Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàiÝ nghĩa khoa học: Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ sở
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên: Đặng Quang Hà
Lớp cao học: 23QLXD13
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Tên đề tài luận văn: “Nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án ODA tạiBan quản lý dự án Đê điều Nghệ An”
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kếtquả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳmột nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Trong quá trình làm học viên có thamkhảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sự tin cậy và cấp thiết của đề tài.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệutham khảo đúng quy định
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Quang Hà
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫntận tình của PGS.TS Dương Đức Tiến và những ý kiến quý báu về chuyên môn củacác thầy cô giáo trong Khoa Công trình, bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, cáccán bộ tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An Đến nay, tác giả đã hoàn thành luậnvăn thạc sĩ với đề tài luận văn “Nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự ánODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An”, chuyên ngành Quản lý xây dựng.Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp trong Chi Cục Thủylợi Nghệ An nơi tác giả công tác, phòng Quản lý xây dựng công trình và các phòngban thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi hỗtrợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luậnvăn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và độngviên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để có thể hoàn thành luận vănnày
Do trình độ, kinh nghiệm cứu còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu ngắn nênLuận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Quang Hà
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP 5 1.1 Tình hình chung về hoạt động đấu thầu tại Việt Nam 5
1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển công tác đấu thầu ở Việt Nam 5
1.1.2 Thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua 8
1.2 Đánh giá chung về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp công trình ở Việt Nam 14 1.2.1 Những thành tựu đã đạt được 14
1.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 18
1.2.3 Kinh nghiệm về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp trên thế giới 28
1.3 Tình hình chung về đấu thầu xây lắp các dự án vốn ODA 35
1.3.1 Tình hình thực hiện đấu thầu xây lắp các dự án ODA trên thế giới 36
1.3.2 Tình hình thực hiện các dự án ODA ở Việt Nam trong thời gian qua 38
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP ĐỐI VỚI DỰ ÁN ODA 44
2.1 Nội dung và các quy định trong đấu thầu theo pháp luật Việt Nam 44
2.1.1 Về lựa chọn nhà thầu 44
2.1.2 Về các chủ thể liên quan đến hoạt động đấu thầu xây dựng 45
2.1.3 Về nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên lựa chọn nhà thầu 46
2.1.4 Về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp 46
2.1.5 Về ưu đãi trong đấu thầu 46
2.1.6 Về trời gian trong đấu thầu xây dựng 47
2.1.7 Về bảo đảm trong đấu thầu 47
2.1.8 Về ngôn ngữ và đồng tiền sử dụng trong đấu thầu 47
2.1.9 Về hợp đồng xây dựng 47
2.2 Các hình thức, phương thức đấu thầu xây lắp theo quy định của pháp luật Việt Nam 48
Trang 42.2.1 Các hình thức đấu thầu xây lắp, điều kiện áp dụng 48
2.2.2 Các phương thức đấu thầu xây lắp, điều kiện áp dụng 53
2.3 Các quy định về đấu thầu xây lắp các dự án sử dụng vốn ODA của nhà thài trợ WB 55
2.3.1 Các văn bản quy định về đấu thầu xây lắp của nhà tài trợ WB 55
2.3.2 Các phương pháp và thủ tục áp dụng trong đấu thầu xây lắp 56
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐÊ ĐIỀU NGHỆ AN 68
3.1 Giới thiệu khái quát về Ban Quản lý dự án Đê điều Nghệ An 68
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 68
3.1.2 Kết quả công tác quản lý dự án của Ban QLDA Đê điều Nghệ An những năm vừa qua 70 3.2 Thực trạng trong công tác đấu thầu các dự án vốn ODA tại Ban QLDA Đê điều Nghệ An 72
3.2.1 Kết quả thực hiện công tác đấu thầu những năm vừa qua 72
3.2.2 Phân tích quá trình thực hiện một số gói thầu xây lắp vốn ODA đã thực hiện73 3.2.3 Kết luận và đánh giá về đấu thầu xây lắp các dự ODA tại Ban 81
3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu xây lắp dự án vốn ODA tại Ban QLDA Đê điều Nghệ An 84
3.3.1 Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn đội ngũ thực hiện công tác đấu thầu thành lập tổ chuyên gia đấu thầu chuyên nghiệp của Ban 84
3.3.2 Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu để tăng cường tính cạnh tranh, công khai, minh bạch trong đấu thầu 86
3.3.3 Tăng cường công tác xét thầu đảm bảo lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực để thực hiện gói thầu 89
3.3.4 Tăng cường công tác quản lý sau đấu thầu 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Mức cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2006-2010 41
Hình 2.2: Sơ đồ các bước thực hiện NCB 57
Hình 2.3: Sơ đồ thực hiện chào hàng cạnh tranh 65
Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy Ban QLDA Đê điều Nghệ An 69
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung 9
Bảng 1.2: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầu 9
Bảng 1.3: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung 12
Bảng 1.4: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầu 13
Bảng 1.5: Mức cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA qua các giai đoạn 40
Bảng 1.6: Quy mô dự án trung bình theo các giai đoạn 41
Bảng 3.7: Bảng tiêu chuẩn đánh giá nhà thầu xây lắp .88
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
CĐT Chủ đầu tư CTXD Công trình xây dựng DADT Dự án đầu tư QLDA Quản lý dự án XDCB Xây dựng cơ bản XDCT Xây
MARD/Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
NHTG/WB Ngân hàng thế giới ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức PIA Cơ quan thực hiện dự án (bao gồm CPMU, PMO,
PPMUs)
RFP Hồ sơ mời thầu TDA Tiểu dự án UBND Ủy ban Nhân dân USD Đồng đô la Mỹ VNĐ Việt Nam đồng
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnhằm thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước là đưa nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp vào năm 2020, vì vậy trong những năm vừa qua, vốn đầu tư cho xâydựng cơ bản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP, bình quân từ 25-30% Với số vốnđầu tư rất lớn như vậy thì hàng năm có hàng nghìn dự án đầu tư xây dựng công trìnhđược triển khai
Thực tế ở nước ta, việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gianqua đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp, hệthống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, công trình văn hoá được xây dựng mới, cảitạo, mở rộng thời gian qua trên phạm vi cả nước là những minh chứng cụ thể chonhững thành tựu ấy
Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn cònnhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, đặc biệt là vấn đề chất lượngquản lý dự án đầu tư xây dựng công trình chưa cao trong đó có việc lựa chọn các nhàthầu đủ năng lực để thực hiện các gói thầu xây lắp Điều này được thể hiện trên thực tế
ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc đầu tư dàn trải vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, chất lượng công trình xây
dựng của không ít dự án còn thấp dẫn đến nhiều công trình mới xây dựng xong, chưa
sử dụng đã xuống cấp hoặc không sử dụng được
Thứ hai, chi phí đầu tư xây dựng công trình thường vượt tổng mức đầu tư, nhiều chi
phí phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng Đặc biệt là tình trạng lãng phí, thất thoátvốn đầu tư nhà nước xảy ra ở nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhànước, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, gây ra nhiều hậu quảkhông tốt về mặt kinh tế và xã hội
Trang 10Thứ ba, tình trạng nhiều dự án, nhiều công trình kéo dài thời gian do thiếu vốn, do
không giải phóng được mặt bằng vẫn diễn ra ở nhiều nơi kéo theo sự gia tăng chi phí
và giảm tính hiệu quả của dự án
Thứ tư, do công tác quản lý dự án trong giai đoạn thi công xây dựng công trình chưa
tốt, lựa chọn các nhà thầu không đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện các gói thầu lớndẫn tới công trình bị chậm tiến độ, chất lượng công trình hoàn thành chưa tốt
Nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước chưa được quản lý tốt
từ khi nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi đến khi đưa công trình vào khai thác,
sử dụng mà các phương tiện thông tin đại chúng đã chỉ ra thời gian qua là những minhchứng cụ thể phản ánh chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình còn nhiềuvấn đề tồn tại cần phải được nghiên cứu khắc phục
Trong các dự án đầu tư xây dựng công trình hiện nay, tác giả luận văn cho rằng cầnđặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình phục
vụ lợi ích công cộng thuộc chi phí công, nếu không quản lý chặt chẽ thường dễ đưađến lãng phí, thất thoát, sử dụng không có hiệu quả, làm tăng nợ công luỹ tiến đưa đếnmức vượt ngưỡng kiểm soát sẽ làm mất ổn định nền kinh tế và không đảm bảo an sinh
Trang 113 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Với những kết quả đạt được theo định hướng nghiên cứu lựa chọn đề tài sẽ góp phần
