Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở .... Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở .... Gần đây, việc sử dụng mật ong trong điều trị các
Trang 1KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH.2013.Y
Người hướng dẫn: 1 ThS Trịnh Ngọc Dương
2 PGS.TS.Nguy ễn Thanh Hải
H À NỘI - 2018
Trang 3Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS.Tr ịnh Ngọc Dương – bộ
môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm, khoa Y Dược – Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS.Nguy ễn Thanh Hải – Phó
chủ nhiệm phụ trách khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm bộ môn Bào chế và Công nghiệp Dược phẩm đã định hướng cho nghiên cứu
Đặc biệt, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới anh Nguy ễn Xuân Tùng, chị Bùi Thị Thương, các thầy và các anh chị trong bộ môn Bào chế và
Công nghiệp Dược, Khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trực tiếp chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khoá luận
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân gia đình, bạn bè đã luôn bên em, động viên em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 27/04/2018
Tác giả
Nguy ễn Bá Lực
Trang 4DĐVN Dược điển Việt Nam DPPH 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl HEC Hydroxyethyl cellulose
KSC Kháng sinh chuẩn MeOH Methanol
MGO Methylglyoxal enzym
Na CMC Natri Carboxymethyl cellulose
Na EDTA Natri Ethylene Diamine Triacetic Axit TEA Triethanolamin
USP Dược điển Mỹ
UV Ultra violet (Tia tử ngoại) VSV Vi sinh vật
Trang 5B ảng 1.2 Ứng dụng của hydrogel và ví dụ các polyme 17
B ảng 2.2 Nguyên liệu thử tác dụng oxy hoá gel mật ong 20
B ảng 3.1 Trạng thái thể chất của gel mật ong bào chế được với
một số polyme ở các nồng độ khác nhau 27
B ảng 3.2 Độ nhớt gel mật ong bào chế được với một số
polyme ở các nồng độ khác nhau sau bào chế và sau
B ảng 3.7 Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn 33
B ảng 3.8 Kết quả đánh giá khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60 % 36
Trang 6Hình 1.1 Mô hình tác dụng của mật ong trên các giai đoạn
của quá trình hồi phục vết thương 13
Hình 1.2 Thuốc điều trị vết thương hở Medihoney® Gel 14
H ình 3.1 Sơ đồ quy trình bào chế gel mật ong 60% với tá
dược carbopol 940 29
H ình 3.2 Sơ đồ quy trình bào chế gel mật ong 60% với tá
Hình 3.3 (A) Gel mật ong 60% tá dược carbopol 940, (B) Gel
Hình 3.4 Hoạt tính kháng khuẩn của gel mật ong so với
kháng sinh chứng và mật ong trên 1 số vi khuẩn
Gram âm: (A) E.coli, (B) P.mirabilis, (C) S.flexneri
và một số vi khuẩn Gram dương:
(D) B.subtilis, (E) S.lutea, (F) S.aureus
34
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược carbopol 940) 37
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
gel mật ong 60% (tá dược chitosan) 37
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn khả năng chống oxy hoá của
axit ascorbic
38
Trang 7@
S chool
of Medicine
and
V NU
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Thuốc điều trị vết thương hở 3
1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương 3
1.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở 4
1.2 Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở 6
1.2.1 Giới thiệu chung về mật ong 6
1.2.2 Tác dụng sinh học của mật ong 7
1.2.3 Tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương 8
1.2.4 Thuốc hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong 13
1.3 Khái niệm, phân loại, phương pháp tạo gel 14
