LỜI CẢM ƠNTrong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Phương pháp dạy học tình huống có vấn đề trong môn tin học lớp 11 trường THPT”, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
DƯƠNG THỊ NGỌC ÁNH
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÌNH
HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG MÔN TIN
HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
DƯƠNG THỊ NGỌC ÁNH
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÌNH
HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG MÔN TIN
HỌC LỚP 11 TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
Người hướng dẫn khoa học
TS LƯU THỊ BÍCH HƯƠNG ThS TRỊNH NGỌC TRÚC
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Phương pháp dạy học
tình huống có vấn đề trong môn tin học lớp 11 trường THPT”, em xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô Viện CNTT - Trường ĐHSP Hà Nội 2cùng với tri thức và tâm huyết của mình đã truyền đạt vốn kiến thức quý báutrong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Lưu Thị Bích Hương và thầyTrịnh Ngọc Trúc giảng viên Viện CNTT – Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tìnhgiúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành đề tài khóa luận
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo trong tổ Lý– Tin – Công nghệ của trường THPT Mỹ Hào, đặc biệt là cô hướng dẫn thực tậpPhạm Thị Hồng Chuyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ và đóng góp ý kiến
để em thực hiện khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Ngọc Ánh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
1 Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em và được sựhướng dẫn trực tiếp của TS.Lưu Thị Bích Hương và ThS.Trịnh Ngọc Trúc Cácnội dung nghiên cứu, những số liệu kết quả được chính em thu thập trong thờigian thực tập tại trường THPT Mỹ Hào
2 Các tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng tên tácgiả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, emxin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Ngọc Ánh
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các mức độ của tình huống có vấn đề 10
Bảng 1.2: Mức độ sử dụng các PPDH tích cực ở trường THPT 18
Bảng 1.3: Ý kiến GV về việc dạy học bằng PPDH tình huống có vấn đề 19
Bảng 1.4: Kết quả điều tra về ý thức học tập và phương pháp học môn Tin học của học sinh 20
Bảng 3.1: Các nhóm thực nghiệm và đối chứng 51
Bảng 3.2: Thống kê kết quả học tập môn Tin học trước thực nghiệm 51
Bảng 3.3: Kết quả phiếu điều tra bài tập 58
Bảng 3.4: Kết quả điều tra sau thực nghiệm 59
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Khái niệm 4
1.1.1 Tình huống 4
1.1.2 Tình huống dạy học 4
1.1.3 Phương pháp dạy học tình huống 5
1.2 Tình huống có vấn đề trong dạy học 5
1.2.1 Khái niệm 5
1.2.2 Phân loại 8
1.2.3 Các mức độ của tình huống có vấn đề 10
1.2.4 Yêu cầu khi xây dựng tình huống có vấn đề 11
1.2.5 Mục đích 11
1.2.6 Một số cách tạo tình huống có vấn đề 12
1.3 Thực trạng về sử dụng PPDH tình huống có vấn đề trong dạy học 17
1.3.1 Điều tra thăm dò ý kiến GV 18
1.3.2 Điều tra thăm dò ý kiến HS 20
1.3.3 Đánh giá chung 21
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG MÔN TIN HỌC LỚP 11 23
2.1 Vị trí và đặc điểm môn Tin học 23
2.2 Nguyên tắc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học 11 28
2.3 Quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học 30
2.4 Quy trình dạy học sinh giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học 37
2.5 Phân tích một số nội dung có sử dụng phương pháp dạy học tình huống có vấn đề 41
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích thực nghiệm 51
3.2 Đối tượng thực nghiệm 51
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 51
Trang 93.4 Nội dung thực nghiệm 58
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 58
3.5.1 Bảng thống kê 58
3.5.2 Kết luận rút ra từ kết quả thực nghiệm 59
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 64
Trang 101 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế đã trở thành xu thế chung của thời đại Khi khoa học kỹ thuật của nhânloại phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ củangành giáo dục vô cùng to lớn, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáodưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học Trong xu thế đó,mỗi quốc gia cần tự tìm một hướng đi thích hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thểcủa quốc gia mình để tồn tại và phát triển Nhận thức rõ yêu cầu khách quantrước tình hình mới, phát triển giáo dục là một trong những mục tiêu quốc sáchhàng đầu được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và chú trọng Tại điều 28.2,Luật Giáo dục quy định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập chohọc sinh"
Dạy học không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức mà phải dạy cho họcsinh con đường tìm ra kiến thức Thực tế, kiến thức càng thiết thực, càng hấpdẫn, càng lôi cuốn thì học sinh càng dễ dàng tiếp nhận và nhớ lâu Để nhữngkiến thức khoa học khô cứng trở nên gần gũi với học sinh thì thông qua việc giảiquyết các tình huống gắn với thực tiễn, học sinh sẽ có cơ hội rèn luyện tư duy,hoạt hóa năng lực tự học, tự nghiên cứu, biến họ từ khách thể trở thành chủ thểcủa quá trình nhận thức và học tập, từng bước giành lấy tri thức khoa học, pháttriển khả năng thích ứng với các tình huống khác nhau trong học tập cũng nhưcuộc sống
Từ những lý do đó, em đã chọn đề tài “Phương pháp dạy học tình huống
có vấn đề trong môn Tin học 11 Trường THPT” để nghiên cứu xây dựng các
tình huống và hướng dẫn học sinh cách giải quyết các tình huống Qua đó khôngchỉ tạo hứng thú và phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức cho học
Trang 11sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tin học ở trường THPT mà quantrọng hơn là rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết vấn đề.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu phương pháp dạy học tình huống có vấn đề
- Một số cách tạo tình huống có vấn đề
- Nguyên tắc, quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học
- Quy trình dạy học sinh giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học lớp 11
- Phân tích một số nội dung có sử dụng phương pháp dạy học hình huống có vấn
đề trong môn Tin học lớp 11
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của phương pháp dạy học tìnhhuống có vấn đề Đồng thời đúc rút kinh nghiệm giảng dạy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học tình huống có vấn đề
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phương pháp dạy học tình huống có vấn đề trong môn Tin học lớp 11 ởtrường THPT Mỹ Hào
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết củaĐảng, của chính phủ, của ngành giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học ởtrường phổ thông
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà khoa học
về phương pháp dạy học tình huống có vấn đề
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thực trạng giáo dục nghiệp vụ sưphạm và rèn luyện kĩ năng sử dụng các phương pháp/kĩ thuật dạy học
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểmchứng các giải pháp đề xuất
Trang 125 Cấu trúc khóa luận
Ngoài mở đầu, kết luận và hướng phát triển, mục lục và tài liệu tham khảokhóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng phương pháp dạy học tình huống có vấn đề trong môn
Tin học 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Theo Từ điển Tâm lý học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội (2000): “Tìnhhuống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụngthúc đẩy chủ thể đó Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoàinhận thức của chủ thể Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so vớihành động của chủ thể Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập củacác sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động”.