hệ thống hóa, cập nhật và dần hoàn thiện cơ sở lý luận về chất lượng công tác lựa chọnnhà thầu xây lắp trong các dự án đầu tư xây dựng công trình, các nhân tố ảnh hưởngđến chất lượng quản lý dự án giai đoạn đấu thầu xây lắp trong các Ban quản lý dự ánxây dựng Những kết quả nghiên cứu của luận văn đạt được sẽ là tài liệu tham khảohữu ích cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xâydựng công trình
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp của đề tài sẽ là tài liệutham khảo có giá trị thực tiễn trong việc tăng cường hơn nữa hiệu quả chất lượng quản
lý đấu thầu xây lắp dự án vốn ODA không chỉ cho Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ
An mà còn cho các Ban quản lý dự án hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng công tác lựa chọn các nhà thầu xây lắptrong các dự án ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được giới hạn nghiên cứu trong phạm vi sau:
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp các dự án
sử dụng vốn ODA tại Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác lựa chọn nhà thầu xâylắp dự án ODA của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An từ năm 2010 đến 2015 và đềxuất giải pháp quản lý đấu thầu cho giai đoạn tiếp theo
6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Trang 12Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin;
- Phương pháp kế thừa, áp dụng mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tinInternet nhưng có chọn lọc;
- Phương pháp thống kê, phân tích tính toán, tổng hợp số liệu;
- Phương pháp khảo sát thực tế;
- Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy như: Nghị định, Thông tư, Luật xây dựng của nhà nước; và các văn bản khác có liên quan;
- Phương pháp tiếp cận thông tin dự án
7 Kết quả dự kiến đạt được:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần phải nghiên cứu, giải quyết được những vấn đề sau:
Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đi sâu vào côngtác lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp dự án ODA
Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp
dự án ODA của Ban quản lý dự án Đê điều Nghệ An
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thinhằm nâng cao chất lượng công tác lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu xây lắp có sửdụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA và vốn vay WB)
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY LẮP
1.1 Tình hình chung về hoạt động đấu thầu tại Việt Nam
1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển công tác đấu thầu ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển đấu thầu ở nước ta gắn liền với quá trình phát triểncủa nền kinh tế Trước năm 1945, Việt Nam còn là nước thuộc địa, nền kinh tế và cácchính sách do chính phủ Pháp quản lý và chi phối Từ năm 1945 sau khi giành đượcđộc lập và thành lập nước, nền kinh tế của Việt Nam đã hình thành và bước đầu pháttriển, tuy nhiên từ 1946-1954 đất nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thời
kỳ này nền kinh tế còn ở trong giai đoạn sơ khai, chưa có cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế
và chưa có hoạt động đấu thầu
Giai đoạn 1954-1975: Trong giai đoạn này, kinh tế miền Bắc phát triển bình quân năm
là 6% (G D P đầu người bình quân năm tăng khoảng 3%) Do chiến tranh lan rộng ảnhhưởng rất lớn đến nền kinh tế Kinh tế trong thời gian này tập trung phục vụ cho chiếntrường với nhiệm vụ giải phóng đất nước Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung củanhà nước theo các kế hoạch kinh tế 5 năm, Nhà nước chỉ định cho các đơn vị thực hiệnxây lắp tuỳ theo kế hoạch mà Nhà nước đề ra hoặc căn cứ vào mối quan hệ giữa cácđơn vị đó với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không qua đấu thầu Với cơ chếnày, không tồn tại khái niệm cạnh tranh trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tếnói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng, từ đó tạo ra nhiều tiêu cực, sailầm gây thất thoát lớn cho xã hội
Giai đoạn 1976-1986: Đường lối kinh tế chủ đạo của thời kỳ này là g nghiệcôn p hóa xãhội
chủ nghĩa , xây dựng chế độ l à m chủ t ập thể xã hội c h ủ ng h ĩa của nhân dân laođộng Thời kỳ này được nhắc đến với danh từ "bao cấp" Nền kinh tế hoạt động theo cơchế tập trung kế hoạch hóa Nhà nước lên kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế, các xínghiệp nhà máy cứ theo kế hoạch nhà nước mà làm Thành phần kinh tế tư nhân bịcấm Nông dân làm việc trong các hợp tác xã Kinh tế giai đoạn này rất khó khăn, trì
Trang 14trệ và rơi vào khủng hoảng trầm trọng Trong thời gian này không có các hoạt độngđấu thầu trong nền kinh tế.
Từ năm 1986 đến nay: Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơchế thị trường, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bắt đầu được tạo điều kiệnphát triển Khái niệm cạnh tranh trở nên thông dụng, trong hoạt động đầu tư xây dựng,các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều bình đẳng trước phápluật, đều có cơ hội tham gia xây dựng các công trình ngang nhau nên giữa các doanhnghiệp luôn tồn tại sự cạnh tranh Nền kinh tế càng phát triển thì mức độ cạnh tranhcàng gay gắt Đứng trước thực tế đó, hoạt động đấu thầu đã xuất hiện và tạo ra môitrường cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp xây dựng có cơ hội được thể hiệnmình một cách tốt nhất Ở các nước phát triển, đấu thầu đã được áp dụng từ lâu vàmang lại hiệu quả to lớn, còn ở Việt Nam hình thức này còn rất mới Để tạo ra môitrường pháp lý nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổchức thực hiện, các văn bản có tính quy chế được xây dựng, bổ sung và sửa đổi ngàycàng hoànthiện
Hệ thống các văn bản của nhà nước đã ban hành chỉ đạo thực hiện công tác đấu thầutrong thời gian vừa qua:
- Trước những năm 1990, trong các văn bản quản lý đầu tư xây dựng đã xuất hiện “Quy chế đấu thầu trong xây dựng” nhưng chưa rõ ràng
- Năm 1990, Bộ xây dựng ban hành Quy chế đấu thầu trong xây dựng tại Quyếtđịnh số 24/BXD-VKT ngày 12/ 2/1990 Văn bản này được coi là Quy chế đấu thầu đầutiên, trong đó quy định tất cả công trình xây dựng nguồn vốn ngân sách và ngoài ngânsách và hợp tác xã đều phải thực hiện đấu thầu
- Tháng 3/1994- Bộ Xây dựng ban hành “ Quy chế đấu thầu xây lắp” tại Quyếtđịnh số 06/BXD-VKT thay cho Quyết định số 24/BXD-VKT Theo đó quy định tất cảcông trình xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước đều phải thực hiện đấu thầu
- Ngày 16/4/1994, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 183/TTg về Thành lậpHội đồng quốc gia xét chọn đơn vị trúng thầu các dự án đầu tư lớn Theo quyết địnhnày, các dự án dùng vốn Nhà nước (bao gồm Ngân sách cấp, vốn vay, vốn viện trợ,
Trang 15vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp) đều phải qua đấu thầu, kết quả đấu thầu có vốn đầu
tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu quốc gia thẩm định để trình Thủtướng Chính phủ xem xét và phê duyệt
- Năm 1996, Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định số
43/NĐ-CP ngày 16/7/1996 Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và phạm vi điều chỉnhrộng hơn, theo đó, “gói thầu” lần đầu tiên đã trở thành đối tượng quản lý của công tácđấu thầu Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ đã được thay thế bằng Nghị định số88/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định này đã được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định số14/NĐ-CP ngày 5/5/2000 Từ năm 1999 đến năm 2003, công tác đấu thầu được điềuchỉnh chủ yếu bằng Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ- CP, so với cơ chế
cũ thì nhiều vấn đề đã sáng tỏ hơn, phương pháp đánh giá để đấu thầu đã khoa học hơn,chuẩn mực hơn
- Năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/NĐ-CP ngày 12/6/2003 sửa đổi
bổ sung Nghị định số 88/NĐ-CP và Nghị định số 14/NĐ-CP Với 45% số điều bổ sungNghị định 88/CP và 13% số điều sửa đổi bổ sung, Nghị định 14/NĐ-CP đã tăng cườngtính cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong đấu thầu, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự
án, tăng cường một bước công tác thanh tra quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiệnhợp đồng, nâng cao công tác quản lý thông tin về đấu thầu và Nhà thầu
- Với những quy chế, quy định về Đấu thầu trong xây dựng được nói ở trên, vẫnchưa bao quát được hết được khối lượng công việc, tình huống xảy ra trong hoạt độngđấu thầu và trách nhiệm, biện pháp xử lý các tình huống xảy ra trong đấu thầu Ngày
29 tháng 11 năm 2005 tại kỳ họp Quốc hội khóa XI năm 2005 đã thống nhất ban hànhLuật đấu thầu là bước tiến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu, tạotiền đề cho hoạt động đấu thầu ngày càng phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu Cùngvới việc ban hành Luật đấu thầu, nhà nước cũng đã ban hành Nghị định 111/2006/NĐ-
CP ngày 29/9/2006, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/05/2008, Nghị định85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 về việc Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu
và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây
dựng
Trang 16- Để phù hợp tình hình thực tế ngày 19 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốchội khóa XII đã thông qua sửa đổi bổ sung Luật đấu thầu năm 2005.
