1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG NHU CẦU THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH THPT

98 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, đất nước ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, mọi người tích cực học tập và làm việc cuốn theo nhịp sống bận rộn mà quên đi việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho chính mình và người thân trong khi Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhận định sức khỏe tâm thần là một trong mười nguyên nhân chủ yếu gây mất khả năng hoạt động của con người. Theo trang báo RFA – Đài Á Châu tự do ngày 29032012 xuất phát từ tập quán xã hội, khi gặp các vấn đề về tâm thần, đa số người dân có xu hướng né tránh việc tìm cách chữa trị dẫn đến hệ quả bệnh nhân không được phát hiện và điều trị kịp thời. Gần đây, tình trạng đáng lo ngại là trong mười loại rối loạn tâm thần thường gặp thì các rối loạn về nghiện rượu, game, rối loạn trầm cảm đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở nhóm thanh thiếu niên. So sánh kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2003 và năm 2008 cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên, đặc biệt tỷ lệ nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên gấp 7 lần. Thứ hai, đặc điểm tâm lý của thanh thiếu niên thường dễ mất bình tĩnh và nảy sinh cảm xúc tiêu cực khi gặp phải những vấn đề khó khăn. Đặc biệt, lứa tuổi HS THPT lại là giai đoạn phải đối mặt với nhiều áp lực và đòi hỏi phải đưa ra nhiều quyết định quan trọng. Lứa tuổi HS THPT được xem là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang thanh niên nên tâm lý được hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của những cấu trúc và chức năng tâm lý đã có ở tuổi thiếu niên và xuất hiện một số cấu tạo tâm lý mới. Hoạt động học tập – hướng nghiệp, biểu hiện mối tình đầu và hình thành thế giới quan khoa học là những cấu tạo tâm lý mới điển hình trong giai đoạn này. Cùng với những đặc điểm nổi bật đó, tâm lý của HS THPT còn là sự ý thức về tính người lớn phát triển mạnh, ý thức sẵn sàng dấn thân để chứng tỏ mình là người trưởng thành, từ đó nảy sinh nhu cầu được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, vấn đề về giới tính mà nổi bật là đồng tính đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của xã hội, một số HS THPT bị tác động bởi nhiều yếu tố cũng cảm thấy bối rối, mơ hồ trong việc nhận thức giới tính của chính mình. Thứ ba, trong văn bản số 9971BGD ĐT – HSSV ban hành ngày 28102005 đ cập về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên” khẳng định: Tham vấn tâm lý đã “đáp ứng được một phần nhu cầu bức xúc về giải đáp những vướng mắc tâm lý, tình cảm của học sinh, sinh viên” và yêu cầu triển khai rộng rãi hơn mô hình TVHĐ để đáp ứng kịp thời giúp học sinh, sinh viên “chọn được cách xử lý đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm”. Trong năm học 20112012, Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM cũng đã yêu cầu 100% các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên phải có phòng TVHĐ cho học sinh. Thứ tư, công tác TVHĐ trong các trường học vẫn chưa được phổ biến rộng rãi mà chủ yếu tập trung ở các khu vực trung tâm trong khi sự cần thiết của TVHĐ ở các tỉnh, các huyện lại càng nhiều hơn nữa do điều kiện tiếp cận với môi trường hiện đại, phát triển không bằng các địa bàn thành phố. Khi gặp khó khăn, HS cũng không biết phải làm gì, phải tìm đến sự giúp đỡ của những ai? Thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai là một trong những địa phương có điều kiện phát triển vẫn còn nhiều khó khăn, TVHĐ vẫn còn là một mô hình hoàn toàn mới, chưa được triển khai ở bất cứ trường học nào. Học sinh vẫn chưa được đáp ứng nhu cầu được giúp đỡ về mặt tâm lý khi gặp vấn đề, dẫn đến có nhiều trường hợp học sinh rơi vào tình trạng trầm cảm, tự kỉ và trầm trọng hơn là bệnh tâm thần. Với những lý do đã được trình bày, người nghiên cứu nhận thấy sự cần thiết của TVHĐ đối với HS THPT, nhất là HS ở các khu vực chưa có điều kiện phát triển. HS cần một người có chuyên môn giúp đỡ, hỗ trợ về mặt tâm lý phù hợp với nguyện vọng, mong muốn và định hướng phát triển phù hợp với lứa tuổi của các em. Từ đó, người nghiên cứu quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng nhu cầu tham vấn học đường của học sinh trung học phổ thông thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai” để tìm hiểu mong muốn của HS THPT tại thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai về những vấn đề cần được sự hỗ trợ của TVHĐ trong thời gian hiện nay.

Trang 1

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

THỰC TRẠNG NHU CẦU THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THỊ XÃ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất, đất nước ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, mọi người tích cực học tập và làm việc cuốn theo nhịp sống bận rộn mà quên đi việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho chính mình và người thân trong khi Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhận định sức khỏe tâm thần là một trong mười nguyên nhân chủ yếu gây mất khả năng hoạt động của con người Theo trang báo RFA – Đài Á Châu tự do ngày 29/03/2012 xuất phát từ tập quán xã hội, hi g p c c vấn đ v tâm thần, đa số người dân có xu hướng n tr nh việc tìm cách chữa trị dẫn đến hệ quả bệnh nhân hông được phát hiện và đi u trị kịp thời Gần đây, tình trạng đ ng lo ngại là trong mười loại rối loạn tâm thần thường g p thì các rối loạn v nghiện rượu, game, rối loạn trầm cảm đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở nhóm thanh thiếu niên So sánh kết quả đi u tra quốc gia v vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2003 và năm 2008 cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn ch n đã tăng lên, đ c biệt tỷ lệ nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên gấp 7 lần

Thứ hai, đ c điểm tâm lý của thanh thiếu niên thường dễ mất bình tĩnh và nảy sinh cảm xúc tiêu cực khi g p phải những vấn đ hó hăn Đ c biệt, lứa tuổi HS THPT lại

là giai đoạn phải đối m t với nhi u áp lực và đòi hỏi phải đưa ra nhi u quyết định quan trọng Lứa tuổi HS THPT được xem là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang thanh niên nên tâm lý được hình thành và phát triển dựa trên n n tảng của những cấu trúc và chức năng tâm lý đã có ở tuổi thiếu niên và xuất hiện một số cấu tạo tâm

lý mới Hoạt động học tập – hướng nghiệp, biểu hiện mối tình đầu và hình thành thế giới quan khoa học là những cấu tạo tâm lý mới điển hình trong giai đoạn này Cùng

Trang 2

với những đ c điểm nổi bật đó, tâm lý của HS THPT còn là sự ý thức v tính người lớn phát triển mạnh, ý thức sẵn sàng dấn thân để chứng tỏ mình là người trưởng thành, từ đó nảy sinh nhu cầu được tôn trọng và đối xử bình đẳng Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, vấn đ v giới tính mà nổi bật là đồng tính đã nhận được rất nhi u sự quan tâm của xã hội, một số HS THPT bị t c động bởi nhi u yếu tố cũng cảm thấy bối rối, mơ hồ trong việc nhận thức giới tính của chính mình

Thứ ba, trong văn bản số 9971/BGD & ĐT – HSSV ban hành ngày 28/10/2005 đ cập v việc “triển hai công t c tư vấn cho học sinh, sinh viên” hẳng định: Tham vấn tâm lý đã “đ p ứng được một phần nhu cầu bức xúc v giải đ p những vướng mắc tâm lý, tình cảm của học sinh, sinh viên” và yêu cầu triển khai rộng rãi hơn mô hình TVHĐ để đ p ứng kịp thời giúp học sinh, sinh viên “chọn được cách xử lý đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm” Trong năm học 2011-2012, Sở giáo dục và đào tạo TP.HCM cũng đã yêu cầu 100% c c trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên phải có phòng TVHĐ cho học sinh

Thứ tư, công t c TVHĐ trong c c trường học vẫn chưa được phổ biến rộng rãi mà chủ yếu tập trung ở các khu vực trung tâm trong khi sự cần thiết của TVHĐ ở các tỉnh, các huyện lại càng nhi u hơn nữa do đi u kiện tiếp cận với môi trường hiện đại, phát triển không bằng c c địa bàn thành phố Khi g p hó hăn, HS cũng hông biết phải làm gì, phải tìm đến sự giúp đỡ của những ai? Thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai

là một trong những địa phương có đi u kiện phát triển vẫn còn nhi u hó hăn, TVHĐ vẫn còn là một mô hình hoàn toàn mới, chưa được triển khai ở bất cứ trường học nào Học sinh vẫn chưa được đ p ứng nhu cầu được giúp đỡ v m t tâm lý khi

g p vấn đ , dẫn đến có nhi u trường hợp học sinh rơi vào tình trạng trầm cảm, tự kỉ

và trầm trọng hơn là bệnh tâm thần

Với những lý do đã được trình bày, người nghiên cứu nhận thấy sự cần thiết của TVHĐ đối với HS THPT, nhất là HS ở các khu vực chưa có đi u kiện phát triển HS cần một người có chuyên môn giúp đỡ, hỗ trợ v m t tâm lý phù hợp với nguyện vọng, mong muốn và định hướng phát triển phù hợp với lứa tuổi của các em Từ đó,

Trang 3

người nghiên cứu quyết định tiến hành nghiên cứu đ tài “Thực trạng nhu cầu tham vấn học đường của học sinh trung học phổ thông thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai” để tìm hiểu mong muốn của HS THPT tại thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai v

những vấn đ cần được sự hỗ trợ của TVHĐ trong thời gian hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

X c định thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS THPT tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận v các khái niệm công cụ như: nhu cầu, nhu cầu TVHĐ, đ c điểm tâm lý của HS THPT, nhu cầu TVHĐ của HS THPT

- Khảo sát thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS THPT tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

4 Giả thuyết nghiên cứu

- HS THPT có nhu cầu TVHĐ h cao, tập trung chủ yếu ở các nhóm vấn đ như: học tập - hướng nghiệp và các mối quan hệ giao tiếp Trong mỗi nhóm vấn đ , nhu cầu TVHĐ của HS THPT có nội dung rất phong phú và mức độ nhu cầu TVHĐ cũng khác nhau

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu TVHĐ của HS THPT

Trang 4

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận:

Đ tài tiến hành tiếp cận vấn đ nghiên cứu theo hướng tiếp cận biện chứng, hệ thống – cấu trúc, hướng tiếp cận thực tiễn

+ Hướng tiếp cận biện chứng:

Việc nghiên cứu nhu cầu tham vấn của HS THPT được phân tích dưới góc độ duy vật biện chứng, những cơ sở được định hướng v nhu cầu, nhu cầu TVHĐ đ u được xem xét trong mối liên hệ với thế giới khách quan bên ngoài

+ Hướng tiếp cận hệ thống – cấu trúc:

Tất cả các vấn đ được nghiên cứu trong đ tài đ u được đ t trong mối liên hệ ch t chẽ với nhau, có ảnh hưởng, t c động qua lại lẫn nhau

+ Hướng thực tiễn:

Việc nghiên cứu trong đ tài sẽ sử dụng những cứ liệu và số liệu từ thực tiễn để khảo sát thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS THPT

7.2 Phương pháp nghiên cứu:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

*Mục đích nghiên cứu

Xây dựng khung lý thuyết cho đ tài dựa trên sự tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan, kết hợp với lý luận riêng, người nghiên cứu sẽ xây dựng một hệ thống khái niệm có liên quan để định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu cũng như toàn bộ qu trình đi u tra thực trạng nhu cầu TVHĐ của học sinh một số trường trung học phổ thông tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

*Nội dung nghiên cứu

- Phân tích, tổng hợp và đ nh gi những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước v nhu cầu TVHĐ và c c vấn đ liên quan đến TVHĐ

- X c định khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan: nhu cầu, TVHĐ, nhu cầu TVHĐ, nhu cầu TVHĐ của HS THPT

- X c định nội dung cho nghiên cứu thực trạng: Dựa vào kết quả tổng hợp của phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như phần lý thuyết chung

Trang 5

của đ tài, người nghiên cứu sẽ lựa chọn các yếu tố khảo s t như là: nhu cầu v nội dung TVHĐ, nhu cầu v hình thức TVHĐ, nhu cầu v cách thức đến phòng TVHĐ, phòng TVHĐ và chuyên viên TVHĐ

*Cách thức thực hiện

Tìm kiếm tài liệu tại c c thư viện như: thư viện trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM, thư viện Quốc gia, thư viện Khoa học xã hội, thư viện Tổng hợp, thư viện điện tử, website, ho tư liệu, sách, tạp chí

Xử lý tài liệu bằng việc đọc, phân loại, sau đó tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu thành c c vấn đ theo logic nghiên cứu

Dựa trên c c tài liệu ết hợp với lý luận riêng, người nghiên cứu xây dựng thành

cơ sở lý luận hoàn chỉnh cho đ tài, chú ý trích dẫn ý chính, trích dẫn nguyên văn t c giả hi có tham hảo

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

* Mục đích nghiên cứu

Đây là phương ph p chủ đạo của đ tài Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên hệ thống câu hỏi nhằm x c định thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS THPT thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