Theo Boehrer (1995) thì: “Tình huống là một câu chuyện, có cốt truyện vànhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, vàthường là hành động chưa hoàn chỉnh Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết,chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học” [1]
1.1.2 Tình huống dạy học
Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xãhội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà người học đã trởthành chủ thể hoạt động của đối tượng nhận thức trong môi trường dạy học,nhằm một mục đích dạy học cụ thể Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy họcchính là trạng thái bên trong được sinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đốitượng nhận thức Bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lênlớp, chứa đựng mối liên hệ M-N-P (mục đích – nội dung – phương pháp) theochiều ngang tại một thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức
Theo PGS.TS Phan Trọng Ngọ thì “Tình huống dạy học là tình huốngtrong đó có sự ủy thác của người giáo viên Sự ủy thác này chính là quá trìnhngười giáo viên đưa ra những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tìnhhuống và cấu trúc các sự kiện tình huống sao cho phù hợp với logic sư phạm, đểkhi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học”
Trang 14Tuy nhiên, một tình huống thông thường chưa phải là tình huống dạy học.
Để một tình huống thông thường trở thành tình huống dạy học khi có sự ủy tháccủa giáo viên và được giáo viên sử dụng với dụng ý tạo ra môi trường làm việccho người học Tình huống không phải là những trường hợp bất kỳ trong thực tế
mà là những tình huống đã được điều chỉnh, nghiên cứu kỹ lưỡng để mang tínhđiển hình và phục vụ tốt cho mục đích và mục tiêu giáo dục, tức là giúp chongười học có thể hiểu và vận dụng tri thức cũng như rèn luyện được các kỹ năng
và kỹ xảo Tình huống được sử dụng để khuyến khích người học phân tích, bìnhluận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó, từng bướcchiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợpthực tế Tình huống yêu cầu người đọc phải từng bước nhập vai người ra quyếtđịnh cụ thể [1]
1.1.3 Phương pháp dạy học tình huống
PPDH tình huống là cách thức giáo viên tổ chức cho người học tự lựcnghiên cứu và giải quyết các tình huống từ thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệpgắn với những chủ đề học tập, qua đó người học tự lực lĩnh hội tri thức mới vàcách thức hành động mới, hình thành, phát triển năng lực giải quyết các vấn đề
và nghề nghiệp [1]
PPDH tình huống thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Tình huống dạy học là đối tượng chính của hoạt động dạy học
- Người học tự nghiên cứu tình huống và giải quyết các vấn đề mà tìnhhuống đặt ra
- Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, ủy thác và điều phối
1.2 Tình huống có vấn đề trong dạy học
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Vấn đề
Vấn đề, được hiểu một cách đơn giản là những vướng mắc, khó khăntrong cuộc sống hoặc trong khoa học mà ta cần giải quyết
Trang 15Trong phạm vi của tài liệu biên soạn, thuật ngữ “bài toán” được hiểu theonghĩa rộng: đó là một nhiệm vụ nào đó cần thực hiện (trả lời một câu hỏi, nhậnxét và đánh giá một sản phẩm, giải một bài toán tin học, …).
Xét một bài toán T, và chủ thể X Khi đó có hai khả năng xảy ra:
- Chủ thể X có thể giải quyết được bài toán T chỉ nhờ vào việc áp dụng đơnthuần hệ thống kiến thức sẵn có của mình
- Chủ thể X không thể giải quyết được bài toán T nếu chỉ dựa vào hệ thống kiếnthức đã có, hoặc chỉ giải quyết được T sau một quá trình suy nghĩ, điều chỉnhlại kiến thức của mình Nói cách khác, bài toán T đặt ra trước chủ thể X nhữngkhó khăn nhận thức, những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết Khi đó
ta nói, bài toán T là một vấn đề đối với chủ thể X [4]
sự với nội dung cụ thể đó Trong trường hợp này, tình huống có vấn đề trở thànhvấn đề Vấn đề là một tình huống có vấn đề được chủ thể tiếp nhận giải quyếtdựa trên các phương tiện (tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm tìm tòi) sẵn có củamình Cho nên mọi vấn đề đều chứa đựng trong tình huống có vấn đề, nhưngkhông phải bất kì tình huống nào có vấn đề nào cũng đều là vấn đề cả”
Xét về mặt nhận thức, Nguyễn Ngọc Quang (1982) cho rằng: “tình huống
có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thứcđược học sinh chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyếtđược”
Trần Thị Quốc Minh (1996) đã nhấn mạnh tính mâu thuẫn của tìnhhuống có vấn đề: “tình huống có vấn đề tự bản thân nó là một trích đoạn của
Trang 16thực tế khách quan, một mặt là của mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, mặtkhác là hoạt động của con người” và hạt nhân của mọi tình huống có vấn đề làmâu thuẫn giữa một số nhu cầu với những phương tiện có sẵn để thỏa mãn thíchhợp nhu cầu đó”.