- Tại kỳ họp thứ 6 ngày 26/11/2013 Quốc hội khóa XIII đã thống nhất ban hànhLuật đấu thầu số 43/2013/QH13 Theo đó, Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thihành từ ngày 01/7/2014 Luật này gồm 13 chương với 96 điều được xây dựng trên cơ
sở sửa đổi toàn diện Luật đấu thầu năm 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều củacác luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 Luật đấu thầu năm 2013 có
10 điểm mới căn bản là: Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đấu thầu; Quy địnhphương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu; Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trong nước;Mua sắm tập trung; Mua thuốc, vật tư y tế; Lựa chọn nhà đầu tư; Hợp đồng trong đấuthầu; Phân cấp trong đấu thầu; Giám sát về đấu thầu; Xử lý vi phạm pháp luật về đấuthầu
1.1.2 Thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua
1.1.2.1Giai đoạn trước khi có Luật Đấu thầu
Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nềnkinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Đây là một bướcngoặt trong quá trình phát triển kinh tế Sự ra đời của nhiều doanh nghiệp nhà nước và
tư nhân đã tạo nên môi trường kinh doanh cạnh tranh của nền kinh tế Các doanhnghiệp trong và ngoài nhà nước cùng nỗ lực để phát triển, hoàn thiện, nâng cao nănglực để khẳng định vị trí của mình trên thị trường nhằm tìm kiếm việc làm cho mình.Các dự án không còn được nhà nước giao cho một đơn vị thực hiện theo kế hoạch mà
có nhiều sự lựa chọn các cơ quan, đơn vị đủ điều kiện, năng lực thực hiện Đáp ứngnhu cầu đó nhà nước đã cho ra đời các quy định về đấu thầu, từ Quy chế đấu thầutrong xây dựng năm 1990 của Bộ xây dựng được xem là quy định đầu tiên về đấuthầu, sau đó là các văn bản quy phạm pháp luật khác về đấu thầu được ban hành đểphù hợp với tình hình phát triển kinh tế, sự ra đời của Luật đấu thầu năm 2005 là mộtbước tiến lớn về thống nhất và hoàn thiện các quy định rời rạc, tản mát về đấu thầuthành một luật riêng quy định về đấu thầu Trong thời gian đó Công tác đấu thầu đãđược triển khai và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ Kết quả đấu thầu theo đánhgiá chung như bảng 1.1
Trang 17Bảng 1.1: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chung
5.819,25
5.401,70
4.246,02Tổ
5.320,36
4.961,75
3.985,19
Tỉ
lệ % 13,84 14,00 10,29 8,57 8,14 6,14
Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –
Bộ Kế hoạch và Đầu tưNhận xét: Nhìn vào những số liệu tổng quát nhất về hoạt động đấu thầu của cơ quanquản lý nhà nước về đấu thầu (Vụ quản lý đấu thầu trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầutư), ta thấy tổng số gói thầu được thực hiện có sự tăng liên tục và rất nhanh từ năm
1994 đến năm 2002 nhưng lại có xu hướng giảm dần vào 2 năm tiếp theo 2003 và
2004 Trong khi đó tỉ lệ tiết kiệm thông qua đấu thầu qua các năm lại giảm liên tục vàđều đặn, đặc biệt là vào năm 2004 Những số liệu này giúp chúng ta thấy sự giảm sút
về cả số lượng và chất lượng của hoạt động đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian trướckhi có luật Đấu thầu Kết quả đấu thầu theo hình thức lựa chọn như bảng 1.2
Bảng 1.2: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầuNă
t
Sốg
Tổ
ng giágó
Tổ
ng giátrú
ng thầ
Tiếtkiệm(%)ĐT
(54 ,87
(36 ,13
Chỉ
địn 791
,25
3,3 3
116,94
5,7 7
(2, 07
Cò
n 3.363 310,16287,057,4 5 4.335 424,18368,8513, 04
Tỷ (11 (5, (13 (6,
Trang 18t
Sốg
Tổ
ng giágó
i
Tổ
ng giátrú
ng thầ
Tiếtkiệm(%)ĐT
(26,11Chỉ
địn 12
7.0
8
1.9 7
574.06
2.8 3
%)
(14
%)còn
(6,26Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –
Bộ Kế hoạch và Đầu tưTheo số liệu ở bảng trên, tỷ lệ tiết kiệm thu được ở hình thức đấu thầu rộng rãi là lớnnhất rồi đến đấu thầu hạn chế sau đó mới là chỉ định thầu và tự thực hiện
So với năm 2002, số lượng gói thầu được thực hiện ở các hình thức cũng như tỷ lệ tiếtkiệm ở các hình thức đấu thầu có sự giảm xuống rõ rệt
Hình thức đấu thầu rộng rãi dù có nhiều ưu điểm và tạo tỷ lệ tiết kiệm lớn nhất nhưngvẫn chưa được áp dụng nhiều Tuy nhiên, cũng có một điểm đáng mừng là càng ngày
tỷ lệ các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi càng chiếm tỷ trọng lớn hơn sovới các hình thức còn lại Nếu như vào các năm 2003 trở về trước, số lượng các góithầu áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế luôn lớn hơn so với đấu thầu rộng rãi thì đếnnăm 2004, số lượng gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi đã vượt qua đấu thầu hạn chế.Nhưng số lượng các gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện còn lớnhơn rất nhiều (gấp khoảng 3 lần) so với các hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế,ngoài ra, tỷ lệ qua này qua các năm thay đổi không đáng kể Điều này là một hạn chếlớn cho Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới WTO và cũng gây thất
Trang 19thoát rất lớn cho ngân sách quốc gia Các hình thức đấu thầu khác đấu thầu rộng rãivẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số các gói thầu (khoảng 80%), đây là nhữnghình thức không có tính cạnh tranh hoặc tính cạnh tranh không cao trong đấu thầu.Đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động đấu thầu, làm mất đi vai trò,chức năng của đấu thầu và là một nguy cơ cần được các nhà quản lý quan tâm điềuchỉnh.
Thời gian qua, những tiêu cực liên quan đến đấu thầu được biết đến nhiều hơn Liêntục xảy ra những sai phạm, tham nhũng, tiêu cực với số tiền thất thoát từ ngân sáchnhà nước lên đến hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ đồng đã bị phanh phui và lên án Nhữngtiêu cực này xảy ra ở hầu hết các ngành kinh tế mà tiêu biểu là ngành xây dựng - mộttrong những ngành áp dụng đấu thầu rộng rãi nhất
Những sai phạm nghiêm trọng này cũng là động lực thúc đẩy sự ra đời của Luật Đấuthầu năm 2005 sau thời gian dài thảo luận tại Quốc hội Trên thực tế, sự ra đời củaLuật này dù còn chậm nhưng cũng rất cần thiết trong việc điều chỉnh, thúc đẩy sự pháttriển đúng hướng, giảm thiểu những “chệch choạc” của hoạt động đấu thầu Nó giúpcho hoạt động này phát huy được những chức năng vốn có của mình trong việc tiếtkiệm ngân sách quốc gia, giảm thiểu hiện tượng lợi dụng sơ hở của pháp luật và sựbuông lỏng quản lý để trục lợi cá nhân từ ngân sách quốc gia
1.1.2.2Giai đoạn sau khi có Luật Đấu thầu
Luật Đấu thầu ra đời đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấu thầu; thống nhấtcác quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là Luật gốc về đấu thầu sử dụngvốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính công khai, minhbạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm; tăng cường hộinhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước.Quốc hội đã ban hành lần lượt Luật số 61/2005/QH11, Luật số 38/2009/QH12 trong
đó sửa đổi 21 Điều của Luật Đấu thầu và Luật số 43/2013/QH13 ra đời đã làm cho hệthống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản được hoàn thiện, thống nhất theo hướngtăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành các Thông tư hướng dẫn vềđấu thầu thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc
Trang 20phục những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ
sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết vàđồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp cho các cơ quanchức năng quản lý về đấu thầu ở địa phương, chủ đầu tư trong quá trình thực hiệnđược dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng của hồ sơ cũng như quá trìnhđấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài ra việc ban hành các mẫu hồ sơ còngiúp hạn chế các sai sót và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan chuyên môn, chủ đầu
tư và các đơn vị tư vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấu thầu thực sự đã theohành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từng bước chấp hành tốtnhững quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời gian trước
Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 Luật số 38/2009/QH12 được Quốc hội thông quangày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2009 tại Điều 2 đã sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Đấu thầu Tiếp đó, Luật số 43/2013/QH13 được Quốc hộithông qua ngày 26/11/2013 có hiệu lực thi hành 01/7/2014 Các luật này cùng với một
số luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống phápluật về đấu thầu tương đối đồng bộ, khả thi, tạo thuận lợi cho việc thống nhất quản lýcông tác đấu thầu trong phạm vi cả nước Theo đó, việc thực hiện theo Luật Đấu thầukhông chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinhnghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nguồn vốn của Nhànước, số liệu cụ thể qua các năm được thể hiện ở bảng 1.3 như sau:
Bảng 1.3: Kết quả đấu thầu theo đánh giá chungN
Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 21Bảng 1.4: Kết quả đấu thầu theo hình thức đấu thầuĐơn vị tính: tỷ đồng
72
348
44
206
06
1
108
53
331
60
193
35
1
040
%
6,4
%
6,1
%
6,6
27.2
25.2
116
25.539
24.689
108
%
5,8
%
2,3
%
5,9
404
123
915
64
390
05
119
89
884
%
2,6
%
3,1
%
2,6
%
ki
ệ
Nguồn: Báo cáo số liệu về hoạt động đấu thầu ở Việt Nam của Vụ Quản lý đấu thầu –
Bộ Kế hoạch và Đầu tưQua số liệu ở Bảng trên có thể thấy rằng trong giai đoạn 2008-2012, tổng giá trị cácgói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước (bao gồm các gói thầu thuộc dự án đầu tưphát triển và dự toán mua sắm thường xuyên) áp dụng hình thức chỉ định thầu chiếm
tỷ trọng lớn (915.108 tỷ đồng), bằng 82% tổng giá trị các gói thầu áp dụng hình thứcđấu thầu rộng rãi (1.108.701) và bằng 75% tổng giá trị các gói thầu áp dụng đấu thầurộng rãi và hạn chế; trong khi đó tỷ lệ tiết kiệm đạt được qua các hình thức đấu thầucạnh tranh như rộng rãi và hạn chế cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với chỉ định thầu
Như vậy qua hơn 10 năm thực hiện Luật Đấu thầu, nguồn vốn của Nhà nước đã tiếtkiệm được hàng trăm nghìn tỷ đồng và giá trị tiết kiệm đều tăng qua các năm, qua đó
Trang 22thấy rằng đấu thầu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu sử dụng nguồn vốnNhà nước (chi tiêu công).
