Các bộ phận của cây đã được sử dụng làm thuốc như thuốc lợi tiểu, gây nôn, kháng viêm, diệt khuẩn… Các nghiên cứu trước đây về cây mơ lông đã cho thấy nó có chứa hai thành phần chính là
Trang 1Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện, đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình, tâm huyết của các thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin chân thành cảm ơn TS Lê Thị Thu Hường - giảng viên Bộ môn Dược liệu – Dược học cổ truyền, Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội và TS Nguyễn
Hữu Tùng – giảng viên Bộ môn Hóa dược và kiểm nghiệm thuốc, Khoa Y Dược, Đại
học Quốc gia Hà Nội, là những người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Dược liệu – Dược học Cổ truyền, Bộ môn Hóa dược và kiểm nghiệm thuốc của Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã luôn tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các quý thầy cô trong Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã dạy dỗ, trang bị kiến thức cho em trong suốt 5 năm theo học tại Khoa
Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè, những người
đã luôn theo sát động viên, quan tâm và tạo điều kiện giúp con hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2019
Sinh viên Đàm Việt Hùng
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.2 Các iridoid glucoside có trong cây mơ lông 7
Hình 1.6 Một số hợp chất anthraquinon có trong cây mơ lông 9
Hình 3.1 Sắc ký đồ pha đảo của mẫu cao lá mơ với hệ dung môi
MeOH-H2O ở các tỷ lệ lần lượt là 1:2 (A), 2:1 (B), 1:1 (C)
20
Hình 3.2 Sắc ký đồ pha đảo của cao tổng với hệ dung môi MeOH-H2O
(1:2)
20
Hình 3.4 Phổ UV của chất có thời gian lưu 6,099 phút 22 Hình 3.5 Phổ UV của chất có thời gian lưu 10,212 phút 22 Hình 3.6 Phổ UV của chất có thời gian lưu 11,146 phút 23 Hình 3.7 Phổ UV của chất có thời gian lưu 15,039 phút 23 Hình 3.8 Phổ UV của chất có thời gian lưu 15,872 phút 24 Hình 3.9 Phổ UV của chất có thơi gian lưu 16,532 phút 24 Hình 3.10 Phổ UV của chất có thời gian lưu 17,012 phút 25 Hình 3.11 Phổ UV của chất có thời gian lưu 18,539 phút 25 Hình 3.12 Đồ thi miêu tả sự phụ thuộc của độ hấp thụ quang vào nồng độ
của mẫu chuẩn iridoid
26
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả định tính các nhóm chất hữu cơ thường gặp trong mẫu
cao lá mơ bằng phản ứng hóa học
19
Bảng 3.2 Nồng độ và giá trị độ hấp thụ quang tương ứng của mẫu chuẩn
iridoid
26
Bảng 3.3 Hàm lượng iridoid trong mẫu tươi tính được dựa vào độ hấp thụ
quang của mẫu thử
27
Trang 7Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về cây mơ lông (Paederia lanuginosa) 2
1.1.1 Đặc điểm họ Cà phê (Rubiaceae) 2
1.1.2 Vị trí, phân loại của chi Paederia 2
1.1.3 Đặc điểm thực vật cây mơ lông 3
1.1.4 Tác dụng dược lý cây mơ lông 5
1.1.5 Thành phần hóa học của cây mơ lông 6
CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phương tiện nghiên cứu 11
2.2.1 Thiết bị dụng cụ 11
2.2.1 Hóa chất, dung môi 12
2.2 Phương pháp nghiên cứu 12
2.2.1 Phương pháp xử lý mẫu và chiết mẫu 12
2.2.2 Phương pháp định tính mẫu cao lá mơ bằng các phản ứng hóa học 13
2.2.3 Phương pháp định tính bằng sắc ký lớp mỏng 16
