Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƯỢC ---***--- TRẦN THỊ THANH ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI TÁI TRỊ TH
Trang 1Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC -*** -
TRẦN THỊ THANH
ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI TÁI TRỊ THÔNG QUA CÁC CHỈ SỐ LÂM SÀNG VÀ VI SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH Y ĐA KHOA
HÀ NỘI – 2019
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC -*** -
TRẦN THỊ THANH
ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ LAO PHỔI TÁI TRỊ THÔNG QUA CÁC CHỈ SỐ LÂM SÀNG VÀ VI SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH Y ĐA KHOA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THỊ LUYẾN
HÀ NỘI – 2019
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Đánh giá đáp ứng điều trị ở bệnh nhân lao phổi mới và lao phổi
tái trị thông qua các chỉ số lâm sàng và vi sinh” là nội dung tôi chọn để nghiên
cứu và làm luận văn tốt nghiệp sau sáu năm theo học chương trình đại học chuyên ngành Y Đa khoa tại Khoa Y- Dược trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Luyến thuộc Khoa Y Dược Đại học Quốc gia Hà Nội Cô đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Y Dược đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn tới các nghiên cứu viên của nghiên
cứu “Phân tích dược động học - dược lực học để lựa chọn liều điều trị tối ưu cho
bệnh nhân lao phổi điều trị thất bại và tái phát” cũng như tới các bác sĩ và các
cán bộ tại Bệnh viện K74 Trung ương và Bệnh viện Phổi Hà Nội, Bệnh viện Phổi Trung ương đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và bài luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Tháng 5 năm 2019
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Tuberculosis) MGIT/
MGIT BACTEC
Nuôi cấy trên môi trường lỏng (Mycobacteria growth indicator tube)
MTB Vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis)
NTM Vi khuẩn lao không điển hình (Non-tuberculous
Mycobacteria) Xpert MTB/RIF Xét nghiệm ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để nhận
diện vi khuẩn lao kể cả vi khuẩn lao kháng Rifampicin
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 5Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.2.1 Các phương pháp đánh giá kết quả điều trị 10
1.2.2 Một số nghiên cứu về đánh giá kết quả điều trị lao 11 1.2.2.1 Nghiên cứu sự thay đổi lâm sàng trong điều trị 11 1.2.2.2 Nghiên cứu sự thay đổi trên vi sinh 12
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.2.2 Quy trình, phương pháp nghiên cứu 18
3.1 ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ THÔNG QUA BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
CỦA BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ TÁI TRỊ
22
3.1.1 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu 22
3.1.2.1 Mức độ tăng cân trong quá trình điều trị 23 3.1.2.2 Tỷ lệ tăng cân trong điều trị 24 3.1.3 So sánh sự thay đổi về các triệu chứng lâm sàng của bệnh
nhân lao phổi mới và tái trị
3.2 ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ TÁI
TRỊ THÔNG QUA SỰ THAY ĐỔI TRÊN XÉT NGHIỆM VI SINH
28
3.2.1 Sự thay đổi kết quả xét nghiệm AFB bằng nhuộm soi trực tiếp 30 3.2.2 Sự thay đổi trên nuôi cấy MGIT BACTEC 32 3.2.2.1 Kết quả nuôi cấy MGIT BACTEC của từng nhóm lao 32
Trang 7Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.2.2.2 So sánh kết quả nuôi cấy giữa hai nhóm lao 33
4.1.1 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu 37
4.1.3 Sự thay đổi của các triệu chứng lâm sàng 39 4.2 SỰ THAY ĐỔI TRÊN XÉT NGHIỆM VI SINH 40 4.2.1 Sự thay đổi trên xét nghiệm vi khuẩn lao bằng nhuộm soi trực
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC HÌNH
Hình 3.1: So sánh tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng của hai nhóm lao tại
các thời điểm
26
Hình 3.3: Tỷ lệ bệnh nhân có MGIT BACTEC dương tính trong 8 tuần
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.2: Mức độ tăng cân sau 8 tuần và kết thúc điều trị so với trước
Bảng 3.5: Sự cải thiện các triệu chứng ở nhóm bệnh nhân lao tái trị 25
Bảng 3.6: Thay đổi số lượng triệu chứng ở từng bệnh nhân sau 8 tuần
đầu và kết thúc điều trị
28
Bảng 3.10: Kết quả điều trị ở hai nhóm bệnh nhân lao mới và lao tái trị 35
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis
gây nên Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi
là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85% số ca bệnh) và là nguồn lây chính cho người xung quanh [3]
Phương pháp điều trị bệnh lao hiện tại là đa hóa trị liệu, thường sử dụng
từ 4 đến 5 loại thuốc và thời gian trị liệu kéo dài [1] Các thuốc chống lao thiết yếu được sử dụng là: Rifampicin, Isoniazid, Ethambutol, Pyrazinamide, Streptomycin Phác đồ điều trị lao thường kéo dài và được chia thành 2 giai đoạn là giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì Giai đoạn tấn công kéo dài trong vòng 2-3 tháng đầu, trong đó sử dụng phối hợp ít nhất là ba loại thuốc Ở những bệnh nhân lao phổi, giai đoạn duy trì kéo dài từ 4-5 tháng tiếp theo và phối hợp
ít nhất hai loại thuốc Việc đánh giá điều trị được tiến hành dựa trên sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng, tăng cân trong quá trình điều trị và kết quả âm hóa đờm trên xét nghiệm nhuộm soi trực tiếp, nuôi cấy [3]
Bệnh nhân lao phổi mới và lao phổi tái trị không đa kháng thuốc đều được sử dụng các thuốc chống lao hàng 1 mặc dù phác đồ điều trị cho bệnh nhân lao tái trị kéo dài hơn Kết quả báo cáo điều trị hàng năm cho thấy tỷ lệ điều trị thành công ở bệnh nhân lao tái trị thấp hơn so với bệnh nhân lao mới [2] Do đặc điểm của quần thể vi khuẩn lao ở người mắc lao mới và lao tái trị
có thể khác nhau, dẫn đến sự đáp ứng trên lâm sàng và cận lâm sàng của hai nhóm bệnh nhân này sẽ có sự khác biệt Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Đánh giá đáp ứng điều trị ở bệnh nhân lao phổi mới và lao phổi tái trị thông
qua các chỉ số lâm sàng và vi sinh” với các mục tiêu sau:
1 So sánh đáp ứng điều trị thông qua biểu hiện lâm sàng của 2 nhóm lao mới và lao tái trị tại thời điểm sau 8 tuần và khi kết thúc quá trình điều trị
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2 So sánh đáp ứng điều trị thông qua kết quả xét nghiệm vi sinh của 2 nhóm lao mới và lao tái trị tại thời điểm sau 8 tuần và sau khi kết thúc quá trình điều trị
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
tễ bệnh lao gây ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế và chỉ số phát triển con người của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á
Hiện nay, dữ liệu về kết quả điều trị mới nhất (năm 2017) cho thấy tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu là 83%, tương đương với những năm gần đây [44] Cũng theo WHO, mới năm có khoảng 1% dân số thế giới nhiễm lao mới Bên cạnh đó, tỷ lệ kháng thuốc ngày càng có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Sự kháng thuốc đã khiến cho việc kiểm soát và thanh toán bệnh lao gặp nhiều khó khăn
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Mặc dù có nhiều nỗ lực, Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 16 trong 30 nước có gánh nặng bệnh nhân lao cao trên thế giới và đứng thứ 15 trong 30 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc cao nhất thế giới [2] Ước tính tỉ lệ lao mới mắc ( bao gồm HIV+) là 129/ 100000 dân và có khoảng 14000 người chết mỗi năm vì lao [31]
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Bên cạnh những thành tựu đáng kể của Chương trình phòng chống lao Quốc gia, chúng ta vẫn phải đối mặt với thách thức lớn là số bệnh nhân lao kháng thuốc ngày một gia tăng [2]; đặc biệt là lao phổi đa kháng thuốc, ước tính khoảng 5500 - 6600 bệnh nhân (4,1% bệnh nhân lao mới và 26% bệnh nhân lao
đã điều trị) [31] Ngoài ra, hiệu quả của các thuốc chống lao hàng 1 cũng như tác dụng phụ của thuốc lao cũng là những vấn đề nổi cộm
Hình 1.1 Hình ảnh vi khuẩn lao trên kính hiển vi điện tử
Vi khuẩn lao thuộc họ Mycobacteria; trong đó Mycobacterium
tuberculosis là chủng vi khuẩn chủ yếu gây bệnh lao ở người trên toàn thế giới,
các loài khác gây bệnh trên những vật chủ khác nhau [5] BK là một trực khuẩn hiếu khí, không chuyển hóa trong điều kiện kỵ khí; chúng có thể tồn tại được trong tự nhiên 3-4 tháng [9] Đây là một trực khuẩn kháng cồn- kháng acid có màu đỏ trên nền xanh ở tiêu bản nhuộm bằng phương pháp Ziehl-Neelsen [3, 29]
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.1.2.2 Phân loại bệnh lao
• Phân loại theo giải phẫu:
- Lao phổi: bệnh lao tổn thương ở phổi – phế quản, bao gồm cả lao kê Trường hợp tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi
- Lao ngoài phổi: bệnh lao tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi như: màng phổi, hạch, màng bụng, sinh dục tiết niệu, da, xương, khớp, màng não, màng tim, Nếu lao nhiều bộ phận, thì bộ phận có biểu hiện tổn thương nặng nhất (lao màng não, xương, khớp, ) được ghi là chẩn đoán chính [3]
• Phân loại theo kết quả nhuộm soi trực tiếp:
- Lao phổi AFB (+) và lao phổi AFB (-) [11]
• Phân loại theo tiền sử điều trị lao:
- Lao mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng
- Bệnh nhân điều trị lại: là người bệnh đã dùng thuốc chống lao từ 1 tháng trở lên Bệnh nhân điều trị lại bao gồm: Tái phát, thất bại, điều trị lại sau bỏ trị, điều trị lại khác Các nhóm bệnh nhân này được xác định dựa vào kết quả của lần điều trị lao gần nhất
- Bệnh nhân không rõ về tiền sử điều trị: là các bệnh nhân không rõ tiền sử điều trị, không thể xếp vào một trong các loại trên [3], [10]
• Phân loại theo tình trạng kháng thuốc:
Dựa theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới và các phân loại này không loại trừ lẫn nhau:
- Kháng đơn thuốc
- Kháng nhiều thuốc
- Lao kháng Rifampicin
- Đa kháng thuốc (MDR-TB)
Trang 15Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Đối với các thể lao khác ngoài phổi, có thể thấy xuất hiện các triệu chứng khác như: hạch sưng to, dính vào nhau và nhuyễn hóa trong lao hạch; biến dạng cột sống trong lao cột sống; xưng đau và biến dạng khớp trong lao xương khớp; khàn tiếng trong lao thanh quản; buồn nôn, nôn trong lao màng não; đau bụng, rối loạn tiêu hóa trong lao hệ thống tiêu hóa; tràn dịch màng phổi trong lao màng phổi [3]
b Cận lâm sàng
• Chẩn đoán hình ảnh
Chụp X-quang là phương pháp không thể thiếu trong chẩn đoán lao phổi, giúp phát hiện những tổn thương của phổi Các dạng tổn thương thường gặp là: tổn thương hình nốt, đám thâm nhiễm, hang lao, dải xơ mờ, u lao, nốt vôi hóa Ngoài ra còn có thể thấy xuất hiện tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi [11]
• Tìm vi khuẩn lao:
o Nhuộm soi trực tiếp:
Trang 16Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Đây là kỹ thuật đơn giản và cho kết quả nhanh cho phép phát hiện trực khuẩn kháng cồn kháng acid thuộc họ Mycobacteria Chương trình chống lao quốc gia quy định lấy ba mẫu đờm để xét nghiệm vào các thời điểm: khi bệnh nhân đến khám, sáng hôm sau khi bệnh nhân mới ngủ dậy và lấy ngay tại chỗ khi bệnh nhân mang mẫu thứ hai đến Xét nghiệm được coi là dương tính khi có
ít nhất một trong ba mẫu đờm cho kết quả dương tính Hai phương pháp này cho kết quả nhanh, chi phí thấp, độ đặc hiệu cao tuy nhiên chúng có độ nhạy thấp [3, 29, 11]
Kỹ thuật nhuộm soi trực tiếp hiện tại có hai phương pháp nhuộm soi trực tiếp là nhuộm ZN và nhuộm huỳnh quang Nguyên lý hoạt động của hai phương pháp này là dựa vào đặc điểm cấu trúc của lớp vỏ và tính kháng cồn kháng acid của lao dẫn đến sự bắt màu đặc trưng sau nhuộm; sau đó sử dụng kính hiển vi huỳnh quang hoặc quang học để tìm vi khuẩn lao
Hình 1.2: Hình ảnh nhuộm ZN và nhuộm huỳnh quang
Trong hai phương pháp này, nhuộm huỳnh quang tỏ ra là tốt hơn vì kính hiển vi huỳnh quang có ưu điểm soi nhanh hơn kính hiển vi quang học và phương pháp này cũng có độ nhạy cao hơn ở những mẫu bệnh phẩm ít vi
khuẩn vì số vi trường được quan sát nhiều hơn [3, 30]
o Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao:
Kỹ thuật nuôi cấy cho phép xác định chắc chắn là vi khuẩn lao M tuberculosis, xác định được các chủng Mycobacteria ngoài ra còn cho phép
Trang 17Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
phân lập và định danh vi khuẩn lao, làm kháng sinh đồ, đồng thời phản ánh được vi khuẩn lao trong bệnh phẩm còn sống hay đã chết Phương pháp này có
độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với phương pháp nhuộm soi trực tiếp, tuy nhiên thời gian chờ kết quả nuôi cấy kéo dài Các phương pháp nuôi cấy ngày càng được hoàn thiện với độ chính xác cao và cho kết quả nhanh hơn như kĩ thuật MGIT BACTEC
MGIT BACTEC là kỹ thuật nuôi cấy trên môi trường lỏng, tất cả các loại bệnh phẩm từ phổi và ngoài phổi (trừ máu và nước tiểu) được đưa vào một môi trường đặc biệt thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn Khi vi khuẩn phát triển oxy trong môi trường sẽ bị tiêu thụ, nồng độ oxy giảm, chất màu huỳnh quang thoát ức chế sẽ phát quang trong tube MGIT, có thể quan sát bằng tia
UV Cường độ phát quang tương ứng với mức độ tiêu thụ oxy, tương ứng nồng
độ vi khuẩn phát triển trong tube môi trường Máy tự động giám sát sự phát quang 60 phút một lần Vi khuẩn mọc càng nhiều càng tăng độ phát quang [8]
• Các kỹ thuật đánh giá tính kháng thuốc của vi khuẩn lao:
Kháng sinh đồ được làm trên những vi khuẩn phân lập được bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường đặc hoặc môi trường lỏng (MGIT) Tuy nhiên thời gian cho kết quả thường lâu, gây khó khăn trong việc điều trị Ngày nay, kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) cũng được áp dụng để nâng cao hiệu quả chẩn đoán bệnh lao phổi Hiện nay kỹ thuật X-pert gen là kỹ thuật có thể xác định được vi khuẩn lao chỉ sau 2 giờ và còn cho biết vi khuẩn có kháng Rifampicin hay không [8], tuy nhiên do là kỹ thuật sinh học phân tử nên phương pháp này không cho chúng ta biết vi khuẩn lao còn sống hay không
• Phương pháp miễn dịch:
Đây là phương pháp phát hiện kháng nguyên hoặc kháng thể của vi khuẩn lao Hai phản ứng thường được tiến hành là Mantoux và xét nghiệm QuantiFERON-TB Tuy nhiên do giá thành cao, thời gian thực hiện cũng như
độ chính xác của những phương pháp xét nghiệm kháng nguyên kháng thể của
vi khuẩn lao chưa được khẳng định chắc chắn Do đó các kỹ thuật phát hiện
Trang 18Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
kháng nguyên, kháng thể không được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh lao [3], [11]
1.1.2.4 Chẩn đoán bệnh lao
• Khi nhuộm soi trực tiếp tìm thấy AFB trong đờm:
Chẩn đoán xác định trong các trường hợp sau:
- Có tối thiểu 2 tiêu bản AFB (+) từ 2 mẫu đờm khác nhau
- Có một tiêu bản AFB (+) và có hính ảnh tổn thương nghi lao trên Xquang phổi
- Một tiêu bản đờm AFB (+) và nuôi cấy có vi khuẩn lao
• Khi soi kính trực tiếp không có AFB trong đờm:
- Cần làm thêm nuôi cấy hoặc các kỹ thuật chẩn đoán khi có ít vi khuẩn lao trong bệnh phẩm (PCR, MGIT-BACTEC, Gen Xpert)
- Dựa vào lâm sàng, đặc điểm của tổn thương trên X-quang phổi, các xét nghiệm và không đáp ứng với điều trị kháng sinh, đáp ứng với điều trị thuốc lao
để chẩn đoán cho từng trường hợp
1.1.2.5 Điều trị bệnh lao
Việc điều trị bệnh lao bắt buộc phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau:
• Phối hợp các thuốc chống lao
• Phải dùng thuốc đúng liều
• Phải dùng thuốc đều đặn
• Phải dùng thuốc đủ thời gian và theo hai giai đoạn tấn công và duy trì [3]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo phác đồ 6 tháng bao gồm 2HRZE/4HR đối với bệnh lao nhạy cảm với thuốc hoạt động, với rifampicin, isoniazid, pyrazinamide và ethambutol trong 2 tháng đầu (giai đoạn điều trị tích cực), sau đó là isoniazid và rifampicin cho 4-5 tháng sau đó (giai đoạn tiếp tục) [33] Tuy nhiên, ở các quốc gia có tỷ lệ kháng INH cao như nước ta cần dùng phác đồ 2HRZE/4HRE vì EMB sẽ bảo vệ RMP trong các trường hợp có kháng INH [10]
Trang 19Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Đối với bệnh nhân lao tái trị, phác đồ điều trị của bệnh nhân sẽ được thay đổi thành 8 tháng 2SHRZE/RHZE/5HRE Trong đó giai đoạn tấn công sẽ kéo dài 3 tháng bao gồm 2 tháng đầu sử dụng 5 thuốc (thêm Streptomycin so với nhóm lao mới), một tháng tiếp theo sẽ sử dụng 4 thuốc; giai đoạn duy trì kéo dài 5 tháng với 3 thuốc như phác đồ lao điều trị lao mới [10] Hiệu quả và tiến triển điều trị thường được theo dõi bằng nhuộm soi trực tiếp, nuôi cấy và chụp X-quang ngực
1.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
1.2.1 Các phương pháp đánh giá kết quả điều trị
1.2.1.1 Lâm sàng
Lao phổi được coi là thuyên giảm khi các triệu chứng toàn thân: sốt, gầy yếu, sút cân, mệt mỏi, chán ăn v.v giảm bớt, người bệnh lên cân, ăn uống ngon miệng, hết sốt v.v Ngoài ra các triệu chứng về hô hấp: đau ngực, khó thở, ho kéo dài, khạc đờm, ho ra máu giảm hoặc mất đi Vì vậy, sự cải thiện của các triệu chứng lâm sàng là một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả của quá trình điều trị [3]
Bên cạnh sự cải thiện của các triệu chứng lâm sàng, tăng cân cũng được coi là đáp ứng với điều trị Tăng >5% trọng lượng cơ thể trong giai đoạn tấn công được coi là một dấu hiệu tốt để tiên lượng kết quả điều trị lao [20]
1.2.1.2 Cận lâm sàng
a, X- quang
Bên cạnh đó, các tổn thương trên X-quang thường diễn biến, thay đổi chậm so với các thay đổi biểu hiện trên lâm sàng và qua xét nghiệm Khi bệnh nhân có đáp ứng điều trị tốt có thể thấy hình ảnh tổn thương phổi giảm đi Tuy nhiên ít khi thấy được sự thay đổi hình ảnh X-quang trước hai tuần, thường để
có được sự thay đổi trên phim X-quang phải trải qua hàng tháng, ít nhất là một tháng, do đó chỉ có giá trị tham khảo hoặc để so sánh sau này Trong một số
Trang 20Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
trường hợp, các tổn thương trên phim vẫn tồn tại hoặc có chiều hướng tăng lên, lan rộng ngay cả khi bệnh nhân đang được điều trị [3]
+ Phác đồ 6 tháng: xét nghiệm đờm vào cuối tháng thứ 2, 5 và 6
+ Phác đồ 8 tháng: xét nghiệm đờm vào cuối tháng thứ 3, 5, 7 (hoặc 8) [3]
Tùy thuộc vào kết quả của xét nghiệm đờm tại các thời điểm mà bác sĩ lâm sàng
có những điều chỉnh trong quá trình điều trị
Bên cạnh đó, chúng ta có thể tiến hành các kỹ thuật nuôi cấy bệnh phẩm trên môi trường rắn hoặc lỏng để tìm vi khuẩn lao, phương pháp này giúp ta chẩn đoán chính xác hơn, tuy nhiên thời gian cho kết quả lâu hơn Trong trường hợp tiến hành nuôi cấy MGIT BACTEC, cần ít nhất 40 ngày để khẳng định mẫu bệnh phẩm âm tính [33],[31],[30] Thêm vào đó, giá thành chi phí cho quá trình nuôi cấy cũng cao hơn nhiều lần so với phương pháp nhuộm soi trực tiếp, vì vậy việc tiến hành nuôi cấy bệnh phẩm để theo dõi điều trị chưa thật sự phổ biến ở Việt Nam
1.2.2 Một số nghiên cứu về đánh giá kết quả điều trị lao
1.2.2.1 Nghiên cứu sự thay đổi lâm sàng trong điều trị
Bành Đức Lâm và Lê Thị Luyến (2010) đã tiến hành một nghiên cứu tiến cứu so sánh hai thời điểm trước điều trị và sau giai đoạn điều trị tấn công trên
101 bệnh nhân lao phổi (81 bệnh nhân lao mới và 20 bệnh nhân lao tái trị) có kết quả AFB(+) được điều trị tại Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên Sau
8 tuần điều trị, có 92,08% bệnh nhân tăng cân; mức độ tăng cân trung bình
Trang 21Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1,99 ± 0,79 kg và không có sự khác biệt giữa nhóm lao mới và lao tái trị [1] Tác giả Nguyễn Bình Hòa và Lauritsen JM (2013) tiến hành khảo sát trên 2609 bệnh nhân đến từ 30 cơ sở điều trị trên cả nước cho thấy kết quả điều trị thành công đạt 91,6% ( 2506 bệnh nhân) Ở nhóm bệnh nhân lao mới có AFB (+), trung bình trọng lượng cơ thể tăng 2,6 kg sau quá trình điều trị [20]
Trong nghiên cứu của Bành Đức Lâm, các triệu chứng hay gặp nhất trước điều trị là sốt (90,1%) và đau ngực (91,09%) hết hoàn toàn sau giai đoạn điều trị tấn công; triệu chứng giảm ít nhất sau giai đoạn này là ho khan, tỉ lệ bệnh nhân vẫn còn ho khan là 15,84% [1] Trong một nghiên cứu khác của Lê Thị Luyến (2005), các triệu chứng còn sau hai tháng tấn công là sốt, ho khan và ho ra máu với tỉ lệ lần lượt là 5,1%; 28,98% và 4,3% Ngoài ra, nghiên cứu này còn cho thấy có sự khác biệt trong đáp ứng lâm sàng giữa hai nhóm lao mới và lao tái trị [6]
Theo Feleke BE và cộng sự (2018), thời gian đạt được đáp ứng trên lâm sàng của bệnh nhân lao trung bình là 21 ngày Tỉ lệ đáp ứng trên lâm sàng của bệnh nhân lao phổi là 25% sau 2 tuần điều trị, 50% vào ngày thứ 21 và đạt 75% vào ngày thứ 31 Nghiên cứu này được tiến hành trên 1608 bệnh nhân lao với tỉ
lệ đáp ứng là 99,5% Đáp ứng trên lâm sàng của bệnh nhân lao chịu ảnh hưởng của các yếu tố như tuổi, giới, tiền sử bệnh lao, sự tăng cân trong quá trình điều trị [18] Ngoài ra, sự đáp ứng trên lâm sàng còn dựa vào các bệnh mắc kèm như
kí sinh trùng đường ruột, nồng độ huyết sắc tố và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân [16, 20]
1.2.2.2 Nghiên cứu sự thay đổi trên vi sinh
Thay đổi về vi sinh là yếu tố quan trọng trong đánh giá đáp ứng điều trị Các thay đổi về vi sinh được khảo sát qua nhuộm soi trực tiếp, nuôi cấy hoặc dùng công nghệ sinh học phân tử [3, 33] Các phương pháp này giúp đánh giá kết quả điều trị cũng như theo dõi tình trạng kháng thuốc trong quá trình điều trị
Trang 22Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Năm 2014, Al-Moamary MS và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu hồi cứu trên 428 trường hợp mắc lao phổi có AFB(+) trong 7 năm (từ 1999 đến 2005) tại Phòng quản lí bệnh lao trung tâm của British Columbia Division of Control Qua việc hồi cứu lại hồ sơ bệnh án của 428 bệnh nhân này, các tác giả
đã đưa ra kết luận: xét nghiệm nhuộm soi trực tiếp cho kết quả đương tính ở
205 bệnh nhân (48%) sau 4 tuần, 30 bệnh nhân (7%) sau 20 tuần và ở 12 bệnh nhân (3%) sau 36 tuần điều trị Trong số những bệnh nhân có kết quả phết tế bào dương tính kéo dài sau 20 tuần, 23 (77%) có kết quả nuôi cấy đờm âm tính
và 7 (23%) có kết quả nuôi cấy đờm dương tính (nghĩa là họ thất bại trong điều trị) Vì vậy, các tác giả đã đưa ra kết luận, các kết AFB dương tính liên tục ở các bệnh nhân đến từ các nước phát triển phần lớn cho kết quả nuôi cấy đờm
âm tính hơn là thất bại trong điều trị [13]
Một nghiên cứu so sánh hai phương pháp nhuộm soi trực tiếp và nuôi cấy tìm vi khuẩn do Fortun J và Martin-Davila P tiến hành năm 2007 Đây là một nghiên cứu hồi cứu, các kết quả của hai phương pháp tìm vi khuẩn được xác định ở tuần 2, 4, 8 và 16 sau khi bắt đầu trị liệu ở những bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu Trong 184 trường hợp được đưa vào nghiên cứu, thời gian trung bình để hai phương pháp nuôi cấy đờm và nhuộm soi trực tiếp cho kết quả
âm tính lần lượt là 4,8 +3,7 tuần và 5,5 +4,6 tuần Gần 40% số bệnh nhân cho kết quả nhuộm soi trực tiếp âm tính và 53% cho kết quả nuôi cấy âm tính tại thời điểm sau 4 tuần điều trị Chỉ có 22% và 53% bệnh nhân có kết quả nuôi cấy âm tính sau 2 và 4 tuần điều trị (Hình 3) Thời gian cách ly trung bình tại bệnh viện là 3,28 +2,2 tuần hoặc ít hơn một tuần so với thời gian trung bình cần thiết để đạt được chuyển đổi nuôi cấy đờm [19]
Trang 23Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Hình 1.3: Kết quả nuôi cấy và nhuộm soi trực tiếp (AFB) [19]
Nhằm đạt được những kết quả tốt hơn trong chẩn đoán và điều trị lao, Wilber Sabiiti và cộng sự (2019) đã tiến hành một nghiên cứu nhằm so sánh kết quả của hai phương pháp MLBA và MGIT sau 2,4,6,8 và 12 tuần, từ đó đưa ra những khuyến cáo trong công tác chẩn đoán và điều trị lao Đây là một nghiên cứu tiến cứu, trong số 213 bệnh nhân chưa từng được điều trị lao đăng kí tham gia, có 178 (83,6%) bệnh nhân hoàn thành việc theo dõi và được đưa vào phân tích Sau 12 tuần điều trị, mẫu đờm được lấy hàng tuần và phân tích bằng hai phương pháp MBLA và MGIT Kết quả của các mẫu đối chứng cao và thấp đã xác nhận độ tái lập giữa các vị trí Trong 12 tuần điều trị đã có sự suy giảm đều đặn tải lượng vi khuẩn được đo bằng MBLA tương ứng với kết quả dương tính (TTP) trong MGIT Cả MBLA và MGIT đều cho kết quả âm tính ở thời gian tương tự nhau Tuy nhiên, cùng với sự kéo dài của thời gian điều trị, các mẫu đờm càng tăng nguy cơ bị ô nhiễm, điều này làm ảnh hưởng đến kết quả của MGIT nhưng không ảnh hưởng đến kết quả của MBLA Các tác giả đã đưa ra kết luận MBLA tạo ra một phép đo có thể lặp lại về số lượng vi khuẩn lao và kết quả này tương đương với kết quả của MGIT khi mẫu bệnh phẩm không bị ô nhiễm bởi môi trường Mặt khác, MLBA có bản chất là một xét nghiệm sinh học phân tử, vì vậy kết quả có thể sẵn sàng trong vòng 4 giờ, điều này cho phép
Trang 24Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
xác định sớm các bệnh nhân đang thất bại điều trị Từ các kết quả trên, các tác giả khuyến cáo nên dùng MLBA để thay thế cho các phương pháp xét nghiệm tìm vi khuẩn lao đang được sử dụng hiện nay [38]
Do điều kiện kinh tế cũng như cơ sở vật chất, ở nước ta hiện đang dùng
kĩ thuật nhuộm soi trực tiếp để theo dõi quá trình điều trị bên cạnh những thay đổi trên lâm sàng Nhằm nâng cao sự chính xác trong quá trình theo dõi và chẩn đoán sự kháng thuốc cũng như thất bại trong điều trị, nghiên cứu này của chúng tôi tiến hành song song hai kĩ thuật nhuộm soi trực tiếp và nuôi cấy MGIT BACTEC
1.2.2.3 Kết quả điều trị lao phổi
Năm 2010 tác giả Trần N.Bửu và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 1106 bệnh nhân (1010 bệnh nhân lao mới và 96 bệnh nhân lao tái trị), tỷ lệ điều trị thất bại là 33 (2,98%) bệnh nhân trên cơ sở nuôi cấy, 29 (2,62%) bệnh nhân trên cơ sở nhuộm soi trực tiếp và ở 39 (3,53%) dựa trên một trong hai cơ
sở [41] Theo tác giả Nguyễn Thị Hương (2007), tỷ lệ bệnh nhân tử vong trong quá trình điều trị là 4,4% (82 trong số 1881 bệnh nhân) [47] Tỷ lệ lao phổi AFB (+) điều trị thành công trong nghiên cứu của tác giả Wen Y và các cộng sự (2018) là 95,02% Kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng dinh dưỡng, mức độ tăng cân trong điều trị, thói quen sinh hoạt của bệnh nhân (nghiện rượu, hút thuốc…), các bệnh mắc kèm …
Trang 25Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên 136 bệnh nhân lao phổi bao gồm 78 bệnh nhân lao mới và 58 bệnh nhân lao tái trị đang điều trị tại Bệnh viện K74 Trung ương, Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Phổi Hà Nội đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Chẩn đoán lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học
- Xét nghiệm AFB (+) hoặc MGIT BACTEC dương tính
- Xác định không đa kháng thuốc bằng xét nghiệm GenXpert MTB+/RIF-
- Bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên
- Có kết quả xét nghiệm vi khuẩn lao trước điều trị và sau điều trị tấn công, khi kết thúc điều trị
- Chấp thuận tình nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: phụ nữ có thai và cho con bú; những bệnh nhân nuôi
cấy nhưng không mọc vi khuẩn; suy gan, suy thận nặng, thiếu máu nặng (Hb< 6g/dL), bệnh nhân ngừng điều trị do tác dụng không mong muốn, không tuân thủ điều trị, kết quả DST cho thấy kháng RMP và INH
Nghiên cứu này nằm trong nghiên cứu “Phân tích dược động học - dược
lực học để lựa chọn liều điều trị tối ưu cho bệnh nhân lao phổi điều trị thất bại
và tái phát” nên số lượng bệnh nhân của nghiên cứu phụ thuộc vào cỡ mẫu của
nghiên cứu lớn
Trang 26Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Quy trình, phương pháp nghiên cứu
Tuyển chọn bệnh nhân lao vào nghiên cứu, lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu, theo dõi diễn biến điều trị và ghi nhận các dữ liệu lâm sàng, lấy mẫu tiến hành xét nghiêm vi sinh và đánh giá đáp ứng điều trị
1 Tuyển chọn đối tượng nghiên cứu
Địa điểm tuyển chọn đối tượng nghiên cứu bao gồm:
▪ BV Phổi Trung ương
▪ BV Phổi Hà Nội
▪ BV Lao K74
Thời gian tuyển chọn bệnh nhân: tháng 3 năm 2017 tới tháng 4 năm 2018
2 Lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu
3 Lấy mẫu đờm tiến hành nhuộm soi trực tiếp và nuôi cấy tìm vi khuẩn lao
➢ Lấy mẫu đờm trước, trong và sau điều trị
➢ Thu thập mẫu đờm từ bệnh nhân nghiên cứu:
Cách lấy mẫu đờm tuân theo Hướng dẫn của CTCLQG đảm bảo lấy được mẫu đờm đùng tiêu chuẩn
Các thời điểm lấy mẫu và số mẫu đờm
- Trước điều trị
- Trong 8 tuần đầu (2 tuần/mẫu/bệnh nhân) và tiến hành nuôi cấy tìm vi khuẩn lao bằng kỹ thuật MGIT BACTEC
- Kết thúc giai đoạn tấn công
- Kết thúc điều trị : bệnh nhân lao mới (sau 6 tháng) và bệnh nhân lao tái trị (sau
8 tháng)
4 Thu thập dữ liệu trước, trong và sau điều trị:
Theo dõi đánh giá diễn biến lâm sàng: Ghi nhận các dữ liệu lâm sàng trước, trong và sau điều trị: triệu chứng lâm sàng, cân nặng, phác đồ và liều điều
Trang 27Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
trị, kết quả xét nghiệm vi sinh (soi trực tiếp, kết quả nuôi cấy MGIT BACTEC), chụp Xquang phổi, kết quả theo dõi chức năng gan, thận trong và sau điều trị
2.2.2 Chỉ tiêu nghiên cứu
Bệnh nhân được làm xét nghiệm khi nhập viện và trong quá trình điều trị, sau khi kết thúc điều trị Sau 8 tuần (hoàn thành đợt điều trị tấn công) và sau khi kết thúc điều trị (6 tháng đối với lao mới và 8 tháng đối với lao tái trị), chúng tôi thu thập các dữ liệu của bệnh nhân theo mẫu câu hỏi nghiên cứu và kết quả xét nghiệm vi sinh bao gồm các thông tin sau:
Mix MTB & NTM hoặc âm tính)
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Thu thập các thông tin, triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân từ phiếu lâm sàng
do các bác sĩ trực tiếp điều trị cho bệnh nhân tiến hành ghi nhận
- Ghi nhận các dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng, vi sinh từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân vào phiếu theo dõi
Trang 28Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
- Lập kế hoạch theo dõi và tái khám cụ thể cho từng bệnh nhân, giám sát tuân thủ điều trị
- Trong trường hợp bệnh nhân không tuân thủ kế hoạch tái khám, cần có sự tác động từ phía các bác sĩ lâm sàng cũng như các giám sát nghiên cứu
+ Thống kê mô tả: số lượng; tỷ lệ phần trăm; mode; mean; độ lệch chuẩn…
+ Thống kê suy luận đều được thực hiện, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận
2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, phân tích và so sánh các triệu chứng lâm sàng
và kết quả xét nghiệm vi sinh trước điều trị, sau giai đoạn điều trị tấn công và kết thúc điều trị giữa hai nhóm bệnh nhân lao mưới và lao tái trị Quá trình nghiên cứu được mô tả trong sơ đồ (Hình 2.1):
Trang 29Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
• MGIT - nuôi cấy vi khuẩn lao bằng kỹ thuật MGIT-BACTEC
• AFB - Xét nghiệm tìm AFB bằng nhuộm soi trực tiếp
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
2.4 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được triển khai sau khi được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội chấp thuận Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học nêu trên có mã số IRB-VN01016 do Bộ Y
tế cấp và IRB0001047 School of Medicine and Pharmacy VNU do HHS-OHRP Hoa Kỳ cấp mã số hoạt động
Bệnh nhân tuyển chọn vào nghiên cứu đều được thực hiện đầy đủ quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu và ký vào Bản chấp thuận tham gia nghiên cứu
Đápứng điều trị
LS: Triệu chứng, cân nặng
Vi sinh:MGIT (2 tuần một lần), AFB
LS: Triệu chứng, cân nặng
Vi sinh: AFB, MGIT
Trang 30Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp thuận tham gia của đối tượng nghiên cứu bằng văn bản
Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Nguyên tắc đạo đức của Helsinki và ICH được áp dụng
Trang 31Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Chương 3
KẾT QUẢ
3.1 ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ THÔNG QUA BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI VÀ TÁI TRỊ
3.1.1 Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
78 (57,35%) bệnh nhân lao mới và 58 (42,65%) bệnh nhân lao tái trị Các bệnh nhân này bao gồm cả hai giới nam và nữ với tỉ lệ nam /nữ ≈ 3:1 Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 47 tuổi, trong đó cao nhất là
94 tuổi và thấp nhất là 18 tuổi Tất cả các bệnh nhân đều có ít nhất một bằng chứng về vi khuẩn lao trong chẩn đoán
3.1.2 Sự thay đổi về cân nặng
Cân nặng là một trong những dấu hiệu lâm sàng được theo dõi để đánh giá đáp ứng điều trị Trong số 136 bệnh nhân được tuyển chọn vào nghiên cứu
Trang 32Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
có 15 bệnh nhân lao mới và 30 bệnh nhân lao tái trị không có đủ dữ kiện cân nặng tại 3 thời điểm
3.1.2.1 Mức độ tăng cân trong quá trình điều trị
Sau 8 tuần điều trị và sau khi kết thúc điều trị, cân nặng trung bình của
hai nhóm bệnh nhân được thể hiện ở Bảng 3.2
Bảng 3.2: Mức độ tăng cân sau 8 tuần và kết thúc điều trị so với trước điều trị
Thể lao
95% CI p-value
Lao mới (n=78)
Lao tái trị (n= 58) Cân nặng trung
bình
(TB± SD, kg)
Trước điều trị 50 ± 7,5 49,9 ± 8,3 -2,58 ÷ 2,82 0,331 Sau 8 tuần 51,9 ± 7,6 50,5 ± 7,5 -1,4 ÷ 4,06 0,712
Kết thúc 53,7 ± 8 53,8 ± 9,1 -3,77 ÷ 3,63 0,401 Mức độ tăng cân
(TB ± SD)
Sau 8 tuần 1,8 ± 2 1,2 ± 3 >0,05 Kết thúc 3,3 ± 3,2 3,1 ± 3,6 >0,05
Sau 8 tuần điều trị, cân nặng trung bình của nhóm lao mới cao hơn nhóm lao tái trị, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tại thời điểm kết thúc điều trị, không có sự khác biệt rõ rệt về cân nặng trung bình giữa hai nhóm (53,7 kg ở nhóm lao mới và 53,8 kg ở nhóm lao tái trị)
Cân nặng tăng nhiều hơn ở nhóm lao mới trong 2 tháng đầu điều trị, cân nặng trung bình ở hai nhóm tăng so với trước điều trị là 1,8 kg và 1,2 kg lần lượt ở hai nhóm lao mới và lao tái trị Sự tăng cân ở cả hai nhóm đều có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Sau khi kết thúc điều trị, sự khác biệt của cân nặng giữa hai nhóm không còn rõ rệt, nhóm lao mới tăng 3,3 ± 3,2 kg và nhóm lao tái trị tăng 3,1 ± 3,6 kg; không có sự khác biệt trong sự tăng cân của hai nhóm (p>0,05)
Trang 33Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3.1.2.2 Tỷ lệ tăng cân trong điều trị
Tỷ lệ số bệnh nhân tăng có cân nặng thay đổi trong quá trình điều trị như
Bảng 3.3
Bảng 3.3: Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi cân nặng sau 8 tuần và sau kết thúc điều trị
Sự thay đổi cân nặng Sau 8 tuần Lao mới Lao tái trị
P-value
p*>0,05: so sánh tỷ lệ tăng cân giữa hai nhóm sau 8 tuần p**>0,05: so sánh tỷ lệ tăng cân giữa hai nhóm sau kết thúc điều trị
Tỉ lệ tăng cân của nhóm lao mới cao hơn nhóm lao tái trị tại cả hai thời điểm sau 8 tuần điều trị và kết thúc điều trị (76% và 84,38% của nhóm lao mới
so với 67,92% và 79,31% của nhóm lao tái trị), nhưng sự khác biệt tại cả hai thời điểm này đều không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Bên cạnh đó, nhóm lao tái trị có tỉ lệ bệnh nhân giảm cân tại hai thời điểm cao hơn nhóm lao mới, sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa Trong số 57 và 36 bệnh nhân tăng cân của 2 nhóm lao mới và lao tái trị có 22 (29,33%) và 14 (26,41%) bệnh nhân tăng cân >5% trọng lượng cơ thể trước điều trị
3.1.3 So sánh sự thay đổi về các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân lao phổi mới và tái trị
3.1.3.1 Sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng
Trang 34Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
a Sự cải thiện triệu chứng lâm sàng trong quá trình điều trị ở nhóm bệnh nhân lao mới
Sau 8 tuần và khi kết thúc điều trị, tỷ lệ triệu chứng của nhóm lao mới được thể hiện trong bảng 3.4
Bảng 3.4: Sự cải thiện các triệu chứng ở nhóm bệnh nhân lao mới
Trước điều trị, ho đờm và ho kéo dài là hai triệu chứng xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhân lao mới với tỉ lệ lần lượt là 97,44% và 94,87%; ho ra máu gặp ít nhất với tỉ lệ 16,67% Sau 8 tuần, mệt mỏi là triệu chứng giảm nhiều nhất
Triệu chứng Trước điều trị
n (%)
Sau 8 tuần
n (%)
Kết thúc điều trị
n (%) Gầy sút cân 62 (79,49) 3 (3,85) 0 (0,00)
Trang 35Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
(giảm 83,33%) Khi kết thúc điều trị, ho kéo dài vẫn còn ở 4,23% bệnh nhân, và
Bảng 3.5: Sự cải thiện các triệu chứng ở nhóm bệnh nhân lao tái trị
Triệu chứng Trước điều trị
n (%)
Sau 8 tuần
n (%)
Kết thúc điều trị n (%) Gầy sút cân 41(70,69) 5 (9,26) 0 (0,00)
Ở nhóm lao tái trị, nhóm triệu chứng ho kéo dài, ho đờm là những triệu chứng tường gặp nhất với tỷ lệ lần lượt là 82,76% và 87,93% Sau 8 tuần điều trị, các triệu chứng giảm nhiều, không còn bệnh nhân nào sốt, khó thở và có ran; triệu chứng giảm nhiều nhất là ra mồ hôi đêm (giảm 67,12%) Kết thúc
Trang 36Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
điều trị, vẫn còn 2 (6,9%) bệnh nhân đau ngực và 2 (6,9%) bệnh nhân ho kéo dài, các triệu chứng mệt mỏi và ho đờm vẫn còn ở 1 bệnh nhân
c So sánh triệu chứng của hai nhóm lao mới và tái trị tại các thời điểm
Trang 37Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU