chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt độngtài chính và các khoản thu nhập khác Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế vàcác nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, đã thanh toán đủ các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả, Hội đồng quản trị quyết định việc phânphối lợi nhuận và trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi theo tỷ lệ nhất định phù hợptrong từng giai đoạn phát triển của công ty
Quỹ khen thưởng để chi khen thưởng hoàn thành kế hoạch SXKD, thưởngcác phong trào thi đua, thưởng đột xuất khác cho cán bộ, người lao động Quỹ phúclợi để chi tham quan nghỉ mát, chi hỗ trợ cán bộ người lao động, chi hoạt động vănhóa, văn nghệ, chi mua sắm, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội
1.2.2.3 Quản lý sử dụng các quỹ tài chính tại doanh nghiệp dệt may
Doanh nghiệp dệt may vận dụng các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành để
thực hiện các nhiệm vụ, nhưng không được vượt quá mức chi tối đa do cơ quannhà nước có thẩm quyền quy định Việc quyết định mức chi được quy định tại cácquyết định ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật do cơ quan quản lý Nhà nước
có thẩm quyền ban hành và theo Quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ củadoanh nghiệp và thực hiện quản lý giám sát chi tiêu theo Quy chế chi tiêu nội bộcủa doanh nghiệp