2.2.4 Phương pháp định tính bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) 17
2.2.5 Phương pháp định lượng iridoid toàn phần 17
CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀN LUẬN 18
3.1 Chiết xuất 18
3.2 Phân tích định tính các nhóm chất hữu cơ có trong cao lá mơ 18
3.2.1 Kết quả phân tích định tính các nhóm chất hữu cơ bằng phản ứng hóa học 18 3.2.2 Kết quả phân tích định tính iridoid bằng sắc ký lớp mỏng 20
3.2.3 Kết quả phân tích định tính bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC 21
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.3 Định lượng iridoid toàn phần có trong mẫu cao lá mơ 25
3.4 Bàn luận 27
3.4.1 Về chiết xuất cao toàn phần từ mẫu lá mơ 27
3.4.2 Về định tính mẫu cao lá mơ 27
3.4.3 Về định lượng iridoid toàn phần 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Tài liệu tiếng Việt
B Tài liệu tiếng Anh
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc phòng bệnh và chữa bệnh được điều chế từ 2 nguồn chính: dược liệu và hóa chất tổng hợp Riêng thảo dược, thống kê chưa đầy đủ của Tổ chức y tế thế giới cho thấy hơn 21.000 loài cây cỏ được các dân tộc trên thế giới dùng làm thuốc Không chỉ các nước Á Đông mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng rất lớn dược liệu Do đó, việc sản xuất thuốc từ nguồn gốc thảo dược là một hướng nghiên cứu được các nhà nghiên cứu khoa học đặc biệt chú trọng hiện nay
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có một thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều loại thảo dược quý Trong đó có những cây thuốc được dân gian sử dụng từ hàng ngàn năm nay như lá mơ, lá ngải cứu, lá lốt Tuy nhiên, các thảo dược này hầu hết vẫn chỉ được sử dụng trực tiếp hoặc chế biến thành nguyên liệu thô, do vậy chưa phát huy được hết công dụng của chúng Một trong số đó
phải kể đến cây mơ lông (Paederia lanuginosa họ Cà phê-Rubiaceae) thuộc chi
Paederia
Cây mơ lông (mơ tam thể) Paederia lanuginosa thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) là
loại thân cây leo, mọc hoang ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản Các bộ phận của cây
đã được sử dụng làm thuốc như thuốc lợi tiểu, gây nôn, kháng viêm, diệt khuẩn… Các nghiên cứu trước đây về cây mơ lông đã cho thấy nó có chứa hai thành phần chính là các iridoid glucoside và các anthraquinon
Nghiên cứu về các hợp chất hóa học có hoạt tính từ cây mơ lông là một trong những hướng nghiên cứu triển vọng và được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như tác dụng dược
lý của cây mơ lông vẫn chưa nhiều Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phân tích thành phần hóa học của lá mơ lông Việt Nam (Paederia lanuginosa)”
Mục tiêu của đề tài: Chiết xuất và xác định một số thành phần hóa học có trong
lá của cây mơ lông Đề tài được thực hiện với các nội dung chính sau:
1 Chiết xuất và xác định các nhóm hợp chất hữu cơ thường có trong mẫu nghiên cứu bằng các phản ứng hóa học và phương pháp sắc ký lớp mỏng
2 Xác định sơ bộ các nhóm hợp chất hữu cơ có trong mẫu cao lá mơ lông bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC
3 Định lượng iridoid toàn phần có trong mẫu cao lá mơ lông bằng phương pháp đường chuẩn