1.3.1 Khái niệm gel 14
1.3.2 Phân loại gel 15
1.3.3 Hydrogel 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.1.1 Nguyên vật liệu 19
2.1.2 Thiết bị nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 8@
S chool
of Medicine
and
V NU
2.3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 21
2.3.3 Đánh giá một số đặc tính của sản phẩm bào chế được 22
2.3.4 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 23
2.3.5 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Khảo sát khả năng tạo gel của một số polyme với mật ong 27
3.2 Xây dựng quy trình bào chế gel mật ong 60% 28
3.3 Đánh giá một số đặc tính của gel mật ong 60% 31
3.3 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của gel mật ong 60% 33
3.4 Đánh giá tác dụng chống oxy hoá của gel mật ong 60% 35
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Lạp và người La Mã đã sử dụng các loại mật ong khác nhau để chữa lành các
vết thương và các bệnh về đường tiêu hóa Cho đến đầu thế kỉ 20, người ta đã
sử dụng mật ong trong việc chăm sóc vết thương mỗi ngày [16]
Về mặt bệnh lý, vết thương hở là một chấn thương liên quan đến phá
vỡ bên ngoài hoặc bên trong mô cơ thể, thường liên quan đến da Các tai nạn
với đồ vật hoặc dụng cụ sắc nhọn, và tai nạn xe là nguyên nhân phổ biến gây nên vết thương hở [18] Tại các tổn thương, vi sinh vật có thể xâm nhập, gây nhiễm trùng, hoại tử, làm chậm quá trình hồi phục vết thương Do đó, việc sử
dụng các thuốc kháng khuẩn tại chỗ nhằm hạn chế hoặc loại bỏ yếu tố bệnh lý này, tạo điều kiện cho sự sửa chữa và hồi phục của các mô Sau hơn 80 năm
kể từ khi khoa học phát hiện ra penicillin, hàng trăm loại thuốc kháng sinh và các thuốc tương tự đã được phát minh và đưa vào sử dụng Sự ra đời của kháng sinh đánh dấu kỷ nguyên phát triển mới của y học trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi, kéo dài,
lạm dụng kháng sinh đã tạo điều kiện cho nhiều loại vi sinh vật trở nên kháng thuốc Do đó, sự quan tâm của con người với hợp chất tự nhiên, kháng khuẩn
và không độc như mật ong càng tăng lên Gần đây, việc sử dụng mật ong trong điều trị các vết thương được quan tâm đặc biệt thông qua những nghiên
cứu và báo cáo lâm sàng [3, 5] Tuy nhiên, mới chỉ có một sản phẩm hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong được thương mại hoá (Medihoney® Gel) [13]
Đa số các nghiên cứu đều mới ở giai đoạn đánh giá tính chất, cơ chế tác dụng
của mật ong, khá ít công trình nghiên cứu về mặt bào chế
Hướng đến việc bào chế thuốc hỗ trợ chăm sóc vết thương hở từ mật ong có hiệu lực cao, phổ rộng nhằm tăng quá trình hồi phục, ngăn ngừa nhiễm khuẩn và hạn chế để lại sẹo, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bào chế và đánh giá
m ột số tác dụng của gel mật ong trong hỗ trợ chăm sóc vết thương”, với các
mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 102 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro trên một số chủng vi sinh
vật, tác dụng chống oxy hóa của gel bào chế được
Trang 111.1 Thuốc điều trị vết thương hở
1.1.1 Giới thiệu chung về vết thương
Vết thương xảy ra nhiều lần trong cuộc sống, kèm theo sự chảy máu
Do đó, việc chữa lành vết thương là cần thiết để tránh chảy máu và mất nước
từ các mạch và mô Các cơ quan có thể bị thương do các tác động bên ngoài (vật lý, hoá học) hay rối loạn nội bộ (bệnh) Vết thương có thể đơn giản hoặc