+ Bước 4: Hoàn thiện bảng khảo sát chính thức

+ Bước 5: Phát bảng khảo sát chính thức và thu số liệu

Trang 6

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

* Mục đích nghiên cứu

Phương ph p này được sử dụng để đi u tra sâu một số trường hợp tiêu biểu nhằm thu thập thông tin liên quan đến đ tài một c ch trực tiếp Ngoài ra, phương ph p này còn được dùng để đ nh gi độ trung thực trong việc trả lời bảng hảo s t

* C ch thực hiện

- Liên hệ với h ch thể hảo s t

- Nêu mục đích, lý do và tính bảo mật thông tin để xin sự đồng thuận phỏng vấn

- Tiến hành phỏng vấn từ c c ý trả lời tiêu biểu của h ch thể trong phiếu hảo s t

- Ghi chép phần phỏng vấn

- Phân tích ết quả phỏng vấn

7.2.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Phần m m SPSS phiên bản 16.0 sẽ được dùng để xử lý c c dữ iện thu được, phục

vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định lượng và tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

Phương ph p này được sử dụng để xử lý c c số liệu thu được từ phiếu hảo s t và phân tích chúng theo c c nhiệm vụ nghiên cứu và trình bày ết quả nghiên cứu dưới dạng bảng, biểu đồ

Như vậy, quá trình nghiên cứu có sự phối hợp đồng bộ c c phương pháp trên dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, kết hợp tính hài hòa giữa nghiên cứu định tính và định lượng C c phương ph p cụ thể kết hợp thành hệ thống phương ph p có

sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo độ tin cậy v số liệu và các nhận xét, kết luận từ số liệu nghiên cứu

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Đóng góp về mặt lý luận

Đ tài hệ thống hóa cơ sở lý luận v các khái niệm nhu cầu TVHĐ, nhu cầu TVHĐ của HS THPT

Trang 7

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Đ tài mô tả bức tranh thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS THPT thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Một số nghiên cứu vấn đề trên thế giới

TVHĐ xuất hiện vào khoảng đầu thế kỉ XX tại Hoa Kì Một trong những nội dung TVHĐ đầu tiên vào giai đoạn này chính là tư vấn ngh và công t c hướng nghiệp Được xem là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này, Jesse B Davis đã giới thiệu chương trình “Những hướng dẫn v ngh nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) dành cho các em HS trường công lập Năm 1909 Fran Parson

đã viết cuốn s ch “Chọn lựa một ngh ” (Choosing a Vocation) trình bày phương ph p kết nối những đ c điểm tính cách của một cá nhân với một ngh nghiệp

Từ năm 1920 đến năm 1930 hoạt động tham vấn ngh được mở rộng và đ c biệt nhấn mạnh vào sự phát triển cá nhân, xã hội và đạo đức Năm 1964, Hiệp hội các chuyên viên tham vấn tâm lý học đường Hoa Kì đã ph t triển các vai trò và chức năng dành cho các chuyên viên TVHĐ Từ năm 1960, TVHĐ được chính thức công nhận với nhiệm vụ là tham vấn cho HS để giúp họ vượt qua khủng hoảng của lứa tuổi; xây dựng c c chương trình Tâm lý – Giáo dục nhằm giúp HS phát triển những kỹ năng xã hội cũng như ngăn ch n hiện tượng tiêu cực trong học đường; cố vấn cho giáo viên, nhà quản lý và cha mẹ HS v các vấn đ của HS; làm cầu nối giữa nhà trường và cộng đồng [7]

Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho c c chương trình TVHĐ ra đời và kể từ

đó, ngành TVHĐ được xem như đã hoàn thiện

Từ đó cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhi u công trình nghiên cứu được thực hiện liên quan đến thực trạng nhu cầu TVHĐ của HS, SV ở các bậc học, sự phát triển thang đo nhu cầu tham vấn và nghiên cứu xây dựng các mô hình tham vấn, thay đổi nội dung, chương trình hoạt động TVHĐ [1]

Trang 9

Trong nội dung nghiên cứu đ nh gi thực trạng nhu cầu tham vấn của HS, SV ở các bậc học thường tập trung làm rõ nhu cầu nhận hỗ trợ từ các trung tâm tham vấn, các vấn

đ cần tham vấn, tần suất đến phòng TVHĐ, nguyên nhân cản trở đến các dịch vụ tham vấn, mối quan hệ giữa stress và nhu cầu tham vấn Các nghiên cứu theo huynh hướng này cho thấy những vấn đ mà HS, SV cần tham vấn thường là các mối quan hệ xã hội,

sự phát triển ngh nghiệp, giá trị sống, ĩ năng học tập, việc rèn luyện và phát triển bản thân [37] Đối với c c nước Âu Mỹ, hiện nay việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn hầu như chỉ hướng đến c c đối tượng đ c biệt như trẻ khuyết tật, HS, SV có năng khiếu đ c biệt [39], những HS nổi bật nhưng lại bị khuyết tật học tập (academically talented students with learning disability) [38]

Trong quá trình nghiên cứu phát triển thang đo nhu cầu tham vấn, theo Nyutu (2001), ban đầu, những nghiên cứu v nhu cầu tham vấn theo xu hướng đi u tra (survey research) được thực hiện dựa trên một số công cụ và phương ph p đơn giản như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn trọng tâm (focus group) và bảng hỏi ho c chỉ sử dụng các công cụ đ nh giá v nhu cầu (Students Needs Assessment Survey) ở HS, SV V sau, nhằm đ nh gi chính xác, khách quan và khoa học v thực trạng nhu cầu tham vấn ở HS, SV nói trên, việc xây dựng và phát triển c c thang đo v nhu cầu tham vấn đã có đầy đủ tính hiệu lực

và độ tin cậy được chú trọng [37] Ở Châu Phi, thang đo “The Students Counseling

Needs Scale” (Thang đo nhu cầu tham vấn cho HS) của Nyutu (2007) được sử dụng

khá phổ biến Thang đo này cũng được chính Nyutu & Gysbers (2010) sử dụng trong

một nghiên cứu gần đây “Nhu cầu tham vấn của HS THPT Kenya” [37], đi u này

một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng công cụ đ nh gi để xác định nhu cầu tham vấn tại Kenya thay cho các công cụ đ nh gi nhu cầu chung ở HS,

SV

Cuối cùng là những nghiên cứu xây dựng mô hình tham vấn, thay đổi nội dung, chương trình hoạt động TVHĐ, như ở Hoa Kỳ có mô hình tham vấn HS dựa trên kinh nghiệm; mô hình tham vấn của Trường Illinois (2007), mô hình tham vấn của Trường

ĐH tổng hợp Winsconsin (2008) và đ c biệt là mô hình tham vấn chuyển đổi của các tác giả Eschenauer và Chen-Hayes (2005) dành cho c c trường học ở đô thị Bên cạnh đó,

Trang 10

còn có các mô hình tâm lý học đường như mô hình phân phối dịch vụ tâm lý học trường học 3 tầng (năm 2008), mô hình dịch vụ TVHĐ tích hợp và toàn diện (năm 2010) Ở

Ph p đã hình thành một mạng lưới hỗ trợ đ c biệt (RASED), đây là mô hình trợ giúp đ c biệt bao gồm những hoạt động cùng nhau phòng ngừa và khắc phục khi GV không có biện pháp thay thế nào Ở Singapore có mô hình dịch vụ chăm sóc HS (Student Care Service – SCS) Ở Trung Quốc có mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các nhà trường cho HS các cấp [25]

Từ những tài liệu trên, có thể thấy công t c TVHĐ trên thế giới đã đạt được những thành tựu nhất định Đó là xây dựng được các mô hình tham vấn và nội dung tham vấn phù hợp với từng đối tượng HS, SV và từng quốc gia khác nhau Bên cạnh đó, nhi u nghiên cứu đã tìm hiểu được các vấn đ cần tham vấn và những nguyên nhân cản trở dịch

vụ tham vấn Quan trọng hơn là đã ph t triển được thang đo nhu cầu tham vấn có độ tin cậy cao Từ đây, c c chuyên viên TVHĐ có thêm nhi u cơ sở để đ xuất và thử nghiệm các biện pháp nhằm đ p ứng nhu cầu TVHĐ cho HS, SV Đi u này góp phần đẩy mạnh công t c TVHĐ ngày càng ph t triển và mang lại hiệu quả thiết thực

1.1.2 Một số nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trước năm 1975 tại mi n nam TVHĐ được triển hai dưới hình thức

là những phòng khải đạo học đường với nội dung chủ yếu là hướng nghiệp cho HS [7] Đến năm 1981, chính phủ chính thức ra quyết định số 126/CP v “Công t c hướng nghiệp và sử dụng hợp lý HS ra trường” để chỉ đạo công t c tư vấn hướng nghiệp ở c c trường phổ thông Bên cạnh đó, c c hình thức trợ giúp h c cũng bắt đầu xuất hiện như: công t c xã hội, công tác từ thiện, tuyên truy n v chính sách dân số, phương ph p phòng chống dịch bệnh, tư vấn tâm lý Năm 1991, Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Việt Nam đã xây dựng nhi u mô hình chăm sóc tinh thần cho trẻ em, trong

đó có mô hình văn phòng tư vấn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đ c biệt hó hăn như trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ trộm cắp, nghiện hút, trẻ bị bóc lột lao động và tình dục, trẻ mồ côi hông nơi nương tựa [34]

Trong nhi u năm trở lại đây, vấn đ nhu cầu tham vấn cũng như c c vấn đ liên quan đến TVHĐ đã nhận được nhi u sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước

Trang 11

Trong c c đ tài đã được thực hiện, kết quả nhận được góp phần rất lớn vào việc làm sáng tỏ cũng như chứng minh sự đa dạng của nhu cầu tham vấn trong xã hội hiện nay, trong đó có môi trường học đường

Theo tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Võ Thị Tích (2004) nhu cầu tư vấn học đường ở một số trường THCS, THPT tại TPHCM khá cao (85%) Nội dung chủ yếu

mà các em muốn tham vấn là các vấn đ học tập, hướng nghiệp và các mối quan hệ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè Tác giả Võ Thị Tích còn khảo sát thấy có đến 81.5% HS mong muốn có chuyên viên tham vấn ngay tại trường mình, ngoài ra còn yêu cầu người làm công tác tham vấn phải được đào tạo chuyên môn v tâm lý giáo dục và có đầy đủ năng lực, phẩm chất của một chuyên viên tham vấn [24], [20]

Đ tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý – giới tính của HS một số trường THPT tại TPHCM” do t c giả Ngô Đình Qua, Nguyễn Thượng Chí (2006) tiến hành khảo sát trên HS lớp 8, lớp 9 trường THCS Nguyễn Gia Thi u và HS THPT Nguyễn Thượng

Hi n – cho thấy nhu cầu tham vấn tâm lý – giới tính của HS THPT (83.6%) cao hơn

HS THCS (69.4%) [22]

Trong bài báo cáo tại hội thảo khoa học quốc gia “Tư vấn tâm lý – giáo dục – Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển” (2006), t c giả Ngô Nguyễn Thiên Trang cũng nhận định nhu cầu tham vấn tâm lý của HS THCS là rất cao và việc đ p ứng nhu cầu này là “cần thiết và vô cùng quan trọng” [30]

Tác giả Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng (2006) trong đ tài nghiên cứu v TVHĐ nhìn từ góc độ giới đã đ cập đến sự khác biệt v nhu cầu tham vấn của HS nam và nữ Theo nhóm tác giả, chuyên viên TVHĐ cần nắm được những mối quan tâm khác nhau của các em nam và nữ, phân tích t c động của mối quan hệ tham vấn giữa chuyên viên tham vấn là nam ho c nữ với HS nam hay nữ Từ đó, đ xuất việc nâng cao nhận thức v giới của c c chuyên viên TVHĐ thông qua c c hóa học lấy giới làm trung tâm trong quá trình tham vấn [9]

Trong đ tài “Khó hăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của HS phổ thông”, nhóm t c giả Dương Diệu Hoa, Vũ Kh nh Linh, Trần Văn Thức (2007) đã chỉ ra những khía cạnh thể hiện sự hó hăn tâm lý ở HS THPT là hó hăn trong việc x c định lựa

Trang 12

chọn ngh nghiệp cho tương lai, hó hăn trong học tập, sự băn hoăn v sự phát triển tâm sinh lý của bản thân, hó hăn trong giao tiếp với mọi người Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết của hoạt động tham vấn trong nhà trường và những hình thức tham vấn mà HS quan tâm như tham vấn trực tiếp tại trường, qua thư, qua điện thoại [13] Tiếp theo đó t c giả Trần Thị Ngọc Dung (2007) đã cụ thể hóa những hó hăn tâm lý trong học tập của HS lớp 12 trong đ tài “Tìm hiểu sự đ p ứng hó hăn tâm lý trong học tập của HS lớp 12 tại một số trường THPT TPHCM” như là hó hăn v cảm xúc trí tuệ, hó hăn trong qu trình nhận thức, hó hăn trong việc x c định động cơ học tập, hó hăn v tự đ nh gi bản thân, hó hăn trong hành vi ý chí [4] Nghiên cứu v “Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản của HS THPT” t c giả Nguyễn Hà Thành đã đưa ra ết luận: Tất cả HS THPT đ u có nhu cầu hiểu biết và được giáo dục v sức khỏe sinh sản, HS THPT mong muốn chương trình gi o dục sức khỏe sinh sản được chính thức đưa vào trường học [27]