Như vậy, để hiểu được đầy đủ khái niệm tình huống có vấn đề thì khôngchỉ dừng lại ở định nghĩa mà phải nắm vững được cả bản chất, đặc điểm và cácmối quan hệ của nó, và tình huống có vấn đề có thể được hiểu như sau:
Một là, tình huống có vấn đề là tình huống trong đó chứa đựng mâuthuẫn giữa nhu cầu và phương tiện mà chủ thể có được Mâu thuẫn này phảiđược chủ thể nhận thức, chấp nhận nó cần giải quyết và có thể giải quyết được
Hai là, tình huống có vấn đề xuất hiện trong hoạt động của con người làhoạt động có tư duy
Ba là, tình huống có vấn đề đưa chủ thể vào trạng thái kích thích tích cựchoạt đông, là một trong những cơ chế sáng tạo trong sự nhận thức, phát triển củacon người
Bốn là, bản chất của tình huống có vấn đề là sự xuất hiện mâu thuẫn giữachủ thể và khách thế
Năm là, trong mỗi tình huống đã chứa đựng sẵn vấn đề cần giải quyếtnhưng cùng một tình huống với người này thì có vấn đề nhưng với người khácthì không có vấn đề Như vậy, tình huống có vấn đề vừa mang tính khách quanvừa mang tính chủ quan của chủ thể khi tiếp nhận tình huống đó [6]
1.2.1.3 Tình huống có vấn đề trong dạy học
HS trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung của nhân loại, đã vấpphải tình huống giữa vốn hiểu biết của bản thân với nội dung một khái niệm,quy luật mới nào đó thì sẽ xuất hiện vấn đề đó là vấn đề học tập
Tình huống gợi vấn đề, là tình huống thoả 3 điều kiện [4]:
(i) Tồn tại một vấn đề: nghĩa là tình huống phải bộc lộ mâu thuẫn giữatrình độ nhận thức của chủ thể (học sinh) và đối tượng nhận thức Chủ thể phải ýthức được khó khăn trong tư duy và hành động mà vốn hiểu biết sẵn có của họchưa cho phép giải quyết ngay tức thì
Trang 17(ii) Gợi nhu cầu nhận thức: nếu tình huống có vấn đề, nhưng học sinhthấy xa lạ, không muốn tìm hiểu, không muốn suy nghĩ để tìm cách giải quyết,thì đó cũng không phải là tình huống gợi vấn đề Tình huống gợi vấn đề phải làtình huống tạo ra cho học sinh một cảm xúc hứng thú mong muốn giải quyết vấnđề
(iii) Gây niềm tin khả năng: nếu vấn đề trong tình huống rất hấp dẫn, lôicuốn học sinh, nhưng rất nhanh học sinh cảm thấy vấn đề là quá khó, vượt quákhả năng của mình, thì học sinh cũng không còn hứng thú, không còn sẵn sànggiải quyết vấn đề Tình huống gợi vấn đề phải bộc lộ mối quan hệ (khá mờ nhạt)giữa vấn đề cần giải quyết và vốn kiến thức sẵn có của chủ thể học sinh, và tạo
ra niềm tin rằng: nếu họ tích cực suy nghĩ thì sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này vànhiều khả năng tìm ra cách giải quyết vấn đề
Lưu ý, các điều kiện (ii) và (iii) cho phép phân biệt tình huống gợi vấn
đề với tình huống có vấn đề Một tình huống có vấn đề chỉ cần thoả mãn điềukiện (i) Như vậy, tình huống gợi vấn đề là tình huống gợi ra cho học sinh nhữngkhó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua,nhưng không phải ngay tức thì nhờ vào một quy tắc có tính thuật toán, mà phảitrải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động, điều chỉnh hệ thống kiếnthức sẵn có hoặc bổ sung kiến thức mới để giải quyết vấn đề
Trong tình huống gợi vấn đề, phải tồn tại một vấn đề, nghĩa là tồn tạimột mâu thuẫn về nhận thức Nếu mâu thuẩn bị mất đi, thì đó không còn là tìnhhuống gợi vấn đề
1.2.2 Phân loại
Có nhiều căn cứ đề phân loại tình huống có vấn đề Xuất phát từ mỗi căn
cứ phân loại, có các loại tình huống có vấn đề khác nhau [6]:
1.2.2.1 Dựa vào đặc điểm, tính chất của vấn đề cần giải quyết
Nguyễn Xuân Khoái chia ra các loại tình huống sau [6]:
- Tình huống đột biến, có tác dụng làm học sinh nảy ra câu hỏi “Tai saolại như thế?”
Trang 18- Tình huống không phù hợp, bắt học sinh phải cố suy nghĩ khác với suynghĩ trước đây.
- Tình huống xung đột (trước sự kiện trái ngược nhau) làm cho học sinhnảy sinh câu hỏi “chân lý ở đâu?”
- Tình huống lựa chọn
- Tình huống bác bỏ
- Tình huống giả định
Nguyễn Ngọc Quang lại phân chia các tình huống theo cách khác:
- Tình huống nghịch lý: vấn đề mà thoạt đầu tưởng nhìn như vô lý, tráikhoáy không phù hợp với những nguyên lý đã được công nhận
- Tình huống lựa chọn: đứng trước một sự lựa chọn rất khó khăn vừa éo
le, vừa oái oăm cả về tâm lý lẫn kỹ thuật, giữa hai hay nhiều phương án giảiquyết
- Tình huống tại sao: tìm kiếm nguyên nhân của một kết quả, nguồn gốccủa một hiện tượng, động cơ của hành động
1.2.2.2 Dựa vào tính chất của sự kiện
- Tình huống thực tế: sự kiện hoàn toàn là thực tế đã và đang diễn ra đốivới người khác và bản thân
- Tình huống giả định: sự kiện được hư cấu do tưởng tượng, sự kiện đó
có thể chưa bao giờ xảy ra trong thực tế hoặc có thể xảy ra ở nơi khác, ngườikhác
1.2.2.3 Dựa vào yêu cầu cần giải quyết
- Tình huống tìm giải pháp cho hành động
- Tình huống phê phán đúng sai các hành động đã xảy ra
1.2.2.4 Dựa vào mức độ phức tạp của tình huống
Tình huống đơn: nội dung đơn giản và đòi hỏi giải quyết một yêu cầu Tình huống nêu ra vừa yêu cầu tìm giải pháp cho hành động, vừa yêu cầu phântích rút ra kết luận sư phạm
Trang 191.2.3 Các mức độ của tình huống có vấn đề
Căn cứ vào sự tham gia của giáo viên và học sinh, người ta đưa ra các mức
độ khác nhau về phương pháp dạy học tình huống có vấn đề như bảng 1.1 [5]
Bảng 1.1: Các mức độ của tình huống có vấn đề
Các
Nêu giảthuyết
Lập kếhoạch
Mức độ 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kếtquả làm việc của học sinh và rút ra kết luận
Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề.
Học sinh thực hiện giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáoviên cùng học sinh đánh giá
Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát
hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giảipháp, học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùngđánh giá
Mức độ 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc
cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, tự đề xuất giả thuyết, tự xây dựng kếhoạch giải, thực hiện kế hoạch, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổsung của giáo viên khi kết thúc
Có thể nói, tính đa dạng và phong phú của tình huống có vấn đề trong dạyhọc làm cho phương pháp dạy học nêu vấn đề có khả năng phù hợp với nhiềuđối tượng học sinh có năng lực trong học tập khác nhau Nhờ tình huống có vấn
đề có các mức độ từ dễ đến khó mà dạy học nêu vấn đề thực sự là phương pháp
Trang 20dạy học có tác dụng làm đòn bẩy cho sự tích cực học tập và phát triển tư duy củahọc sinh.
