1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại chi cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão tỉnh hưng yên

186 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệttình của gia đình, thầy cô và bạn bè, tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Xâ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu độc lập của bản thântác giả Các số liệu và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công

bố trong tất cả các công trình nào trước đây.Việc tham khảo các nguồn tài liệu

đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoàng Yến

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệttình của gia đình, thầy cô và bạn bè, tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ

chuyên ngành Quản lý Xây dựng với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chất

lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Quản lý

đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên”.

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bá Uân đã trựctiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiếttrong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn Nhà trường, các thầy cô giáo trong trường Đại học Thủy lợi,Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, Tập thể lớp cao học 23QLXD22, cácđồng nghiệp trong cơ quan, cùng gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiệnthuận lợi về mọi mặt cho tác giả trong thời gian hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã cố gắng và nỗ lực rất nhiềunhưng do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảonên luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót và khuyết điểm Tác giả rất mong nhận được

sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm

ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hoàng Yến

Trang 3

3 3

MỤC LỤC

ĐOAN i LỜICẢM ƠN ii

vi DANH MỤC BẢNGBIỂU vii DANH MỤC CÁC

KÝ HIỆU VIẾT TẮT viii PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY

Trang 4

4 4

1.2.2 Các giai đoạn quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng 19

1.2.3 Nội dung quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong giai đoạn thực hiện

dự án

201.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

DỰNG 30

Trang 5

5 5

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 30

2.1.1 Dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng

XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 45KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB TỈNH HƯNG YÊN

51

3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU VÀ PCLB TỈNHHƯNG YÊN 513.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ

Trang 6

6 6

3.2 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN.58

3.2.1 Hiện trạng hệ thống đê điều trên địa bàn tỉnh Hưng

Yên……… ….58

3.2.2 Tình hình đầu tư, tu bổ xây dựng công trình đê điều

65

3.2.3 Tình hình sự cố đê điều 66

3.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DO CHI CỤC LÀM CHỦ ĐẦU TƯ 68

3.3.1 Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế………

Trang 7

7 7

3.4 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT

LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN TẠI CHI CỤC

76

3.4.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ làm công tác quản lý chất lượng dự án 77

3.4.2 Hoàn thiện quy trình và mô hình quản lý chất lượng

79 3.4.3 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thiết kế 86

3.4.4 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn lựa chọn nhà thầu 87

3.4.5 Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công xây dựng 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

90 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

vi 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng tổng hợp 4

Hình 1.2 Sơ đồ đảm bảo chất lượng 13

Hình 1.3 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư XDCT 19

Hình 1.4 Bản đồ hệ thống đê sông Hồng, sông Thái Bình 22

Hình 2.1 Sự phát triển của các mục tiêu và chủ thể tham gia dự án ĐTXD 31

Hình 2.2 Vòng đời của một dự án đầu tư xây dựng 34

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý đê điều tỉnh Hưng Yên 51

Hình 3.2 Đê tả sông Hồng thành phố Hưng Yên 58

Hình 3.3 Kè Phú Hùng Cường, thành phố Hưng Yên………60

Hình 3.4 Đê tả sông Luộc 62

Hình 3.5 Điếm canh đê 63

Hình 3.6 Hình ảnh vết nứt tại tim đê tháng 01/2017 67

Hình 3.7 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ… 76

Hình 3.8: Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi cục Quản lý đê điều và PCLB tỉnh Hưng Yên 77

Hình 3.9 Quy trình Quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện dự án 80

Trang 9

vi 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Danh sách các dự án trọng điểm thời gian qua 55

Trang 10

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 11

1 1

Kể từ khi tách tỉnh năm 1996 tới nay, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,chính quyền và nhân dân Hưng Yên đã nỗ lực rất lớn trong việc tận dụng tối

đa các nguồn lực của địa phương và Trung ương để đầu tư hàng trăm côngtrình thủy lợi, đê điều lớn và nhỏ trong phạm vi toàn tỉnh điển hình như Dự