1.2 Đánh giá chung về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp công trình ở Việt Nam
1.2.1 Những thành tựu đã đạt được
Công tác đấu thầu tại Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành,trong đó có hơn 10 năm thi hành Luật Đấu thầu (từ 2006) Thông qua đấu thầu, nềnkinh tế được thúc đẩy phát triển theo hướng ngày càng công khai, minh bạch và hiệuquả Các hoạt động kinh tế được kích thích phát triển Các chủ đầu tư lựa chọn đượcnhững nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu, tạo nênnhững công trình làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước,
từ đó là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh Đồng thời, chủ đầu tư, cơquan quản lý nhà nước về đấu thầu được nâng cao năng lực chuyên môn, có thêm kiếnthức và kinh nghiệm, trở thành những người tiêu dùng ngày càng thông thái hơn, giúpmang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong quá trình chi tiêu công Các doanh nghiệp, nhàthầu được cọ xát, nâng cao năng lực cạnh tranh, từ cạnh tranh trong nước sẽ lớn mạnh
và dần tự tin bước vào hội nhập Quy định về đấu thầu của Việt Nam được xây dựng
cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế và các quy định của nhà tài trợ, trong đó đặc biệt
là đáp ứng yêu cầu về tính công khai, minh bạch, đã góp phần làm tăng uy tín và tạoniềm tin cho các nhà tài trợ đối với Việt Nam, là cơ sở để thu hút và giải ngân cácnguồn vốn hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Theo đó, các nhà tài trợ như
WB, ADB, JICA… đã tăng cường hỗ trợ Việt Nam cả về vật chất và tư vấn pháp luật,đóng góp quan trọng cho quá trình cải cách, đổi mới ở nước ta
Một số thành tựu nổi bật:
Một là: Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất
theo hướng tăng cường phân cấp
Luật Đấu thầu ra đời và được đổi mới đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấuthầu; thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là Luật gốc về đấuthầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính công
Trang 23khai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm;tăng cường hội nhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầutrong nước.
Luật cũng phân cấp mạnh hơn cho cấp cơ sở, cho các chủ đầu tư người trực tiếp sửdụng công trình Theo đó, vai trò của chủ đầu tư đã được thay đổi cơ bản trong quátrình quản lý, điều hành và quyết định các nội dung trong quá trình triển khai dự án(phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, xử lý tình huốngtrong đấu thầu) Việc tăng cường phân cấp cho chủ đầu tư đã tăng cường tính chủđộng linh hoạt cho chủ đầu tư, thu hẹp được cấp trình duyệt trong quá trình lựa chọnnhà thầu nên thời gian lựa chọn nhà thầu cũng đã được rút ngắn đáng kể Người cóthẩm quyền - người quyết định đầu tư có thêm trách nhiệm xem xét quyết định hìnhthức chỉ định thầu đối với các gói thầu cấp bách thuộc các dự án do mình quyết địnhđầu tư và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình Đồng thời người có thẩm quyềncũng có thêm quyền trong việc hủy, đình chỉ đấu thầu, không công nhận kết quả lựachọn nhà thầu sau khi đấu thầu
Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất theohướng tăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành một loạt Thông tưhướng dẫn về đấu thầu thông suốt, thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện
dự án, khắc phục những khó khăn trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản.Các mẫu hồ sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ,chi tiết và đồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp chocác cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở địa phương, chủ đầu tư trong quá trìnhthực hiện được dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng của hồ sơ cũngnhư quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài ra việc ban hành cácmẫu hồ sơ còn giúp hạn chế các sai sót và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quanchuyên môn, chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấuthầu thực sự đã theo hành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từngbước chấp hành tốt những quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời giantrước
Hai là: Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước.
Trang 24Luật Đấu thầu số 43/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 Tiếp đó, Luật số 38/2009/QH12 được Quốc hộithông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2009 tại Điều 2 đã sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu Mới nhất là Luật Đấu thầu số43/2013/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/10/2013 có hiệu lực thi hành kể từngày 1/7/2014 Các đạo luật này cùng với một số luật có liên quan và các văn bảnhướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống pháp luật về đấu thầu tương đối đồng
bộ, khả thi, tạo thuận lợi cho việc thống nhất quản lý công tác đấu thầu trong phạm vi
cả nước Theo đó, việc thực hiện theo Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng số50/2014/QH13 không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà thầu có đủnăng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được cho nguồnvốn của Nhà nước
Ba là: Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển khai trên
diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu
Trong bối cảnh tăng cường phân cấp và năng lực của chủ đầu tư ở địa phương còn hạnchế, thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đấuthầu, tăng cường hiệu lực và tính thực thi của pháp luật, chính sách về đấu thầu Trongthời gian qua, hầu hết các địa phương đã tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra vềđấu thầu nhằm sớm phát hiện các thiếu sót, hướng dẫn chủ đầu tư và bên mời thầu giảiquyết theo đúng quy định và đúng thẩm quyền Do đó, hoạt động kiểm tra cũng đãgiúp tăng cường nhận thức của các đối tượng được kiểm tra trong việc thực thi phápluật
Theo báo cáo của các Bộ ngành và địa phương, qua các đợt kiểm tra, các đơn vị đượckiểm tra đã nhận thấy được các thiếu sót, các nội dung cần được hoàn thiện hơn vềtrình tự, thủ tục khi tổ chức đấu thầu và lựa chọn nhà thầu Ngoài ra, kiểm tra, thanhtra về đấu thầu cũng đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và cácquy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng
Trên cơ sở Thông tư 01/2011/TT-BKHĐT ra đời đã quy định khá cụ thể và chi tiết quytrình kiểm tra trong công tác đấu thầu, đáp ứng được yêu cầu về việc thực hiện hoạt
Trang 25động kiểm tra về công tác đấu thầu tại các Bộ ngành, địa phương và các Tập đoàn,Tổng công ty Việc ban hành Thông tư quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu thầu
đã chi tiết hoá hoạt động hậu kiểm trong công tác đấu thầu, góp phần giúp các cơ quanquản lý nhà nước cũng như người có thẩm quyền, chủ đầu tư của các dự án chủ độngnắm bắt và kiểm soát được tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại các dự án Theo
đó, Thông tư kiểm tra đã góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu thầu nói chung
Bốn là: Công tác đào tạo và hướng dẫn nghiệp vụ đấu thầu
Hầu hết các Bộ ngành, địa phương đã tổ chức các hội nghị tập huấn để quán triệt cácquy định của pháp luật về đấu thầu Các Bộ và Tổng công ty thường xuyên tổ chức cáclớp tập huấn về quản lý đầu tư xây dựng (trong đó đấu thầu là một nội dung chính) chocác cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động đấu thầu Các Sở Kế hoạch
và Đầu tư đã rất chủ động trong việc chủ trì, điều phối và tổ chức các hoạt động đàotạo, tập huấn sâu rộng cho các Sở ban ngành ở địa phương, đặc biệt là chú trọng tớicác cán bộ thuộc các ban quản lý dự án ở cấp huyện, cấp xã
Ngoài ra, công tác phổ biến, quán triệt nội dung của Luật Đấu thầu, các Nghị địnhhướng dẫn của Chính phủ đã được thực hiện nghiêm túc thông qua nhiều hình thứcnhư: phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức các lớp tập huấn về đấu thầu chocác đơn vị, chủ đầu tư, cơ quan tư vấn Đến nay, hầu hết các cán bộ tham gia tronglĩnh vực đấu thầu đều được cấp chứng chỉ tham gia các khóa đào tạo về đấu thầu Hiệuquả và tác động của các văn bản hướng dẫn được ban hành đối với việc quản lý đấuthầu trên địa bàn tỉnh giúp các chủ đầu tư cập nhật kịp thời thông tin để tham dự cóhiệu quả, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng quản lý đấuthầu trên địa bàn Đến nay phần lớn các cán bộ tham gia công tác đấu thầu đều cóchứng chỉ tham gia khóa học đấu thầu, nắm được về cơ bản nghiệp vụ và kỹ năng khitham gia tổ chức đấu thầu nên việc tổ chức đấu thầu ở các Bộ, ngành và địa phương về
cơ bản phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu
Năm là: Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể.
Việc công khai hóa thông tin về đấu thầu được tăng cường thể hiện qua việc gia tăngnhu cầu đăng tải thông tin Số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần
Trang 26suất xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng có quan tâmtới công tác đấu thầu Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trongcông tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước.
Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu thầuqua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tậndụng các ưu thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhânđăng tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi Đồng thời đây làkênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ýđối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành
Ngoài ra, chuyên mục đường dây nóng ra đời từ tháng 6/2008 và chính thức trở thànhmột chuyên mục rất được đông đảo độc giả quan tâm từ tháng 8/2008 Bộ phận tiếpnhận thông tin phản ánh từ khắp cả nước về những việc làm trái quy định, không phùhợp, làm khó nhà thầu Từ những bài viết trên chuyên mục đường dây nóng, cơ quanchức năng vào cuộc yêu cầu các đơn vị bị phản ánh cần nghiêm túc thực hiện đúngLuật Đấu thầu
1.2.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu
Trong thời gian qua, có nhiều cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương
đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực quản lý đấu thầu nhờ đó
mà hiệu quả đầu tư và xây dựng trên cả nước đạt được những kết quả đáng kể NhiềuDAĐT XDCT được quản lý tốt, dự án hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng công trìnhcao, hiệu quả đầu tư của dự án được đảm bảo Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng còn
có một số cơ quan quản lý nhà nước chưa làm tròn chức năng, nhiệm vụ của mình theoquy định của pháp luật Công tác đấu thầu ở nhiều nơi đã không phát huy được hiệuquả bởi những bất cập trong quá trình mời thầu, tổ chức đấu thầu, trong xử lý vi phạm
và giải quyết tranh chấp của chính những người trong cuộc là chủ đầu tư, nhà thầu và
cơ quan quản lý nhà nước về công tác đấu thầu Họ tìm cách lách luật vì lợi ích cục bộ,nhưng lại gây ra những hậu quả lớn hơn cho lợi ích của các bên liên quan, thậm chígây tổn hại đến lợi ích của nền kinh tế, của Nhà nước Một số bất cập trong đấu thầutrong thời gian qua đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lựa chọn nhà thầu xâylắp, cụ thể như sau:
Trang 271.2.2.1Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu của một số cơ quan Chính phủ chưa
được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế
Mặc dù Bộ KH&ĐT đã hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Mẫu tàiliệu) nhưng một số cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ hướng dẫn một số nộidung về đấu thầu chưa thực hiện được việc sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hànhcho phù hợp với quy định mới của pháp luật về đấu thầu, chưa ban hành văn bảnhướng dẫn theo nhiệm vụ được giao Vì vậy, các Bộ, ngành, địa phương đã gặp khókhăn trong quá trình đấu thầu
1.2.2.2Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở
một số địa phương
Trong Luật Đấu thầu đã thể hiện rất rõ tinh thần phân cấp, thực hiện phân cấp mạnhgắn liền với trách nhiệm và tăng cường công tác hậu kiểm Phân cấp mạnh giúp chocác chủ đầu tư chủ động hơn trong việc thực hiện và quyết định các nội dung của quátrình đấu thầu
Sau khi Nghị định 85/2009/NĐ-CP ban hành và có hiệu lực, chủ đầu tư được giaoquyết định toàn bộ các bước trong đấu thầu, trong khi đó đội ngũ chuyên gia về côngtác đấu thầu của các đơn vị tư vấn chưa có năng lực chuyên môn, trình độ đáp ứng yêucầu để giúp chủ đầu tư trong quá trình lựa chọn nhà thầu Năng lực chủ đầu tư tại cácđơn vị sự nghiệp công ích, cấp huyện, cấp xã còn yếu, chưa đáp ứng kịp với tình hìnhphân cấp mạnh của Luật sửa đổi dẫn đến lúng túng trong việc tổ chức đấu thầu
Quá trình đấu thầu từ khâu lập hồ sơ mời thầu đến ký hợp đồng phần lớn đều do chủđầu tư tổ chức thực hiện, dẫn đến phát sinh tiêu cực trong đấu thầu ở một vài nơi dovai trò của chủ đầu tư rất lớn Công tác theo dõi, phát hiện kịp thời những sai sót hoặctiêu cực trong quá trình đấu thầu của cấp có thẩm quyền cũng khó khăn do chế độ báocáo về quá trình lựa chọn nhà thầu hiện nay chưa được quy định cụ thể
Việc phân cấp mạnh cho chủ đầu tư tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ xây dựng
cơ bản, tuy nhiên còn có một số chủ đầu tư năng lực còn hạn chế không theo kịpnhiệm vụ được giao, còn lúng túng trong khâu lập kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơmời thầu và kết quả đấu thầu Bên cạnh đó, nhiều chủ đầu tư còn chưa chủ động, còn
Trang 28trông chờ ỷ lại ở đơn vị tư vấn mà không xem xét, kiểm tra kỹ các hồ sơ, thủ tục trướckhi phê duyệt.
Ngoài ra, toàn bộ quá trình đấu thầu chủ yếu do chủ đầu tư quyết định, gần như khépkín và không có cơ quan giám sát, thẩm tra, thẩm định Các cơ quan quản lý đấu thầuhiện nay (người có thẩm quyền, Sở Kế hoạch đầu tư ) nếu có phát hiện ra thì phải sauđấu thầu, sau thanh kiểm tra, thậm chí sau khi thực hiện xong gói thầu, trừ trường hợp
có kiến nghị
Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đặc biệt là ởcấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường học còn hạn chế docác chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn chưa cao dẫn đếnchất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo
Chất lượng của một số đơn vị tư vấn ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấuthầu Nhiều hồ sơ do các đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư phê duyệt không đạt yêu cầu,
có nhiều sai sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dàithời gian thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
1.2.2.3Bất cập trong quá trình mời thầu
Qua nghiên cứu, theo dõi thực tế hoạt động đấu thầu những năm qua, có thể dễ dàngnhận thấy những vấn đề bất cập nổi lên trong quá trình mời thầu như: Hiện tượng dànxếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu; “Vẽ ra” yêu cầu trong hồ sơ mời thầu đểloại nhà thầu và hiện tượng quân xanh, quân đỏ Sau khi xác định được đúng vấn đề bấtcập, chúng ta sẽ đi vào phân tích từng vấn đề, hiện tượng
Một là: hiện tượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu:
Một trong những bất cập phổ biến và điển hình nhất trong quá trình mời thầu là hiệntượng dàn xếp, thông đồng giữa các bên trong đấu thầu và đang bị biến tướng dướinhiều hình thức khác nhau, thông đồng giữa nhà thầu và chủ đầu tư, giữa nhà thầu vớinhau, nhằm mục đích có lợi cho mình
Ngay từ khi mời thầu, một số chủ đầu tư đã có nhiều chiêu “chơi khó” nhà thầu, ví dụnhư thách thức mang tên “đi tìm địa chỉ bán hồ sơ mời thầu” Việc đăng tải thông báo
Trang 29mời thầu của chủ đầu tư ở một số nơi còn chưa thực hiện đúng quy định như chỉ đăngtải trên tờ báo địa phương mà không đăng tải trên Báo Đấu thầu theo quy định, đặcbiệt là với những gói thầu quy mô nhỏ nhưng vẫn nằm trong hạn mức phải đăng tảithông báo mời thầu Ở bước chuẩn bị đấu thầu vẫn còn những hạn chế như việc khôngcông khai bán hồ sơ mời thầu, không cho các nhà thầu đến mua hồ sơ bằng nhiều lý dokhác nhau; thông tin về đấu thầu chưa được cung cấp đầy đủ để đăng tải công khai trênBáo Đấu thầu.
Một số chủ đầu tư làm khó nhà thầu ngay từ khâu mua hồ sơ mời thầu (HSMT) bằngviệc đăng tải địa chỉ bán HSMT một cách chung chung, không minh bạch, khiến nhàthầu “toát mồ hôi” cũng không thể tìm thấy địa chỉ, thậm chí là địa chỉ đó không tồntại trong thực tế Ngoài ra, một “chiêu” khác được nhiều chủ đầu tư sử dụng là cungcấp các số điện thoại mà khi nhà thầu liên lạc thường máy chỉ đổ chuông, không cóngười nhấc máy; hoặc tổng đài sẽ thông báo số điện thoại đó “không có”, “không liênlạc được”
Ví dụ: Hiện tượng bán Hồ sơ mời thầu nhưng không rõ địa điểm
Một trong những trường hợp nêu trên là trường hợp của gói thầu Xây dựng nhà ăn và
ký túc xá, nhà xưởng thực hành, hạ tầng kỹ thuật, nhà bảo vệ, nhà để xe, hàng rào, bểnước mới (thuộc dự án Nâng cấp, bổ sung trang thiết bị Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợnông dân) Bên mời thầu là Hội Nông dân tỉnh Bắc Ninh và ủy quyền cho đơn vị tưvấn đấu thầu là Công ty CP Tư vấn đầu tư quản lý dự án CIM Địa chỉ phát hànhHSMT gói thầu này đã được Bên mời thầu đăng tải trên Báo Đấu thầu (số báo 69, 70,71), trong đó ghi: 194 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, TP
Hà Nội (địa chỉ của đơn vị tư vấn) Là gói thầu đấu thầu rộng rãi trong nước, nhưng
để các nhà thầu tìm được địa điểm phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) quả là một bàitoán hóc búa và mất khá nhiều thời gian, bởi đây là địa chỉ chung cho một khu tập thể
có tới hơn 100 hộ dân Phải qua “ba tầng bảy lớp” mới mua được HSMT
Theo phản ánh của nhà thầu là Công ty CP Xây dựng 266 Hà Nội gửi tới Báo Đấuthầu ngày 19/4/2013, địa điểm phát hành HSMT gói thầu nói trên là không cụ thể vàgây khó khăn cho việc tiếp cận HSMT Nhà thầu này cho biết, mong muốn tham gia
Trang 30gói thầu trên, sáng thứ Năm ngày 18/4/2013, Công ty đã cử nhân viên đến địa điểmphát hành HSMT để mua hồ sơ Tuy nhiên, khi đến nơi thì địa chỉ này được đánh dấuchung cho một khu tập thể cũ với vài khu nhà cao tầng có khoảng hơn 100 hộ dân.Nhân viên này đã hỏi những người dân sinh sống quanh đó về Công ty CP Tư vấn đầu
tư quản lý dự án CIM, nhưng không ai rõ vì không có số phòng cụ thể Sau khi đượcBáo Đấu thầu phản ánh, đại diện Bên mời thầu đưa ra hướng khắc phục: sẽ đính chínhthông tin trên Báo Đấu thầu và dán giấy thông báo, trong đó nêu rõ địa chỉ cụ thể bánHSMT và cung cấp thêm tên cán bộ trực bán hồ sơ cùng với số điện thoại để liên hệ.Như vậy, dù đã có hướng xử lý kịp thời, nhưng việc không cung cấp thông tin địađiểm phát hành HSMT đầy đủ, cụ thể và rõ ràng đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhàthầu khi tiếp cận HSMT Đây cũng là bài học cần nghiêm túc rút kinh nghiệm cho cácbên mời thầu khác cũng như các đơn vị tư vấn được bên mời thầu ủy quyền
(Lược trích từ Báo Đấu thầu số 83 ngày 25/4/2013)
Một thực tế khác đang diễn ra thường ngày là nhà thầu rất nhọc nhằn trong việc mua
hồ sơ mời thầu Sau khi vượt qua được cửa ải “tìm địa chỉ bán HSMT”, nhiều nhàthầu lại vấp phải những “chiêu trò” khác của chủ đầu tư trong việc mua HSMT Ví dụ,không ít chủ đầu tư đưa ra quy định nhà thầu phải có hồ sơ về năng lực tài chính thìmới được mua HSMT (trong khi pháp luật hiện hành về đấu thầu không có quy địnhnày) Thực tế là, nhiều nhà thầu khi đi mua HSMT không chuẩn bị và mang theo hồ sơ
về năng lực tài chính nên dù có “trèo đèo lội suối” hàng trăm cây số thì vẫn phải ra vềtay không
Chưa hết, sau khi vượt qua được bài toán về loại “giấy phép con” (hồ sơ về năng lựctài chính) này, nhà thầu còn bị một số chủ đầu tư bắt phải “xếp hàng” đăng ký vàodanh sách nhà thầu có nhu cầu mua HSMT và hẹn lần sau đến mới bán HSMT Theolời hẹn của chủ đầu tư, khi nhà thầu quay lại mua HSMT thì chủ đầu tư lại “năm lầnbảy lượt” đưa ra các lý do chưa thể bán HSMT như: nhà thầu đăng ký mua HSMTnhiều quá, chủ đầu tư chưa sao chụp kịp, địa phương bị mất điện nên máy phô tôkhông hoạt động được; người được phân công phụ trách bán HSMT đi vắng, bận họp,làm việc kiêm nhiệm nên không phải lúc nào cũng trực bán HSMT… Chính vì những
Trang 31đòi hỏi nhiêu khê, nhũng nhiễu của một số chủ đầu tư như vậy nên nhiều nhà thầu đãnản chí mà “bỏ cuộc chơi”.