1.2.4 Yêu cầu khi xây dựng tình huống có vấn đề
Khi xây dựng các tình huống có vấn đề trong dạy học, giáo viên cần chú ýđảm bảo các yêu cầu sau [6]:
- Các tình huống có vấn đề đưa ra phải phù hợp với đặc điểm nhận thức đặc biệt
là tư duy của học sinh
- Các tình huống có vấn đề phải có sức hấp dẫn lôi cuốn học sinh và kích thíchcác em ở lòng mong muốn giải quyết các tình huống đó
- Các tình huống có vấn đề phải kích thích học sinh tích cực vận dụng vốn hiểubiết và các kĩ năng nhận thức (quan sát, phân tích, so sánh, suy luận, phán đoán,khái quát hóa, …)
- Tình huống có vấn đề phải mang tính chất nêu vấn đề, chứa đựng mâu thuẫnnhận thức, đặt học sinh luôn ở trạng thái có nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn
- Các tình huống có vấn đề phải phù hợp với nội dung cơ bản của từng chươngtrình, từng bài, từng phần để sau khi trả lời học sinh lĩnh hội được các kiến thứctrọng tâm
- Tình huống có vấn đề được xây dựng phải đảm bảo cho học sinh có đủ tri thứchay nguồn tài liệu tra cứu, gia công tìm tòi giải quyết
1.2.5 Mục đích
Tình huống có vấn đề là hạt nhân của dạy học nêu vấn đề, hay nói cáchkhác bản chất của dạy học nêu vấn đề là các tình huống có vấn đề Như vậy,việc tạo ra tình huống, sử dụng các tình huống là rất quan trọng, có vai trò quyếtđịnh đến sự thành công của giờ học Mặc khác, việc sử dụng tình huống có vấn
đề trong dạy học không chỉ giúp học sinh hiểu sâu, nắm vững kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo của bài học mà còn làm tăng sự hứng thú, tính tích cực học tập của họcsinh Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học còn có ý nghĩa quantrọng là có khả năng biệt hóa cao độ
Việc tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học còn có các mục đích sau[6]:
Trang 21- Giúp học sinh xác định được vấn đề cơ bản của nhiệm vụ nhận thức trong câuhỏi, trong bài tập và lập kế hoạch để giải quyết những khó khăn nhận thức đó.Ngoài ra, tình huống có vấn đề còn giúp cho học sinh xác định giới hạnkiến thức cần nẵm vững cần thiết trước đây và chỉ ra hướng tìm kiếm con đườngphù hợp hơn từ tình huống có vấn đề.
1.2.6 Một số cách tạo tình huống có vấn đề
*Cách 1: Khai thác phần kiểm tra bài cũ, đặt ra một vấn đề mới đòi hỏi
phải nghiên cứu kiến thức mới
Ví dụ 1.1: Ở phần quan hệ các yếu tố trong tam giác, đặt vấn đề dạy bài
Quan hệ giữa góc và cạnh đối diện trong một tam giác
Sau khi kiểm tra bài: Trong một tam giác đối diện với cạnh lớn hơn là góclớn hơn, tôi đặt ra câu hỏi: Trong hai tam giác bất kì, có thể đối diện với cạnhlớn hơn là góc lớn hơn không?
Một tình huống mới đặt ra do thay đổi điều kiện của mỗi bài toán từ mộttam giác sang hai tam giác bất kì Bằng ví dụ cụ thể, học sinh sẽ chỉ ra được điều
đó là sai, chẳng hạn ở tam giác ABC có AC > AB, vẽ đường cao AH ta thấy tamgiác AHC và tam giác AHB có AC > AB nhưng AHC = AHB
Hình 1.1: Tam giác
Vậy những cặp tam giác ấy phải thêm mối quan hệ gì?
Trang 22*Cách 2: Chọn một ứng dụng của kiến thức mới, đặt học sinh trước một
mâu thuẫn với kiến thức cũ, chưa thể giải quyết được bài toán
Hiệu quả của tình huống đó càng cao nếu đó là vấn đề thông thường màhọc sinh không nghĩ tới, không dễ dàng tìm ra ngay lời giải, còn nếu sử dụngkiến thức mới thì lại tự tìm được câu trả lời một cách nhanh chóng
Ví dụ 1.2: Khi dạy bài góc nội tiếp, giáo viên ra một ngôi sao 5 cánh đều
và yêu cầu các em tính góc có đỉnh cánh sao Các em vẫn thường thấy ngôi sao
5 cánh trên lá cờ Quốc kì, nhưng mấy em nghĩ đến góc ở đỉnh cánh sao bằng baonhiêu Ngôi sao rất quen thuộc mà xác định góc lại không đơn giản
Đến đây thầy nói rằng các em có thể dễ dàng tìm được góc ấy nếu xem nó
là một góc nội tiếp trong đường tròn Lúc đó các em hào hứng bắt tay vàonghiên cứu kiến thức mới để giải quyết vấn đề đặt ra
*Cách 3: Đưa ra một bài toán mà vận dụng kiến thức sắp học sẽ giải
quyết nhanh gọn hơn
Ví dụ 1.3: Trước bài hằng đẳng thức bình phương của một hiệu, cho học
Sau khi thực hiện hai phép bình phương, một phép nhân, một phép trừ,một phép cộng, học sinh được kết quả bằng 1
Đến lớp em nói với HS rằng có thể tính nhẩm được giá trị của biểu thứcấy
HS ngạc nhiên: Một biểu thức khá phức tạp như thế mà có thể tính nhẩmđược! Như vậy HS chờ đợi sự giải quyết bài học
Cách giải quyết đó là: Nếu đặt 1,21 = a; 0,21 = b thì
Trang 23Một quy tắc thật đơn giản! Nhưng vì sao lại làm được như vậy? Bài toánđặt ra nhu cầu giải thích quy tắc ấy: Nếu gọi phần hơn của mỗi số với 100 là a
và b, ta phải tìm kết quả của phép nhân 100 + a với 100 + b là phép nhân 2 đathức Rõ ràng quy tắc nhân hai đa thức được HS tìm tòi tự giác hơn
*Cách 4: Đưa ra một ứng dụng thực tế, một hình ảnh thực tế yêu cầu học
sinh giải thích, nhất những thực tế gần gũi với HS
Ví dụ 1.4: Khi dạy bài số đo góc, giáo viên sử dụng một thước đo góc.