án đầu tư xây dựng củng cố, nâng cấp đê tả sông Hồng tỉnh Hưng Yên, giúptăng cường khả năng chống lũ, an toàn ổn định cho đê điều, bảo vệ tínhmạng tài sản cho hàng triệu nhân dân thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương vàmột phần thủ đô Hà Nội

Tuy nhiên, khi lượng công trình đê điều được triển khai nhiều với tổng mứcđầu tư mỗi công trình từ vài chục tỷ đến hàng trăm tỷ thì công tác quản lýchất lượng các công trình là một khó khăn với một tỉnh mới thành lập nhưHưng Yên Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng công trình không đảmbảo, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do trình độ quản lýchất lượng dự án của chủ đầu tư trong quá trình quản lý dự án nói chung,trong giai đoạn thực hiện dự án nói riêng

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác

quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên” để tìm hiểu, nghiên

Trang 12

2 2

cứu và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại, tăng cường công tác quản lýchất lượng các dự án xây dựng tại Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bãotỉnh Hưng Yên là cần thiết và có tính thực tiễn cao

Trang 13

3 3

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình tronggiai đoạn thực hiện các dự án đầu tư xây dựng tại Chi cục Quản lý đê điều vàPCLB tỉnh Hưng Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện các dự án đầu xây dựng

do Chi cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên làm chủđầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này

- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thực tiễn dùng trong phân tích đánh giá được thu thập từ các năm từ 2010 - 2015, các giải pháp được đề xuất cho đến năm 2020

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên

Trang 14

4 4

- Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản phápquy;

- Phương pháp phân tích so sánh, phân tíchtổng hợp;

- Phương pháp hệ thống

hóa

Trang 15

5 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN

1.1 CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

1.1.1 Chất lượng sản phẩm

1.1.1.1 Các quan niệm về chất lượng sản phẩm

Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụngkhá phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Tuy nhiên,chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi, do con người vànền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu về “chất lượng” tùytheo đối tượng sử dụng cũng có ý nghĩa khác nhau

Đầu tiên, quan điểm Siêu Việt cho rằng: “Chất lượng được định nghĩa là

sự đạt một mức độ hoàn hảo, mang tính chất tuyệt đối Chất lượng làmột cái gì đó cho người ta nghĩ đến một sự hoàn mỹ nhất, cao nhất”[1] Quan điểm này chứa đựng tính chủ quan, cục bộ, nặng định tính vàchưa định lượng được chất lượng, chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết,khả năng áp dụng không cao

Thứ hai, quan điểm xuất phát từ nhà quản lý: “Chất lượng sản phẩm trong sảnxuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánhgiá trị sử dụng của nó” [1] Quan điểm này ở chừng mực nào đó sát với thực tếsản xuất kinh doanh nhưng không thể thỏa mãn được các điều kiện về kinhdoanh và cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay

Thứ ba, quan điểm xuất phát từ nhà sản xuất: “Chất lượng sản phẩm là sự đạtđược và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật đãđược đặt ra từ trước ở khâu thiết kế sản phẩm” [1] Quan điểm này có 02 bấtcập là đề cao yếu tố công nghệ trong quá trình sản xuất mà quên đi sự đánhgiá của người tiêu dùng và có thể làm sản phẩm bị tụt hậu không đáp ứng đượcnhu cầu thị trường trong thế giới mà nền khoa học công nghệ phát triển rất nhanh vàmạnh mẽ

Trang 16

6 6

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức,doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn,hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm Khái niệm về chất lượng sản phẩm nàyphải thực sự xuất phát

Trang 17

7 7

từ hướng người tiêu dùng Theo quan điểm xuất phát từ người tiêu dùng: “ Chấtlượng là sự phù hợp một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêudùng” [2]

Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hóa (ISO-International OrganizationStandardization) đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tínhcủa một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu cụ thểhoặc tiềm ẩn” [2] Định nghĩa này thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nộitại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng Dođáp ứng được thực tế nên định nghĩa này hiện nay được chấp nhận một cáchrộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế

Tóm lại, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau, dựa trêncác cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có một điểm chung nhất, có thể nói là cốtlõi nhất đó là “sự phù hợp với yêu cầu” Là các yêu cầu của khách hàng, các yêucầu mang tính kỹ thuật, kinh tế và tính pháp lý Như vậy, cần phải xem xétchất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất, cần phải hiểu khái niệm về chấtlượng một cách có hệ thống, mới đảm bảo cách nhìn nhận đầy đủ nhất và hoàn thiệnnhất về chất lượng Từ đó hình thành khái niệm về chất lượng tổng hợp: “Chấtlượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu và là vấn đề tổng hợp” [1], chất lượngchính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện: tính năng của sản phẩm

và dịch vụ đi kèm, giá cả phù hợp, thời hạn giao hàng cùng với tính an toàn và

độ tin cậy của sản phẩm

Trang 18

8 8

Hình 1.1 Mô hình hóa các yếu tố của chất lượng tổng hợp [1]

Trang 19

9 9

1.1.1.2 Các thuộc tính của chất lượng sản phẩm

Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sửdụng khác nhau, mỗi thuộc tính chất lượng của sản phẩm thể hiện thôngqua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năng đápứng nhu cầu của người tiêu dùng Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽvới nhau tạo ra một mức chất lượng nhất định của sản phẩm 08 thuộc tínhchung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm [2] bao gồm:

- Thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh tính công dụng, chức năng của sản phẩmđược quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và đặctính về cơ, lý, hoá của sản phẩm;

- Các yếu tố thẩm mỹ: Đặc trưng cho sự truyền cảm, hợp lý về hình thức,dáng vẻ, kết cấu, kích thước, tính cân đối, màu sắc, trang trí và tính thờitrang;

- Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩmgiữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kếtrong một thời gian nhất định Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trongquyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng;

- Độ tin cậy của sản phẩm: Là một trong những yếu tố quan trọng nhất phảnánh chất lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho tổ chức có khả năngduy trì và phát triển thị trường của mình;

- Độ an toàn của sản phẩm: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hànhsản phẩm, an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường là yếu

tố tất yếu, bắt buộc phải có đối với mỗi sản phẩm;

- Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm: Là yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phảituân thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường;

- Tính kinh tế của sản phẩm: Thể hiện khi sử dụng sản phẩm ít tiêu haonguyên liệu, năng lượng Yếu tố này hiện trở nên rất quan trọng phản ánhchất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường

Trang 20

10 10

- Tính tiện dụng của sản phẩm: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính

dễ vận chuyển, bảo quản, dễ sử dụng và khả năng thay thế của sản phẩm khi

bị hỏng;

Trang 21

11 11

1.1.1.3 Phân loại chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm bao gồm 06 loại [2]: chất lượng thiết kế, chất lượng chuẩn,chất

lượng thực tế, chất lượng cho phép, chất lượng tối ưu và chất lượng toàn

phần

- Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sảnphẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất.Chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu vềvật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất, yêu cầu về bảo quản, về thửnghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng Chất lượng thiết kế còn gọi làchất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết với nhu cầu thịtrường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố

- Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phêduyệt trong qúa trình quản lý chất lượng Người quản lý là các cơ quan quản lý

mà chính họ là người có quyền phê duyệt Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượngnày trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy

- Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và

nó thể hiện sau quá trình sản xuất và trong quá trình sử dụng sản phẩm

- Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn vàchất lượng thực tế của sản phẩm Chất lượng cho phép do cơ quan quản lýchất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồnggiữa đôi bên quy định

- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu thị trườngtrong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất Nó nói lên mối quan

hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí

- Chất lượng toàn phần: thể hiện mức tương quan giữa hiệu quả có ích cho sử

dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng sảnphẩm đó

Trang 22

12 12

1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm gồm 02 nhóm [2]: nhóm nhân tốbên trong và nhóm nhân tố bên ngoài

a Nhóm nhân tố bên trong

Trang 23

13 13

Trong phạm vi một tổ chức có 04 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm

(hay còn được gọi là quy tắc 4M), đó

là:

- Con người (men): Nhóm yếu tố con người bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, cán

bộ công nhân viên trong một đơn vị và người tiêu dùng Đây là nhân tố cóảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm Dù trình độ công nghệ có hiệnđại đến đâu, nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tácđộng đến hoạt động quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Phương pháp (methods): Phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý

và tổ chức sản xuất của tổ chức Một tổ chức nếu nhận thức được rõ vai trò củachất lượng trong cuộc chiến cạnh tranh thì tổ chức đó sẽ có đường lối, chiếnlược kinh doanh đúng đắn, quan tâm đến vấn đề chất lượng Trên cơ sở đó,các cán bộ quản lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu

tố của quá trình sản xuất nhằm mục đích cao nhất là hoàn thiện chất lượng sảnphẩm Vì vậy, chất lượng của hoạt động quản lý chính là sự phản ánh chất lượnghoạt động của doanh nghiệp

- Máy móc thiết bị (machines): máy móc, công nghệ và kỹ thuật sản xuất luôn là mộttrong những yếu tố cơ bản có tác động mạnh mẽ nhất đến chất lượng sảnphẩm, nó quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm Trình độ công nghệ,máy móc, thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹthuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động Nhiều doanh nghiệp đã coicông nghệ là chìa khoá của sự phát triển

- Nguyên vật liệu (materials): Nguyên vật liệu là nhân tố trực tiếp cấu thành sảnphẩm, tính chất của nguyên vật liệu quyết định trực tiếp đến tính chất của sản phẩm.Nên chú ý rằng không phải là từng loại mà là tính đồng bộ về chất lượng củacác nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất đều tác động đến chất lượngsản phẩm Ngày nay, việc nghiên cứu, phát hiện và chế tạo các nguyên vật liệumới ở từng doanh nghiệp dẫn đến những thay đổi quan trọng về chất lượng sảnphẩm

Trang 24

14 14

b Nhóm nhân tố bên ngoài

- Nhu cầu của nền kinh tế: Chất lượng sản phẩm chịu sự chi phối bởi các điều kiện

cụ thể của nền kinh tế được thể hiện ở các mặt: nhu cầu của thị trường, trình

độ kinh tế, khả năng cung ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của nhà nước

Trang 25

15 15

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: trong thời đại ngày nay trình độ chấtlượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và chi phối bởi sự phát triển củakhoa học kỹ thuật Đặc biệt là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vàosản xuất, giúp chu kỳ công nghệ sản phẩm được rút ngắn, công dụng sản phẩmngày càng phong phú, đa dạng

- Hiệu lực quản lý: khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổchức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi đất nước Hiệu quả quản

lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm,đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản suất, đảm bảo uy tín, quyền lợi củanhà sản xuất và người tiêu dùng

1.1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm

1.1.2.1 Các quan niệm về quản lý chất lượng

Nếu mục đích cuối cùng của chất lượng là thoả mãn nhu cầu khách hàng, nhucầu người tiêu dùng thì quản lý chất lượng là tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹthuật, hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của mọi tổ chức đểđạt được mục đích đó với chi phí xã hội thấp nhất Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào sựnhìn nhận khác nhau của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu quản lý chất lượng

mà có những quan điểm khác nhau

Theo chuyên gia người Anh, A.G.Robertson: Quản lý chất lượng được xác địnhnhư là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các

cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượngtrong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả tốtnhất, đối tượng cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng [2].Theo chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật BảnGiáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa: Quản lý chất lượng sản phẩm có nghĩa lànghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chấtlượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãnnhu cầu của người tiêu dùng [2]

Trang 26

16 16

Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá ISO 9000:2000 định nghĩa vềquản lý chất lượng: “Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soátmột tổ chức về chất lượng”, thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạchđịnh chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng[2]