phức tạp, vô trùng hoặc nhiễm trùng, cấp tính hoặc mạn tính [41] Các vết thương mạn tính liên quan đến khả năng tự phục hồi của bệnh nhân, nguyên nhân gây bệnh như các bệnh nhiễm trùng mạn tính hoặc rối loạn chuyển hoá Các rối loạn chuyển hoá như tiểu đường có thể dẫn đến nhiễm trùng, những biến chứng phức tạp và làm các vết thương lâu hồi phục [37] Có rất nhiều lý
do như nghèo đói, vệ sinh kém, suy dinh dưỡng, côn trùng và ô nhiễm môi trường có thể gây ra các vết thương và làm trầm trọng thêm hậu quả của vết thương [23] Chữa lành vết thương là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại tế bào chuyên biệt, chúng hoạt động tương tác với nhau dưới sự điều khiển của các phân tử do chúng ta tiết ra Quá trình phức tạp này diễn ra theo các giai đoạn và có sự trùng lặp lẫn nhau [25] Quá trình liền vết thương
trải qua 4 giai đoạn cơ bản: giai đoạn cầm máu, giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái tạo [17]
Điều trị vết thương hở là quá trình khôi phục lại tình trạng lành mạnh
của bất kì chấn thương nào gây ra gián đoạn trong sự liên tục của bề mặt bên ngoài cơ thể Quá trình này phục hồi nguyên vẹn các mô bị tổn thương bằng cách thay thế mô chết bằng các mô mới Việc này bắt đầu ngay sau khi bị thương, có thể tiếp tục trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, và về cơ bản là
giống nhau đối với tất cả các loại vết thương Việc sửa chữa các tế bào bị tổn thương và mô diễn ra trong quá trình tái tạo Trong đó, các cấu trúc được thay
thế bởi sự gia tăng các tế bào tương tự, như xảy ra với da và xương; và bằng cách hình thành sẹo, bao gồm các cấu trúc sợi với một số mức độ co lại Vì hầu hết các vết thương liên quan đến nhiều mô, sự hồi phục hoàn toàn là không thể Do đó, sự hình thành sẹo là một kết quả của việc chữa lành vết
thương [15]
Trang 121.1.2 Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở
Các yêu cầu của một thuốc bôi vết thương hở tốt bao gồm: Có tác dụng
với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất, không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành, không hoặc ít có tác dụng
phụ, thấm sâu vào các mô [12] Dưới đây là một số thuốc bôi vết thương hở được sử dụng phổ biến hiện nay:
Oxi già
Oxi già là dung dịch màu trong suốt, có tác dụng oxi hóa khá mạnh Ở
nồng độ lớn hơn 3% dung dịch oxi già có thể gây bỏng Oxi già thông thường
dùng để sát khuẩn vết thương mới, có mủ, vết thương có hiện tượng nhiễm trùng và đặc biệt là các vết thương có dị vật Dung dịch oxy già không được
sử dụng cho vết thương đang lành vì nó có thể làm tổn thương mô mới Khi
sử dụng oxi già có hiện tượng sủi bọt, làm sạch mô chết và loại trừ mủ, đẩy dị
vật ra ngoài [46]
Cồn
Cồn 70 độ (cồn có nồng độ cao hơn không có khả năng sát trùng) được
sử dụng rộng rãi để diệt khuẩn các dụng cụ chăm sóc vết thương, sát trùng trước khi tiêm và sát trùng vết thương trước khi băng bó [1]
Trang 13như S aureus, E coli, Klebsiella, P aeruginosa, Proteus,
Enterobacteraceae và cả C albicans Bạc sulfadiazine có thể gây giảm bạch
cầu Tác dụng phụ này gặp ở 5 - 15% bệnh nhân, thường xảy ra khi sử dụng trên diện tích rộng, 2 - 3 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc Bạc sulfadiazine được sản xuất từ năm 1960, dưới dạng kem nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước, ít thấm sâu vào hoại tử, khó vệ sinh vết thương, thời gian tác dụng ngắn Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô còn độc tính đối với tủy xương chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên
Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận [2]
Madecassol oil
Đây là dạng thuốc mỡ được bào chế từ dịch chiết của cây rau má
(Centella asiatica) Ngoài ra, sản phẩm này còn chứa kháng sinh neomycin và chất kháng viêm hydrocortisol Madecassol oil được sản xuất từ năm 1970, dùng để bôi lên vết thương hở nhằm tránh nhiễm khuẩn, tăng cường khả năng hồi phục vết thương, hạn chế để lại sẹo Sản phẩm này không dùng cho những
vết thương bị nhiễm thứ cấp hoặc các bệnh nhân nhạy cảm với neomycin và hydrocortisol [45]
Trang 141.2.1 Giới thiệu chung về mật ong
Mật ong là chất lỏng đặc sánh, hơi trong và dính nhớt, màu vàng nhạt
hoặc vàng cam đến nâu hơi vàng Khi để lâu hoặc để lạnh sẽ có những tinh
thể dạng hạt dần dần tách ra Mùi thơm, vị rất ngọt [10] Mật ong là một dung dịch bão hòa có nguồn gốc từ ong bao gồm chủ yếu là fructose và glucose Ngoài ra, mật ong còn chứa các protein, các axit amin, vitamin, enzym, khoáng chất và các thành phần thiết yếu khác như:
Nước: Trong mật ong, nước thường chiếm từ 16% đến 21%, còn các
chất keo chiếm khoảng 80% [11]
Đường: Là thành phần chính trong mật ong Có tất cả ba loại đường
dễ hấp thụ vào cơ thể [11]
Sacarose: Chỉ có khoảng 2%, thuộc loại đường kép khó hấp thụ vào
cơ thể Mật ong non có thể chứa tới 6% sacarose [11]
Protein: Có từ 0,04 - 3%; gốc protein từ mật hoa (protein thực vật) và
từ dịch do chính con ong tiết ra (protein động vật) [10]
Các hợp chất phenolic: Mật ong có chứa khoảng 0,1% - 0,5% các hợp
chất phenolic Các hợp chất này có nhiều tác dụng như chống oxy hoá, chống
vi khuẩn, chống vi rút, chống ung thư và nhiều hoạt tính sinh học khác [11]
Enzym: Trong mật ong có chứa nhiều loại enzym có vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hoá của con người như amylase, invertase, catalase và phosphorylase [4, 35]
Axit hữu cơ: Axit hữu cơ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 0,57% (theo tổng
ối lượng mật ong) Ngoài các axit phenolic và các axit amin tự do, một số
Trang 15 Vitamin: Hàm lượng vitamin trong mật ong không nhiều nhưng có nhiều loại Nguồn gốc vitamin này do phấn hoa trong mật mà ra Viện Nghiên
cứu Liên Xô phân tích 1 kg mật ong giàu vitamin B2 bằng 10 lần hàm lượng vitamin B2 có trong nho, táo Ngoài ra, trong mật còn có chứa các vitamin như vitamin PP, B6, C, E, K và caroten [7]
1.2.2 Tác dụng sinh học của mật ong
Mật ong có một số đặc tính sinh học đáng lưu ý như:
Tác dụng kháng khuẩn: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh
mật ong hay dung dịch chứa từ 30% mật ong trở lên là môi trường mà đa số
vi khuẩn và nấm không thể phát triển được Những vết thương, vết mổ được băng bó bằng mật ong sẽ chóng khô, sạch và không có mùi hôi, vì mật ong đã hút nước và chống được sự lây lan của vi khuẩn [33] Mật ong có tác dụng kháng khuẩn là nhờ sự có mặt của glucose oxidase và nhiều chất có tác dụng kháng khuẩn, áp suất thẩm thấu cao, pH axit Mật ong có phổ kháng khuẩn
rộng, được chứng minh là có khả năng ức chế hơn 80 loại vi khuẩn, ví dụ như
S aureus, Enterococcus kháng vancomycin, và P aeruginosa [27, 40]
Tác dụng chống oxi hóa: Các axit phenolic và flavonoid có trong mật
ong đóng vai trò quan trọng đối với khả năng chống oxi hóa Mật ong sử dụng
một mình hoặc phối hợp có khả năng phòng chống và ngăn ngừa một số bệnh như xơ vữa động mạch và ung thư [14, 27, 36]
Tác dụng làm lành vết thương: Nhiều nghiên cứu cho thấy mật ong có
