khoa học.Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thiết bị thí nghiệm, quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng, thảo luận nhóm, sử dụng hình ảnh trực quan, đặt câu
Trang 1Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Vật Lí
MỤC LỤC
2 Mục đích nghiên cứu
3.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 8
3.4 Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh
3.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát hiện
3.6 Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp 11
3.7 Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh 12
Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của
trường trung học cơ sở, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí
cơ bản, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc
Trang 2khoa học.
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thiết bị thí
nghiệm, quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng, thảo luận nhóm, sử dụng
hình ảnh trực quan, đặt câu hỏi dẫn dắt học sinh trả lời…là không thể thiếu
được trong quá trình học tập bộ môn Do đó việc hướng dẫn học sinh nắm
vững kiến thức, hình thành kỹ năng quan sát, hướng dẫn các em suy đoán các
hiện tượng vật lí dần hình thành từng bước trong mỗi bài học cụ thể Thông
qua việc tiến hành thí nghiệm, học sinh tiếp nhận được kiến thức một cách dễ
dàng, hiểu sâu hơn về các hiện tượng vật lí
Muốn hoàn thành tốt tiết dạy trên lớp, chúng ta không thể không sử dụng thiết
bị dạy học làm thí nghiệm chứng minh trên lớp, đặt câu hỏi, sử dụng phiếu
học tập…Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú học tập môn Vật lí, giải thích
được một số hiện tượng vật lí thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày?
Chính vì lí do đó tôi chọn đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí
6”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đổi mới phương pháp trong dạy học môn Vật lí 6 có thể làm cho những em
thích học tập môn Vật lí có hứng thú học tập
- Có thể rèn luyện cho học sinh có được một cách học để tiếp thu bài nhanh
nhất, hình thành tư duy lôgic khoa học cho học sinh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Học sinh khối 6 trường THCS
- Các dạng bài tập mẫu hướng dẫn học sinh cách thực hiện
- Thông qua việc thực hiện nội dung đề tài, kiểm tra, so sánh kết quả học tập
của học sinh qua hai năm học 2015-2016 và 2016-2017
4 Phương pháp nghiên cứu
- Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi
của giáo viên
- Phát huy tính tích cực, tinh thần tự giác trong học tập của học sinh
Trang 3- Giúp học sinh yêu thích môn học, có tinh thần học hỏi ở thầy cô, bạn bè…
- Sử dụng phiếu học tập đối với từng bài học phù hợp để học sinh hứng thú
trong giờ học, hiểu bài trên lớp dễ dàng hơn
- Đổi mới phương pháp dạy học là dùng hình ảnh để minh họa trong từng bài
học cụ thể, thí nghiệm chứng minh trên lớp,…
Tập trung nghiên cứu việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí lớp 6
5 Kế hoạch thực hiện.
Để thực hiện hoàn thành tốt sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày kế hoạch
thực hiện đề tài như sau:
- Đầu tháng 8 năm 2016 nghiên cứu và đăng ký tên đề tài
- Vào tháng 9 năm 2016, tìm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và liên hệ thực tế
ở trường nơi công tác giảng dạy Lập thành đề cương nghiên cứu áp dụng đề
tài trong giảng dạy
Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học;
bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên” Do đó, đổi mới phương pháp dạy học nhằm
giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng
tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống
Trang 4khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú
trong học tập Từ đó học sinh dần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm
chất Đó là điều kiện cần thiết cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của
xã hội
Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói
riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:
- Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh Dạy học không chỉ đơn thuần
cung cấp cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã
tích lũy được, mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển
nhân cách theo mục tiêu đào tạo Học sinh càng được tham gia tích cực, chủ
động vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân càng
sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện Tính năng động, sáng tạo là
những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thành
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
- Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng
truyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập
và nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ
môn) Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm
cho học sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn Điều đó có ý
nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai
- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa
trong dạy học Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn
giống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất
yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh
- Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn koa học thực
nghiệm Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn
Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạy
người” Tất nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà
Trang 5trường Trong nhà trường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên
dạy học là hoạt động chủ yếu
2 Cơ sở thực tiễn
- Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cố gắng đổi
mới và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nội dung
giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạy học
thì chưa có sự quan tâm đầy đủ, phương pháp dạy học chưa được đổi mới
tương xứng
- Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp và chất
lượng dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, học sinh
giỏi Ở những giáo viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theo
hướng hiên đại Về cơ bản giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS hiện nay,
trình độ chung của học sinh còn thấp, học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt
các kiến thức đã được học vào cuộc sống hoặc chỉ vận dụng kiến thức một
cách đơn giản, máy móc…
3 Nội dung thực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học trong
bộ môn Vật lí 6.
Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy
học trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải
thực hiện kết hợp một số giải pháp sau đây:
3.1 Dạy học hợp tác theo nhóm:
Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó
học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được
giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc
với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành
nhiệm vụ của cả nhóm
Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:
Bước 1: Làm chung cho cả lớp
Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao
Trang 6nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
Bước 2: Hoạt động nhóm
Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác Thành
viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến , phân công nhóm sau đó từng thành viên
làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần
thiết Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học
sinh
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp
Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, giáo viên tổ chức cho học sinh ở các
nhóm khác nhận xét, đánh giá và giáo viên xác nhận lại khi cần thiết Giáo
viên tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng sau khi các nhóm đã báo cáo
xong Cuối cùng giáo viên động viên, khen ngợi các nhóm cũng như các cá
nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những cá nhân và nhóm chưa hoạt
động tích cực
Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các
công việc sau:
* Tổ chức nhóm:
+ Quy mô nhóm:
Mỗi nhóm nên có từ 3 đến 6 học sinh Nhóm 3 đến 4 học sinh là nhóm nhỏ,
thích hợp với các hoạt động giải bài tập rèn luyện kĩ năng hay thực hành
trong lớp Với nhóm nhỏ, các em thảo luận, đề ra được quyết định nhanh hơn,
giáo viên quản lí các thành viên trong nhóm dễ dàng hơn, nhưng việc bao
quát các nhóm phức tạp hơn, việc theo dõi hoạt động và thời gian để các
nhóm trình bày kết quả phải nhiều hơn vì có nhiều nhóm hơn
Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công cụ
lớn, phức tạp như thực hành thí nghiệm Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinh
cảm giác vui, hồ hởi và niềm tin vào sự thành công Tuy nhiên, sự phối hợp
giữa các thành viên trong nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận
hơn Giáo viên khó khăn hơn trong việc quản lí các thành viên trong nhóm
Trang 7lớn nhưng dễ dàng bao quát chung các nhóm hơn và thời gian để các nhóm
trình bày kết quả cũng ít hơn
+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm:
Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm, báo
cáo viên và các thành viên còn lại Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo,
điều khiển nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc của
nhóm Các thành viên còn lại trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực
vào hoạt động của nhóm theo sự phân công của nhóm trưởng
Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần có
đầy đủ các thành phần như trên Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởng
nhóm để triển khai hoạt động của nhóm Các thành phần trong một nhóm
cũng cần thực hiện luân phiên, các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau
thực hiện các vai trò đó để đều có cơ hội rèn luyện về mọi mặt như nhau
* Các kiểu chia nhóm:
Chia nhóm theo trình độ học sinh Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào
các nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có
cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh
trong một nhóm có khả năng học tập tương đối như nhau) Với nhóm nhiều
trình độ các em học yếu có cơ hội học hỏi các em học khá, giỏi Ngoài những
cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách chia nhóm dựa trên sự tương
đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các
nhóm thực hành có hiệu quả
* Giao nhiệm vụ cho nhóm:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện Sau khi giao nhiệm
vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh đã
hiểu được nhiệm vụ của mình chưa Có thể thực hiện đều này bằng cách hỏi
một vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói
rõ nhiệm vụ của mình Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải
hoàn thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7
Trang 8* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:
Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh theo
các chú ý sau:
- Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn thông
qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp
- Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn
nắn Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời Dù là khuyến
khích hay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân
mật, hợp tác, tạo niềm tin cho học sinh
* Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử đại
diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như
đứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết
bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác
quan sát, nhận xét, bổ sung Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là
rất quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả
lớp trong mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập Sau khi mỗi nhóm đã trình
bày và có sự nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra
ý kiến của mình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp
Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên
tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và
nhận xét, động viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán
những khiếm khuyết đã mắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá
trình thực hiện hoạt động nhóm
3.2 Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:
Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sử
dụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ
thể hóa cái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc
Trang 9phục khó khăn ban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách
hiệu quả, nhanh chóng
Phương pháp trực quan thường được sử dụng trong việc dạy và học môn Vật
lí Nhất là đối với bậc trung học cơ sở, giáo viên cần sử dụng các vật thật, mô