Tác giả Phạm Thị Trúc (2010) với đ tài khảo s t “Nhu cầu tham vấn tâm lý của

HS THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” cho biết HS THPT huyện Xuyên Mộc có nhu cầu tham vấn tâm lý cao v vấn đ học tập (75.3%) và sự phát triển bản thân (46.1%) Các em có nguyện vọng là có phòng tham vấn tâm lý tại trường của mình nhưng hông đ t gần lớp học [32]

Trong đ tài “Khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý của HS THCS huyện Bình Chánh,

TP HCM” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc đã hảo sát thấy nội dung nhu cầu tham vấn của HS xếp hạng đầu là những vấn đ liên quan đến cuộc sống, chăm sóc sức khỏe, tình bạn [19]

Đ tài “Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của HS THPT tỉnh Kiên Giang” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thảo cho thấy có đến 89.8% HS quan tâm đến vấn đ tư vấn hướng nghiệp và nội dung tư vấn hướng nghiệp mà các em mong muốn được biết nhi u nhất là khả năng có việc làm sau hi ra trường (85.5%) [28]

Ngoài ra còn rất nhi u bài viết trên tạp chí Tâm lý học, các bài tham luận đăng trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, đ cập đến nhu cầu tham vấn và sự cần thiết có một chuyên viên tâm lý trong trường học và cách thức tổ chức hoạt động tâm lý trong

Trang 13

nhà trường [12], [14], [10], [5], [18] đã phản ánh phần nào nhu cầu TVHĐ của HS các cấp h c nhau, đ c biệt là các vấn đ tâm lý thường g p của lứa tuổi và các hình thức tham vấn phù hợp với môi trường học đường trong từng giai đoạn

Như vậy, công t c TVHĐ ở Việt Nam nói chung và nhu cầu TVHĐ nói riêng đã

và đang ph t triển mạnh mẽ Rất nhi u đ tài nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu các vấn đ mà HS mong muốn được tham vấn, đ nh gi nhu cầu tham vấn tâm lý của HS, những khác biệt v nhu cầu tham vấn giữa HS nam và HS nữ, c c hó hăn tâm lý của HS cần sự hỗ trợ của TVHĐ cũng như hình thức TVHĐ Từ đó đóng góp một phần rất lớn trong quá trình tiến đến mục tiêu đưa TVHĐ tiến gần hơn với HS và giúp cho c c em có được sự trợ giúp tâm lý kịp thời, để có thể phát triển một cách lành mạnh và tích cực nhất Tuy nhiên, trong c c đ tài đã tiến hành trên đây vẫn chưa

x c định được mức độ nhu cầu TVHĐ của HS và trong các vấn đ HS cần tham vấn chỉ mới dừng lại ở các nhóm vấn đ chung mà vẫn chưa làm rõ được nội dung cụ thể

và mức độ nhu cầu tham vấn ở từng nội dung như thế nào

1.2 Cơ sở lý luận về nhu cầu tham vấn học đường của HS THPT

1.2.1 Nhu cầu tham vấn học đường

1.2.1.1 Nhu cầu

Trong thực tế có nhi u định nghĩa h c nhau v nhu cầu, tùy thuộc vào mỗi quan điểm và cách tiếp cận khác nhau:

Theo từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (chủ biên): “Nhu cầu là điều đòi hỏi

của cuộc sống, tự nhiên và xã hội” [21]

Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (chủ biên) đã định nghĩa: “Nhu cầu là

những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định” [6, tr 568] Theo cách tiếp cận nguồn gốc xuất hiện tính tích cực: “Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực bên trong, nền tảng của con người và động vật, biểu hiện sự phụ thuộc của nó vào những điều kiện tồn tại cụ thể để tồn tại và phát triển” [6, tr

568]

Theo Giáo trình Tâm lý học đại cương của tác giả Lê Thị Hân, Huỳnh Văn Sơn

(chủ biên) định nghĩa: “Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được

Trang 14

thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [11] Những đòi hỏi ấy bao gồm cả v vật chất lẫn

tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của con người trong cuộc sống hằng ngày Nếu hông được đ p ứng kịp thời có thể ảnh hưởng đến hành vi, hoạt động và sự phát triển của con người

Bên cạnh đó, trong Gi o trình Tâm lý học đại cương của tác giả Nguyễn Xuân

Thức (chủ biên) đã nêu lên h i niệm v nhu cầu như sau: “Nhu cầu là sự thể hiện

mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [29]

Nhìn chung c c định nghĩa nêu trên đ u nhận định nhu cầu là những đòi hỏi, những mong muốn mà con người cảm thấy cần được thỏa mãn để duy trì sự tồn tại và phát triển trong những đi u kiện, hoàn cảnh nhất định Qua đó con người thể hiện mối quan hệ tích cực với môi trường bên ngoài, đó là mối quan hệ ch t chẽ, gắn kết giữa cái mong muốn và đối tượng thỏa mãn nó

Như vậy, dựa theo những kiến thức trên đ tài xin đưa ra một số ý tổng quát sau:

Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển

Nhu cầu có những đ c điểm chính sau:

Nhu cầu có tính đối tượng

Theo Giáo trình Tâm lý học đại cương của tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên) thì nhu cầu luôn hướng vào đối tượng cụ thể, đó có thể là vật chất, tinh thần hay một hoạt động nào đó mà có hả năng thỏa mãn đòi hỏi của chủ thể Khi nhu cầu g p được đối tượng thỏa mãn thì nhu cầu trở thành động cơ hoạt động Đối tượng càng rõ ràng, cụ thể, càng ích thích, thúc đẩy hoạt động tích cực của con người vươn tới nó Tính đối tượng của nhu cầu còn thể hiện ở việc con người chủ động t c động vào thế giới, sáng tạo ra những đối tượng mới để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình [11]

Giáo trình Tâm lý học đại cương của tác giả Nguyễn Xuân Thức (chủ biên) cho rằng ban đầu đối tượng để đ p ứng nhu cầu có thể chưa rõ ràng, cụ thể Tuy nhiên một hi đối tượng của nhu cầu càng được x c định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với

Trang 15

đời sống của cá nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng chóng nảy sinh, củng cố và phát triển [29]

Đối tượng của nhu cầu ở những người khác nhau là khác nhau, tùy từng loại nhu cầu khác nhau Ngay trong cùng một loại nhu cầu, đối tượng của nhu cầu ở người này cũng h c đối tượng nhu cầu của người h c Chính tính đối tượng của nhu cầu đã thúc đẩy con người hoạt động, sáng tạo ra thế giới đối tượng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Cũng nhờ đ c điểm này mà nhu cầu kích thích sản xuất phát triển, tạo nên mối quan hệ giữa “cung và cầu”, thể hiện mối quan hệ tích cực của

cá nhân với hoàn cảnh Càng có nhi u nhu cầu và càng có nhi u đối tượng của nhu cầu sẽ càng kích thích sản xuất phát triển [29]

Nhu cầu có tính chu kì

Theo giáo trình Tâm lý học đại cương của tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên) thì khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì bản thân nhu cầu đó sẽ bị suy yếu đi trong thời điểm đó, nhưng nó lại tiếp tục được l p lại ở thời điểm khác theo một chu trình nhất định Tuy nhiên nhu cầu được tái hiện thường sẽ phong phú ho c ở mức độ cao hơn Vì vậy, con người luôn nổ lực tìm kiếm, tích cực sáng tạo để có thể thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình, và nhờ đó, xã hội ngày càng phát triển [11]

Nhu cầu có tính ổn định

Nhu cầu là một thuộc tính của xu hướng nhân c ch con người Vì vậy, cũng giống như những thuộc tính nhân cách khác, nhu cầu có tính tương đối ổn định Tính ổn định của nhu cầu được thể hiện ở tần suất xuất hiện một cách liên tục, thường xuyên Nhờ có tính ổn định, trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu, chủ thể đôi lúc

sẽ g p hó hăn, trở ngại thì nhu cầu không thể mất đi, mà tr i lại, trong chừng mực nào đó, nhu cầu còn thúc đẩy con người hoạt động tích cực hơn Tính ổn định của nhu cầu chỉ có được hi con người ý thức đầy đủ v đối tượng cũng như phương thức thỏa mãn nhu cầu [19]

Phương thức thỏa mãn nhu cầu

Khi xuất hiện một nhu cầu cụ thể thì chủ thể sẽ hướng trí lực của mình vào việc tìm kiếm c c phương thức, đi u kiện để thỏa mãn nhu cầu và từ đó nảy sinh hành vi

Trang 16

với tư c ch là phương thức thỏa mãn nhu cầu Khi một nhu cầu được thỏa mãn sẽ nảy sinh một nhu cầu mới ở cấp độ cao hơn Như vậy, thông qua hoạt động, nhu cầu được thỏa mãn và phát triển Chỉ có hoạt động mới giúp con người thỏa mãn nhu cầu của mình [19]

Nhu cầu phản nh đi u kiện kinh tế xã hội cũng như đi u kiện cá nhân Sản xuất phát triển, xã hội ngày càng văn minh đã làm nảy sinh những nhu cầu và thách thức thỏa mãn đa dạng, phong phú Đ nh gi và t c động vào nhu cầu con người cần phải hướng vào cả nội dung cũng như c ch thức thỏa mãn [11]

Trạng thái ý chí – xúc cảm của nhu cầu

Nhu cầu thường đi èm theo trạng thái ý chí – xúc cảm, đ c biệt khi nhu cầu ở mức độ cao Các biểu hiện trạng thái xúc cảm của nhu cầu có thể là rất hài lòng ho c không hài lòng, thỏa mãn ho c không thỏa mãn, thậm chí con người có cảm giác bứt rứt, khó chịu khi nhu cầu hông được đ p ứng Chính trạng thái ý chí – xúc cảm thúc đẩy con người tìm kiếm phương thức thỏa mãn nhu cầu Vì thế, nhu cầu trở thành một trong những động cơ mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động nói chung và thực hiện các hành vi mang tính ý chí nói riêng Trạng thái xúc cảm – ý chí có thể giảm đi, hoàn toàn biến mất ho c chuyển sang một trạng thái xúc cảm h c hi con người đươc đ p ứng nhu cầu hay chuyển sang một nhu cầu khác

Bản chất xã hội – lịch sử của nhu cầu

Nhu cầu con người khác v chất so với nhu cầu con vật, nhu cầu con người mang tính xã hội Không chỉ khác con vật ở nội dung phong phú của nhu cầu, mà còn khác

ở chỗ con người chủ động sáng tạo một thế giới để thỏa mãn chúng Ngoài nhu cầu vật chất, con người còn có nhu cầu tinh thần, nhu cầu tự nhiên cũng được biến đổi đi

và được thỏa mãn có đạo đức, văn hóa và thẩm mỹ [11]

Tác giả Nguyễn Xuân Thức nhận định: “Nội dung của nhu cầu do điều kiện thỏa

mãn nó quy định Điều kiện thỏa mãn nhu cầu của con người nằm trong xã hội, vì vậy nhu cầu con người mang tính xã hội Ngay trong những nhu cầu thuần túy mang tính

cá nhân hoặc những nhu cầu dường như chỉ liên quan đến những chức năng sinh vật

Trang 17

của cơ thể con người trên thực tế vẫn mang tính xã hội.” (Con người không thỏa mãn

một cách tùy tiện, bản năng như con vật mà ít nhi u cũng có ý thức) [29]

Các loại nhu cầu

Dựa trên c c cơ sở và n n tảng h c nhau mà nhu cầu con người cũng được phân chia thành nhi u dạng, điển hình như:

- Thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow đưa ra năm 1943 Theo lý thuyết này thì nhu cầu của con người gồm năm bậc [40]:

+ Bậc thứ nhất là các nhu cầu v căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) như thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

+ Bậc thứ hai là nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm v an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

+ Bậc thứ ba là nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

+ Bậc thứ tư là nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm gi c được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

+ Bậc thứ năm là nhu cầu v tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình và được công nhận là thành đạt

Dựa vào th p nhu cầu trên, ông lại chia nhu cầu thành hai nhóm chính là nhu cầu

cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)

Trong đó, c c nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao Nếu nhu cầu cơ bản hông được thỏa mãn thì con người sẽ hông quan tâm đến c c nhu cầu v vẻ đẹp, sự tôn trọng

- Dựa trên đối tượng thỏa mãn có thể phân chia c c loại nhu cầu dựa trên đối tượng thỏa mãn chúng bao gồm: nhu cầu vật chất (nhu cầu ăn, ở, m c, nhu cầu đi lại ) và nhu cầu tinh thần (nhu cầu nhận thức, nhu cầu lao động, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giao tiếp…) [11]

- Dựa vào xu hướng của nhu cầu, có c c loại nhu cầu sau đây:

Trang 18

+ Một là, nhu cầu vật chất: là cơ sở cho sự sống, tồn tại, ph t triển của con người

và con vật như nhu cầu ăn, m c, ở… Những nhu cầu này hình thành trong qu trình

ph t triển giống loài và ph t triển xã hội lịch sử của con người và toàn bộ lịch sử đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội của con người là cuộc đấu tranh trước hết để thỏa mãn c c nhu cầu vật chất

+ Hai là, nhu cầu tinh thần: là những cấu tạo đ c biệt, chỉ con người mới có, nó

chứng tỏ một trình độ cao của nhân c ch con người Gồm có nhu cầu nhận thức và nhu cầu thưởng thức c i đẹp