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về cây mơ lông (Paederia lanuginosa)
1.1.1 Đặc điểm họ Cà phê (Rubiaceae)
Các cây thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) thường là loại cây thân gỗ, cây bụi hoặc
nửa bụi, đôi khi là cây thân thảo hay dây leo Lá mọc đối, luôn có lá kèm với nhiều hình dạng khác nhau Hoa thường tập hợp thành cụm hình xim, đôi khi hình đầu, mẫu
5 hoặc 4 Đài và tràng đều hợp, tràng có tiền khai hoa thường vặn Trong một vài trường hợp, số thùy của tràng có thể lên tới 8 hoặc 10 Số nhị thường bằng với số thùy tràng và nằm xen kẽ giữa các thùy, dính vào ống tràng hoặc họng tràng Bộ nhụy gồm hai lá noãn dính vào nhau thành bầu dưới, có hai buồng Một vòi nhụy mảnh, đầu nhụy chia hai Mỗi buồng của bầu chứa một đến nhiều noãn đảo hay thẳng Quả mọng, hạch hay quả khô (quả mở hoặc quả phân thành những hạch nhỏ) Hạt thường có phôi thẳng
có nội nhũ hoặc đôi khi không có [8,18]
Trên thế giới, họ Cà phê (Rubiaceae) là một trong năm họ có nhiều loài nhất
trong nhóm thực vật có hoa, với khoảng 13.000 nghìn loài [18], được phân bố trong
620 chi, hơn 40 tông và được chia làm 3 phân họ: Cinchonoideae, Ixoroideae,
Rubioideae [18]
Chúng được tìm thấy ở tất cả các lục địa, kể cả nam cực, với một vài loài của chi Coprosma, Galium, và Sherardia [18] Phần lớn được phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, theo các tài liệu nghiên cứu đã công bố mới nhất về họ Cà phê cho thấy, họ này có khoảng 93 chi và 450 loài, phân bố rộng khắp cả nước [1,8]
1.1.2 Vị trí, phân loại của chi Paederia
Vị trí của chi Paederia trong hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (1987)
[27]:
Giới thực vật (Planta) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa Môi (Lamiidae)
Bộ Cà Phê (Rubiales)
Họ Cà Phê (Rubiaceae) Chi Paederia
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Ở Việt Nam, có hai loài là Paederia lanuginosa (Mơ lông) và Paederia foetida
(Mơ leo) [8]
1.1.1.1 Mơ leo (Paederia foetida)
Phân bố: Cây phân bố ở vùng Ấn Độ - Malaysia Ở Việt Nam, cây mọc ở lùm bụi và cũng được trồng làm cây dược liệu
Công dụng: Chữa co thắt túi mật và dạ dày ruột, tê đau do chấn thương; trẻ em cam tích, tiêu hoá kém và suy dinh dưỡng; viêm gan, vàng da, viêm ruột, lỵ; viêm khí quản, ho gà, lao phổi; phong thấp đau nhức gân cốt, đòn ngã tổn thương; giảm bạch cầu gây ra bởi bức xạ; nhiễm độc bởi phốt pho hữu cơ trong các sản phẩm nông nghiệp; dùng ngoài trị viêm da, eczema, lở loét, áp xe; toàn cây còn dùng chữa vết thương do côn trùng độc cắn [18]
1.1.1.2 Mơ lông (Paederia lanuginosa)
Dây leo bằng thân quấn Lá mọc đối hình trứng, nếu mặt dưới lá màu tím đỏ thì gọi là mơ tam thể Hoa màu tím nhạt, mọc thành xim ở kẽ lá Quả dẹt Toàn cây có lông mềm và có mùi khó ngửi [18]
Phân bố: Cây được phát hiện ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc
Ở nước ta, cây mọc hoang và được trồng vào các mùa xuân, thu ở các bờ rào để làm thuốc hoặc gia vị trong các bữa ăn [18]
Công dụng: Chữa lỵ trực trùng; kiết lỵ mới phát; tiêu chảy do nóng; sôi, đầy bụng, ăn khó tiêu; tiêu chảy ra máu; ho gà [18]
1.1.3 Đặc điểm thực vật cây mơ lông
Mơ lông còn có tên khác là dây mơ lông, dây mơ tròn, ngưu bì đống, rau mơ, dắm chó, ngũ hương đẳng [8]