Khi đo góc tạo bởi hai tia chung góc, người ta dùng thước đo góc Tại sao góckhông thể đo bằng thước thẳng? Các cạnh của hai góc ấy gì liên hệ với nhau?Trong khi đưa ra những ứng dụng thực tế của kiến thức, nên cố gắng sửdụng đồ dùng dạy học Chỉ riêng việc mang đồ dùng dạy học đến lớp cũng đãđặt ra cho học sinh một câu hỏi “Dụng cụ này là gì?, dùng để làm gì?” và do đó
HS tập trung theo dõi bài giảng hơn
*Cách 5: Gắn cho các phép tính một nội dung thực tế tạo cho học sinh
hứng thú thực hiện phép tính đó
Ví dụ 1.5: Khi dạy chia số thập phân cho 10; 100; 1000; … tôi đưa ra
một quyển sách gồm 115 tờ, đề nghị HS tính chiều dày của một tờ giấy
- HS sẽ đề ra phương án đo chiều dày nhiều tờ
- Đo bao nhiêu tờ?
- Càng nhiều tờ thì càng chính xác, nhưng đo chiều dày 100 tờ giấy thìtính toán dễ hơn
Chẳng hạn, chiều dày 100 tờ là 10,25 mm, dễ dàng tính được chiều dàymột tờ giấy
Nhiều khi chỉ cần thay đổi chút ít cách hỏi cũng tạo ra tình huống có vấn
đề Nhiều học sinh không hào hứng tính toán khi tìm chu vi đường tròn biếtđường kính và ngược lại Nhưng nếu ra câu hỏi sau thì các em lại có nhu cầutính toán thực sự Mỗi học sinh phải làm một chiếc vòng có đường kính 40cm đểđồng diễn Một đoạn dây thép bằng bao nhiêu thì uốn thành chiếc vòng có kíchthước như trên nếu phần chồng lên nhau là 5cm?
*Cách 6: Tạo ra tình huống có vấn đề bằng công việc thực hành.
Trang 24Ví dụ 1.6: Trước khi dạy bài tổng các góc trong của tứ giác, đề nghị học
sinh mang 8 tứ giác bằng nhau Các tứ giác này ghép này ghép lại có thể lấp kín
Yêu cầu ấy đặt ra cho các em một vấn đề: “Những tứ giác ấy sẽ dùng đểlàm gì trong giờ học?”, tạo nên tâm lí chờ đợi cách giải quyết
*Cách 7: Tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách đưa ra những điều kiện
mới, hay hạn chế phương pháp sử dụng
Ví dụ 1.7: Tìm bằng cách nhanh chóng số nào lớn hơn trong hai số:
A = 1980 1980
B = 1979 1981
Vấn đề đặt ra là xác định số nào lớn hơn (chứ không đòi hỏi tính từng số)
và tìm cách xác định nhanh chóng Tình huống ấy đặt ra cho học sinh phát hiện
Như vậy A lớn hơn B một đơn vị
*Cách 8: Sử dụng các tư liệu về lịch sử toán học, các mẫu chuyện tạo ra
tình huống có vấn đề
Ví dụ 1.8: Khi yêu cầu HS tính nhẩm 7.7 + 7.7.7 nếu giáo viên nói rằng
“Báo Hà Nội mới ngày 20-4-1980 đưa ra tin một em bé 5 tuổi (em Nguyễn ĐứcThắng) đã tính nhẩm đúng kết quả phép tính này trong 10 giây thì điều ấy thúcđẩy HS tìm tòi hơn
Các em đưa ra nhiều cách giải, chẳng hạn áp dụng tính chất phân phốiđược:
7.7.(1 + 7) = 49.8 = (50 – 1).8 = 400 – 8 = 392
HS cũng say mê giải một bài toán hơn nếu biết đó là bài toán củaAcsimet, của Ơle hay của một nhà toán học nổi tiếng
*Cách 9: Tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách trình bày các kiến thức
theo quá trình tìm tòi cách giải
Ví dụ 1.9: Khi dạy dấu hiệu chia hết cho 9, trên cơ sở HS đã biết dấu hiệu
chia hết cho 2 và 5 phụ thuộc vào một chữ số tận cùng, tôi đưa ra các số: 927;
Trang 25807; 621; 921; 2948; 1943 cùng có một, hai hoặc ba chữ số tận cùng như nhaunhưng có số chia hết cho 9 không phụ thuộc vào chữ số tận cùng Thế thì nó phụthuộc vào yếu tố nào: Có điểm gì chung trong các số chia hết cho 9?
Sau khi đưa ra các dự đoán và bác bỏ các dự đoán và bác bỏ các dự đoánkhông đúng (chẳng hạn chữ số đều chia hết cho 9, tổng chữ số bằng 9 …) HS sẽđưa ra các dự đoán đúng về dấu hiệu chia hết cho 9
*Cách 10: Tình huống có vấn đề được xuất hiện khi giáo viên đưa ra
những tình huống phải lựa chọn
Ví dụ 1.10: Để củng cố quy tắc bỏ dấu ngoặc đằng trước có dấu trừ, tôi
đưa ra các biến đổi sau để học sinh xác định những biến đổi đó đúng hay sai,nếu sai thì chỉ ra nguyên nhân sai lầm và sửa lại:
Ví dụ 1.11: Phân tích ra thừa số bằng cách đặt thừa số chung:
Trang 26Sai, vì đổi dấu cơ số a - 1 thành 1 - a là đổi dấu ba thừa số, do đó dấu trừ
trước dấu ngoặc phải đổi thành dấu cộng Cũng có thể giải thích:
(1 - a ) 3 = (a - 1) 3
Vì lập phương của hai số đối nhau thì đối nhau
Những bài toán nguỵ biện cũng tạo ra tình huống có vấn đề, vì nó đặt ramột điều vô lí phải giải quyết
Ví dụ 1.12: Từ đẳng thức đúng:
4 + 8 - 12 = 5 + 10 - 15Đặt thừa số chung:
4(1 + 2 - 3) = 5(1 + 2 - 3)Hay 4a = 5a
Suy ra: 4 = 5 (!)