 Nhu cầu tinh thần thể hiện ở nhu cầu nhận thức, thoạt đầu nó biểu hiện ở tính tò

mò, rồi sau đó trở thành một sự ham mê nhận thức hông gì cản nổi, chính sự ham mê này đã tạo ra hoa học, tức là sự định hướng cao cấp trong thế giới xung quanh và trong bản thân

 Nhu cầu thưởng thức c i đẹp có một vai trò to lớn trong sự sống của con người Nhờ đó, con người sẽ tìm c ch làm cho cuộc sống, sự nghỉ ngơi và cuộc đời mình trở nên đẹp đẽ Sự cảm thụ những gi trị thẩm mỹ trong thực tại và trong nghệ thuật sẽ làm cho nhân c ch trở nên cao quý hơn Việc cảm thụ, nhận thức một c ch có hệ thống c c gi trị thẩm mỹ có thể ph t triển lên thành nhu cầu s ng tạo nghệ thuật

+ Ba là, nhu cầu xã hội: Là nhu cầu liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích c

nhân và lợi ích cộng đồng, xã hội Trong đó, c i chiếm ưu thế là quan hệ hợp t c đồng chí và tương trợ, lợi ích xã hội sẽ trở thành lợi ích của mỗi c nhân và mỗi người đ u trở thành người tích cực cho sự ph t triển xã hội

Tóm lại, c c nhu cầu của con người vô cùng phong phú và có quan hệ qua lại với nhau và với những m t h c của xu hướng nhân c ch

1.2.1.2 Tham vấn học đường

a Khái niệm tham vấn học đường

TVHĐ được xem x t như là một loại hình cung cấp dịch vụ tham vấn mang tính học đường Chuyên viên TVHĐ chuyên nghiệp là một nhà sư phạm được cấp bằng đào tạo v TVHĐ với những ĩ năng chuyên biệt để hỗ trợ việc học, nhu cầu ph t triển c nhân, xã hội và ngh nghiệp của HS [8, tr 94]

Trang 19

TVHĐ thường thiên v tham vấn gi o dục, nó bị chi phối nhi u bởi những quy định, chuẩn mực trong trường học Chuyên viên TVHĐ đôi hi còn được xem là nhà cố vấn học tập – Academic Advising (Tức là chuyên viên tham vấn làm việc ở c c nhà trường cao đẳng, đại học với đối tượng là sinh viên được coi là những người trưởng thành Lúc này, sự trợ giúp của chuyên viên tham vấn tập trung vào việc cố vấn ho c tư vấn v học tập cho sinh viên) Ở Việt Nam, đôi hi người ta đồng nhất lĩnh vực TVHĐ là tham vấn ngh hay tham vấn hướng nghiệp [8, tr.95]

Hiệp hội các Chuyên viên TVHĐ Hoa Kỳ – ASCA, 1990 quan niệm: “TVHĐ là công

việc giúp đỡ tất cả các HS trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong việc nâng cao năng lực cá nhân và giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích Chuyên viên TVHĐ trợ giúp hình thành và tổ chức tất cả những chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp tham vấn thích hợp” [3, tr 101] Như vậy, trong

hoạt động TVHĐ, chuyên viên tham vấn thực hiện công việc giúp đỡ cho tất cả HS tham gia vào các hoạt động ở nhà trường, phát hiện và can thiệp các vấn đ ở các em nhằm giúp tất cả HS phát triển tốt nhất trong đi u kiện và hoàn cảnh của mình

Tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng: “TVHĐ thiên về tham vấn giáo dục, nó bị

chi phối nhiều bởi quy định, chuẩn mực trong trường học” [8, tr 90] TVHĐ là tất cả

các hoạt động can thiệp nhằm mục đích giúp cho HS được phát triển tốt nhất v m t học tập, ngh nghiệp, cá nhân và xã hội, bao gồm cả các hoạt động tư vấn cho GV và CMHS [8] Khái niệm này đã đ ra nhiệm vụ của TVHĐ là tham vấn cho HS qua việc can thiệp trực tiếp và tư vấn cho GV và CMHS Khi cá nhân có vấn đ và có nhu cầu cần được giúp đỡ họ sẽ tìm đến c c trung tâm tư vấn để được trợ giúp Tuy nhiên TVHĐ đôi hi lại hông như vậy Nhìn chung HS tự đến phòng tâm lý học đường là rất ít Phần nhi u HS đến phòng là do GV gửi xuống Đi u này tạo ra tâm lý e ngại, gượng ép, thiếu sẵn sàng hợp tác của HS [8]

Trong đ tài luận án tiến sĩ tâm lý học “Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của

HS THCS” của tác giả Phạm Thanh Bình đã nhận xét hoạt động TVHĐ ở Việt Nam nên chú ý đến toàn bộ HS toàn trường chứ không chỉ chú ý đến những HS có vấn đ Đối với những HS đang g p những hó hăn tâm lý, chuyên viên TVHĐ cần chú

Trang 20

trọng đến nhu cầu cần trợ giúp cho việc giải quyết những hó hăn đó để có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và phù hợp Bên cạnh đó chuyên viên TVHĐ còn cần chú ý

cả đến hoạt động dự báo, phát hiện sớm và tiến hành c c chương trình phòng ngừa với những hó hăn tâm lý mà HS có thể g p phải trong tất cả các hoạt động khác nhau ở nhà trường TVHĐ là tất cả những hoạt động liên quan đến công tác trợ giúp giữa chuyên viên tham vấn với HS, GV, CMHS và các lực lượng h c trong nhà trường nhằm giúp cho HS có đi u kiện, cơ hội phát triển tốt nhất; trợ giúp CMHS, GV có cách nhìn nhận, dạy dỗ, quản lý HS trong các hoạt động: học tập, quan hệ ứng xử, vui chơi giải trí một cách khoa học và có hiệu quả nhất [1]

Dựa vào c c cơ sở trên, đ tài xin rút ra khái niệm TVHĐ như sau:

TVHĐ là một hoạt động chuyên viên TVHĐ sử dụng những kỹ năng chuyên môn trợ giúp, nâng đỡ về mặt tinh thần cho HS, giúp HS giải quyết những khó khăn tâm lý hoặc liên quan đến vấn đề học tập, tình cảm, các mối quan hệ xã hội và giúp HS phát triển năng lực của bản thân trong quá trình tự giải quyết vấn đề

b Mục tiêu của tham vấn học đường

Tác giả Trần Tuấn Lộ trong bài tham luận “TVHĐ tại thành phố Hồ Chí Minh: Lý luận và thực tế” cho rằng: Mục tiêu của TVHĐ không chỉ đơn giản là giúp đối tượng giải tỏa được những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực, nhận thức đúng, đối phó và giải quyết được vấn đ của mình mà có hi đối tượng nào đó, chuyên viên tham vấn tâm

lý học đường phải giúp đối tượng thay đổi được nhân cách và thói quen hành vi của mình, để có năng lực và bản lĩnh vững vàng hơn thích nghi và đối phó được với hoàn cảnh và môi trường sống của mình [16]

Tác giả Huỳnh Mai Trang trong nghiên cứu của mình v mô hình tham vấn toàn diện có tìm hiểu v “Dịch vụ chăm sóc HS” của Singapore cho rằng: Mục tiêu trung tâm là giải tỏa những chướng ngại, hó hăn của HS trong học tập, giúp các em có mối quan hệ tốt hơn với bạn bè, giúp các em biết c ch đối phó với những vấn đ của

cá nhân, phát huy tối đa hả năng học tập và giảm nhẹ những căng thẳng trong thời kì chuyển tiếp của tuổi thanh thiếu niên [31]

Trang 21

Như vậy, mục tiêu hàng đầu của TVHĐ vẫn là sự giúp đỡ v m t tâm lý cho HS, giúp HS phát triển khỏe mạnh và thuận lợi trong học tập, giao tiếp Trong quá trình tham vấn, chuyên viên TVHĐ chú ý phát triển năng lực cho HS, để HS vững vàng hơn trong việc tự ứng phó giải quyết các vấn đ sau này của mình

c Nhiệm vụ của chuyên viên tham vấn học đường

Neukrug E.D trong cuốn “The World of Counselor” (Thế giới của các nhà tham vấn)

[36] đã giới thiệu chuyên viên TVHĐ thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

(1) Hướng dẫn cá nhân: Chuyên viên TVHĐ, người cung cấp công t c hướng dẫn cá

nhân, phần lớn quan tâm tới việc đảm bảo rằng HS đạt được những thông tin cần thiết mà anh/chị ta đang tìm iếm Do đó, đi u quan trọng là chuyên viên TVHĐ đ nh gi một cách cẩn thận nhu cầu của HS Việc hướng dẫn là giúp HS đạt được thông tin v các trường ĐH h c nhau, cung cấp thông tin cho HS v các ngh h c nhau, định hướng cho HS v phạm vi hoạt động rộng lớn trong trường học

(2) Hướng dẫn nhóm: Công tác này có thể là hướng dẫn nhóm nhỏ ho c nhóm lớn và

là một phương ph p hiệu quả trong việc sử dụng thời gian của chuyên viên tham vấn một cách khôn ngoan Trọng tâm của việc hướng dẫn nhóm là cung cấp thông tin theo kiểu giáo huấn Nhìn chung hoạt động hướng dẫn nhóm là hoạt động có kế hoạch trước dựa trên các nhu cầu đã được phát triển của HS Trong một vài trường hợp GV có thể trợ giúp trong việc đi u khiển các buổi hướng dẫn nhóm

(3) Tham vấn cá nhân: là một sự tương t c c nhân một – một giữa HS và nhà tham

vấn, tập trung vào một chủ đ ho c vấn đ cụ thể mà đứa trẻ có thể có Tham vấn cá nhân trong trường học hiện đang giải quyết hàng loạt các vấn đ mang tính đơn nhất mà nhìn chung đang phải đối phó trong nhi u vị trí khác nhau Chẳng hạn, trong hầu hết các trường hợp, các chuyên viên TVHĐ không thể cam đoan với đứa trẻ rằng những gì chúng nói sẽ được bí mật hoàn toàn vì các bậc cha mẹ nhìn chung có quy n với những thông tin tham vấn v con cái của họ [36] Tham vấn c nhân trong trường thường rất ngắn, kéo dài khoảng 20 đến 30 phút vì số lượng HS trong nhà trường rất đông

(4) Tham vấn nhóm nhỏ: Liên quan đến sự tương t c của chuyên viên TVHĐ với 4

– 8 HS Buổi tham vấn là cơ hội để HS thảo luận v vấn đ quan tâm có liên quan,

Trang 22

những giải pháp hay bất chợt để giải quyết vấn đ , đưa ra và nhận thông tin phản hồi, nhận sự động viên từ người khác và thực hành những hành vi mới Bản chất của việc làm việc với nhóm nhỏ làm cho chuyên viên tham vấn có thể phục vụ một cách hiệu quả hơn c c nhu cầu của số lượng lớn HS

(5) Tư vấn: Lúc này là chuyên viên tham vấn làm việc với GV, nhà quản lý, CMHS

ho c chuyên gia h c quan tâm đến đứa trẻ trong việc nỗ lực làm việc với đứa trẻ để nó đạt được trình độ thực của mình Tư vấn giúp chuyên viên TVHĐ có nhi u kiến thức và

kỹ năng hơn để tập trung vào vấn đ của HS và tiếp nhận một cách khách quan hơn những vấn đ quan tâm của HS [1]

(6) Sự kết hợp: Liên quan đến việc chuyên viên TVHĐ đảm đương vai trò lãnh đạo

gián tiếp đi u khiển các dịch vụ có lợi cho HS Đa số chuyên viên TVHĐ có thể kết hợp các dịch vụ v nhóm học tập của HS với các vấn đ khác của các em Nhi u chuyên viên tham vấn có thể trợ giúp cho một chương trình gi o dục HS cho CMHS

Tác giả Trần Thị Minh Đức cũng đã giới thiệu v nhiệm vụ của chuyên viên TVHĐ bao gồm [8, tr 95]:

(1) Can thiệp

(2) Tham vấn cá nhân và tham vấn nhóm nhỏ

(3) Hướng dẫn nhóm lớn

(4) Tư vấn CMHS, GV và những người khác

(5) Đi u phối chương trình

Qua việc xem xét các quan niệm của các tác giả v nhiệm vụ của chuyên viên TVHĐ, tác giả Phạm Thanh Bình đã tổng hợp thành 3 nhiệm vụ chính: [1]

(1) Hướng dẫn cá nhân – nhóm: Trong nhiệm vụ này chuyên viên TVHĐ với vai

trò là người cố vấn học đường Lúc này chuyên viên tham vấn có trách nhiệm hướng dẫn cho HS các vấn đ liên quan đến học tập, hướng nghiệp

(2) Tham vấn cá nhân – Tham vấn nhóm nhỏ: Chuyên viên tham vấn thực hiện

hoạt động tham vấn cho HS g p hó hăn tâm lý, ph t hiện, phòng ngừa và can thiệp sớm cho HS trong các hoạt động ở nhà trường