Tên khoa học: Paederia lanuginosa
Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae)
Mô tả: Dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm Thân màu xanh lục hoặc màu tím, có nhiều lông cứng màu trắng; tiết diện tròn ở thân già, hơi dẹt ở thân non Lá đơn, nguyên, mọc đối, có mùi đặc trưng; phiến lá hình tim đỉnh nhọn, dài 9-11 cm, rộng 4-6
cm, mặt trên màu xanh lục mặt dưới màu tím, có nhiều lông cứng màu trắng; gân lá hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, 6 cặp gân phụ đối hoặc gần đối [18] Cuống lá hình lòng máng nông, dài 2-3 cm, màu xanh, có nhiều lông trắng; 2 lá kèm ở giữa 2 cuống
lá, dạng vẩy tam giác hoặc hình tim dài 0,3-0,5 cm, màu xanh, tồn tại Cụm hoa xim hai ngả rất phân nhánh ở nách lá hoặc ngọn cành, dài 10-50 cm Hoa nhỏ, đều, lưỡng
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
tính, mẫu 5 rất ít mẫu 6, không cuống, lá bắc hình tam giác nhỏ Đài hoa: 5-6, rời, hình tam giác nhỏ cao 1 mm, màu xanh hơi tím, có lông trắng, tiền khai vặn Tràng hoa: 5-6 cánh đều, màu tím mặt ngoài màu trắng xanh ở mặt trong, dính nhau ở 2/3 dưới tạo thành ống tràng dài 0,4-0,5 cm, phía trên xòe ra 5 phiến dài 0,2 cm có nhiều gai nạc, mỗi phiến có 3-4 thùy cạn không đều và uốn lượn; mặt trong họng tràng có nhiều lông tiết màu tím nhạt, dài 0,2-0,3 cm, chân dài đa bào (tế bào to dần về phía đỉnh của lông tiết) đầu đơn bào to tròn dài; mặt ngoài ống tràng có rất nhiều lông màu trắng, 4-6 tế bào mọng nước xếp chồng lỏng lẻo Bộ nhị: 5-6 nhị đều, rời, đính ở đáy ống tràng xen
kẽ cánh hoa Chỉ nhị dạng sợi mảnh, màu hồng hoặc tím nhạt dài 0,2-0,25 cm, nhẵn bóng Bao phấn 2 ô, màu trắng, thuôn dài 0,3-0,35 cm, nứt dọc, hướng trong, đính lưng Hạt phấn mở, rộng 20-25 µm, màu trắng, hình bầu dục 2 đầu thuôn tròn, có 3 rãnh dọc, có vân, dài 42,5-50 µm Bộ nhụy: bầu dưới hình chuông 2 ô, mỗi ô có 1 noãn, đính noãn trung trụ; 1 vòi nhụy ngắn, màu hồng nhạt; 2 đầu nhụy dạng sợi uốn lượn, dài 0,4-0,7 cm, màu hồng nhạt, có nhiều lông mịn màu trắng; đĩa mật hình khoen bao quanh gốc vòi nhụy [8,17]
Phân bố: Cây mọc hoang ở các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Philippin Ở Việt Nam, cây mọc hoang và cũng được trồng xung quanh nước ta
để làm thuốc và gia vị Cây thường được trồng vào mùa xuân, thu, ở các bờ rào, bờ ao
có lùm bụi cho leo [8]
Bộ phận dùng: Lá, thân, rễ [4,8]
Hình 1.1 Cây mơ lông
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.1.4 Tác dụng dược lý cây mơ lông
bị nhiễm độc CCl4 cũng được hạn chế đáng kể Kết quả của nghiên cứu này cho thấy lá
mơ tam thể có thể làm giảm các tổn thương tại tế bào gan bằng cách ức chế các chất oxy hóa [24]
1.1.4.3 Tác dụng tiêu diệt ký sinh trùng
Chiết xuất methanol của lá mơ đã được sàng lọc hoạt tính chống sán lá đối với Pheretima posthuma và Tubifex tubifex Chiết xuất thể hiện hoạt tính thuốc tẩy giun sán cao nhất ở nồng độ 100 mg/ml so với piperazine citrate (10 mg/ml) làm chất chuẩn
và nước cất là mẫu chứng [24]
1.1.4.4 Hoạt tính chống viêm