hiệu quả trong chữa lành các vết thương do tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa Mật ong có độ nhớt cao, do đó hình thành hàng rào
vật lý và tạo môi trường ẩm lý tưởng cho vết thương mau lành [26] Mphande
Trang 16chữa lành với mật ong, trong khi chỉ có 57,89% (154/266) bệnh nhân được chữa lành bằng các phương pháp khác [7] Ingle và cộng sự so sánh tác dụng
của mật ong và chế phẩm IntraSite Gel trên bệnh nhân bị rách hoặc trầy xước
da Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong thời gian hồi phục trung bình và kích thước vết thương giữa các nhóm được điều trị với mật ong
và chế phẩm hydrogel [32]
Tác dụng dưỡng da: Mật ong được kí hiệu trong Danh mục Thành
phần Mỹ phẩm Quốc tế (INCI) dưới tên gọi "Honey" hoặc "Mel" (số CAS 8028-66-8), và được xếp vào nhóm làm mềm da/làm ẩm/dưỡng ẩm Tác dụng dưỡng ẩm của mật ong chủ yếu liên quan đến hàm lượng fructose và glucose cao, có khả năng tạo cầu hydro với nước và duy trì độ ẩm của lớp sừng [39]
Khả năng tái tạo da xuất phát từ sự có mặt của các axit amin (chủ yếu là prolin) và các axit hữu cơ (chủ yếu là axit gluconic) Mật ong thường được sử
dụng trong mỹ phẩm với tỷ lệ từ 1 - 10% [13]
Tác dụng dưỡng tóc: Mật ong tỉ lệ 3 - 20% trong dầu gội đầu có tác
dụng làm giảm tóc rối, giúp tóc suôn mượt, giữ độ ẩm và dễ chải [28] Nhờ đặc tính kháng khuẩn và chống nấm, mật ong cũng được sử dụng để trị gàu [16]
1.2.3 Tính chất, cơ chế tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục
Trang 17 Hoạt động thẩm thấu
Sự thẩm thấu cao góp phần làm hạn chế sự phát triển và tăng sinh của
vi khuẩn Khi sử dụng mật ong để chữa lành vết thương, với tính chất lỏng
nhớt, mật ong cung cấp một hàng rào bảo vệ và ngăn ngừa sự lây nhiễm chéo
của vết thương Cơ chế của hiện tượng này chủ yếu là do tác động thẩm thấu
của nó Dung dịch đường của mật ong hút nước ra khỏi vùng xung quanh, khiến cho vi khuẩn không thể lưu trú, phát triển trong môi trường đó Ngoài
ra, áp suất thẩm thấu từ mật ong ra dịch bạch huyết từ mô dưới da đến bề mặt
vết thương, giúp loại bỏ mảnh vỡ, mô hoại tử [31]
Tính axit
Dãy axit pH của mật ong là từ 3,2 đến 4,5 và độ pH thấp này là do sự hình thành axit gluconic Trong hầu hết các trường hợp, môi trường thích hợp
để vi khuẩn gây bệnh trên vết thương phát triển là trung tính hoặc hơi kiềm
Mặt khác, pH tối ưu cho hoạt động protease là khoảng 7,3 Tăng hoạt tính protease có thể phá hủy các yếu tố tăng trưởng, mạng lưới collagen mới được tái tạo và fibronectin trong những vết thương cần thiết cho hoạt động của nguyên bào sợi và tái tổ hợp lại đến các phản ứng viêm Tính axit của mật ong
có khả năng làm giảm hoạt tính của protease, làm tăng hoạt động của nguyên bào sợi và giải phóng oxy từ hemoglobin trong mao mạch, giảm kích thước
vết thương và cuối cùng là làm lành vết thương Tính axit cũng giúp tăng hoạt
Trang 18 Non - peroxit và chất chống oxy hoá
Theo nguồn hoa, mùa vụ và vị trí địa lý, mật ong có thể chứa các thành
phần khác nhau như flavonoid và axit thơm Một số thành phần như methyl syringat, defensin-1 và methylglyoxal enzym (MGO) góp phần vào hoạt tính non-peroxit của mật ong MGO như một thành phần kháng khuẩn có khả năng tương tác với các trung tâm nucleophin của các đại phân tử như ADN Với các vi khuẩn gram dương, MGO giảm enzym lysin tự do liên quan đến thành
tế bào vi khuẩn và sự phân chia tế bào Với các vi khuẩn gram âm, MGO điều
chỉnh biểu hiện gen liên quan đến sự ổn định của thành tế bào [31]
Tăng thực bào và hoạt động thực bào