(3) Hỗ trợ: Chuyên viên TVHĐ thực hiện nhiệm vụ tư vấn với GV, CMHS v các

Trang 23

vấn đ liên quan đến HS và chương trình gi o dục Khi thực hiện nhiệm vụ này, chuyên viên tham vấn thể hiện vai của một người cố vấn

d Nội dung của tham vấn học đường

Theo tinh thần công văn 2564/HSSV ngày 5/4/2005 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

v việc tăng cường công tác HS, sinh viên, nội dung tham vấn dành cho khối HS phổ thông tập trung vào các vấn đ sau: Hướng nghiệp, chọn ngh và thông tin tuyển sinh; tình yêu giới tính và quan hệ với bạn khác giới; quan hệ giao tiếp, ứng xử với gia đình, gi o viên và bạn bè; phương ph p học tập; tham gia các hoạt động xã hội; thẩm

mỹ [2]

Hiện nay dựa trên công văn này c c trường phổ thông đã ph t triển các nội dung tham vấn nêu trên khi triển khai công tác TVHĐ Đồng thời, công tác tham vấn học đường còn triển khai công tác tham vấn cho giáo viên với những nội dung tham vấn như sau: Lúng túng trong việc sử dụng các biện pháp trách phạt HS, lúng túng trong ứng xử với những HS “đ c biệt”, khó ki m chế được sự nóng giận trước HS, không

có thời gian để tiếp xúc, gần gũi với HS, khó tìm kiếm sự hợp tác với cha mẹ HS trong việc giáo dục HS [7]

Theo tác giả Võ Thị Tường Vy, nội dung tham vấn đối với các em HS còn là các vấn đ v phát triển ngôn ngữ, phương ph p học tập, phát triển tâm lý của bản thân, giới tính, rắc rối nảy sinh trong các mối quan hệ, hướng nghiệp Đ c biệt là nội dung tham vấn cho HS g p hó hăn trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình thì hông chỉ

có HS cần tham vấn mà ngay cả phụ huynh và gi o viên cũng cần tham vấn Nội dung tham vấn cho giáo viên phần lớn xoay quanh vấn đ giao tiếp và ứng xử với HS [34] Như vậy, nội dung TVHĐ bao gồm các vấn đ chính: hướng nghiệp, hó hăn học tập, phát triển tâm lý, tình cảm và các mối quan hệ giao tiếp hằng ngày của HS Bên cạnh đó, đối tượng hướng đến của TVHĐ ngoài HS ra còn có phụ huynh HS, giáo viên và các lực lượng giáo dục có mối quan hệ mật thiết với HS nên nội dung TVHĐ cũng được triển khai cho tất cả đối tượng trên Nhưng suy cho cùng, hoạt động tham vấn cho c c đối tượng khác dù là ngoài HS thì mục tiêu cuối cùng vẫn là để giúp đỡ

HS vượt qua những trở ngại tâm lý và có sự phát triển nhân cách

Trang 24

e Các hình thức tham vấn học đường

Căn cứ vào khoảng cách không gian, có 2 hình thức tham vấn cơ bản thường được

sử dụng là tham vấn trực tiếp và tham vấn gian tiếp

*Hình thức tham vấn trực tiếp

Đây là hình thức tham vấn mà chuyên viên tham vấn và thân chủ (HS) đối thoại với nhau một cách trực tiếp, m t đối m t mà không thông qua bất ì phương tiện nào Trong hình thức tham vấn này, chuyên viên tham vấn sử dụng nhi u kỹ năng để giúp thân chủ hiểu, nhìn nhận sự việc một cách tích cực, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến

sự việc, hơi dậy những ti m năng của thân chủ để họ tự lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đ của mình

Ưu điểm của hình thức này chính là: Chuyên viên tham vấn có thể quan sát tối đa những dấu hiệu của thân chủ thông qua lời nói, giọng điệu, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ

cơ thể đi u này rất có lợi cho chuyên viên tham vấn trong việc x c định những dữ kiện, thông tin quan trọng và thấu hiểu vấn đ , hó hăn của thân chủ một cách rõ ràng, chính xác Từ đó, chuyên viên tham vấn dễ dàng giúp đỡ, gợi ý ho c lên kế hoạch can thiệp phù hợp với tình trạng của thân chủ, đạt được kết quả tham vấn như mong muốn Đây được xem là hình thức tham vấn hiệu quả nhất đồng thời cũng đòi hỏi chuyên viên tham vấn phải vận dụng thành thạo nhi u kỹ năng tham vấn như: quan sát, lắng nghe, phản hồi thông tin, cảm xúc từ thân chủ…

Tuy nhiên, tham vấn trực tiếp khó có thể là sự lựa chọn tốt nhất cho những HS có tính tình nhút nhát, ngại tiếp xúc và sợ đối diện với người lạ Những em này sẽ không

đủ tự tin để bày tỏ đi u mình suy nghĩ cũng như những đi u mà các em thực sự mong muốn Hơn nữa, một số HS g p hó hăn hi diễn đạt bằng lời nói và một số vấn đ mang tính tế nhị và nhạy cảm cao, các em khó có thể mở lời trực tiếp và chuyên viên tham vấn cần có thời gian để tạo được sự tin tưởng, cởi mở từ HS Với những khó hăn này, buộc phải chọn một hình thức tham vấn khác, là tham vấn gian tiếp

*Hình thức tham vấn gián tiếp

Tham vấn gián tiếp là hình thức chuyên viên tham vấn và thân chủ (HS) đối thoại, trao đổi thông tin mà không thấy m t nhau như: đối thoại qua điện thoại, qua

Trang 25

faceboo , qua email, qua thư…Thông qua c c phương tiện thông tin gián tiếp, thân chủ trình bày những hó hăn mà mình đang g p phải và chuyên viên tham vấn nắm bắt thông tin vấn đ và giúp đỡ thân chủ tìm ra hướng giải quyết thích hợp

Ưu điểm của hình thức này là lòng tự tin của thân chủ được nâng lên khi không phải đối diện trực tiếp với nhà tham vấn, không có sự ngại ngùng, e dè, HS thoải mái bộc lộ vấn đ của các em Tính bí mật của hình thức này cũng được đ cao hơn tham vấn trực tiếp Một ưu điểm khác của hình thức này là chuyên viên tham vấn có thể cùng lúc tham vấn cho nhi u HS, nhi u vấn đ khác nhau trong khoảng thời gian nhất định Đối với hình thức tham vấn qua điện thoại, thân chủ có thể nhận được sự giúp

đỡ từ chuyên viên tham vấn ngay khi thân chủ g p vấn đ mà không cần chờ đợi để hẹn g p trực tiếp, HS được giúp đỡ kịp thời, nhanh chóng

Tuy nhiên hình thức này cũng tồn tại nhi u hó hăn đ ng lo ngại Thứ nhất là hạn chế v m t thông tin mà thân chủ cung cấp cho nhà tham vấn, đôi hi thông tin mà thân chủ đưa ra hông đầy đủ, mơ hồ và không cụ thể khiến cho chuyên viên tham vấn không thể nắm bắt chính xác vấn đ , rất hó có được cách can thiệp hiệu quả Thứ hai, chuyên viên tham vấn khó kiểm tra tình chính xác của thông tin mà HS cung cấp, đôi hi thông tin thiếu thực tế cũng làm ảnh hưởng đến quá trình tham vấn Thứ

ba, chuyên viên tham vấn không thể kiểm tra, xác nhận được kết quả thực tế của quá trình tham vấn

Ngoài hai hình thức trên, TVHĐ có thể chia làm 2 hình thức khác: tham vấn nhóm

và tham vấn cá nhân

*Tham vấn nhóm

Đối với nhóm lớn thì các can thiệp của TVHĐ mang tính định hướng cơ bản Với hình thức này toàn bộ HS đ u được tiếp nhận dịch vụ, can thiệp chủ yếu qua hướng dẫn các kiến thức, kỹ năng, gi o dục cộng đồng, giảm tỷ lệ các rối nhiễu tâm lý, tăng cường sức khỏe tâm thần cho HS thông qua phòng ngừa

Đối với nhóm nhỏ là những HS đang g p khủng hoảng ho c có nguy cơ rối nhiễu tâm lý chuyên viên TVHĐ can thiệp nhằm giảm thiểu t c động của khủng hoảng, hỗ trợ HS giải quyết các vấn đ trong đời sống tâm lý, tạo đi u kiện thuận lợi cho sự phát

Trang 26

triển của các em Mục tiêu của quá trình tham vấn là đạt hiệu quả cao và kết quả nhanh, tập trung vào c c trường hợp bị khủng hoảng tức thời [1]

*Tham vấn cá nhân

Đây là hình thức can thiệp mang tính chuyên sâu, tập trung vào từng HS riêng lẻ được x c định có nguy cơ ở mức độ cao, có rối nhiễu tâm lý Trường hợp này phải được duy trì đi u trị trong thời gian dài, nếu cần thiết có thể phải chuyển ho c giới thiệu HS đến c c chương trình gi o dục đ c biệt sau hi chuyên viên TVHĐ đã nỗ lực can thiệp

1.2.1.3 Nhu cầu tham vấn học đường

a Khái niệm nhu cầu tham vấn học đường

Dựa trên sự phân tích v nhu cầu và TVHĐ ở các mục trên, đ tài đưa ra h i niệm nhu cầu TVHĐ là:

Những đòi hỏi, mong muốn được chuyên viên TVHĐ sử dụng những kỹ năng chuyên môn trợ giúp, nâng đỡ về mặt tâm lý cho HS khi gặp phải những khó khăn tâm

lý trong các vấn đề liên quan đến bản thân hoặc các vấn đề học đường như: học tập, tình cảm, các mối quan hệ xã hội HS mong muốn được chia sẻ với chuyên viên tham vấn để có được sự giúp đỡ trong việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình, qua đó phát huy năng lực và nhân cách của bản thân

(1) Nhu cầu TVHĐ là nhu cầu tinh thần

(2) Mục tiêu của việc thỏa mãn nhu cầu TVHĐ là sự trợ giúp của chuyên viên tham vấn đối với HS để tìm ra giải pháp giải quyết hó hăn mà HS g p phải trong mội trường học đường

(3) Chuyên viên TVHĐ hông trực tiếp đưa ra c ch giải quyết vấn đ cho HS mà

sử dụng những kỹ năng tham vấn giúp HS tự phát huy nội lực c nhân, đưa ra c ch xử

lý phù hợp Chuyên viên TVHĐ cần phát hiện ra những ti m năng, thế mạnh, những

đ c điểm tâm lý của lứa tuổi, những đối tượng có ảnh hưởng nhất định đến suy nghĩ, tình cảm của của HS Vì đó chính là một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực trong qu trình TVHĐ và trong việc giúp HS tìm ra cách giải quyết vấn đ đang g p phải

Trang 27

(4) Đi u kiện để thỏa mãn nhu cầu TVHĐ là HS tự nhận thức được hó hăn mình đang g p phải (bản thân chưa tự tìm ra được giải pháp) và có nhu cầu cần được sự trợ giúp mang tính chuyên môn từ nhà tham vấn Bên cạnh đó, c c đi u kiện khách quan như thời gian, địa điểm tham vấn, mối quan hệ cũng như sự tương t c giữa HS và chuyên viên tham vấn cũng phải phù hợp với môi trường học đường

(5) Phương thức thỏa mãn nhu cầu TVHĐ có thể là tham vấn cá nhân, nhóm nhỏ, tham vấn theo các chủ đ , hay phòng ngừa toàn trường phù hợp với nhu cầu (vấn đ ) của từng đối tượng HS nhất định Như vậy, chuyên viên TVHĐ cần phải căn cứ vào tình hình và các hoạt động của HS trong nhà trường (ho c nhóm trường mà mình được phụ tr ch) để xây dựng các chiến lược phòng ngừa, tổ chức các hoạt động tham vấn để

x c định chính xác nội dung, biểu hiện nhu cầu của HS để tiến hành c c phương thức TVHĐ h c nhau hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu này cho các em

(6) Mỗi HS với mỗi môi trường khác nhau, với những đ c điểm tâm lý cá nhân, sự phát triển của tự ý thức, sự khẳng định cái tôi, với vị trí, ý nghĩa của giai đoạn lứa tuổi, với vai trò của HS trong nhà trường cần phải đ p ứng các yêu cầu từ các hoạt động ở nhà trường Như vậy, các em có nhu cầu TVHĐ và thỏa mãn nhu cầu này với rất nhi u những đ c điểm tâm lý riêng biệt, với những đi u kiện hoạt động khác nhau nên đòi hỏi chuyên viên TVHĐ cần chú ý đến những điểm riêng biệt để có sự trợ giúp hợp lí

(7) Thân chủ có nhu cầu TVHĐ có thể là c nhân HS trong nhà trường ho c nhóm

HS g p phải các vấn đ khác nhau trong học tập, giao tiếp Vấn đ mà các em g p phải được HS phát hiện dẫn đến nảy sinh nhu cầu TVHĐ nhưng cũng có thể được phát hiện

từ chính yêu cầu đ p ứng các dạng hoạt động ho c bởi người khác (GV, CMHS, HS (nhóm HS) khác ) Vì vậy, có nhi u lý do mà các em thỏa mãn nhu cầu này bằng TVHĐ Chuyên viên tham vấn cần nắm bắt những thông tin này để trợ giúp cho các em cho phù hợp

(8) Nhu cầu TVHĐ là nhu cầu trợ giúp v m t tâm lý, xuất phát từ các vấn đ tâm lý nảy sinh ở học đường Nội dung, biểu hiện và mức độ của nhu cầu này xuất phát từ chính những hoạt động mà chủ thể (HS) tham gia và mức độ mong muốn được thỏa mãn nhu

Trang 28

cầu bằng hoạt động TVHĐ Vì vậy, hi xem x t, đ nh gi v những yếu tố cấu thành nên nhu cầu này cần phân tích từ chính nội dung hoạt động mà HS tham gia với tư c ch là nguồn gốc nảy sinh nhu cầu

b Nguyên nhân hình thành nhu cầu tham vấn học đường

Theo quan điểm của tâm lý học hoạt động, chính hoạt động làm nảy sinh nhu cầu Trong cuộc sống hằng ngày, HS tham gia đa dạng các hoạt động h c nhau Đôi hi trong quá trình tiến hành những hoạt động ấy HS g p phải những xung đột tâm lý mà

đó có thể là những xung đột giữa HS với cha mẹ, với thầy cô, bạn bè ho c ngay trong chính nội tâm HS Bên cạnh đó, một số em có sức khỏe tâm thần hông được khỏe mạnh, khả năng thích nghi, m m dẻo với môi trường mới, với tình huống hằng ngày kém, dẫn đến dễ bị mất cân bằng trong cuộc sống Khi đó, HS sẽ tự mình giải quyết theo suy nghĩ và định hướng của bản thân Tuy nhiên, không phải tất cả HS đ u có thể

tự mình nhìn nhận, đ nh gi đúng đắn vấn đ của mình, sẽ có một số em ho c một số vấn đ khiến các em bối rối, hó hăn và hông tự mình tìm ra cách giải quyết hợp lý, lúc này các em sẽ nảy sinh nhu cầu tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài Đó có thể là từ cha mẹ, thầy cô, bạn bè, những người mà các em kính trọng, tin tưởng, nhưng chỉ là những lời khuyên mang tính chất trải nghiệm, kinh nghiệm từ những người đã từng trải nên đôi hi lại thiếu đi tính h ch quan, hoa học Khi HS muốn có được sự trợ giúp mang tính chuyên nghiệp v m t tâm lý, ở các em bắt đầu nảy sinh nhu cầu TVHĐ, để có thể giúp c c em định hướng, tự giải quyết vấn đ của bản thân mình mà theo các em là giải pháp tối ưu nhất

Trang 29

cùng với sự hoạt động của tim và mạch m u bình thường làm cho sức chịu đựng của

c c em o dài hơn, sự tập trung được duy trì lâu hơn Cùng với sự ổn định của hệ tuần hoàn, hệ thần kinh của các em lại có những thay đổi quan trọng v m t cấu trúc bên trong của não và các chức năng của não Số lượng dây thần kinh liên hợp giữa các vùng chức năng của vỏ não tăng nhanh, liên ết các phần khác nhau của vỏ não tạo

đi u kiện cần thiết cho qu trình tư duy và học tập của HS Cuối cùng là sự phát triển của hệ nội tiết, các hormone của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục hoạt động bình thường, có ảnh hưởng đến qu trình tăng trưởng và phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi này

Như vậy, c c đ c điểm v m t sinh lý của HS THPT cũng có nhi u thay đổi và ngày càng phát triển hoàn thiện Tuy nhiên, đi u này cũng o theo một vài sự xáo trộn tâm lý đối với một số em có sự phát triển sinh lý hông đồng đ u như các bạn cùng trang lứa khác

Về mặt xã hội

Nhìn chung, phạm vi giao tiếp của c c em được mở rộng và tính người lớn của các

em được thừa nhận ngày càng nhi u Tính độc lập trong giao tiếp ngày càng tăng [26] Trong gia đình, giao tiếp với các thành viên trong gia đình là một trong những yếu

tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tâm lý của thanh niên HS [26] Vai trò của c c em trong gia đình ngày càng được tăng cường, các em có thể tham gia trao đổi cùng với người lớn một số vấn đ của gia đình, đây cũng là cơ hội tốt để các em bày tỏ suy nghĩ, tình cảm cũng như th i độ và khả năng hiểu biết của mình để từ đó hình thành và phát triển tâm lý M t khác, HS THPT vẫn còn chịu sự chi phối, tác động của người lớn đối với một số vấn đ liên quan đến cá nhân của các em, các em chưa được phép tự ý quyết định mọi việc mà cần có sự giám sát của người lớn

Trong nhà trường, tính chất các mối quan hệ giao tiếp giữa các em và thầy cô giáo

có ảnh hưởng rất quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển tâm lý, đ c biệt

là sự phát triển trí tuệ và nhân cách [26] C c em được phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập và tự quản lý việc học tập của mình, đây là một cơ hội thuận lợi để

ph t huy tính người lớn trong các em

Trang 30

Ngoài xã hội, các hình thức hoạt động của xã hội dành cho lứa tuổi này rất phong phú và đa dạng, khiến cho hoạt động giao tiếp của HS được mở rộng, tạo đi u kiện hòa nhập cuộc sống Cuối tuổi HS THPT, các em bắt đầu phải thực hiện một số nghĩa

vụ công dân đối với xã hội, đi u này tạo động lực để các em rèn luyện và trưởng thành

Về mặt tâm lý

Sự chín muồi v m t tâm lý trong giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên bao gồm những thành tựu nổi bật v sự phát triển tâm lý như: tư duy trừu tượng phát triển, tính chủ định trong tất cả các quá trình nhận thức phát triển mạnh, xúc cảm – tình cảm trong s ng, đa dạng, khả năng tự ý thức, tự đ nh gi ph t triển mạnh mẽ, ý thức v tính người lớn… là những đi u kiện tâm lý căn bản cho sự hình thành và phát triển tâm lý ở lúa tuổi HS THPT

1.2.2.2 Đặc điểm về hoạt động nhận thức của HS THPT

Nhìn chung, tính chất cơ bản của hoạt động nhận thức ở lứa tuổi này là tính mục đích, tính chủ định, tính suy luận, tính hệ thống và tính thực tiễn Cụ thể là:

Tri giác của HS THPT là tri giác có mục đích, có suy xét và có hệ thống Quan sát

có ý thức, các quy luật của tri gi c được phát triển tối đa

Ghi nhớ có chủ định phát triển mạnh hơn và có vai trò chủ đạo so với ghi nhớ không chủ định Tính chủ định trong ghi nhớ và ghi nhớ có ý nghĩa cũng ngày càng phát triển, tạo nên tính hệ thống, tính logic trong nhận thức Đ c điểm này giúp các

em học tập có hiệu quả và cảm thấy thoải m i hơn trong việc học của chính mình

Tư duy trừu tượng phát triển mạnh và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy, các phẩm chất tư duy cũng ph t triển mạnh: tính độc lập, tính lập luận, tính phê phán, tính linh hoạt, tính hệ thống, tính khái quát, tính sáng tạo, đ c biệt sự phát triển tư duy

lý luận là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành thế giới quan khoa học ở lứa tuổi này Tư duy hình tượng và tư duy hành động vẫn đang ph t triển và có vai trò

hỗ trợ cho tư duy trừu tượng trong qu trình lĩnh hội tri thức khoa học, rèn luyện các

kỹ năng học tập

Trang 31

Sự chú ý của HS THPT chịu sự chi phối của th i độ và hứng thú của c c em đối với đối tượng của sự chú ý Khả năng phân phối và di chuyển chú ý trong học tập đ c biệt phát triển mạnh, nhờ vậy các em có thể lĩnh hội nhi u kiến thức trong một thời lượng có hạn, hoàn thành nhi u yêu cầu học tập mang tính chất khái quát và hệ thống

1.2.2.3 Đặc điểm về đời sống xúc cảm – tình cảm của HS THPT

Xúc cảm của HS THPT có tính ổn định vì các em có thể ý thức được nguyên nhân gây nên những xúc cảm trong tình huống nhất định và có thể làm chủ cảm xúc của mình Xúc cảm của thanh niên thường xuất hiện trong học tập, giao tiếp…Có thể hình thành những tình cảm tốt đẹp ở các em thông qua các hoạt động có ý nghĩa hằng ngày

Tình cảm gia đình có vai trò đ c biệt trong đời sống tình cảm của HS THPT, các

em quan tâm đến gia đình nhi u hơn, xem trọng các mối quan hệ với cha mẹ và người thân Gia đình góp phần tạo động lực học tập, các em có trách nhiệm hơn với gia đình của mình Ngày nay, do ảnh hưởng của tính chất thời đại mà HS THPT ngày càng cởi

mở và thẳng thắng trong giao tiếp với cha mẹ, mong muốn cha mẹ có thể tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mình

HS THPT có nhu cầu kết bạn thân tình, phẩm chất quan trọng trong tình bạn lứa tuổi này là chân thành, tôn trọng lẫn nhau và biết chia sẻ Tình bạn của các em khá

b n vững và có thể kéo dài rất lâu Tình bạn tuổi này mang tính xúc cảm cao nên các

em dễ để tình cảm lấn át lý trí, thiếu cẩn trọng khi quyết định kết thân ho c nghe lời bạn HS chủ động tìm hiểu và chọn bạn cho mình, các em có bạn cùng giới, khác giới

và nhóm bạn Sự g p nhau v xu hướng, tính c ch hay năng lực là cơ sở để hình thành nhóm bạn

Khi bước sang lứa tuổi HS THPT, trong tình cảm các em xuất hiện “nhu cầu yêu đương” C c yếu tố thúc đầy tình yêu các em xuất hiện là: Sự g p nhau trong tìm kiếm v ngoại hình, sự ngưỡng mộ tài năng, sự rung động trước những hành vi và cử chỉ hay c ch nói năng đ ng yêu trong giao tiếp, những phẩn chất đ ng quý của “người ấy” [26] Tình cảm yêu đương ở lứa tuổi này là tình cảm hồn nhiên, thầm ín nhưng cũng rất dễ vỡ Cũng như c c hiện tượng tâm lý khác, tình yêu của HS THPT chịu sự

Trang 32

chi phối của đ c điểm cơ thể, đi u kiện sống, hoạt động và giao tiếp của các em [26] Bên cạnh sự hồn nhiên, trong sáng, tình cảm của các em vẫn mang nhi u sắc th i đa dạng, cần có sự quan tâm, hướng dẫn của người lớn để tránh những suy nghĩ, hành động sai lầm

1.2.2.4 Đặc điểm nhân cách của HS THPT

Một là, sự phát triển của tự ý thức

HS THPT có nhu cầu tìm hiểu bản thân, xây dựng hình ảnh bản thân và đ nh gi bản thân Đây là dấu hiệu tích cực trong quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách một cách tự giác [26] Các em bắt đầu chú trọng hơn v ngoại hình của mình, dành thời gian chăm sóc, trau chuốt vẻ b ngoài và xem đó là một giá trị cá nhân quan trọng Bên cạnh đó, c c em cũng quan tâm đến những phẩm chất bên trong và những khả năng của chính mình và tự mình đ nh gi chúng trong c c mối quan hệ và với mong đợi của người lớn Ngoài ra, ở lứa tuổi này c c em cũng bắt đầu chọn cho mình

“hình mẫu” để theo đuổi, các em so sánh khả năng, phẩm chất, khả năng, mục đích sống, giá trị xã hội của bản thân với “hình mẫu” đã lựa chọn Các em không chỉ nhận

x t, đ nh gi những phẩm chất và hành vi riêng lẻ của bản thân mà còn đ nh gi , h i quát nhi u phẩm chất và hành vi của mình Đi u này cho thấy sự phát triển tự ý thức của thanh niên HS có tính toàn diện và sâu sắc

Có nhi u yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng hình ành bản thân của HS THPT: vị trí trong gia đình, nhà trường và xã hội, yêu cầu của người lớn đối với các

em, yêu cầu của hoạt động học tập, mục tiêu cuộc đời…Có những em đã thể hiện sự

đ nh gi bản thân cao hơn so với thực tế mình có, tạo nên sự tự cao trong các em Cũng có những em chưa thấy được những ưu điểm của mình tạo ra sự m c cảm, tự ti

Hai là, sự phát triển của xu hướng nhân cách

Nhu cầu được tôn trọng, được bình đẳng với mọi người trong giao tiếp là nhu cầu quan trọng và phổ biến ở HS THPT Các em mong muốn được bạn bè tôn trọng và

đ c biệt là nhận được sự tôn trọng của người lớn, mong muốn được đối xử bình đẳng như là một người trưởng thành C c em đ cao sự độc lập trong các quyết định của mình và tự cho mình là đúng Tuy nhiên, x t cho cùng thì ở tuổi này các em vẫn rất

Trang 33

cần sự góp ý của người lớn trong những vấn đ quan trọng Để các em có thể bày tỏ nhu cầu của mình, người lớn cần tạo được ni m tin nơi c c em, là điểm tựa đ ng tin cậy Nhu cầu chứng tỏ bản thân ở lứa tuổi này vẫn tiếp tục duy trì và phát triển Nguyên nhân là do nhận thức v sự phát triển bản thân ngày càng hoàn thiện như một người trưởng thành, nhận thức v vai trò của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội, các em có nhu cầu được thể hiện và khẳng định bản thân qua suy nghĩ và hành động trong học tập và cuộc sống hằng ngày Có hai cách thể hiện bản thân là: thể hiện bản thân một cách tích cực và thể hiện bản thân theo hướng tiêu cực, dù là theo hướng nào thì càng em vẫn mong muốn được mọi người quan tâm, chú ý đến mình hơn, cho nên người lớn cần kíp thời hướng dẫn, định hướng cho các em cách thể hiện mình sao cho phù hợp