Sai lầm ở kết quả là do chia cả hai vế cho a mà a = 0 [7]
1.3 Thực trạng về sử dụng PPDH tình huống có vấn đề trong dạy học
Có thể nói, hiện nay các giáo viên đã có sự đổi mới phương pháp dạy học,
đã áp dụng một số phương pháp tích cực, nhưng sự đổi mới này vẫn còn chậm.Phương pháp học tập của học sinh chủ yếu vẫn còn thụ động, khả năng vận dụngkiến thức cũng như năng lực tư duy còn rất nhiều hạn chế
Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, em đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy vàhọc Tin học trường THPT Mỹ Hào Em đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp vàphát phiếu điều tra đối với 40 giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy ởtrường THPT Mỹ Hào, đồng thời tiến hành khảo sát học sinh khối 11 ở trườngTHPT Mỹ Hào
Trang 271.3.1 Điều tra thăm dò ý kiến GV
Bảng 1.2: Mức độ sử dụng các PPDH tích cực ở trường THPT
STT PP/Kỹ thuật dạy học tích cực
Mức độ sử dụng
Hiếm khi
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
số lượng giáo viên sử dụng cao Bởi vì các phương pháp này dễ sử dụng, phùhợp với những trường không có đủ điều kiện cơ sở vật chất và không mất nhiềuthời gian chuẩn bị cũng như kết quả thu được trong giới hạn chấp nhận được.Riêng phương pháp dạy học tình huống thì mức độ sử dụng ở mức thỉnh thoảng(32,5%), thường xuyên (30%) là tương đối ít Như vậy, tỉ lệ giáo viên sử dụngphương pháp này chưa thật sự là lựa chọn phổ biến đối với giáo viên Tin học Việc điều tra, thăm dò ý kiến giáo viên được thực hiện với 40 GV và với 3 câuhỏi Qua việc điều tra, thăm dò khảo sát ý kiến thu được kết quả như sau:
Trang 28Bảng 1.3: Ý kiến GV về việc dạy học bằng PPDH tình huống có vấn đề
Câu hỏi Đáp án lựa chọn SL Tỉ lệ %
Câu 1: Khi dạy học Thầy Cô
thường sử dụng phương pháp dạy
Câu 2: Khi dạy học theo phương
pháp tình huống có vấn đề Thầy Cô
Câu 3: Khi sử dụng phương pháp
dạy học tình huống có vấn đề Thầy
Cô nhận thấy học sinh như thế nào?
Câu 5: Thầy Cô có hay sử dụng
tình huống gắn với thực tiễn
Trang 291.3.2 Điều tra thăm dò ý kiến HS
Quá trình điều tra thăm dò ý kiến của học sinh được tiến hành trên 105
HS thuộc 3 lớp của khối 11 về việc học tập liên quan đến sử dụng phương pháptình huống có vấn đề trong môn Tin học với 5 câu hỏi Kết quả của cuộc điều trađược thống kê tại bảng 1.4
Bảng 1.4: Kết quả điều tra về ý thức học tập và phương pháp học môn Tin
nào khi GV đưa các
câu hỏi tình huống
gắn với thực tiễn vào
Trang 30Câu 5: Giải quyết
Qua phân tích số liệu thu được, em rút ra nhận xét sau:
Về ý thức học tập: số đông học sinh chỉ coi việc học Tin học là một nhiệm
vụ (chiếm 59,05% ) hay không hứng thú, say mê môn học (chiếm 22,86% ), chỉmột số ít là các em yêu thích môn học này (chiếm 18,09%)
Về phương pháp học bộ môn: số học sinh hiểu sâu kiến thức, có phươngpháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, phần lớn vẫn là phươngpháp học thụ động như: đối với thầy cô giáo câu hỏi tình huống trên lớp, số HSsuy nghĩ trả lời (chiếm 40,95%), số học sinh chờ câu trả lời hoặc cách giảiquyết của bạn (chiếm 14,29%), chờ GV trả lời hoặc giải bài tập (chiếm 25,71%)
Có thể nói, phần lớn học sinh vẫn chưa có ý thức đầu tư thời gian và công sứcvào tìm hiểu bài, cũng như chưa thấy rõ được tầm quan trọng của bộ môn nênhọc sinh chỉ học với thái độ đối phó, chưa thực sự say mê, yêu thích môn học
Từ đó đã dẫn đến kết quả là chất lượng lĩnh hội kiến thức và kết quả bộ môn cònthấp (số học sinh đạt loại trung bình (chiếm 20%), loại yếu (chiếm 10,47%))
1.3.3 Đánh giá chung
Do lối dạy cổ truyền đã ăn sâu, tồn tại phổ biến ở các trường phổ thônghiện nay Phổ biến vẫn là thuyết trình giảng giải xen lẫn vấn đáp tái hiện, biểudiễn trực quan minh họa Cũng có những giáo viên vận dụng các phương pháptích cực nhưng chủ yếu là trong giờ thao giảng, các tiết dạy thi giáo viên giỏi Sốlượng giáo viên dạy học theo phương pháp tích cực ít, mặc dù ai cũng biết rằngphương pháp này thực sự lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh chủ động nắmvững kiến thức
Trang 31Đa số học sinh vẫn coi môn Tin học là môn phụ Do vậy, không đầu tưthời gian và công sức vào học mà chỉ mang tính chất đối phó với các giờ kiểmtra của giáo viên Hầu hết học sinh chỉ quen với cách học thuộc lòng nội dunggiáo viên đã cho ghi và chưa chú ý đến việc phân tích, chứng minh bản chất cácnội dung đó Học sinh chưa có thói quen tự làm việc với sách giáo khoa để chủđộng lĩnh hội tri thức mới.
