1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN: Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

26 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 52,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khoa học.Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thiết bị thí nghiệm, quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng, thảo luận nhóm, sử dụng hình ảnh trực quan, đặt câu

Trang 1

Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Vật Lí

MỤC LỤC

2 Mục đích nghiên cứu

3.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 8

3.4 Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm chứng minh

3.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh quan sát hiện

3.6 Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp 11

3.7 Sử dụng “phiếu học tập” cho mỗi học sinh 12

Môn Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của

trường trung học cơ sở, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí

cơ bản, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc

Trang 2

khoa học.

Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên việc sử dụng các thiết bị thí

nghiệm, quan sát thí nghiệm, giải thích hiện tượng, thảo luận nhóm, sử dụng

hình ảnh trực quan, đặt câu hỏi dẫn dắt học sinh trả lời…là không thể thiếu

được trong quá trình học tập bộ môn Do đó việc hướng dẫn học sinh nắm

vững kiến thức, hình thành kỹ năng quan sát, hướng dẫn các em suy đoán các

hiện tượng vật lí dần hình thành từng bước trong mỗi bài học cụ thể Thông

qua việc tiến hành thí nghiệm, học sinh tiếp nhận được kiến thức một cách dễ

dàng, hiểu sâu hơn về các hiện tượng vật lí

Muốn hoàn thành tốt tiết dạy trên lớp, chúng ta không thể không sử dụng thiết

bị dạy học làm thí nghiệm chứng minh trên lớp, đặt câu hỏi, sử dụng phiếu

học tập…Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú học tập môn Vật lí, giải thích

được một số hiện tượng vật lí thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày?

Chính vì lí do đó tôi chọn đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí

6”

2 Mục đích nghiên cứu

- Đổi mới phương pháp trong dạy học môn Vật lí 6 có thể làm cho những em

thích học tập môn Vật lí có hứng thú học tập

- Có thể rèn luyện cho học sinh có được một cách học để tiếp thu bài nhanh

nhất, hình thành tư duy lôgic khoa học cho học sinh

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Học sinh khối 6 trường THCS

- Các dạng bài tập mẫu hướng dẫn học sinh cách thực hiện

- Thông qua việc thực hiện nội dung đề tài, kiểm tra, so sánh kết quả học tập

của học sinh qua hai năm học 2015-2016 và 2016-2017

4 Phương pháp nghiên cứu

- Hướng dẫn học sinh quan sát thí nghiệm, độc lập suy nghĩ trả lời các câu hỏi

của giáo viên

- Phát huy tính tích cực, tinh thần tự giác trong học tập của học sinh

Trang 3

- Giúp học sinh yêu thích môn học, có tinh thần học hỏi ở thầy cô, bạn bè…

- Sử dụng phiếu học tập đối với từng bài học phù hợp để học sinh hứng thú

trong giờ học, hiểu bài trên lớp dễ dàng hơn

- Đổi mới phương pháp dạy học là dùng hình ảnh để minh họa trong từng bài

học cụ thể, thí nghiệm chứng minh trên lớp,…

Tập trung nghiên cứu việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí lớp 6

5 Kế hoạch thực hiện.

Để thực hiện hoàn thành tốt sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày kế hoạch

thực hiện đề tài như sau:

- Đầu tháng 8 năm 2016 nghiên cứu và đăng ký tên đề tài

- Vào tháng 9 năm 2016, tìm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và liên hệ thực tế

ở trường nơi công tác giảng dạy Lập thành đề cương nghiên cứu áp dụng đề

tài trong giảng dạy

Luật giáo dục năm 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học;

bồi dưỡng cho người học năng lực học tập, khả năng thực hành, lòng say

mê học tập và ý chí vươn lên” Do đó, đổi mới phương pháp dạy học nhằm

giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, rèn luyện thói quen và khả năng

tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống

Trang 4

khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú

trong học tập Từ đó học sinh dần hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm

chất Đó là điều kiện cần thiết cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của

xã hội

Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói

riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:

- Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình

thành và phát triển nhân cách của học sinh Dạy học không chỉ đơn thuần

cung cấp cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã

tích lũy được, mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển

nhân cách theo mục tiêu đào tạo Học sinh càng được tham gia tích cực, chủ

động vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân càng

sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện Tính năng động, sáng tạo là

những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thành

ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

- Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọng

truyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập

và nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộ

môn) Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làm

cho học sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn Điều đó có ý

nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai

- Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phân hóa

trong dạy học Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàn

giống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tất

yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh

- Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn koa học thực

nghiệm Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn

Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạy

người” Tất nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà

Trang 5

trường Trong nhà trường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên

dạy học là hoạt động chủ yếu

2 Cơ sở thực tiễn

- Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cố gắng đổi

mới và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nội dung

giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạy học

thì chưa có sự quan tâm đầy đủ, phương pháp dạy học chưa được đổi mới

tương xứng

- Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp và chất

lượng dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, học sinh

giỏi Ở những giáo viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theo

hướng hiên đại Về cơ bản giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS hiện nay,

trình độ chung của học sinh còn thấp, học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt

các kiến thức đã được học vào cuộc sống hoặc chỉ vận dụng kiến thức một

cách đơn giản, máy móc…

3 Nội dung thực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học trong

bộ môn Vật lí 6.

Trong quá trình giảng dạy, cùng với việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy

học trong trường THCS, bộ môn Vật lí nói chung và Vật lí 6 nói riêng phải

thực hiện kết hợp một số giải pháp sau đây:

3.1 Dạy học hợp tác theo nhóm:

Dạy học hợp tác theo nhóm là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó

học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được

giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc

với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành

nhiệm vụ của cả nhóm

Hoạt động dạy học hợp tác theo nhóm thường bao gồm các bước:

Bước 1: Làm chung cho cả lớp

Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao

Trang 6

nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.

Bước 2: Hoạt động nhóm

Từng nhóm làm việc riêng trong không khí thi đua với các nhóm khác Thành

viên trong mỗi nhóm trao đổi ý kiến , phân công nhóm sau đó từng thành viên

làm việc theo sự phân công đó và có thể bàn bạc, trao đổi với nhau khi cần

thiết Giáo viên giám sát sự hoạt động của nhóm và của từng cá nhân học

sinh

Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước cả lớp

Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả, giáo viên tổ chức cho học sinh ở các

nhóm khác nhận xét, đánh giá và giáo viên xác nhận lại khi cần thiết Giáo

viên tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng sau khi các nhóm đã báo cáo

xong Cuối cùng giáo viên động viên, khen ngợi các nhóm cũng như các cá

nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán những cá nhân và nhóm chưa hoạt

động tích cực

Trong quá trình thực hiện dạy học hợp tác theo nhóm, giáo viên cần làm các

công việc sau:

* Tổ chức nhóm:

+ Quy mô nhóm:

Mỗi nhóm nên có từ 3 đến 6 học sinh Nhóm 3 đến 4 học sinh là nhóm nhỏ,

thích hợp với các hoạt động giải bài tập rèn luyện kĩ năng hay thực hành

trong lớp Với nhóm nhỏ, các em thảo luận, đề ra được quyết định nhanh hơn,

giáo viên quản lí các thành viên trong nhóm dễ dàng hơn, nhưng việc bao

quát các nhóm phức tạp hơn, việc theo dõi hoạt động và thời gian để các

nhóm trình bày kết quả phải nhiều hơn vì có nhiều nhóm hơn

Nhóm từ 5 đến 6 học sinh là nhóm lớn, chủ yếu thích hợp với những công cụ

lớn, phức tạp như thực hành thí nghiệm Các nhóm lớn dễ tạo cho học sinh

cảm giác vui, hồ hởi và niềm tin vào sự thành công Tuy nhiên, sự phối hợp

giữa các thành viên trong nhóm là phức tạp hơn, khó đạt được sự đồng thuận

hơn Giáo viên khó khăn hơn trong việc quản lí các thành viên trong nhóm

Trang 7

lớn nhưng dễ dàng bao quát chung các nhóm hơn và thời gian để các nhóm

trình bày kết quả cũng ít hơn

+ Phân công nhiệm vụ trong nhóm:

Trong các nhóm thường có các thành phần: Trưởng nhóm, thư kí nhóm, báo

cáo viên và các thành viên còn lại Trưởng nhóm chịu trách nhiệm chỉ đạo,

điều khiển nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép lại các kết quả công việc của

nhóm Các thành viên còn lại trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực

vào hoạt động của nhóm theo sự phân công của nhóm trưởng

Sự phân công nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, không phải luôn cần có

đầy đủ các thành phần như trên Tuy nhiên một nhóm nhất thiết nên có trưởng

nhóm để triển khai hoạt động của nhóm Các thành phần trong một nhóm

cũng cần thực hiện luân phiên, các em trong nhóm lần lượt trao đổi với nhau

thực hiện các vai trò đó để đều có cơ hội rèn luyện về mọi mặt như nhau

* Các kiểu chia nhóm:

Chia nhóm theo trình độ học sinh Khi đó, học sinh trong lớp được chia vào

các nhóm thường theo một số kiểu sau: Nhóm nhiều trình độ (trong nhóm có

cả học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu); nhóm cùng trình độ (các em học sinh

trong một nhóm có khả năng học tập tương đối như nhau) Với nhóm nhiều

trình độ các em học yếu có cơ hội học hỏi các em học khá, giỏi Ngoài những

cách chia nói trên, vẫn có thể có những cách chia nhóm dựa trên sự tương

đồng với dụng cụ thực hành thí nghiệm, đảm bảo đầy đủ các dụng cụ cho các

nhóm thực hành có hiệu quả

* Giao nhiệm vụ cho nhóm:

Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm thực hiện Sau khi giao nhiệm

vụ cho các nhóm, giáo viên cần kiểm tra xem từng nhóm, từng học sinh đã

hiểu được nhiệm vụ của mình chưa Có thể thực hiện đều này bằng cách hỏi

một vài nhóm trưởng cũng như một vài em khác, yêu cầu các em đứng lên nói

rõ nhiệm vụ của mình Giáo viên cũng cần quy định rõ thời gian yêu cầu phải

hoàn thành hoạt động nhóm, thường với mọi hoạt động, thời gian từ 5 đến 7

Trang 8

* Giáo viên quản lí hoạt động nhóm:

Trong khi các nhóm hoạt động, giáo viên cần bao quát, chỉ đạo học sinh theo

các chú ý sau:

- Quan sát tất cả các nhóm, phát hiện và hỗ trợ các nhóm có khó khăn thông

qua các câu hỏi dẫn dắt, các hướng dẫn thích hợp

- Phát hiện các nhóm làm việc chưa tích cực, mất trật tự…để nhắc nhở, uốn

nắn Các nhóm tích cực khuyến khích, động viên kịp thời Dù là khuyến

khích hay nhắc nhở học sinh, cử chỉ của giáo viên phải thể hiện thái độ thân

mật, hợp tác, tạo niềm tin cho học sinh

* Tổ chức hoạt động thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:

Khi các nhóm đã hoàn thành hoạt động, giáo viên yêu cầu mỗi nhóm cử đại

diện lên trình bày trước toàn lớp và nêu rõ quy định về cách trình bày như

đứng tại chỗ hay lên bảng, chỉ diễn đạt bằng lời nói hay kết hợp với viết

bảng…Sau khi giáo viên yêu cầu một vài nhóm lên trình bày, các nhóm khác

quan sát, nhận xét, bổ sung Sự nhận xét, bổ sung lẫn nhau giữa các nhóm là

rất quan trọng, nó thể hiện sự tương tác giữa các nhóm và sự gắn kết của cả

lớp trong mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập Sau khi mỗi nhóm đã trình

bày và có sự nhận xét, bổ sung của các học sinh ngoài nhóm, giáo viên đưa ra

ý kiến của mình, thể thức hóa kết quả của mỗi nhóm trước cả lớp

Cuối cùng, sau khi các nhóm được chỉ định đều đã trình bày xong, giáo viên

tổng kết, chốt lại những điểm quan trọng trong kết quả của tất cả các nhóm và

nhận xét, động viên, khen ngợi các nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ, phê phán