hình hay tranh vẽ để minh hoạ cho các bài học thêm sinh động
3.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình
huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học
sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ
thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ
Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi
vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới,
rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:
- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông
báo tri thức dưới dạng có sẵn
Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri
thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải
là nghe thầy giảng một cách thụ động
- Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá
trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triển
khả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới
Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiện
hoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làm
các bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra Học
sinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề
Trang 10- Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đề
được đặt ra
- Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó
Bước 2: Tìm giải pháp
- Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái đã
biết và cái phải tìm Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặc
điểm hoặc tính chất thích hợp
- Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giải
quyết vần đề một cách hiệu quả
Bước 3: Trình bày giải pháp
Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát
biểu vấn đề cho tới giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể
không cần phát biểu lại vấn đề Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõ
ràng, mạch lạc, logic
Ví dụ: Biết 10dm3 có khối lượng 15kg
a) Tính thể tích của 1 tấn cát
b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m3
Hoạt động của giáo viên và học sinh Thực hiện lời giải
Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt học
sinh làm bài tập theo trình tự các bước sau:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề
Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán
Em hãy cho biết đề bài đã cho những đại
Trang 11lượng của cát
-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài, giáo
viên theo dõi
Bước 2:Tìm giải pháp
-GV: Bài toàn cho biết thể tích và khối
lượng của cát, ta tính được đại lượng liên
quan nào?
+HS: Ta tính được khối lượng riêng của cát
-GV: Em hãy cho biết công thức tính khối
lượng riêng?
+HS: Khối lượng riêng được xác định theo
công thức
-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng
của cát, các em tính thể tích của cát dựa vào
công thức biến đổi
với m = 1tấn = 1000kg
Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán
-GV: Em hãy cho biết công thức tính trọng
Trang 12lượng của cát được tính theo công thức
nào?
+ HS: Khối lượng của cát được tính theo
công thức m = D.V
- GV: Sau khi các em tính được khối lượng
của cát, ta áp dụng lại công thức P=10m sẽ
tính được trọng lượng của cát
Bước 3: Trình bày giải pháp
Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo viên,
học sinh trình bày bài toán một cách chi
tiết, cụ thể
- GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời
Khối lượng riêng của cát là
a) Thể tích của một tấn cát là:….
b)Trọng lượng của một đóng cát 3m Khối lượng của 3m 3 cát là:
m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg) Trọng lượng của 3m 3 cát là:
Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm Các tri thức Vật lí là sự khái quát hóa
các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời sống
Không có thí nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư
duy để tiếp nhận tri thức mới Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến
học sinh về bản chất là áp đặt Chính cách dạy chay là một trong những
nguyên nhân của tình trạng chất lượng học tập bộ môn còn thấp và cũng đồng
thời là sự tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và cuộc sống
Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm
chứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh
động hơn, hiệu quả hơn
Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế Để thực hiện các thí
nghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy
Trang 13cần thực hiện các bước sau:
+ Chủ động và có kế hoạch làm đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học: Cùng
với việc lập kế hoạch dạy học, giáo viên phải tính đến các điều kiện cụ thể
trong nhà trường mà xây dựng kế hoạch làm và sử dụng trang thiết bị dạy học
phù hợp
+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực
hiện các thí nghiệm chứng minh
3.5 Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát
hiện tượng, phân tích các kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có
liên quan…để đi đến tri thức mới.
Để tổ chức tốt cho học sinh làm việc trên lớp một cách chủ động, tích cực,
đúng hướng…vai trò tổ chức của giáo viên thể hiện chủ yếu qua hệ thống câu
hỏi:
+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic và theo
nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…
+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các em cần tự
mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…để
nắm vững được bản chất và quy luật của chúng Nếu học sinh không tự làm
được theo các yêu cầu đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ
thể và chi tiết hơn
+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được năng lực của
mọi đối tượng học sinh Đối với học sinh khá - giỏi trả lời những câu hỏi
chung, khái quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết
hơn Có thể trong thời gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưng
giáo viên cần phải làm như vậy để rèn luyện thói quen cho học sinh
+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể cả
các câu hỏi gợi ý chi tiết Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn
3.6 Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:
Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học Nó giúp học sinh hoàn thiện