Với các biểu hiện của hiện tượng trong ví dụ nêu trên, hậu quả trực tiếp của hiện tượngdàn xếp, thông đồng trong đấu thầu là nhiều nhà thầu có năng lực không nộp đượcHSMT đúng địa chỉ, kịp thời hạn vì không liên lạc được với chủ đầu tư Vì thế, khiđóng thầu, số nhà thầu nộp được hồ sơ rất ít, tạo thuận lợi cho chủ đầu tư lựa chọnnhà thầu phù hợp với mong muốn chủ quan của chủ đầu tư Đây thực chất là hiệntượng “lách luật”, thông đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu cần được ngăn chặn Vớicách thức mời thầu như thế, chất lượng các nhà thầu tham gia đấu thầu sẽ rất hạn chế,không bảo đảm cạnh tranh thực sự Một khi nhà thầu không đủ năng lực nhưng vẫnđược lựa chọn thực hiện gói thầu sẽ gây ra nhiều thiệt hại lớn về kinh tế trong quátrình thực hiện dự án, không bảo đảm yêu cầu về chất lượng, trong đó có lợi ích củaNhà nước Bên cạnh đó các doanh nghiệp kinh doanh có chất lượng thì bị ảnh hưởng
do mất cơ hội tham gia đấu thầu và thực hiện các dự án một cách công bằng, minhbạch Người dân bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống vì phải sử dụng các công trình,sản phẩm không bảo đảm chất lượng mà nguyên nhân từ các nhà thầu làm ăn gian dối.Hậu quả lâu dài là nền kinh tế bị ảnh hưởng về chất lượng và hiệu quả tăng trưởng docác hoạt động đầu tư, đấu thầu không bảo đảm chất lượng, nhất là đầu tư công bằngnguồn vốn ngân sách nhà nước
Nguyên nhân của các hiện tượng dàn xếp, thông đồng trong đấu thầu trước tiên là do ýchí chủ quan của chủ đầu tư không muốn tổ chức đấu thầu một cách công khai, minhbạch để lựa chọn nhà thầu tốt nhất với chi phí thấp nhất Họ muốn lợi dụng cơ chế đấuthầu làm “vỏ bọc” công khai, minh bạch nhằm mục đích trục lợi riêng Vì phần lớnnguồn vốn thực hiện dự án là vốn nhà nước nên các chủ đầu tư “đục khoét” bằng mọicách, trong đó có cách thông đồng với nhà thầu để hưởng lợi từ dự án Còn các nhàthầu thì muốn có việc làm, lợi nhuận nên cũng đồng tình với cách thức này và sẵn sàng
“chi hoa hồng” cho chủ đầu tư nếu được trúng thầu
Mặc dù Luật đấu thầu hiện hành đã có các quy định nhằm buộc các chủ đầu tư phảicông khai quá trình mời thầu như đăng thông tin mời thầu trên Báo đấu thầu và trangthông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu với các thông
Trang 32tin cụ thể như: kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, danh sách nhà thầu, kết quả lựachọn nhà thầu,…Tuy nhiên, với ý định “lách luật”, các chủ đầu tư chỉ thực hiện cácquy định này mang tính hình thức và cố tình gây khó khăn cho nhà thầu khi nộpHSMT như các hiện tượng nêu trên.
Hai là: Hiện tượng “Vẽ ra” yêu cầu trong hồ sơ mời thầu để loại nhà thầu.
Đây là một hiện tượng đáng phê phán trong công tác đấu thầu hiện nay Theo cácchuyên gia trong ngành xây dựng, việc “vẽ” ra yêu cầu trong HSMT là hàng rào ngầm,không lộ thiên như việc gây khó dễ trong mua HSMT mà chỉ có một số chủ đầu tư
“cao tay” mới có thể đưa ra được Hàng rào này có ý nghĩa gần như “đòn đánh hạ gục”hoặc nhằm ngăn cản các nhà thầu không có quan hệ ruột thịt với chủ đầu tư tiếp cậnvới gói thầu
Một trong những “hàng rào” ngầm được nhiều chủ đầu tư sử dụng là tự đặt ra nhữngyêu cầu theo kiểu trên trời hoặc kiểu “đo người may áo” (lấy nhà thầu ruột làm mẫuhình chuẩn để ra “bài thi” và cũng chỉ có nhà thầu ruột mới có lời giải tương ứng) Bêncạnh đó, một số chủ đầu tư còn đưa ra những yêu cầu “ngất ngưởng” để hạn chế sựtham gia của các nhà thầu Chẳng hạn, tại HSMT gói thầu “Mua sắm 200 giường bệnhloại 2, trong đó 120 giường bệnh điều trị theo chế độ Bảo hiểm Y tế, Bệnh viện Đakhoa X TP HN”, phần yêu cầu về năng lực tài chính của nhà thầu quy định: “Doanhthu bình quân 3 năm 2008, 2009 và 2010 phải đạt 50 tỷ đồng trở lên”, trong khi đó giágói thầu chỉ gần 900 triệu đồng (chưa đầy một tỷ)…
Một ví dụ khác là việc khi cần mua sắm những hàng hóa thông dụng, có nhiều trên thịtrường, một số chủ đầu tư cũng đặt ra những yêu cầu hết sức cầu kỳ đối với những nhàthầu quan tâm như yêu cầu về bản gốc giấy phép bán hàng của nhà sản xuất, nêu yêucầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa…
Hiện tượng này gây ra hậu quả là giảm số lượng hồ sơ dự thầu, hạn chế các nhà thầutham gia đấu thầu vì các yêu cầu, tiêu chí mời thầu quá cao hoặc không phù hợp vớithực tế hầu hết các nhà thầu không đáp ứng được Mục đích cuối cùng của chủ đầu tư
là đưa ra yêu cầu hồ sơ mời thầu sao cho chỉ có nhà thầu “ruột” mới có thể đáp ứngđược, vì thế không phải cạnh tranh thực sự với các nhà thầu khác Với mục đích tư lợi,
Trang 33trong trường hợp này các chủ đầu tư đã gây thiệt hại về kinh tế cho lợi ích của tập thể,của Nhà nước vì kết quả lựa chọn nhà thầu không đúng với thực chất dựa trên cạnhtranh, minh bạch, hậu quả là các nhà thầu có năng lực bị loại ngay từ khi nộp hồ sơ.Thực chất hành vi này của chủ đầu tư đã vi phạm điều cấm của Luật đấu thầu hiệnhành là cấu kết, thông đồng với các bên trong đấu thầu làm ảnh hưởng đến lợi ích củatập thể, lợi ích của quốc gia, cần phải được ngăn chặn, xử lý kịp thời Tuy nhiên, trongthực tế thì rất khó xử phạt hành vi này vì không có bằng chứng để chứng minh việcđưa ra yêu cầu mời thầu quá cao là hành vi cấu kết, thông đồng của chủ đầu tư với nhàthầu.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do mong muốn chủ quan của một số cá nhân muốnlợi dụng đấu thầu dự án từ nguồn vốn của Nhà nước để thu lợi bất chính, mà bản chất
là tham nhũng Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về đấu thầu và phòng,chống tham nhũng vẫn chưa có giải pháp triệt để giải quyết bất cập này Các cơ quanquản lý cũng không thể quản lý hết các thông tin cụ thể mà nhà đầu tư đưa ra có thực
sự cần thiết, chính đáng không Quy trình đấu thầu hiện nay chủ yếu vẫn giao tráchnhiệm toàn bộ cho chủ đầu tư, nhưng lại thiếu các biện pháp kiểm tra, kiểm soát của
cơ quan quản lý đối với việc thực hiện của chủ đầu tư
Chính vì những nguyên nhân trên nên đồng thời với việc giao trách nhiệm cho chủ đầu