Mật ong có thể kích thích tế bào lympho B và tế bào lympho T, và kích hoạt phagocytosis của bạch cầu trung tính trong nuôi cấy tế bào Mật ong cũng kích thích tế bào monocyte (tế bào MM6) để tiết ra các cytokin, yếu tố
hoại tử khối u yếu tố α (TNF-α), interleukin-1 (IL-1) và IL-6, kích hoạt tế bào đáp ứng miễn dịch Sự tiết của TNF-α, một cytokin gây ra quá trình lành vết thương, có thể được gây ra bởi các protein glycosyl hóa Hơn nữa, bằng cách giảm sự giải phóng các chất trung gian phản ứng bằng các đại thực bào hoạt hóa trong quá trình làm lành vết thương, mật ong có khả năng làm suy giảm collagen IV thông qua sự kích thích matrix metalloproteinase 9 (MMP-9)
trong quá trình tái tạo biểu mô Các nghiên cứu in vitro cho thấy độc tính của
mật ong trên keratinocyte và nguyên bào sợi là rất thấp Người ta tin rằng hiệu quả điều hòa miễn dịch như vậy thúc đẩy hoạt động kháng khuẩn của mật ong [31]
Nitric oxit
Nitric oxit (NO) có nhiều hoạt động như điều hòa sự hình thành mạch máu, tăng cường tổng hợp collagen, tái tạo biểu mô ở vết thương, các phản ứng kháng khuẩn và kháng vi rút, đáp ứng miễn dịch và viêm [31]
Prostaglandins
Prostaglandins là những chất trung gian gây viêm và đau được coi là chất ức chế miễn dịch, có thể làm giảm các chức năng của lympho-B, T Mật
Trang 19nồng độ tuyến tiền liệt bao gồm PGE2, prostaglandin F2a (PGF2a) và thromboxan B2 trong huyết tương của người bình thường Điều trị vết thương
bằng mật ong đã được chứng minh là ít đau hơn so với đường trong quá trình thay đồ và chuyển động [31]
Sản xuất kháng thể
Mật ong làm tăng sản xuất kháng thể trong phản ứng miễn dịch ban đầu
và thứ phát đối với độc tố tuyến ức và thuốc chống độc tuyến giáp Mật ong
có ảnh hưởng đến kháng thể do các cơ chế khác nhau Tuy nhiên, cơ chế chính xác vẫn chưa được xác định rõ ràng Mật ong có khả năng kích thích tế bào lympho để tạo ra cytokin, TNF-α, IL-1, và IL-6 Mật ong cũng có thể làm tăng tính miễn dịch bằng cách tăng NO Mặt khác, bằng cách giảm nồng độ prostaglandin huyết tương, mật ong sản sinh kháng thể [31]
B ảng 1.1 Tác dụng của mật ong trong quá trình hồi phục vết thương
Trang 20- Tăng cường sự oxy hóa
- Ngăn ngừa sự hoại tử
- Tăng cường tổng hợp collagen
- Hạn chế bạch cầu thấm vào [13, 31]
- Giảm số lượng các tế bào viêm
- Kích thích các tế bào lympho B và T
- Điều chỉnh hoạt động của monocyte [31, 44]
- Loại bỏ các vật liệu hoại tử
- Giúp loại bỏ các mô hoại tử
mà không gây đau [31, 38]
Trang 21- Đẩy nhanh quá trình hồi
1.2.4 Thu ốc hỗ trợ điều trị vết thương từ mật ong
Để khắc phục nhược điểm của các thuốc điều trị vết thương hở, gần đây các nhà khoa học đã phát triển thành công một số sản phẩm điều trị vết
Trang 22trầy xước, loét Gel có tác dụng làm sạch vết thương, ngăn ngừa nhiễm khuẩn Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả hồi phục vết thương đáng kể của Medihoney® Gel trên các vết bỏng nhẹ, trầy xước, loét, vết cắt, bong da và Eczema Gel đòi hỏi phải thay băng hằng ngày Khi thay băng, gel sẽ được
loại bỏ cùng với miếng gạc Phần gel còn lại có thể dễ dàng được rửa trôi
bằng các chất rửa vết thương thông thường [3]
Chưa thấy có tác dụng phụ thường gặp nào của thuốc được báo cáo Thuốc không gây độc, không gây kích ứng, không làm ảnh hưởng đến mô lành ở các vết thương cấp hoặc mạn tính Không được sử dụng sản phẩm trên các bệnh nhân dị ứng với mật ong [3]
Hình 1.2 Thuốc điều trị vết thương hở Medihoney® Gel [3]