Trang 32CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÌNH HUỐNG CÓ
VẤN ĐỀ TRONG MÔN TIN HỌC LỚP 11 2.1 Vị trí và đặc điểm môn Tin học
2.1.1 Vị trí môn Tin học
Môn Tin học là môn học công cụ Do tính trừu tượng cao độ, Tin học cótính thực tiễn phổ dụng Những tri thức và kĩ năng Tin học cùng với nhữngphương pháp làm việc trong Tin học đã trở thành công cụ để học tập những mônhọc khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác, là công
cụ để hoạt động trong đời sống thực tế và vì vậy là một phần không thể thiếu củatrình độ văn hóa phổ thông của con người mới Về mặt tri thức và kĩ năng, mônTin học trong nhà trường cần làm cho tất cả các học sinh tốt nghiệp phổ thôngtrung học đều nắm vững được những yếu tố cơ bản của Tin học, có khả năngứng dụng công nghệ thông tin như công cụ học tập và hoạt động, có thể nhanhchóng bước vào những ngành nghề đòi hỏi sử dụng công nghệ này Cụ thể làhọc sinh có những hiểu biết về Tin học và máy tính điện tử, có khái niệm vềthuật giải và làm quen với tư duy thuật giải Học sinh biết lập trình để giảinhững bài toán đơn giản, trước hết là những bài toán trong sách giáo khoa, từ đóchuẩn bị những tri thức, kĩ năng và phong cách làm việc cần thiết để sau này cóthể đi sâu hơn về lĩnh vực lập trình Học sinh biết làm việc với một số hệ điềuhành, một số phần mềm soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, hệ quản trị cơ sở
dữ liệu
Ngoài việc tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kĩ năngTin học cần thiết, môn Tin học còn có tác dụng góp phần phát triển năng lực trítuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, … rèn luyệnnhững đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác,tính kỉ luật, tính phê phán, tính sáng tạo Học sinh thấy rõ hiệu lực mạnh mẽ củacông nghệ thông tin và nhận thức được cần có những phẩm chất nào của ngườilao động trong thời đại mới Với những lí do trên, trong trường phổ thông Tinhọc giữ một vị trí hết sức quan trọng
Trang 332.1.2 Đặc điểm môn Tin học
Đặc điểm thứ nhất là tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ dụng
Tính trừu tượng của Tin học thể hiện ở chỗ nó nghiên cứu các phương phápcông nghệ và kĩ thuật xử lí thông tin một các tự động Bản thân khái niệm thôngtin đã là trừu tượng, quá trình xử lí thông tin bao gồm các khâu thu thập, lưu trữ,biến đổi và truyền nhận thông tin Quá trình xử lí thông tin dựa trên những thànhtựu của những ngành khoa học mang tính trừu tượng cao như: Vật lý, Toán học,
Lí thuyết thông tin, … vì thế Tin học mang đặc trưng trừu tượng hóa cao Để xử
lý thông tin người ta thường tìm cách biểu diễn thông tin bằng các biện pháp xử
lý kĩ thuật trên các tín hiệu tương ứng Trong thực tế, thông tin được thể hiệnbằng nhiều hệ thống tín hiệu rất đa dạng như số liệu, chữ viết, tiếng nói, âmthanh, hình ảnh, màu sắc, … Muốn đưa thông tin vào máy tính, con người phảitìm cách biểu diễn thông tin sao cho máy tính có thể nhận biết và xử lý được.Muốn nhận biết một đối tượng nào đó, ta phải biết đủ lượng thông tin về nó.Tương tự, để máy nhận biết một đối tượng nào đó, ta cũng phải cung cấp chomáy đủ lượng thông tin về đối tượng này Trong Tin học, ta có thể biểu diễnthông tin trong máy tính thông qua dãy tín hiệu gồm 2 kí tự 0 và 1 Sự trừutượng hóa trong Tin học diễn ra trên những bình diện khác nhau, có những kháiniệm Tin học là kết quả của sự trừu tượng hóa những đối tượng vật chất, …nhưng cũng có những khái niệm là kết quả của sự trừu tượng đã đạt được trướcđó
Tin học có tính thực tiễn phổ dụng, khả năng biểu diễn mọi dạng thông tinbất kì qua một hệ thống tín hiệu đơn giản và thống nhất bằng các kí tự nhị phân
là cơ sở cho việc phát triển nhanh chóng khả năng, làm được nhiều chức năngvới mọi dạng thông tin khác nhau
Tin học có nguồn gốc thực tiễn Tin học có tính thực tiễn phổ dụng: là mộttiến bộ khoa học mũi nhọn của thời đại Tin học nhanh chóng được ứng dụngrộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội Nó cung cấp những phươngpháp và công cụ hiệu quả giúp con người khai thác và xử lí thông tin, là công cụ
Trang 34phục vụ tất cả các ngành khoa học kỹ thuật, các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chínhtrị, văn hóa, dịch vụ và đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý.
Trong nền kinh tế toàn cầu, với sự phát triên của Tin học, thương mại điện
tử đang trở thành một lĩnh vực phát triển rất mạnh mẽ, nó thúc đẩy các ngànhsản xuất dịch vụ trên phạm vi toàn thế giới, và đặc biệt quan trọng với các nướcđang phát triển, nhất là đối với các vùng xa xôi hẻo lánh, các nước và các vùng
có cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế Công nghệ thông tin là chiếc chìa khóa để
mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức
Tin học là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng
để quảng bá và nhân rộng vốn tri thức, động lực của sự phát triển, thúc đẩy pháttriển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của con người … Tin học sẽnhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thếtrong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớnđến đời sống con người
Tin học có tính logic và tính thực nghiệm: khi xây dựng những phần mềm,hay ngôn ngữ lập trình, người ta dùng suy diễn logic, xuất phát từ những dữ liệuchuẩn người ta xây dựng lên các dữ liệu có cấu trúc Tuy nhiên giáo trình Tinhọc phổ thông cũng vẫn mang tính logic, hệ thống: tri thức trước chuẩn bị chotri thức sau, tri thức sau dựa vào tri thức trước
Ngày nay Tin học, nói rộng hơn là công nghệ thông tin được coi là mộttrong những ngành mũi nhọn chiếm vị trí hàng đầu trong chính sách kinh tế,khoa học và công nghệ ở những nước phát triển Sự phát triển nhanh chóng của
kĩ thuật truyền thông đã đưa đến những chuyển biến to lớn và cơ bản trong côngnghệ thiết lập các mạng Tin học về việc hình thành trong thực tế các siêu xa lộcao tốc thông tin như Internet
Đặc điểm thứ hai của môn Tin học, thực hành trên máy tính là bắt buộc và
là một cấu thành của bài giảng lý thuyết Với sự phát triển của các phương tiệntruyền thông tin, người thầy giáo không còn đóng vai trò như là nguồn thông tinduy nhất, như người điều khiển và đánh giá duy nhất, như người theo dõi vàquản lý duy nhất của quá trình dạy học nữa Thay vào đó, người thầy đóng vai
Trang 35trò là người tổ chức, người dẫn đầu, người cùng học, người tư vấn Sự xuất hiện
và thâm nhập của máy tính trong thời đại “công nghệ thông tin” đã làm chonhững biến đổi trên trở nên sâu sắc hơn, quyết liệt hơn
Nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua các bước thực hành
và thao tác cụ thể trên máy tính Rất nhiều bài học (ví dụ các bài học Chươngtrình con và phân loại) được diễn đạt hoàn toàn thông qua các thao tác cụ thể vớiphần mềm Kiến thức môn học gắn liền với công nghệ và thay đổi rất nhiều trênthế giới Đặc thù này làm cho Tin học khác hẳn so với tất cả các môn học có liênquan đến công nghệ hay học nghề khác Công nghệ Tin học, cụ thể là máy tính
đã và đang thay đổi từng ngày và len lỏi và trong mọi ngõ ngách của cuộc sốnghàng ngày, trong mọi ngành nghề khác nhau Đặc thù đòi hỏi GV phải khôngngừng nâng cao trình độ cá nhân của mình mới đủ kiến thức cập nhật Môitrường thực hành rất đa dạng và không thống nhất Đây cũng là một đặc thù nổibật của bộ môn Tin học GV cần có chủ động cao nhất khi giảng dạy lý thuyếtcũng như hướng dẫn thực hành cho HS Thông tin các tài liệu sách giáo khoa chỉmang tính pháp lý về kiến thức môn học chứ không áp đặt quy trình thao tác trênmáy tính Với mỗi bài học cụ thể, tùy vào điều kiện thực tế mà GV có thể hoàntoàn chủ động trong việc trình bày khái niệm, minh họa thao tác trên máy tínhsao cho dễ hiểu nhất đối với HS
Đa số các GV hiện nay khai thác vai trò này của máy tính Do đặc trưngcủa nó, máy tính có thể trình diễn các dạng thông tin khác nhau, như văn bản,hình ảnh, hoạt hình, video, mô phỏng, âm thanh một cách linh hoạt và rõ ràngcho từng các nhân cũng như cả lớp Nội dung thông tin mà máy tính có khả năngtrình diễn cũng đa dạng, từ thông tin về khái niệm đến những thông tin về quytrình thao tác Tuy nhiên quan trọng hơn, máy tính có thể cho phép tạo ra nhiềukiểu hình trình diễn bằng cách phối hợp các thành phần thông tin riêng lẻ theonhững trình tự khác nhau, như thế có thể huy động hơn, cũng như tạo ra nhữngkiểu trình bày phù hợp với đặc điểm đa dạng của người học
Tin học là môn học mới chưa có nhiều kinh nghiệm về lý luận cũng nhưthực tế cho việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông Tin học là một ngành
Trang 36công nghệ khá mới mẻ đối với Việt Nam và đang phát triển rất nhanh trên thếgiới Tại Việt Nam trước năm 2005, Tin học chưa được đưa vào nhà trườngthành môn học chính thức và phổ cập đại trà Chính vì lí do đó mà Tin học, máytính mặc dù đối với xã hội đã phổ cập nhưng đối với nhà trường lại khá mới mẻ.
Sự nghiệp giáo dục đáp ứng những đòi hỏi của khoa học kĩ thuật Đó là yêu cầu
có tính chất nguyên tắc
Trong thời đại ngày nay Tin học ngày càng được sử dụng rộng rãi, sự hiểubiết nhất định về Tin học phải trở thành học vấn phổ thông của mọi thành viêntrong xã hội Nếu như sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi của Tin học
là một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học công nghệ của thế kỉ này,nếu chúng ta đòi hỏi việc đào tạo của nhà trường phải gắn liền với thực tế xã hộithì không thể thoái thác việc đưa Tin học và trường phổ thông Việc làm này sẽđón đầu với yêu cầu của thực tiễn trong kỉ nguyên thông tin và tự động hóa Vìvậy Tin học phải là một môn học “đặc biệt” theo nghĩa nó phải được giảng dạymột cách “linh hoạt”, không nên và không được phép áp đặt các tiêu chuẩn đánhgiá chặt về phương pháp, tiến độ giảng dạy như các môn học khác trong nhàtrường Cần ưu tiên tối đa trang thiết bị cho GV khi giảng dạy môn học này Với
xu thế phát triển mạnh mẽ của Tin học, GV không thể duy trì cách dạy họctruyền thống mà luôn luôn cập nhật đổi mới phương pháp giảng dạy của mình
Đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục là một trongnhững mục tiêu quan trọng hiện nay của ngành giáo dục Việc ứng dụng Tin họcnhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khókhăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của độingũ GV Nhưng thiết nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ítbồi dưỡng về kiến thức Tin học, các GV hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảngđiện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phươngpháp giảng dạy trong môn học này
Đứng trước yêu cầu đổi mới của Nhà nước ta hiện nay, đặc biệt là trongcông cuộc cải cách nền hành chính quốc gia cho phù hợp với nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa đang diễn ra sôi động từ trung ương đến địa
Trang 37phương, không thể không nói đến việc hoàn thiện và hợp lý hóa công tác vănthư trong các cơ quan hành chính Nhà nước mà không nghiên cứu ứng dụng tinhọc trong công tác văn thư Ngày nay, chúng ta không thể tìm thấy một văn bảnchính thức nào của nhà nước mà không được thực hiện trên máy tính Do vậy,việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học cũng như trong cuộc sống
là một tất yếu trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ mục tiêu nhà trường Việt Nam, đặc điểm môn Tin học, việcdạy môn Tin học cần có những mục đích sau: truyền thụ kiến thức, kĩ năng Tinhọc; kĩ năng vận dụng Tin học vào thực tiễn; phát triển năng lực trí tuệ chung;giáo dục tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức và thẩm mĩ; đảm bảo chất lượngphổ cập, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu về Tin học [9]
2.2 Nguyên tắc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học Tin học 11
2.2.1 Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính chính xác, khoa học
Đảm bảo tính chính xác, khoa học của kiến thức là nguyên tắc chủ yếutrong việc thiết kế các tình huống Việc đưa những kiến thức khoa học của mônTin học vào trong tình huống được thiết kế phải chính xác, khoa học, khôngđược gây tranh cãi hoặc sai lệch kiến thức Việc lựa chọn các sự kiện, sự liên hệgiữa các sự kiện với kiến thức khoa học phải có sự tương quan hợp lý và có tính
hệ thống Mặt khác, việc thiết kế phải đảm bảo khi học sinh tiếp nhận vấn đề,giải quyết vấn đề và những kiến thức mà học sinh rút ra được phải phù hợp vớinội dung và mục tiêu của bài học đề ra
2.2.2 Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính thực tiễn
Nguyên tắc này xác định mối liên hệ chặt chẽ, thiết thực của kiến thứcgiáo khoa với kiến thức thực tiễn cuộc sống Các tình huống được thiết kế phảimang tính thực tiễn, có tính ứng dụng cao, phải gắn liền với cuộc sống xungquanh, với nền sản xuất hóa học và với thiên nhiên - môi trường Mục tiêu củanguyên tắc này là thông qua việc giải quyết tình huống, học sinh được trang bịkiến thức cơ bản để có thể đối mặt và thích ứng được với những tình huống thậttrong cuộc sống một cách dễ dàng