tư trong việc mời thầu, thì pháp luật về đấu thầu cũng cần bổ sung biện pháp bảo đảmcạnh tranh trong đấu thầu như quy định cụ thể nghĩa vụ của chủ đầu tư trong việc đưa
ra các yêu cầu mời thầu phù hợp với gói thầu, các cơ quan quản lý của chủ đầu tư cótrách nhiệm kịp thời ngăn chặn chủ đầu tư có dấu hiệu vi phạm, đưa ra yêu cầu dự thầuquá cao, không hợp lý và có chế tài mạnh hơn đối với các chủ đầu tư vi phạm như đìnhchỉ đấu thầu, hủy thầu, thậm chí thay chủ đầu tư,…Bên cạnh đó, công tác quản lý củacác cơ quan chức năng cũng cần bám sát thực tiễn, nắm bắt kịp thời các hoạt động củacác cơ quan, tổ chức được giao làm chủ đầu tư dự án, tổ chức đấu thầu Nếu phát hiệnnhững hiện tượng tiêu cực thì cần có biện pháp xử lý kịp thời, quy trách nhiệm rõ ràngcho tập thể, cá nhân có vi phạm, nếu thấy có biểu hiện tham nhũng thì cần kiên quyếtđiều tra, xử lý theo quy định phòng, chống tham nhũng và pháp luật tố tụng hình sự
Trang 34Ngoài ra, cần đẩy nhanh tiến độ về hoàn thiện xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đấuthầu để đáp ứng nhu cầu của nhà thầu, chủ đầu tư Cơ sở dữ liệu này sẽ tạo thuận lợitrong quá trình đánh giá kinh nghiệm và năng lực nhà thầu vì đây là cơ sở để chủ đầu
tư, bên mời thầu kiểm tra tính xác thực trong thông tin khai báo của nhà thầu Việc nàytiết kiệm nhiều thời gian và công sức, chi phí trong quá trình tổ chức, lựa chọn nhàthầu
Ba là: Hiện tượng “quân xanh, quân đỏ”
Tình trạng dàn xếp, thông đồng giữa các nhà thầu để một nhà thầu trúng thầu trongmột gói thầu còn xảy ra ở một số nơi, nếu một chủ đầu tư nào đó muốn một hợp đồngcủa gói thầu rơi vào các nhà thầu “ruột” của chủ đầu tư để sau này cùng hưởng lợi, chủđầu tư và nhà thầu ruột sẽ móc nối, tìm các nhà thầu khác yếu hơn nhà thầu “ruột” rồi
tổ chức đấu thầu Kết quả là nhà thầu “ruột” trúng Các nhà thầu không phải nhà thầuruột được coi là "quân xanh" hay còn gọi là “chân gỗ”, còn nhà thầu “ruột” là "quânđỏ" Trong mua sắm thiết bị, thường xảy ra tình trạng chủ đầu tư lấy tối thiểu 3 báo giácủa 3 nhà cung cấp để so sánh, trong đó có một báo giá “quân đỏ” có giá rẻ, chấtlượng và 2 báo giá “quân xanh” đắt và kém chất lượng hơn Đương nhiên là "quân đỏ"thắng Ngược lại, một số chủ đầu tư không có kinh nghiệm cũng có thể bị rơi vào hoàncảnh bị các nhà thầu liên tục “quây thầu” rồi thuê các nhà thầu khác làm “quân xanh”cho mình để thắng thầu
Hiện tượng “quân xanh, quân đỏ” đã xuất hiện từ lâu, là hiện tượng lợi dụng tổ chứcđấu thầu để trúng thầu bằng việc dàn xếp, thông đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầuhoặc giữa nhà thầu với nhau để trúng thầu Hậu quả rõ ràng của tình trạng này là cácnhà thầu đủ năng lực thì không trúng thầu, nhà thầu trúng thầu thì có khi không đủnăng lực ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện dự án Nguyên nhân của hiện tượng nàyhoàn toàn do mong muốn chủ quan của chủ đầu tư, cố tình dàn xếp để nhà thầu “cóquan hệ” trúng thầu hoặc do nhà thầu cố tình dàn xếp trong quá trình nộp hồ sơ tham
dự đấu thầu để loại các nhà thầu khác
Vì vậy, Luật đấu thầu cần có những biện pháp ngăn chặn tình trạng này, quy định chặtchẽ về thủ tục, hồ sơ mời thầu; quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan quản
Trang 35lý và chế tài xử lý vi phạm nếu cố tình dàn xếp, thông đồng để trục lợi Ngoài các biệnpháp xử lý vi phạm của Luật đấu thầu như đình chỉ đấu thầu, hủy thầu, cấm tham giađấu thầu,… cần có biện pháp xử lý mạnh hơn của cơ quan quản lý cấp trên đối với chủđầu tư, đặc biệt là quy trách nhiệm cá nhân của người ra quyết định, hạn chế tráchnhiệm tập thể không xử lý được vi phạm Để có thể xử lý, phát hiện kịp thời các viphạm của chủ đầu tư trong quá trình mời thầu, hạn chế được những tiêu cực như hiệnnay, cần nghiên cứu tổ chức cơ quan thanh tra, kiểm tra độc lập, chuyên nghiệp, đủnăng lực trong cơ quan quản lý về đấu thầu Bởi vì, hoạt động đấu thầu cần có chuyênmôn nghiệp vụ cao, nên lực lượng thanh tra như hiện nay không đủ năng lực để pháthiện các dấu hiệu vi phạm trong thực tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài các biệnpháp cưỡng chế, các cơ quan quản lý ở trung ương và địa phương cũng cần phối hợpchặt chẽ hơn với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nhà thầu để tuyên truyền, nângcao ý thức cho các chủ đầu tư, nhà thầu trong việc tham gia đấu thầu công khai, minhbạch nhằm bảo đảm lợi ích lâu dài của nhà thầu, chủ đầu tư cũng như lợi ích kinh tếchung.
1.2.2.4Vấn đề quản lý sau đấu thầu còn chưa được thực hiện thường xuyên và chưa
được quan tâm đúng mức
Sản phẩm của quá trình đấu thầu cuối cùng là hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhàthầu trúng thầu Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việcthực hiện nghĩa vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư và nhà thầu như đã nêu trong hợpđồng Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương thì trong một số trường hợp việcquản lý thực hiện hợp đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong bốicảnh giá cả leo thang Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà thầu trong quá trình thi côngchưa chặt chẽ, một số nhà thầu sau khi trúng thầu không bố trí đủ nhân lực, thiết bị, tàichính đảm bảo tiến độ thi công như HSDT và hợp đồng đã ký kết nhưng chủ đầu tưchưa có biện pháp tích cực xử lý chế tài đối với nhà thầu
Nhìn chung công tác đấu thầu chịu nhiều ảnh hưởng của tình trạng lạm phát kinh tếtrong nước cũng như thế giới Do đó các nhà thầu có tâm lý e ngại tham gia đấu thầu,trong một số trường hợp ở các gói thầu xây lắp, nhà thầu có tâm lý thực hiện hợp đồngcầm chừng để được điều chỉnh giá trị hợp đồng khi có các thay đổi về chính sách của
Trang 36nhà nước về tiền lương, giá ca máy, Trong một số trường hợp khác, nhà thầu khithực hiện hợp đồng đã không đảm bảo được năng lực tài chính dẫn đến chậm trễ trongtriển khai dự án.
Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đônđốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định và việc bảo đảm thực hiệnhợp đồng theo quy định còn ít được các chủ đầu tư thực hiện theo quy định của phápluật, một số nơi khi nhà thầu thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng khôngđúng với thời hạn của hợp đồng nhưng vẫn được chủ đầu tư bỏ qua
Bên cạnh đó, nhiều công trình đã lựa chọn được nhà thầu nhưng chưa hoàn thành bồithường giải phóng mặt bằng, sau khi ký hợp đồng vẫn chưa có mặt bằng thi công hoặcquá trình thi công phải tạm dừng vì một số vị trí không giải phóng được mặt bằng theotiến độ, gây khó khăn rất lớn cho nhà thầu, tiến độ thi công phải kéo dài, rất nhiều thủtục kéo theo do phải bổ sung điều chỉnh dự án
1.2.2.5Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn nhiều
Việc quyết định áp dụng hình thức chỉ định thầu của nhiều gói thầu là trách nhiệm củangười có thẩm quyền (Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBNDtỉnh…) Nhiều gói thầu không thuộc trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy địnhtại Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Nghị định 63/2014/NĐ-CP, cần được tổ chức đấuthầu rộng rãi hoặc áp dụng các hình thức lựa chọn khác phù hợp theo quy định, nhưngmột số Bộ ngành, địa phương vẫn chấp thuận áp dụng chỉ định thầu theo quy định tạikhoản 2 Điều 56 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, từ đó dẫn đến kéo dài thời gian triển khai
dự án và không phù hợp với mục tiêu của công tác đấu thầu
1.2.3 Kinh nghiệm về công tác lựa chọn nhà thầu xây lắp trên thế giới
Xuất phát từ sự khác nhau về các đặc điểm đặc thù, trình độ tổ chức đấu thầu của cácnước, các tổ chức quốc tế, các quy định về đấu thầu và kinh nghiệm tổ chức đấu thầucủa các nước, các tổ chức quốc tế, hoạt động đấu thầu xây dựng của các tổ chức quốc
tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và của cácnước như Nga, Hàn Quốc thể hiện tính phong phú đa dạng của hoạt động đấu thầu xâydựng Nghiên cứu hoạt động đấu thầu xây dựng của các nước như Nga, Hàn Quốc và
Trang 37Campuchia, một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngânhàng Thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), tác giả tổng hợpnhững kinh nghiệm quý báu đó làm những bài học cho các hoạt động đấu thầu xây lắp
ở Việt Nam và từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này trong tương lai
1.2.3.1Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của các nước
1 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga:
Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, chính phủ ban hành Nghị định kèm theo quychế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầu quốcgia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nước Nga
là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấuthầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công sức vào việc nghiên cứutìm hiểu các quy định của các tổ chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây
là một trong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầucủa nâng cao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầucủa chủ đầu tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện Cơ chế quản lý, giám sát, xửphạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đấu thầu ở nước Nga đảmbảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ trong việcđấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Có thể nói,
ở Nga, chính sách xử phạt thích đáng những cá nhân, tổ chức vi phạm quy chế đấuthầu đã thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu công bằng, bình đẳng trong đấu thầu; hạnchế đến mức thấp nhất các hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu vô tư của những ngườilàm công tác xét thầu Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta có thể nghiên cứuhọc tập để nâng cao chất lượng đấu thầu xây lắp hiện nay
2 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc:
Theo quy định của Hàn Quốc, “Luật hợp đồng” mà trong đó Nhà nước là bên tham gia
là luật điều chỉnh các hoạt động đấu thầu Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản
và thủ tục mua sắm công Trên cơ sở luật đó Tổng thống, Thủ tướng ban hành cáchướng dẫn để thực hiện Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết việcthực hiện Hệ thống mua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung thống nhất cao Hàn
Trang 38Quốc có một cơ quan tập trung có tên viết tắt là Sarok có một số lượng cán bộ chuyêngia lớn lên tới hàng ngàn người có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đấu thầu tất cả các nhucầu mua sắm công lớn của đất nước Tuy nhiên, những nhu cầu mua sắm có giá trị nhỏcũng được phân cấp Có thể nói nhiều nhà thầu Việt Nam đang có kỳ vọng đề nghịChính phủ xem xét áp dụng kinh nghiệm này, vì việc tổ chức đấu thầu rất phân tánhiện nay ở nước ta có thể đã đẩy hoạt động này đi theo chiều hướng tạo thuận lợi chocác tệ nạn phát sinh như cục bộ, địa phương chủ nghĩa, áp dụng thiếu thống nhất, thiếunhất quán giữa các địa phương, các ngành.
3 Kinh nghiệm đấu thầu của Campuchia:
Campuchia là một nước có diện tích nhỏ, ở cạnh nước ta đã có những bước phát triểnvượt bậc trong thời gian qua Hơn nữa, Campuchia vừa mới gia nhập Tổ chức thươngmại Thế giới (WTO), do vậy nghiên cứu Quy chế đấu thầu của Campuchia cũng có ýnghĩa đối với Việt Nam Cũng dễ nhận thấy rằng, Quy chế quản lý đấu thầu Nhà nướccủa Campuchia khá đơn giản, ngắn gọn Nó chỉ bao gồm 9 điều với độ dài không quá
10 trang khổ giấy A4, quy chế này quy định một cách khái quát các hình thức đấuthầu, quy trình đấu thầu tổng quát và quản lý, giám sát hoạt động đấu thầu Việc tổchức đấu thầu ở Campuchia được tiến hành một cách tập trung thông qua một Hộiđồng Có thể nói rằng, tính đơn giản, gọn nhẹ và tập trung là điểm nổi bật trong Quychế Đấu thầu xây dựng ở Campuchia Điều này giải thích tại sao, các quy chế quản lýcủa Campuchia mặc dù rất đơn giản nhưng hiệu lực rất cao
1.2.3.2Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của một số tổ chức quốc tế
1 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB):
Ngân hàng Thế giới là một tổ chức quốc tế quản lý các khoản cho vay với 185 nướcthành viên Để quản lý các hoạt động mua sắm, Ngân hàng Thế giới ban hành hai vănbản quy định riêng rẽ Những quy định này được các nhà lập pháp Việt Nam thamkhảo nhiều trong quá trình xây dựng quy chế đấu thầu và điều hành hoạt động đấuthầu ở Việt Nam từ những ngày đầu tiên cho đến bây giờ hai quy định riêng rẽ đógồm:
Hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và
Trang 39tín dụng IDA (Hiệp hội Phát triển quốc tế) của Ngân hàng Thế giới đối với hàng hoá
và xây lắp
Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về tuyển dụng chuyên gia tư vấn Việc ban hànhriêng rẽ hai loại hoạt động đấu thầu có nhiều điểm riêng biệt của Ngân hàng Thế giớicũng là một trong những kinh nghiệm đầu tiên có thể xem xét trong điều kiện củanước ta vì những quy định về đấu thầu của nước ta hiện nay quá dài, hơn nữa các quyđịnh đó lại thay đổi thường xuyên nên có thể gây nhiễu khi áp dụng Kinh nghiệm thứhai có thể xem xét trong bối cảnh của nước ta là việc quy định rõ tính hợp lệ của Nhàthầu Một trong những nhân tố quan trọng để Nhà thầu được phép tham dự thầu với tưcách một Nhà thầu độc lập là nó phải tự chủ về tài chính Có như vậy các Nhà thầu khitham gia đấu thầu mới tránh được sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý trựctiếp hoặc tránh bị lệ thuộc vào một cấp quản lý nhất định Điều này đặt ra câu hỏi lớn
ở Việt Nam là các Công ty, doanh nghiệp trực thuộc ngành của một Bộ chủ quản cóđược tham gia đấu thầu các gói thầu do các Bộ đó tổ chức, giám sát, quản lý haykhông? Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm yêu cầu vô tư, công bằng,bình đẳng giữa các Nhà thầu
Ngân hàng Thế giới quy định rõ các hình thức đấu thầu gồm đấu thầu cạnh tranh Quốc
tế (ICB) và các cách mua sắm khác, như Đấu thầu Quốc tế hạn chế (LIB), Đấu thầucạnh tranh trong nước (NCB), Chào hàng cạnh tranh (Quốc tế và Trong nước); Hợpđồng trực tiếp hoặc tự làm Việc lựa chọn hình thức nào phải trên nguyên tắc đảm bảophát huy khả năng có cạnh tranh đủ rộng về giá, gồm các Nhà thầu có đủ khả năng kếthợp, kinh tế và hiệu quả các hình thức đấu thầu được áp dụng cho từng gói thầu đượcxác định theo thoả thuận giữa ngân hàng và bên vay Kinh nghiệm thứ ba có thể họctập từ quy định cũng như thực hành đấu thầu của Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấuthầu cạnh tranh quốc tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Kinhdoanh phát triển” của Liên Hợp Quốc (Development Business) Ngân hàng Thế giớiquy định:Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấuthầu cạnh tranh Đối với các dự án mua sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị
và nộp cho Ngân hàng một dự thảo Thông báo chung về mua sắm
Trang 40(GeneralProcurement Notice) Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên báoKinh doanh Phát triển của LHQ.
Hướng dẫn này còn quy định rõ: “Mọi người dự thầu đều phải được cung cấp nhữngthông tin như nhau và phải cùng được bảo đảm cơ hội bình đẳng trong việc nhận thôngtin bổ sung kịp thời Bên vay phải tạo điều kiện thuận lợi cho những người có thể dựthầu đến thăm địa điểm dự án”
Ngân hàng Thế giới cũng yêu cầu tránh nói đến tên nhãn hiệu trong hồ sơ mời thầu đểtăng cường tính cạnh tranh trong đấu thầu:” Yêu cầu kỹ thuật phải dựa trên cơ sở cácđặc tính kỹ thuật và hoặc yêu cầu về tính năng sử dụng Cần tránh nói đến các tên nhãnhiệu, số catalo hoặc các cách phân loại tương tự Nếu cần phải trích dẫn tên nhãn hiệuhoặc số catalo của một nhà sản xuất nào đó thì mới nêu rõ và đầy đủ yêu cầu kỹ thuậtđược thì phải, nói thêm “hoặc tương đương sau đó”
Những quy định rõ ràng về ngôn ngữ sử dụng, đồng tiền sử dụng và cách quy đổi từcác loại đồng tiền khác nhau về một đồng tiền chung theo tỷ giá hối đoái do cơ quannào phát hành và thời điểm xác định tỷ giá chung là cơ sở thống nhất cho việc đánh giácác hồ sơ dự thầu Đây được xem là nhân tố quan trọng trong việc bảo đảm tính côngbằng, minh bạch và hiệu quả
Tiêu chuẩn lựa chọn Nhà thầu trúng thầu để trao hợp đồng dựa trên tiêu chuẩn nănglực và có đơn dự thầu được xác định là: (i) về cơ bản đáp ứng hồ sơ mời thầu: và (ii)
có giá chào thầu được đánh giá là có chi phí thấp nhất” Người dự thầu sẽ không bị đòihỏi phải chịu trách nhiệm về các công việc không mâu thuẫn nêu trong hồ sơ mời thầuhay buộc phải sửa đổi đơn dự thầu khác đi so với khi nộp lúc đấu thầu như là một điềukiện để được trúng thầu
Trong quy định của mình, Ngân hàng Thế giới cũng dành một chương mục cho việcquy định ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước và hàng hoá sản xuất trong nước TheoNgân hàng Thế giới, Đối với hợp đồng xây dựng được trao trên cơ sở ICB, khi đượcNgân hàng đồng ý, các bên vay trong điều kiện đủ tiêu chuẩn hợp lệ có thể dành mộtmức ưu đãi 7,5% cho các Nhà thầu trong nước Điều đó có nghĩa là cộng thêm 7,5%