Hoạt tính chống viêm của dịch chiết lá mơ lông trong ethanol đã được nghiên cứu để tìm cơ sở cho việc ứng dụng các tác dụng sinh học của cây Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết có khả năng ức chế đáng kể sự hình thành mô hạt ở chuột cấy bông
Nó cũng ức chế sự gia tăng nồng độ orosomucoid trong huyết thanh ở chuột, cho thấy khả năng chống bệnh thấp khớp của dịch chiết [24]
1.1.4.5 Hoạt tính chống loét
Hoạt tính chống loét của cao chiết từ lá mơ được đánh giá bằng hai phương pháp: phương pháp thắt môn vị và phương pháp loét do aspirin gây ra ở chuột Thể tích axit dạ dày, tổng độ axit và độ axit tự do được đo để đánh giá khả năng chống loét của dịch chiết lá mơ Kết quả nghiên cứu cho thấy tác dụng chống loét của dịch chiết có thể
là do ức chế thụ thể H2 dẫn đến ức chế bài tiết acid dạ dày [24]
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Tác dụng kháng viêm: phân đoạn tan trong nước của dịch chiết cồn 50% của lá
mơ có tác dụng kháng viêm trên nhiều mô hình thử nghiệm gây phù cấp và bán cấp với carrageenan, histamine và dextran Tác dụng phụ thuộc vào liều dùng Tác dụng tăng khi sử dụng qua phúc mô [4]
Tác dụng bảo vệ gan: Dịch chiết methanol của lá mơ có tác dụng bảo vệ gan ở mức độ trung bình [4]
Ngoài ra, lá mơ còn có tác dụng chống lại các thương tổn kiểu viêm xương khớp, làm giảm sự thoái hóa sụn khớp [4]
1.1.5 Thành phần hóa học của cây mơ lông
Các nghiên cứu trước về cây mơ lông đã cho thấy nó có chứa hai thành phần chính là các iridoid và anthraquinon [20-23]
1.1.5.1 Các iridoid glucoside
Đây là một trong những thành phần chính trong cây mơ lông Trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu người Nhật đã phát hiện ra một vài hợp chất iridoid của cây mơ lông còn có chứa lưu huỳnh Ví dụ như: paederoside (1), asperuloside (2)
và paederosidic axit (3) được tìm thấy trong lá và thân của cây mơ lông Nhật Bản 23,26]
Trang 15[20-Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Hình 1.2 Các iridoid glucoside có trong cây mơ tam thể (GlcH 4 là glucose) 1.1.5.1 Các iridoid dạng đimer
Gần đây, trong quá trình nghiên cứu về rễ cây mơ lông ở Việt Nam, PGS.TS Đặng Ngọc Quang và cộng sự đã tinh sạch được ba hợp chất iridoid glucosid dạng đime (6-8) Đây là những đime đầu tiên được tìm thấy trong chi Paederia Đime 6 tạo thành do sự kết hợp của hai monomer là paederosidic axit methyl ester và paederosidic axit Liên kết được hình thành giữa nhóm cacboxylic của axit paederosidic và nhóm 6-
OH trong phần đường của axit paederosidic metyl ester [22]
Hình 1.3 Iridoid dạng đime số 6
Trang 16Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Hình 1.4 Iridoid dạng đime số 7
Trong khi đó đime số 7 được tạo thành từ hai phân tử axit paederosidic Dựa vào công thức cấu tạo ở trên, có thể dự đoán hợp chất này được tạo thành do sự este hóa của nhóm axit cacboxylic trong axit paederosidic với nhóm 3-OH của glucozơ trong phân tử axit paederosidic kia [22] Đime thứ 3 là hợp chất số 8 cũng được tạo thành từ hai monome paederoside [22]
Hình 1.5: Iridoid dạng đime số 8
Trang 17Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.1.5.3 Các anthraquinon
Đây cũng là một trong các thành phần chính của các cây thuộc họ Cà phê Tuy nhiên, việc phát hiện ra các hợp chất anthraquinon từ cây mơ lông còn rất hạn chế Gần đây, Đặng Ngọc Quang và cộng sự đã tinh sạch được 7 hợp chất anthraquinon (9-15)