1.3 Khái niệm, phân loại gel, phương pháp tạo gel
1.3.1 Khái niệm gel
Gel là một hệ phân tán có môi trường phân tán ở thể rắn và chất phân tán ở thể lỏng (dung dịch keo đặc) Độ nhớt của gel lớn hơn độ nhớt của dung
Trang 23dịch nhưng không bằng chất rắn Gel bôi da và niêm mạc là những chế phẩm
có thể chất mềm, trong đó có một hay nhiều dược chất được hoà tan hay phân tán trong tá dược polyme thiên nhiên hoặc tổng hợp [29]
1.3.2 Phân loại gel
Theo Dược điển Việt Nam IV, gel được phân thành 2 loại:
Gel thân dầu (Olegels): Trong thành phần sử dụng tá dược tạo gel, bao
gồm dầu paraffin phối hợp với tá dược thân dầu khác, có thêm keo silic, xà phòng nhôm và xà phòng kẽm [1]
Gel thân nước (Hydrogels): Thành phần bao gồm nước, glycerin, propylen glycol, có thêm tá dược tạo gel như polysaccharid (tinh bột, tinh bột
biến tính, axit alginic và natri alginat), dẫn chất cellulose, polyme của axit acrylic (carbomer, carbomer copolyme, carbomer interpolyme, methyl acrylat) [1]
1.3.3 Hydrogel
Hydrogel là hệ gel có cấu trúc mạng ba chiều thu được bằng phương pháp tổng hợp các polyme tự nhiên mà có thể hấp thụ và giữ lại lượng nước đáng kể [20]
Trang 24 Khả năng giữ nước và thấm là những tính chất đặc trưng quan trọng
nhất của một hydrogel Các nhóm ưa nước là yếu tố đầu tiên bị hydrat hoá khi tiếp xúc với nước dẫn tới sự hình thành ràng buộc với nước [19]
Sự tương thích sinh học: Hydrogel có khả năng tương thích với hệ
thống miễn dịch và các sản phẩm phân hủy của nó không độc hại Bề mặt ưa nước của hydrogel có năng lượng tự do thấp khi tiếp xúc với dịch cơ thể, protein và các tế bào Bản chất mềm mại và đàn hồi của hydrogel giảm thiểu kích ứng đối với các mô xung quanh [19]
Các liên kết chéo giữa các chuỗi polyme: Do trong cấu trúc có lượng nước đáng kể nên hydrogel có mức độ linh hoạt như mô tự nhiên [9]
Yếu tố ảnh hưởng đến hydrogel:
Hydrogel có thể bị kích thích, nhạy cảm và phản ứng với môi trường xung quanh bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ pH và sự có mặt của chất điện phân Nồng độ và tính chất của dược chất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thể
chất và tình trạng của hydrogel [30]
Ứng dụng:
Hydrogel của nhiều loại polyme tổng hợp và tự nhiên được sản xuất ứng dụng chủ yếu trong kỹ thuật cấy mô, dược phẩm, và các lĩnh vực y sinh [21] Do khả năng hấp thụ nước cao và sự tương thích sinh học, hydrogel đã được sử dụng cho mục đích băng vết thương, phân phối thuốc, nông nghiệp, băng vệ sinh, vật liệu nha khoa, cấy ghép, ứng dụng mắt, các cơ quan lai ghép (đóng gói các tế bào sống) [33]
Trang 25- Chăm sóc vết thương - Polyurethan, polyethylen glycol,
polypropylen glycol, xanthan
- Phân phối thuốc, dược phẩm - Starch, polyvinylpyrrolidon,
polyacrylic axit, carboxymethyl cellulose
- Vật liệu nha khoa - Hydrocolloid Ghatti, Karaya
- Kỹ thuật nuôi cấy mô, cấy
Cơ chế hình thành gel:
Làm nóng/làm lạnh một dung dịch polyme:
Sự hình thành gel là do sự hình thành các liên kết xoắn ốc và tạo thành các đường giao nhau Polyme trong dung dịch nóng trên nhiệt độ nóng chảy chuyển tiếp xuất hiện dưới hình dạng cuộn dây ngẫu nhiên Khi làm lạnh nó chuyển đổi thành cuộn xoắn cứng Với sự hiện diện của muối (K+, Na+), do sàng lọc đẩy nhóm sulfonat (SO32-), các xoắn đôi kết hợp lại để hình thành các gel ổn định [19]
Tương tác ion:
Các polyme ion có thể được liên kết chéo bằng cách thêm các phản ứng di- hoặc tri-valent Phương pháp này phù hợp với nguyên tắc của một dung