Tóm lại, bản chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chứcnăng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cáchkhác, quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý Về cơ bản, mục tiêutrực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượngphù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu

1.1.2.2 Các chức năng của quản lý chất lượng

a Chức năng hoạch định

Hoạch định chất lượng là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước cácchức năng khác của quản lý chất lượng Hoạch định chất lượng là một hoạtđộng xác định mục tiêu, các phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiệnmục tiêu chất lượng sản phẩm Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là:

- Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hànghóa dịch vụ, từ đó xác định yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật củasản phẩm dịch vụ, thiết kế sản phẩm dịch vụ;

- Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt được và chính sách chấtlượng của doanh nghiệp;

- Chuyển giao kết quả hoạch định cho các bộ phận tác

nghiệp;

- Hoạch định chất lượng có tác dụng: định hướng phát triển chất lượng chotoàn tổ chức Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúpcác doanh nghiệp chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường Khai thác sử dụng

có hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần làm giảm chiphí cho chất lượng

Trang 27

17 17

Trang 28

18 18

- Tổ chức hệ thống chất lượng Mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn cho mình hệthống chất lượng phù hợp như TQM (Total Quanlity Management), ISO

9000 (International Standards Organization), HACCP (Hazard Analysis andCritical Control Point System), GMP (Good Manufacturing Practive), Q-Base (tậphợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng đã được thực thi tại New Zealand),giải thưởng chất lượng Việt Nam,…

- Tổ chức thực hiện là hoạt động tiến hành các biện pháp kinh tế, hành chính, kỹthuật, chính trị, tư tưởng để thực hiện kế hoạch đã đặt ra Nhiệm vụ này baogồm việc làm cho mọi người thực hiện kế hoạch hiểu rõ mục tiêu, sự cần thiết vànội dung công việc phải làm

c Chức năng kiểm tra, kiểm soát

Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạtđộng tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạtđộng nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đặt ra Nhữngnhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là:

- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu

Trang 29

19 19

e Chức năng điều chỉnh, điều hòa, phối hợp

Đây là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp thống nhất, đồng

bộ, khắc phục những sai sót còn tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mứccao hơn nhằm làm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của kháchhàng và chất lượng thực tế đạt

Trang 30

20 20

được Hoạt động điều hoà, điều chỉnh, phối hợp có nhiệm vụ cải tiến, hoàn thiệnchất lượng sản phẩm theo các hướng khác nhau như phát triển sản phẩm mới,

đa dạng hoá sản phẩm, đối mới công nghệ và hoàn thiện quá trình sản xuất Tuynhiên, khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phân biệt rõ ràng giữa việc loạitrừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả

1.1.2.3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng

Trong lịch sử phát triển sản xuất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ khôngngừng tăng lên theo từng bước cho phù hợp với quy luật của nền kinh tế thịtrường Tùy theo quan điểm, cách nhìn nhận xem xét mà các chuyên gia chiaquá trình phát triển của quản lý chất lượng thành 5 mức độ từ thấp đến cao[2]:

Trang 31

21 21

- Quản lý chất lượng toàn diện: Đạt được chất lượng, hợp lý hóa chi phí

và lấy con

người là trung tâm để tạo ra chất

lượng

* Mức độ 01: Kiểm tra chất lượng (Inspection)

Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩmphù hợp với quy định là kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằmsàng lọc và loại ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hayquy cách kỹ thuật

Trang 32

12 12

Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triểnrộng rãi, khách hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sựcạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất về chất lượng càng ngày càng mãnhliệt Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra rằng kiểm tra không phải làcách đảm bảo chất lượng tốt nhất Theo ISO 8402 thì: “Kiểm tra chất lượng

là các hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiềuđặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định

sự không phù hợp của mỗi đặc tính” Như vậy, phương pháp này chủ yếu tậptrung vào khâu cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất), kiểm tra chỉ là một sựphân loại sản phẩm đã được chế tạo, đây một cách xử lý "chuyện đãrồi" Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng nênqua kiểm tra

Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trìnhtrước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm

Vì vậy, khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) ra đời

* Mức độ 02: Kiểm soát chất lượng - QC (Quality control)

Đây là một bước tiến của quản lý chất lượng mà tư tưởng chỉ đạo của nó làkiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng như: con người, vật liệu, máymóc, , kiểm soát mọi yếu tố cả quá trình và phòng ngừa sai hỏng Để duy trì chấtlượng phải kiểm soát thường xuyên, đồng bộ tất cả các yếu tố này và duy trìchúng ở cùng một mức chất lượng Vì chỉ cần một yếu tố kém sẽ ảnh hưởng tớichất lượng sản phẩm

Định nghĩa về Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và các biện pháp kỹthuật có tính tác nghiệp nhằm theo dõi một quá trình, đồng thời loại trừ nhữngnguyên nhân làm hoạt động không thỏa mãn ở mọi giai đoạn của sản xuất để đạthiệu quả kinh tế

Nội dung kiểm soát của yếu tố này đã được đúc kết thành những yêu cầu, hướngdẫn

Trang 33

13 13

và được “Công thức hóa” thành công thức 5M nổi

tiếng:

5M = (Man – Machines – Material – Method – Money)

(Con người – thiết bị - vật liệu – phương pháp – tài

chính)

Để duy trì chất lượng phải kiểm soát thường xuyên và đồng bộ tất cả các yếu tốnày và duy trì chúng ở cùng một mức độ chất lượng Vì chỉ cần một yếu tố kém sẽảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm

Trang 34

14 14

Cũng cần lưu ý rằng, kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm trachất lượng bởi nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhấtđịnh và ngăn ngừa bớt những lỗi sai có thể xảy ra Kiểm soát là hoạt động baoquát hơn, toàn diện hơn Đa số các công ty Việt Nam hiện nay đạt ở mức kiểmsoát chất lượng

* Mức độ 03: Đảm bảo chất lượng - QA (Quality Assurance)

Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trìmức chất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Để

có thể tiến hành hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng có hiệu quả thì cácdoanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng và chứngminh cho khách hàng thấy được điều đó Đảm bảo chất lượng giống như mộtlời hứa hoặc hợp đồng với khách hàng về chất lượng

ISO 9000 định nghĩa về đảm bảo chất lượng như sau: “Đảm bảo chấtlượng là tạo sự tin tưởng cho khách hàng, rằng một tổ chức sẽ luôn luônthỏa mãn được mọi yêu cầu của chất lượng, thông qua việc tiến hành cáchoạt động trong hệ thống theo kế hoạch Khi được yêu cầu, những hoạtđộng này hoàn toàn có thể được trình bày, chứng minh bằng các văn bản và

hồ sơ ghi chép các hoạt động của quá trình”

Cách thức quản lý chất lượng theo kiểu đảm bảo chất lượng được thực hiện dựatrên hai yếu tố: phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng vàđưa ra được những bằng chứng về việc kiểm soát ấy

Đảm bảo chất lượng

Chứng minh việc kiểm soát chất lượng Bằng chứng về việc kiểm soát chất lượng

Trang 35

- Phiếu kiểm nghiệm

- Báo cáo kiểm tra thử nghiệm

Trang 36

* Mức độ 04: Quản lý chất lượng toàn diện – TQM (Total Quality Management)

Từ năm 1950 đến 1980 hình thành rất nhiều quan điểm, trường phái kỹthuật, công c ụ quả n lý ch ất l ư ợ ng Trong đó, TQM là cách quản lý một tổchức tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cả thànhviên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thỏa mãn yêu cầu của kháchhàng và đem lại lợi ích cho các thành viên đó và cho xã hội

TQM được định nghĩa là: “Một phương pháp quản lý của một tổ chức, địnhhướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại

sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thànhviên của công ty đó và của xã hội” [2] Theo TQM sản phẩm không những thỏamãn mọi nhu cầu của khách hàng, mà quá trình sản xuất ra nó cũng phải đạthiệu quả cao nhất Mục tiêu quản lý của TQM đó là: chất lượng, giá thành, thờigian và an toàn lao động