Một đ c điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT chính là sự hình thành thế giới quan khoa học Các em bắt đầu quan tâm đến việc tìm hiểu và trao đổi những nguyên tắc chung của cuộc sống, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người với con người, ý nghĩa cuộc sống [26] Từ đó, c c em phân tích, tổng hợp, khái quát những suy nghĩ của cá nhân v chân, thiện, mỹ để xây dựng thành hệ thống quan điểm v tự nhiên, xã hội và con người Sự hoàn thiện v m t tư duy, đ c biệt là tư duy trừu tượng giúp HS có thêm nhi u hiểu biết mang tính khái quát v thế giới xung quanh, giúp các em có thể x c định được th i độ của mình đối với thế giới

và đ nh gi nó Nhờ đó, qu trình hình thành quan điểm sống của lứa tuổi này không mang tính rời rạc, hình thức mà đi v o bản chất, hệ thống Sự hình thành quan điểm sống của HS THPT phụ thuộc vào nhi u yếu tố đ c biệt là hoàn cảnh sống, ngày nay môi trường sống có nhi u thay đổi, mang lại nhi u thuận lợi nhưng cũng hông ít hó hăn ảnh hưởng đến qu trình hình thành quan điểm sống cho HS Người lớn cần theo dõi và kịp thời hướng dẫn định hình quan điểm đúng đắn, phù hợp cho các em

Yếu tố cuối cùng trong sự phát triển nhân cách của lứa tuổi này là lựa chọn lý tưởng sống Các em bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn và xây dựng lý tưởng sống cho riêng mình Sự phát triển toàn diện của các quá trình nhận thức, sự hình thành thế giới quan khoa học và đ c điểm tình cảm mang tính ổn định và sâu sắc có liên quan đến quá

Trang 34

trình hình thành lý tưởng sống Bên cạnh tự xây dựng cho mình lý tưởng sống riêng,

c c em cũng chịu nhi u ảnh hưởng từ quan điểm và lối sống của người lớn trong gia đình, nhà trường và đ c biệt là ngoài xã hội trong quá trình tìm kiếm một hình ảnh hoàn chỉnh cho bản thân Vì vậy, sự định hướng của người lớn trong quá trình xây dựng lý tưởng sống cho HS THPT là đi u cần thiết và quan trọng, để giúp các em không ảnh hưởng bởi nhưng đi u không lành mạnh và không phù hợp

1.2.2.5 Đặc điểm hoạt động chủ đạo – Hoạt động học tập hướng nghiệp của HS THPT

Bước vào tuổi HS THPT, hoạt động chủ đạo không còn là hoạt động giao tiếp nữa

mà chuyển sang hoạt động học tập hướng nghiệp, hoạt động này chi phối mạnh mẽ sự hình thành và phát triển nhân cách của thanh niên HS

Sự phát triển về mặt nhận thức

Hoạt động học tập ở trường phổ thông vừa cung cấp cho HS những kiến thức khoa học căn bản, vừa định hướng cho HS lựa chọn những nội dung học tập cần thiết cho ngh nghiệp tương lai của mình Đây là đi u kiện thuận lợi để mỗi HS chủ động lựa chọn nội dung phù hợp cho xu hướng ngh nghiệp ở c c trường đại học, cao đẳng hay các trung tâm dạy ngh …Kiến thức ở bậc phổ thông có tính khái quát, thực tiễn, hệ thống và đi vào bản chất, đòi hỏi các em phải nắm vững phương ph p học tập, kỹ năng học tâp hiệu quả, biết phân tích, lập luận, sáng tạo, năng động, biết hợp tác và liên hệ thực tế cuộc sống Như vậy, hoạt động học tập là một động lực cho sự phát triển khả năng nhận thức của thanh niên HS

Sự hình thành xu hướng nghề nghiệp

“Xu hướng ngh nghiệp là một nét cấu tạo tâm lý mới trung tâm trong nhân cách của tuổi thanh niên HS” [26] Nó thúc đẩy và quy định tính lựa chọn c c th i độ và tính tích cực của HS trong việc lựa chọn ngh nghiệp tương lai

Khi bắt đầu xuất hiện xu hướng ngh nghiệp, HS nỗ lực tìm kiếm những phương pháp rèn luyện bản thân để đạt được mục tiêu ngh nghiệp Các em tìm tòi những thông tin liên quan đến ngh nghiệp, nghiên cứu, so sánh các yêu cầu phẩm chất và năng lực ngh nghiệp với phẩm chất năng lực của chính mình để x c định mình có

Trang 35

thực sự phù hợp với ngh đó hay hông Song song với việc chọn ngh , đi u các em quan tâm đến nữa là trường đào tạo ngh như: đại học, cao đẳng hay trung tâm dạy ngh …trường nào thực sự phù hợp với bản thân các em Có nhi u yếu tố chi phối việc các em chọn ngh và chọn bậc học cho mình Ý kiến, mong đợi của cha me, góp ý của thầy cô, nhận xét của bạn bè và sự tự đ nh gi hả năng của bản thân… hiến HS cảm thấy bối rối, khó quyết định Chọn ngh có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đời của mỗi người, nếu các em sớm x c định được cho mình ngh phù hợp các có nhi u cơ hội thuận lợi hỗ trợ cho sự thực hiện mục tiêu ngh nghiệp

Tổ chức khoa học, kịp thời, hiệu quả những hoạt động hướng nghiệp từ phía gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội rất cần thiết và rất quan trọng đối với sự hình thành xu hướng ngh nghiệp và sự nghiếp của c c em trong tương lai

Sự hình thành và phát triển các đặc điểm tâm lý khác

Hoạt động học tập – hướng nghiệp liên quan đến sự phát triển tính ý thức, tính sâu sắc và tính đa dạng trong đời sống tình cảm của HS Cao hơn bậc học trung học cơ sở, sang bậc học THPT đòi hỏi HS phải chủ động học tập, phải nhận thức được ý nghĩa thực tiễn của bài học, phải có cách nhìn vừa bao quát vừa sâu sắc Đi u này dần hình thành ở HS thói quen suy nghĩ và hành động có mục đích, có ý thức, tình cảm cũng trở nên sâu sắc và đa dạng hơn Bên cạnh đó, hi học những kiến thức liên quan đến ngh nghiệp các em yêu thích sẽ khiến các em hình thành tình cảm đối với ngh nghệp sau này

Hoạt động học tập - hướng nghiệp còn liên quan đến sự phát triển tự ý thức của thanh niên HS Nội dung phong phú của các môn học, các hoạt động hướng nghiệp là những cơ hội để HS hiểu biết nhi u hơn v bản thân mình Các em sẽ biết mình thích

gì, mình có thể làm được gì và còn thiếu sót ở điểm nào, từ đó lên ế hoạch rèn luyện cho mục tiêu ngh nghiệp đã lựa chọn

1.2.3 Nhu cầu tham vấn học đường của HS THPT

1.2.3.1 Khái niệm nhu cầu tham vấn học đường của HS THPT

Dựa vào các khái niệm công cụ: nhu cầu, nhu cầu TVHĐ, đ tài tiếp tục đưa ra khái niệm nhu cầu TVHĐ của HS THPT như sau:

Trang 36

Nhu cầu TVHĐ của HS THPT là những mong muốn, đòi hỏi được trợ giúp tâm lý

từ chuyên viên TVHĐ để tìm ra giải pháp giải quyết khó khăn tâm lý của HS THPT Trong quá trình thoả mãn nhu cầu tham vấn học đường, chuyên viên tham vấnsẽ trợ giúp học sinh THPT khai thác được tiềm năng, thế mạnh của bản thân phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, từ đó HS có thể tự tìm kiếm được giải pháp cho việc giải quyết khó khăn tâm lý của mình

(1) Thông qua quá trình TVHĐ, chuyên viên tham vấn sử dụng những kỹ năng chuyên môn giúp HS THPT ph t huy được thế mạnh, khai th c được ti m năng của bản thân, từ đó HS có thể tự đưa ra hướng giải quyết cho vấn đ của mình Những

ti m năng, thế mạnh đó phải phù hợp đ c điểm tâm lý và hoạt động của lứa tuổi và chuyên viên tham vấn phải dự đo n được những mâu thuẫn có thể xảy ra ở lứa tuổi này để có sự hướng dẫn hợp lý

(2) HS có nhu cầu TVHĐ ở đây là HS THPT với những đ c điểm tâm lý đ c trưng của lứa tuổi như sự tự ý thức, nhu cầu được tôn trọng, sự hình thành thế giới quan khoa học, xuất hiện mối tình đầu…và hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động học tập hướng nghiệp nên chuyên viên tham vấn cần nắm rõ những đ c điểm quan trọng này để góp phần giúp HS tìm ra giải ph p hó hăn tâm lý phù hợp

(3) Nội dung, biểu hiện và mức độ nhu cầu này có thể rất đa dạng nhưng đ u có liên quan trực tiếp ho c gián tiếp đến đời sống học đường ho c mang tính học đường Vì vậy, trong quá trình phát hiện và thỏa mãn nhu cầu này cho HS, ngoài việc chú trọng đến những đ c điểm riêng từ phía HS THPT cũng cần phải xem xét các mối quan hệ của các

em với những người h c có liên quan đến nội dung nhu cầu này (như GV, CMHS, c c lực lượng giáo dục khác, cộng đồng, c c thành viên trong gia đình ) để trợ giúp và thỏa mãn nhu cầu này được toàn diện và hợp lý hơn

(4) Đi u kiện để thỏa mãn nhu cầu TVHĐ của HS THPT là bản thân các em phải nhận thức được hó hăn tâm lý hiện thời của mình và hông tìm được cách giải quyết mà cần có sự giúp đỡ từ chuyên viên TVHĐ Địa điểm, thời gian và sự tương tác trong quá trình tham vấn cũng ảnh hưởng đến đi u kiện thỏa mãn nhu cầu này của

HS THPT

Trang 37

(5) Phương thức thỏa mãn nhu cầu này của HS THPT có thể là tham vấn cá nhân, tham vấn một nhóm HS đang có cùng hó hăn tâm lý, tổ chức chuyên đ đ p ứng nhu cầu của HS, phòng ngừa toàn trường

1.2.3.2 Nhu cầu về nội dung tham vấn học đường của HS THPT

Căn cứ vào quan điểm của tâm lý học hoạt động: Hoạt động làm nảy sinh nhu cầu với mô hình: Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động

Từ đó, có thể nói nhu cầu TVHĐ của HS THPT cũng bắt nguồn từ chính những hoạt động của các em hằng ngày mà nổi bật lên trong số đó là hoạt động chủ đạo: Học tập – hướng nghiệp và hoạt động giao tiếp Hoạt động học tập – hướng nghiệp ảnh hưởng đến sự nhận thức, xu hướng ngh nghiệp và c c đ c điểm tâm lý của HS THPT Bên cạnh đó, hoạt động giao tiếp cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển tâm lý và nhân cách bao gồm các mối quan hệ giữa HS với cha mẹ, thầy cô, bạn bè…Ngoài c c hoạt động chủ đạo, các yếu tố v sinh lý, thể chất, đ c điểm phát triển tâm lý đ c trưng của lứa tuổi cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của

c c em Như vậy, trong đ tài này tác giả tập trung nghiên cứu nhu cầu TVHĐ của HS THPT ở những nội dung chính sau đây:

(1) Hoạt động học tập – hướng nghiệp:

Nhu cầu TVHĐ của HS THPT này sinh từ chính hoạt động học tập – hướng nghiệp ở trường Những vấn đ có thể làm xuất hiện nhu cầu này ở hoạt động học tập – hướng nghiệp như sự kì vọng quá mức của cha mẹ v kết quả học tập, nội dung học tập quá n ng, lịch học dày đ c khiến c c em hông có đủ thời gian nghỉ ngơi, thư giãn Thêm vào đó, hi bước vào giai đoạn THPT, các em phải bắt đầu đối m t với việc x c định xu hướng ngh nghiệp trong tương lai, để có sự chuẩn bị kiến thức và

kỹ năng, phẩm chất yêu cầu của công việc Trong hi đó, việc chọn ngh không phải

là một việc đơn giản, phụ thuộc vào rất nhi u yếu tố như: bản thân HS, cha mẹ, thầy

cô, bạn bè, xã hội…đi u này khiến các em cảm thấy bối rối và dễ nảy sinh mâu thuẫn

V phía bản thân, một số em còn lung túng trong việc x c định điểm mạnh, điểm yếu

để lựa chọn ngh phù hợp, c c em chưa biết rõ mình thích cái gì vì kiến thức v ngh nghiệp còn rất hạn chế, mơ hồ V phía gia đình, p lực từ phía cha mẹ đối với con

Trang 38

cái, không chỉ là áp lực v điểm số mà còn là áp lực v lựa chọn ngh nghiệp, đôi hi

c c em hông được cha mẹ ủng hộ ngh mà các em chọn mà bắt buộc phải theo ngh

do cha mẹ đã chọn sẵn, đã định sẵn m c dù các em không h có sự yêu thích hay đam

mê ngh nghiệp đó Còn có một số phụ huynh thì hông quan tâm đến việc chọn ngh của con mình, muốn làm gì thì làm, muốn học thì học không học thì đi làm, vì quá thờ