những khiếm khuyết đã mắc phải của một số nhóm hay cá nhân trong quá

trình thực hiện hoạt động nhóm

3.2 Sử dụng phương pháp trực quan trong tiết học:

Phương pháp trực quan hay nói chính xác hơn là nhóm các phương pháp sử

dụng các vật thực, mô hình, tranh vẽ… để minh họa cho các bài học nhằm cụ

thể hóa cái nhìn trừu tượng trong đối tượng và hiện tượng giúp học sinh khắc

Trang 9

phục khó khăn ban đầu, tiếp thu và vận dụng được các kiến thức một cách

hiệu quả, nhanh chóng

Phương pháp trực quan thường được sử dụng trong việc dạy và học môn Vật

lí Nhất là đối với bậc trung học cơ sở, giáo viên cần sử dụng các vật thật, mô

hình hay tranh vẽ để minh hoạ cho các bài học thêm sinh động

3.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cách thầy tổ chức tạo ra một tình

huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của học sinh, gợi ra những vướng mắc mà học

sinh chưa giải đáp ngay được, nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ

thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ

Trong dạy học và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những tình huống gợi

vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ

động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức mới,

rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường có những đặc điểm sau đây:

- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông

báo tri thức dưới dạng có sẵn

Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri

thức và khả năng của mình để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải

là nghe thầy giảng một cách thụ động

- Mục tiêu dạy học không chỉ là làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá

trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn ở chỗ làm cho học sinh phát triển

khả năng tiến hành khám phá và lĩnh hội tri thức mới

Trong dạy học và phát hiện vấn đề là việc điều khiển học sinh tự thực hiện

hoặc hòa nhập vào quá trình nghiên cứu vấn đề, quá trình này có thể chia làm

các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường do thầy tạo ra Học

sinh có thể liên tưởng, dự đoán, suy nghĩ, tìm tòi tình huống gợi vấn đề

Trang 10

- Giải thích và chính xác hóa tình huống khi cần thiết để hiểu đúng vấn đề

được đặt ra

- Phát hiện vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó

Bước 2: Tìm giải pháp

- Học sinh tìm một cách giải quyết vấn đề, cần làm rõ mối liên hệ giữa cái đã

biết và cái phải tìm Trong Vật lí thường liên tưởng tới những khái niệm, đặc

điểm hoặc tính chất thích hợp

- Tổ chức thu thập dữ liệu, học sinh tiến hành suy luận tìm ra hướng giải

quyết vần đề một cách hiệu quả

Bước 3: Trình bày giải pháp

Khi giải quyết được vấn đề đặt ra, học sinh trình bày lại toàn bộ từ việc phát

biểu vấn đề cho tới giải pháp Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể

không cần phát biểu lại vấn đề Trong khi trình bày, học sinh phải trình bày rõ

ràng, mạch lạc, logic

Ví dụ: Biết 10dm3 có khối lượng 15kg

a) Tính thể tích của 1 tấn cát

b) Tính trọng lượng của một đóng cát 3m3

Hoạt động của giáo viên và học sinh Thực hiện lời giải

Giáo viên đặt một số câu hỏi dẫn dắt học

sinh làm bài tập theo trình tự các bước sau:

Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề

Giáo viên hướng dẫn câu a của bài toán

Em hãy cho biết đề bài đã cho những đại

Trang 11

lượng của cát

-GV yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài, giáo

viên theo dõi

Bước 2:Tìm giải pháp

-GV: Bài toàn cho biết thể tích và khối

lượng của cát, ta tính được đại lượng liên

quan nào?

+HS: Ta tính được khối lượng riêng của cát

-GV: Em hãy cho biết công thức tính khối

lượng riêng?

+HS: Khối lượng riêng được xác định theo

công thức

-GV: Sau khi tính được khối lượng riêng

của cát, các em tính thể tích của cát dựa vào

công thức biến đổi

với m = 1tấn = 1000kg

Giáo viên hướng dẫn câu b của bài toán

-GV: Em hãy cho biết công thức tính trọng

Trang 12

lượng của cát được tính theo công thức

nào?

+ HS: Khối lượng của cát được tính theo

công thức m = D.V

- GV: Sau khi các em tính được khối lượng

của cát, ta áp dụng lại công thức P=10m sẽ

tính được trọng lượng của cát

Bước 3: Trình bày giải pháp

Bằng các gợi ý và hướng dẫn của giáo viên,

học sinh trình bày bài toán một cách chi

tiết, cụ thể

- GV theo dõi, uốn nắn, sữa sai kịp thời

Khối lượng riêng của cát là

a) Thể tích của một tấn cát là:….

b)Trọng lượng của một đóng cát 3m Khối lượng của 3m 3 cát là:

m = D.V = 1500.3 = 4500 (kg) Trọng lượng của 3m 3 cát là:

Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm Các tri thức Vật lí là sự khái quát hóa

các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng xảy ra trong đời sống

Không có thí nghiệm, học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư

duy để tiếp nhận tri thức mới Do đó mọi tri thức mà giáo viên truyền đạt đến

học sinh về bản chất là áp đặt Chính cách dạy chay là một trong những

nguyên nhân của tình trạng chất lượng học tập bộ môn còn thấp và cũng đồng

thời là sự tách rời giữa học và hành, giữa nhà trường và cuộc sống

Trong học tập, nếu sử dụng các đồ dùng dạy học thực hiện các thí nghiệm

chứng minh trên lớp ta dễ dàng nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, sinh

động hơn, hiệu quả hơn

Tuy nhiên, trang thiết bị trong nhà trường còn hạn chế Để thực hiện các thí

nghiệm trong các tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên bộ môn trực tiếp giảng dạy

Trang 13

cần thực hiện các bước sau:

+ Chủ động và có kế hoạch làm đồ dùng dạy học ngay từ đầu năm học: Cùng

với việc lập kế hoạch dạy học, giáo viên phải tính đến các điều kiện cụ thể

trong nhà trường mà xây dựng kế hoạch làm và sử dụng trang thiết bị dạy học

phù hợp

+ Giáo viên bộ môn phối hợp với nhóm bộ môn, tập thể tổ rèn kĩ năng thực

hiện các thí nghiệm chứng minh

3.5 Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát

hiện tượng, phân tích các kết quả thí nghiệm, vận dụng các kiến thức có

liên quan…để đi đến tri thức mới.

Để tổ chức tốt cho học sinh làm việc trên lớp một cách chủ động, tích cực,

đúng hướng…vai trò tổ chức của giáo viên thể hiện chủ yếu qua hệ thống câu

hỏi:

+ Các câu hỏi phải được sắp xếp thành hệ thống, đảm bảo tính lôgic và theo

nguyên tắc từ dễ đến khó, từ khái quát đến cụ thể…

+ Các hiện tượng mà học sinh quan sát được là một chỉnh thể, các em cần tự

mình phân tích để lí giải từng bộ phận, từng khía cạnh, từng giai đoạn…để

nắm vững được bản chất và quy luật của chúng Nếu học sinh không tự làm

được theo các yêu cầu đó, giáo viên mới tách ra thành những câu hỏi nhỏ, cụ

thể và chi tiết hơn

+ Học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả phát huy được năng lực của

mọi đối tượng học sinh Đối với học sinh khá - giỏi trả lời những câu hỏi

chung, khái quát; học sinh trung bình và yếu trả lời các câu hỏi cụ thể, chi tiết

hơn Có thể trong thời gian đầu, học sinh chưa quen với cách làm này nhưng

giáo viên cần phải làm như vậy để rèn luyện thói quen cho học sinh

+ Câu hỏi mà giáo viên đặt ra cho học sinh phải được chuẩn bị trước, kể cả

các câu hỏi gợi ý chi tiết Diễn đạt phải rõ ràng, ngắn gọn

3.6 Tăng cường luyện tập độc lập cho học sinh trên lớp:

Luyện tập là khâu quan trọng trong mỗi tiết học Nó giúp học sinh hoàn thiện

Ngày đăng: 26/09/2019, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w