Có thể nói TQM là bước phát triển cao nhất hiện nay về quản lý chất lượng với

1.2 SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM XÂY DỰNG

TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN

1.2.1 Sản phẩm xây dựng và đặc điểm của sản phẩm xây dựng

Trang 37

15 15

1.2.1.1 Sản phẩm xây dựng

Sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm cả việclắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong) CTXD là sản phẩm được tạo thành bởisức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình,được liên kết định vị

Trang 38

tư vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư thiết

bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch vụ ngân hàng vàtài chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan

1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng

a Đặc điểm của sản phẩm xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng

Sản phẩm xây dựng có rất nhiều đặc điểm riêng biệt khác với các sảnphẩm của các ngành sản xuất khác Những đặc điểm của sản phẩm xâydựng lại tác động chi phối đến hoạt động thi công xây dựng và từ đóảnh hưởng trực tiếp đến: việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xãhội, công nghệ xây dựng, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị xây dựng,

cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật quản lý xây dựng

- Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc riêng lẻ:

Sản phẩm xây dựng đa dạng, phức tạp, có tính cá biệt cao về công dụng

và chế tạo Mỗi sản phẩm khi thiết kế đều có nét đặc thù riêng không thểsản xuất hàng loạt theo dây chuyền tương tự cho toàn bộ sản phẩm, tùytheo yêu cầu cả về kinh tế lẫn kỹ thuật Do đó khối lượng, chất lượng vàchi phí xây dựng của mỗi công trình đều khác nhau Đặc điểm này làmcho sản xuất xây dựng có tính lưu động, thiếu ổn định và khó kiểm soát

về chất lượng

- Sản phẩm xây dựng thường có quy mô lớn kết cấu phức tạp:

Với đặc điểm quy mô lớn và kết cấu phức tạp của sản phẩm xây dựng dẫnđến chu kỳ sản xuất lâu dài Vì vậy, cần phải có kế hoạch, lập tiến độ thi

Trang 39

17 17

công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng côngtrình Ngoài ra, nhu cầu về vốn, lao động, vật tư, máy móc thiết bị thicông lớn, nếu có những sai sót trong quá trình xây dựng sẽ gây nên lãng phírất lớn

Trang 40

18 18

- Sản phẩm xây dựng được đặt tại một vị trí cố định, nơi sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu nơi đặt công trình:

Đặc điểm này cho thấy nơi tiêu thụ sản phẩm cố định, nơi sản xuất thayđổi nên lực lượng sản xuất thi công luôn phải lưu động Chất lượng sảnphẩm xây dựng chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơixây dựng công trình, do vậy công tác điều tra khảo sát, đo đạc, quan trắckhông chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công trình không đảm bảo đúngyêu cầu kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện đặc điểm tự nhiêndẫn đến công trình chất lượng kém

- Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác:

Sản phẩm xây dựng đã hoàn thành có thời gian sử dụng lâu dài và tham giavào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái banđầu cho tới khi thanh lý Từ đặc điểm này, đòi hỏi chất lượng công trìnhphải tốt để các ngành khác ít bị ảnh hưởng Ví dụ: ngành dệt may đặt hệthống máy móc thiết bị trong một cụm công trình, nếu cụm công trìnhchất lượng kém thậm chí bị hư hỏng thì chi phí tái cấu trúc của xưởngdệt may là vô cùng lớn, đó là chưa kể đến chất lượng sản phẩm dệt maycũng bị ảnh hưởng

- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu

tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm lẫn phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra:

Các ngành các đơn vị phải nâng cao chất lượng xây dựng ở trong tất cả cáckhâu: điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, giao nhận thầu, thicông xây dựng, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độbảo hành, bảo trì công trình

- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng:

Ngày đăng: 25/09/2019, 22:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w