ơ với con nên cuối cùng con lại không biết nên chọn gì cho phù hợp, không h có được sự tư vấn, ủng hộ từ chính cha mẹ của mình V phía thầy cô, m c dù thầy cô cũng có sự định hướng ngh nghiệp cho c c em nhưng với số lượng HS đông và thời gian hạn hẹp nên cũng hông thể bao quát hết toàn bộ HS Bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chọn ngh của HS, tuổi này các em vẫn rất xem trọng tình bạn,

có một số em muốn chọn ngh theo bạn của mình cho vui, để được học tập cùng nhau nhưng lại quên rằng bản thân mình có phù hợp hay không, bạn bè rủ rê nên thiếu chính kiến của mình…Những vấn đ trên là những đi u rất cơ bản làm ảnh hưởng đến tâm lý HS, khiến các em mâu thuẫn, hó hăn dẫn đến có nhu cầu cần được tham vấn Ngoài việc chọn ngh , các em còn phải đối m t với những kì thi quan trọng, mang tính quyết định, dẫn đến sức ép tâm lý trong các kì thi Có không ít HS do áp lực của việc học, căng thẳng trong mùa thi mà sinh ra đau bụng, buồn nôn, chóng m t, mất ngủ, kén ăn…

Từ sự phân tích trên, có thể thấy trong học tập HS THPT rất cần sự giúp đỡ từ thầy

cô, cha mẹ, chuyên viên TVHĐ, những người có kinh nghiệm để việc học tập không còn quá áp lực đối với các em

(2) Xúc cảm – Tình cảm giới tính

Trong quá trình phát triển tâm lý, ở HS THPT bắt đầu xuất hiện cảm giác yêu đương Tình cảm của các em rất trong sáng, thầm ín nhưng cũng rất dễ vỡ Các em

g p trở ngại trong việc bày tỏ tình cảm của mình với bạn, bối rối trong những lần hẹn

hò đầu tiên Có em mất cân bằng trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa lý trí nhận thức được nhiệm vụ chính là học tập với tình cảm, tình yêu sẽ ảnh hưởng đến học hành Trong khi giải quyết những mâu thuẫn này khi giao tiếp với bạn khác giới, HS THPT g p không

ít hó hăn tâm lý và ít nhi u có ảnh hưởng đến kết quả học tập Bên cạnh đó, một số em

Trang 39

có thể bị sự cấm đo n của gia đình mà có tâm lý hồi hộp, dè chừng, giấu diếm khiến các

em lo sợ, bất an, không tập trung vào việc học được Tình cảm của c c em cũng rất dễ tan

vỡ vì nhận thức v bản thân và bạn chưa đầy đủ, sâu sắc, cảm xúc nhất thời, bồng bột, thiếu sự cảm thông, chia sẻ Nhưng hi chia tay, tình cảm của các em ít nhi u cũng bị ảnh hưởng, đối với những em có tình cảm sâu đậm sẽ khiến làm cho bản thân day dứt, buồn đau, mất ăn, mất ngủ, từ đó học tập sa sút, có thể dẫn đến nhi u hành động nông nỗi như

tự tử, tuyệt thực Ngày nay, sự phát triển của mạng xã hội, những phương tiện thông tin đại chúng khác làm cho tình cảm của HS mang màu sắc khác, có nhi u thuận lợi nhưng cũng nhi u đi u đ ng lo ngại như quan hệ tình dục quá sớm, sử dụng chất kích thích, phát tán những hình ảnh thân mật lên mạng xã hội đi u này để lại những hậu quả đ ng tiếc

v sau Việc tìm hiểu nhu cầu TVHĐ của c c em để có biện pháp trợ giúp nhằm nâng cao năng lực bản thân trong việc giải quyết những hó hăn g p phải khi giao tiếp là rất quan trọng và thỏa mãn nhu cầu này ở các em giúp các em xây dựng tình bạn khác giới thực sự trong sáng, lành mạnh

(3) Giao tiếp

a Giao tiếp với bạn bè

Chúng ta cũng biết rằng, giai đoạn này bạn bè vẫn là người mà các em xem trọng, gắn bó Đôi hi tình bạn lại khiến c c em tin tưởng hơn cả gia đình, nếu gia đình hôngthật sự quan tâm đến các em Giao tiếp với bạn các em luôn muốn bạn bè phải hiểu mình, phải tôn trọng mình và phải có sự thông cảm, thấu hiểu lẫn nhau Các em không muốn bị bạn bè hiểu lầm, bị tẩy chay, không muốn bị bạn xem thường vì ở tuổi này nhu cầu được tôn trọng của các em rất cao Khi nảy sinh mâu thuẫn rất khó làm lành vì bản thân mỗi em đ u có cái tôi riêng, không muốn phải nhún nhường với người khác, muốn người khác phải chủ động trước với mình Ở tuổi này, tình bạn của HS mang tính xúc cảm cao, dễ bị tình cảm lấn át lý trí, dễ dẫn đến nhi u hành động ích động nhất thời

Vì vậy, TVHĐ trong vấn đ quan hệ bạn bè của HS THPT cũng có ý nghĩa quan trọng

b Giao tiếp với thầy cô

Nhu cầu TVHĐ ở HS THPT với khi giao tiếp với gi o viên thường thấy các vấn đ như: một số em vẫn không dám thể hiện quan điểm của mình với giáo viên, tâm lý sợ

Trang 40

sai, hó hăn trong việc bày tỏ tình cảm và suy nghĩ của mình với thầy cô Gần đây, có một số trường hợp HS đ nh trả lại thầy cô gi o gây xôn xao dư luận xã hội, phải chăng

là do c c em chưa biết cách thể hiện ý kiến của mình một c ch chính đ ng, có nhi u ấm

ức, dồn nén khi thầy cô hiểu hông đúng v mình lâu lần dẫn đến sự ức chế mà bộc phát thiếu kiểm soát HS luôn mong muốn giáo viên hiểu được mình nhưng lại không biết cách thể hiện cho giáo viên biết, lúc này chuyên viên TVHĐ cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ cho HS để tạo được mối quan hệ tốt đẹp, thân thiện giữa giáo viên với HS

c Giao tiếp với cha mẹ và các thành viên trong gia đình

Như đã trình bày, HS THPT rất xem trọng gia đình và muốn thể hiện tình cảm của mình bằng nhi u hành động khác nhau Tuy nhiên trong cuộc sống hằng ngày với gia đình, đôi hi c c em cảm thấy bất bình đẳng ở cách ứng xử của cha mẹ đối với anh chị em trong gia đình, hông thấy sự đồng cảm và chia sẻ của cha mẹ với mình, hoang mang trước những mâu thuẫn giữa c c thành viên trong gia đình, sức ép v việc học tập từ phía cha mẹ như bắt phải học giỏi… nhi u khi làm cho các em bị stress, tạo cho c c em tâm lý căng thẳng, thất vọng và lo âu C c em thường bị áp lực, lo lắng do phải cố gắng đ p ứng được các yêu cầu, kỳ vọng do bố mẹ đ t ra C c em thích được người lớn đ nh gi đúng đắn, nghiêm túc những đi u mình nghĩ, những việc mình làm cũng như sự trưởng thành của bản thân HS mong muốn được tham vấn để lựa chọn được những biện pháp thích hợp giúp cho c c thành viên trong gia đình hoà hợp, đoàn kết, quan tâm lẫn nhau Bên cạnh đó, một số em sống trong một gia đình thiếu tình thương, sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ nhưng lại muốn rằng con cái của họ nên

vượt trội trong mọi lĩnh vực, đi u này có thể dẫn đến các hội chứng “Ức chế tâm lý”

Vì thế các em luôn phải đè n n cảm xúc nên thường xuyên có cảm gi c cô đơn và muốn tìm cách giải tỏa nỗi cô đơn này, cần có chỗ dựa để động viên, an ủi, có nhi u người bạn đồng cảm, chia sẻ trong cuộc sống, học tập

(4) Sự phát triển tâm sinh lý

Sự phát triển mạnh của tự ý thức làm cho c c em đ c biệt quan tâm đến ngoại hình của mình nên sự phát triển sinh lý thể chất bất thường cũng hiến các em lo lắng, mất

tự tin: chi u cao quá khổ ho c quá thấp so với các bạn, cân n ng mất thăng bằng,

Ngày đăng: 25/09/2019, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thanh Bình (2014), Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của HS THCS, Luận văn tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của HS THCS
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2014
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn 2564/HSSV về việc tăng cường công tác HS - sinh viên, ngày 05/04/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 2564/HSSV về việc tăng cường công tác HS - sinh viên
4. Trần Thị Ngọc Dung (2007), Tìm hiểu sự đáp ứng khó khăn tâm lý trong học tập của HS lớp 12 tại một số trường THPT TP.HCM, Khóa luận tốt nghiệp, Trường ĐH Sư phạm TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự đáp ứng khó khăn tâm lý trong học tập của HS lớp 12 tại một số trường THPT TP.HCM
Tác giả: Trần Thị Ngọc Dung
Năm: 2007
5. Ngô Thị Thu Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga (2009), “Xây dựng mô hình TVHĐ – Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên lập nghiệp”, Tạp chí tâm lý học số 11, tr.15-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình TVHĐ – Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên lập nghiệp”, "Tạp chí tâm lý học số 11
Tác giả: Ngô Thị Thu Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 2009
6. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển Tâm lý học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội
Năm: 2008
7. Ngô Thị Mỹ Duyên (2011), Sự phối hợp giữa chuyên viên tham vấn tâm lý học đường với lực lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông tại TP. HCM hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phối hợp giữa chuyên viên tham vấn tâm lý học đường với lực lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông tại TP. HCM hiện nay
Tác giả: Ngô Thị Mỹ Duyên
Năm: 2011
8. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
9. Trần Thị Minh Đức (2006), “Tham vấn học đường – nhìn từ góc độ giới”, Tạp chí tâm lý học số 11, tr.45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn học đường – nhìn từ góc độ giới”, "Tạp chí tâm lý học số 11
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Minh Hằng (2009), “Mô hình hoạt động của chuyên viên tham vấn học đường”, Tạp chí tâm lý học số 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hoạt động của chuyên viên tham vấn học đường”
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Năm: 2009
11. Lê Thị Hân, Huỳnh Văn Sơn (Chủ biên), Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy (2012), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học sư phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Tác giả: Lê Thị Hân, Huỳnh Văn Sơn (Chủ biên), Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm TPHCM
Năm: 2012
12. Nguyễn Phương Hoa (2002), “Cần có c c chuyên viên tâm lý trong trường học”, Tạp chí tâm lý học số 9, tr.44-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có c c chuyên viên tâm lý trong trường học”", Tạp chí tâm lý học số 9
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2002
13. Dương Thiệu Hoa, Vũ Kh nh Linh, Trần Văn Thức (2007), “Khó hăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của HS phổ thông”, Tạp chí tâm lý học số 2, tr.44-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó hăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của HS phổ thông”, "Tạp chí tâm lý học số 2
Tác giả: Dương Thiệu Hoa, Vũ Kh nh Linh, Trần Văn Thức
Năm: 2007
14. Lê Thị Thanh Hương, “Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của HS THPT: Một số cơ sở thực tiễn”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam ngày 3 – 4/8/2009, tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của HS THPT: Một số cơ sở thực tiễn”
15. Trần Thị Hương (2006), “Một số ý kiến v hoạt động tham vấn học đường”, Hội thảo khoa học quốc gia Tư vấn tâm lý giáo dục – Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến v hoạt động tham vấn học đường”, "Hội thảo khoa học quốc gia Tư vấn tâm lý giáo dục – Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2006
16. Trần Tuấn Lộ (2010), Tham vấn học đường tại TP. HCM: Lý luận và thực tế, Hội thảo khoa học – Mô hình tham vấn học đường tại TP.HCM, TP.HCM 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham vấn học đường tại TP. HCM: Lý luận và thực tế
Tác giả: Trần Tuấn Lộ
Năm: 2010
17. Đỗ Hạnh Nga (2009), “Những vấn đ nảy sinh trong đời sống tâm lý – xã hội của học sinh tuổi vị thành niên và nhu cầu tư vấn tâm lý hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Nhu cầu, định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam ngày 3 – 4/8/2009, tr.55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đ nảy sinh trong đời sống tâm lý – xã hội của học sinh tuổi vị thành niên và nhu cầu tư vấn tâm lý hiện nay”
Tác giả: Đỗ Hạnh Nga
Năm: 2009
18. Trần Thị Thu Mai (2010), “Hoạt động của phòng tư vấn tâm lý – giáo dục – hướng nghiệp ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo dục số 19, tr.124-129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của phòng tư vấn tâm lý – giáo dục – hướng nghiệp ở trường phổ thông”, "Tạp chí giáo dục số 19
Tác giả: Trần Thị Thu Mai
Năm: 2010
19. Nguyễn Thị Ngọc (2012), Khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý của HS trung học cơ sở huyện Bình Chánh, TP.HCM, Luận văn thạc sĩ, trường ĐH Sư Phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý của HS trung học cơ sở huyện Bình Chánh, TP.HCM
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc
Năm: 2012
20. Trương Thị Bích Nguyệt (2003), Bước đầu tìm hiểu sự cần thiết của công tác tư vấn học đường hiện nay ở một số trường cấp 2-3 tại TP.HCM, Khóa luận tốt nghiệp, Trường ĐH Sư phạm TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu sự cần thiết của công tác tư vấn học đường hiện nay ở một số trường cấp 2-3 tại TP.HCM
Tác giả: Trương Thị Bích Nguyệt
Năm: 2003
21. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w