và một coumarin (16) từ rễ cây mơ lông của Việt Nam chúng là những hợp chất có hoạt tính kháng sinh mạnh [15,16]
Hình 1.6 Một số hợp chất anthraquinon có trong cây mơ lông
Các tài liệu trước đây đã chỉ ra rằng anthraquinon là các hợp chất có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng Có thể kể đến như tác dụng ức chế Epstein-Barr virus của hợp chất số 13, tác dụng kháng virus (14) và hoạt tính gây độc tế bào (15) [15,16]
1.1.5.4 Các thành phần khác
Ngoài ra, trong cây mơ lông còn chứa một số nhóm hợp chất hữu cơ khác như: Alkaloid: α-paederin và β-paederin [4]
Tinh dầu: trong toàn cây và hoa có tinh dầu với hàm lượng cao Tinh dầu có trên
70 cấu tử trong đó có linalool là thành phần chính, ngoài ra còn có α-terpineol và geraniol [4]
Trang 18Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Các steroid và triterpen: sistosterol, stigmasterol và campesterol, acid urosolic, epifriedelinol, friedelin [4]
Ngoài ra, trong thân và lá còn chứa các hydrocacbon mạch dài như hentriacontan, hentrinacontanol và cetyl alcohol; các dẫn chất furan như 2,3-dihydrobenzofuran, benzofuran; các acid béo như nonionic, capric, lauric, myristic, arachidic, palmitic và carotene, vitamin C [4]
Đặc biệt, các dẫn chất lưu huỳnh là dimethyl sulfide, dimethyl trisulfid và methyl mercaptan làm cho thân và lá tươi có mùi đặc biệt [4]
Trang 19Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu là lá mơ lông được thu mua tại chợ Bưởi, Hà Nội vào tháng 9 năm 2018 và được giám định thực vật học bởi TS Nghiêm Đức Trọng - trường Đại học Dược Hà Nội Mẫu được lưu giữ tại Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của phòng thí nghiệm
Hình 2.1 Mẫu lá tươi của cây mơ lông 2.2 Phương tiện nghiên cứu
2.2.1 Thiết bị dụng cụ
Các thiết bị, dụng cụ được sử dụng trong quá trình thực nghiệm bao gồm:
Tủ sấy Memmert (Memmert-Đức)
Máy cô quay chân không Rotavapor R-220, Rotavapor R-200 (Buchi, Thụy Sĩ)
Máy siêu âm Power sonic 405 (Powersonic - Hàn Quốc)
Cân kĩ thuật Precisa BJ 610C, cân phân tích Precisa 262SMA-FR (Precisa-Thụy Sĩ)
Trang 20Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao Agilent 1260 Infinity (Agilent Technologies, Mỹ)
2.2.1 Hóa chất, dung môi
Dung môi dùng để chiết xuất: Etanol 80%
Dung môi để chạy sắc ký lớp mỏng: Methanol, nước cất 2 lần
Dung môi dùng để chạy HPLC: Acetolnitril, acid sulfuric 0,05%
Dung môi để định lượng iridoid: Acid acetic, Đồng sunphat 0,2%, acid hidrocloric 1%
Các dung môi, hóa chất dùng để định tính bằng các phản ứng hóa học: Methanol, CuSO4 0,05%, HCl 1%, Acid acetic, FeCl3, NaOH, H2SO4, Anhydrid acetic, chloroform, dung dịch NH3, thuốc thử Mayer, thuốc thử Bouchardat, bột Magnesi
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp xử lý mẫu và chiết mẫu
Mẫu lá mơ được sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 80℃, sau đó vò nát Mẫu được đem chiết 3 lần bằng cồn 80 độ Mỗi lần chiết kéo dài 24 giờ Dịch chiết thu được được lọc qua phễu lọc Bucher Dịch chiết sau khi đã lọc được đưa vào máy cô quay chân không để cô lấy cao ở nhiệt độ 75℃ [6,12] Sơ đồ cụ thể như sau: