TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NONNGUYỄN THỊ HẢI YẾN PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TẠI TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI THỊNH- MÊ LINH-
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
MỘT SỐ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TẠI TRƯỜNG MẦM NON
ĐẠI THỊNH- MÊ LINH- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
MỘT SỐ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TẠI TRƯỜNG MẦM NON
ĐẠI THỊNH- MÊ LINH- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn:
T S Lê Thị Thùy Vinh
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình họctập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo – T.S Lê ThịThùy Vinh – người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập nghiêncứu và hoàn thành khóa luận này
Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường Mầm nonĐại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội, cùng các bạn sinh viên trong khoa Giáo dụcMầm non lời cảm ơn chân thành nhất
Hà nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những sốliệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài này chưa đượccông bố trong bất cứ một công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Đặc điểm trẻ lứa tuổi mầm non 7
1.1.2 Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ 13
1.1.3 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 16
1.1.4 Trò chơi và một số phương pháp giáo dục trong trường mầm non 22
1.1.5 Trò chơi dân gian 27
1.1.6 Trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 31
1.2 Thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội 42
1.2.1 Vài nét về trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội 42
1.2.2 Thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua các trò chơi dân gian tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội 43
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 46
2.1 Hình thành góc “Trò chơi dân gian” trong và ngoài lớp học 46
2.2 Tổ chức cuộc thi “Bé tìm hiểu về trò chơi dân gian” trong trường mầm non 47
2.3 Phát động phong trào sáng tác đồng dao cho trò chơi dân gian 48
2.4 Phối hợp giữa trường mầm non và gia đình trẻ 50
2.5 Cách thức tổ chức một số trò chơi dân gian cho trẻ mầm non 51
2.5.1 Trò chơi “Mèo đuổi chuột” 51
2.5.2 Trò chơi “Bỏ lá” (bỏ giẻ) 53
2.5.3 Trò chơi “Rồng rắn lên mây” 56
2.6 Một số lời đồng dao được sử dụng trong trò chơi dân gian 60
2.6.1 Rán mỡ 60
2.6.2 Tùm nụm tùm nịu 61
Trang 62.6.3 Tập tầm vông 61
2.6.4 Thả đỉa ba ba 62
2.6.5 Hỏi tuổi 62
2.6.6 Bỏ lá 63
2.6.7 Quay cun cút 63
2.6.8 Nu na nu nống 63
2.6.9 Rồng rắn lên mây 64
2.6.10 Mèo đuổi chuột 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Giáo dục mầm non là bậc học khởi đầu, đặt nền tảng cho các bậc họcsau này Bậc học này cũng là nền móng cho việc hình thành nhân cách củacon người Đối với trẻ em, người nắm giữ tương lai vận mệnh của đất nước,việc phát triển ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng Phát triển ngôn ngữcho trẻ thực chất là phát triển hoạt động lời nói Phát triển ngôn ngữ cho trẻ làmột trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non Lứa tuổimầm non là thời kì phát cảm ngôn ngữ, đây là giai đoạn có điều kiện thuận lợinhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và kĩ năng tiền đọc viết ban đầu ở trẻ Pháttriển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triểncủa trẻ Ngôn ngữ là công cụ để tư duy vì thế ngôn ngữ có vai trò hết sứcquan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tưduy ở trẻ Vì nhờ có ngôn ngữ, trẻ có thể nói lên những suy nghĩ, mong muốncủa mình và mở rộng khả năng giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi.1.2 Qua nghiên cứu các nhóm phương pháp, biện pháp nhằm phát triểnngôn ngữ cho trẻ, chúng tôi nhận thấy nhóm phương pháp trò chơi là nhómphương pháp chủ đạo trong các hoạt động học tập tại trường mầm non Tròchơi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của trẻ Khi chơitrẻ sẽ trở thành những chủ thể riêng biệt, trẻ có thể chủ động trong các hoạtđộng của mình Trẻ có thể tự do trò chuyện, giao tiếp với cô giáo và các bạncùng chơi từ đó vốn từ của trẻ sẽ được nâng cao hơn Như thế, trò chơi làphương tiện giáo dục có mối quan hệ rất chặt chẽ ở trường mầm non, nó gópphần thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ Trong các trò chơi của trẻ, tròchơi dân gian đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nhận thứccũng như phát triển ngôn ngữ đối với trẻ Trò chơi dân gian là những trò chơisáng tạo, lưu truyền tự nhiên, từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản
Trang 8sắc văn hóa dân gian nó được kết tinh từ quá trình lao động và sinh hoạt,trong đó nó tích tụ cả trí tuệ và cả niềm vui sống của bao thế hệ người Việtxưa Mỗi một trò chơi đều mang những nét bản sắc văn hóa dân tộc riêng,không cầu kì cao sang mà vô cùng dân dã, bình dị, gần gũi đúng như bản chấtcủa nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay Điểm tiêu biểu của trò chơi dân gian
là hầu hết đều gắn với các bài đồng dao vui nhộn, dễ học, dễ thuộc, gần gũivới thiên nhiên và phù hợp với lứa tuổi mầm non 5-6 tuổi là giai đoạn quantrọng trong sự hình thành nhân cách cũng như sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ.Việc phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn này có thể thực hiện bằng nhiều conđường khác nhau và phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian
là một con đường Thông qua trò chơi dân gian với những bài đồng dao trẻ sẽhứng thú thích hát, thích đọc, nó thể hiện được tính ngây thơ, ngộ nghĩnh củatrẻ và từ đó kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi dân gian tại trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội” để làm đề tài nghiên cứu khóa luận.
Đồng tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt, trong cuốn “ Trò chơi dân
gian trẻ em” NXB Giáo dục 2007 cho rằng văn hóa truyền thống của bất kì
dân tộc nào cũng đều có một bộ phận hợp thành, đó là những trò chơi dângian Trò chơi dân gian thường xuất hiện trong các dịp lễ hội hoặc trong đờisống sinh hoạt cộng đồng bởi nó được nảy sinh và hình thành từ chính cộngđồng đó Theo tác giả, trò chơi dân gian rất gần gũi với trẻ em, trong cuốnsách này tác giả đã sưu tầm được gần 80 trò chơi dân gian trẻ em, được chia
Trang 9ra làm ba phần: trò chơi trí tuệ, trò chơi thẩm mĩ và trò chơi thể lực tất cả đều
có hướng dẫn cách thức tổ chức chơi
Trần Ngọc Thêm trong “ Tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam” NXB
Thành phố Hồ Chí Minh 1997 cũng nói răng nguồn gốc của trò chơi dân gian
là xuất phát từ dời sống người nông dân, từ nhân dân lao động, từ những nhucầu cần thiết về vật chất và tinh thần, từ những ước mơ về cuộc sống tốt đẹphơn của nhân dân Việt nam chúng ta [5,306]
Trịnh Quỳnh Hoa cũng có những nhận định về đặc điểm và tác dụng của
trò chơi dân gian qua bài viết “ Cuộc sống trẻ qua các trò chơi dân gian”
trong báo Văn Hóa số Xuân Bính Tuất 2006 Tác giả cho rằng tông qua cáctrò chơi dân gian đơn giản, dễ chơi, dễ tổ chức đã rèn luyện cho trẻ sự nhanhnhạy, khéo léo, phát triển khả năng phán đoán suy luận, khả năng tính toán,tính kỉ luật
Trò chơi dân gian của trẻ rất phong phú và đa dạng, theo G.S Vũ NgọcKhánh có bốn loại trò chơi dân gian: trò chơi vận động, trò chơi học tập, tròchơi sáng tạo và trò chơi mô phỏng
Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện nay thì sự đa dạng và phong phú của trò chơi dân gian Việt Nam ngày càng bị mai một Điều đó được thể
hiện rất rõ trên trang Chametainang.net tác giả Trần Xuân Toàn với bài viết
Đồng dao và trò chơi trẻ em, những hình thức giáo dục trẻ dần bị lãng quên
Qua bài viết tác giả Trần Xuân Toàn đã nói lên được tầm quan trọng của kho tàng trò chơi trẻ em đó, nó là phương tiện giáo dục đức, trí, thể, mỹ, góp phầnhình thành nhân cách của trẻ
Đứng trên phương diện là một nhà giáo dục, một nhà tâm lí, Nguyễn ÁnhTuyết đã nghiên cứu rất nhiều về trò chơi dân gian dối với sự phát triển của
trẻ mầm non “ Giáo dục mầm non- những vấn đề lí luận và thực tiễn” cuốn
sách được thừa hưởng những quan điểm về hoạt động vui chơi của các nhàtriết học, nhà giáo dục học như: Vugotxki, Leonchiep ; những nhà tâm lí học
Trang 10Macxit: Freud Tác giả đã đưa ra những nhận định của mình về hoạt động vuichơi, trò chơi và trò chơi dân gian đối với sự phát triển của trẻ, đây là mộthoạt động có tác động mạnh mẽ tới trẻ mầm non, góp phần hình thành và giáodục nhân cách trẻ Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu những mặt hạn chếcủa trò chơi dân gian, nó có ảnh hưởng đến sự phát triển và có thể dẫn đến sựphát triển lệch lạc của trẻ sau này[8,218]
Trong cuốn “ Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”, NXB Đại học Sư
phạm 2007, Nguyễn Ánh Tuyết còn đi sâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của tròchơi dân gian với sự phát triển của trẻ mầm non
Ngoài ra còn có rất nhiều những bài viết, những bài nghiên cứu về đồng dao và trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam trên các tạp chí Giáo dục Mầm non,tạp trí Văn học
Qua những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết các côngtrình đều nghiên cứu những đặc điểm, vai trò của trò chơi dân gian trẻ emViệt Nam đối với sự phát triển chung của trẻ em; riêng chỉ Nguyễn ÁnhTuyết, nghiên cứu ảnh hưởng của trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngônngữ của trẻ mầm non
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm tới những ảnh hưởng củatrò chơi dân gian đối với trẻ em; tới sự tồn tại và phát triển của những trò chơidân gian trong cuộc sống trẻ em nói riêng và trong đời sống của nhân dânViệt Nam nói chung Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nào đi sâu vàonghiên cứu ảnh hưởng của trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngôn ngữ trẻmầm non một cách có hệ thống Vì vậy, đề tài của chúng tôi vẫn có mộthướng đi riêng không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm đề xuất một số biện pháp tối
ưu nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một sốtrò chơi dân gian tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáolớn thông qua một số trò chơi dân gian tại trường Mầm non ĐạiThịnh- Mê Linh- Hà Nội
- Trên cơ sở của hai nhiệm vụ trên chúng tôi đưa ra một số đề xuấtnhằm phát triển trò chơi dân gian tại trường mầm non Đại Thịnh-
Mê Linh- Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài nghiên cứu này là biện pháp phát triển gnoon ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh-
Hà Nội thông qua một số trò chơi dân gian
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu tại khối 5 tuổi trường Mầm non ĐạiThịnh- Mê Linh- Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ phápnghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm
- Thủ pháp phân tích, tổng hợp
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu
Trang 126 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungkhóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớnthông qua trò chơi dân gian
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
kỷ XVIII, nhà giáo dục học lỗi lạc J.J Rutxô (1712-1778) đã nhận xét rất tinh
tế về những đặc điểm tâm lí của trẻ nhỏ Theo ông, trẻ em không phải làngười lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu đượctrí tuệ nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ nhỏ vì “trẻ em có những cáchnhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”
Khi vận dụng quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác vào xem xét sựphát triển tâm lí trẻ em, các nhà khoa học khẳng định bản chất của sự pháttriển đó không phải là sự tăng lên hay giảm đi về số lượng mà là một quá trìnhbiến đổi về chất và đưa đến sự hình thành cái mới nhảy vọt Sự phát triển tâm
lí gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm mới về chất – những cấu tạo tâm
lí mới ở những thời kì tuổi nhất định (ví dụ nhu cầu tự lập ở trẻ lên ba, cảmgiác về sự trưởng thành của bản thân ở tuổi thiếu niên…) Xét trong toàn cục,phát triển cũng là một quá trình kế thừa Sự phát triển tâm lí trẻ em là quátrình trẻ em lĩnh hội nền văn hóa của loài người
Ở năm thứ nhất trẻ chủ yếu phát triển về thể chất, tâm lí chưa phát triển
rõ rệt, cụ thể là
Vào khoảng tháng thứ 6 đến tháng thứ 8, trẻ đã biết lạ, khi có người lạlại gần trò chuyện trẻ không mỉm cười ngay mà tỏ ra không muốn giao tiếp.Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển cảm xúc Vào thời điểm
Trang 14này nhu cầu giao tiếp của trẻ phát triển, người lớn là khâu trung gian giữa trẻ
lí, rồi sau đó mới có sự định hướng bằng các quá trình tâm lí
Ở lứa tuổi nhà trẻ hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo, trẻ tò mòmuốn khám phá mọi thứ xunh quanh Trẻ thường đăt ra các câu hỏi “ tại sao”,
“ vì sao”
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có chủ định: trẻ họcsuy nghĩ về đối tượng thật khi tham gia trò chơi nghĩ là trò chơi đã góp phầnvào việc chuyển từ tư duy trực quan- hành động sang tư duy trực quan- hìnhtượng
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, là thời kì bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vẫn là hoạt động chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo Tuy nhiên, bước sang độ tuổi mẫu giáo lớn những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh và dần giữ vai trò chủ đạo Do đó, bước ngoặt 6tuổi là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục phải quan tâm, một măt là
để giúp trẻ hoàn thiện tâm lí trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác tích cực
Trang 15chuẩn bị cho trẻ đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộcsống phổ thông.
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non, nhưng với trẻ tới trường
mầm non không chỉ để học tập mà còn để tiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội.Thời kì bú mẹ (0-12 tháng) cơ thể trẻ phát triển nhanh Trẻ 12 tháng cânnặng gấp 3 lần, chiều cao tăng 1,5 lần lúc đẻ do đó nhu cầu dinh dưỡng cao.Tinh thần vận động phát triển nhanh lúc mới sinh trẻ chỉ có một phản xạ bẩmsinh cuối thời kì này trẻ đã có nhiều phản xạ có điều kiện, trẻ nói được vàhiểu được nhiều điều Lúc này hệ thống cơ xương phát triển mạnh 1 tuổi trẻ
đã đi được
Thời kì răng sữa (12-60 tháng) thời kì này được chia làm 2 giai đoạn
Tuổi nhà trẻ ( 1-3 tuổi) thời kì này cơ thể trẻ vẫn phát triển nhanh tuy nhiênchậm hơn so với độ tuổi bú mẹ
Tuổi mẫu giáo( 3-6 tuổi) đặc biệt từ 5-6 tuổi sự phát triển ở trẻ chậm hơn
so với các giai đoạn trước
Chiều cao trung bình tăng từ 4-6cm, đạt 105,5-125,5cm; cân nặng tăngkhoảng 1-2,5kg, đạt khoảng 15,7kg, trẻ có sự thay đổi rõ rệt về số lượng
Về hệ thần kinh, trẻ 5-6 tuổi cường độ và tính linh hoạt của các quátrình thần kinh tăng lên rõ rệt Trẻ có thể tập trung vào một đối tượng nhấtđịnh trong khoảng 25-30 phút Đông thời, ở lứa tuổi này vai trò của hệ thốngtín hiệu thứ 2 thăng lên Tư duy bằng từ ngày càng tăng, ngôn ngữ bên trongxuất hiện Chức năng khát quát của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở ngườilớn ở chỗ sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ vật, vì thế tưduy bằng hành động vẫn giữ vai trò qua trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ
Do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày của trẻ giảmxuống còn 11 tiếng trên ngày
Trang 16Về hệ vận động, trẻ 5-6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm
cơ như ở người lớn Tuy nhiên việc tiếp thu những thói quen và vận động cònphụ thuộc vào đặc điểm cơ thể trẻ nhất là sự tập luyện phù hợp
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ cũng tăng lên và biến đổi vềchất: huyết sắc tố 80-90%; hồng cầu 4,5-5 triệu dơn vị; bạch cầu 7-10 nghìn;tiểu cầu 200-300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ 80-
110 lần trên phút
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũngphát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển
1.1.1.3 Đặc điểm tư duy nhận thức
Từ kết quả nghiên cứu tâm lí học, trong giáo dục học trẻ em chia ra làm 2 giaiđoạn lớn: giai đoạn từ 0-3 tuổi gọi là lứa tuổi nhà trẻ, giai đoạn từ 3-6 tuổiđược gọi là giai đoạn mẫu giáo Mỗi giai đoạn trên lại được chia thành cácgiai đoạn nhỏ hơn Mỗi giai đoạn đều được đặc trưng bởi các đặc điểm pháttriển nhất định
*Lứa tuổi nhà trẻ (0-3 tuổi)
Trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ được đặc trưng bởi tốc độ phát triển nhanh về thể chất
và tâm lý Sự phát triển thể chất có quan hệ và ảnh hưởng rõ rệt tới sự pháttriển trí tuệ của trẻ Trước khi biết nói trẻ đã biết chỉ tay vào đối tượng để trảlời câu hỏi của người lớn trẻ lứa tuổi nhà trẻ đã lĩnh hội ngôn ngữ gắn liềnvới sự phát triển tư duy Những biểu hiện đầu tiên của tư duy xuất hiện vàocuối năm thứ nhất và đầu năm thứ hai khi trẻ lĩnh hội các hành động thựchành, định hướng vào việc làm rõ mối quan hệ giữa các đối tượng Đây là tưduy trực quan hành động, cũng ở giai đoạn này trẻ đã phát triển những quátrình tâm lí khác như ghi nhớ, chú ý Ở cuối năm thứ ba trẻ đã có thể phânbiệt được âm thanh theo độ cao, cường độ và nhịp điệu, biết gọi tên một sốmàu sắc Nghiên cứu của L.A Venger và các cộng sự cho thấy trẻ 2 đến 3tuổi có thể phân biệt các hình cơ bản và các hình dạng gần gũi Ở độ tuổi này
Trang 17hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật Thông qua đó, trẻ lĩnh hội cách sửdụng các công cụ và phương tiện vật chất Cùng với giao tiếp, hoạt động với
đồ vật làm cơ sở cho sự xuất hiện trò chơi sáng tạo ở tuổi mẫu giáo Ở lứatuổi nhà trẻ trẻ cũng đã tích lũy được những kinh nghiệm xã hội đầu tiên Ởtrẻ hình thành những thói quen hành vi, nhu cầu tiếp xúc cá nhân với ngườilớn ngày cang tăng theo điều đó giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết của mình
*Lứa tuổi mẫu giáo (3 đến 6 tuổi)
- Mẫu giáo bé ( 3 đến 4 tuổi)
Việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bên ngoài được mở rộng hơn, trẻ bắt đầu tìmhiểu thế giới của chính con người và dần dần khám phá ra các mối quan hệ đadạng giữa người với người Trẻ đã nhận biết được vị trí của mình trong giađình và trong trường, lớp mẫu giáo Lứa tuổi mẫu giáo bé cũng là điểm khởiđầu của sự hình thành ý thức bản ngã nên trong ý thức của trẻ còn mang đậmđặc điểm duy kỷ Theo L.X Vugotxki, sau 3 tuổi tư duy của trẻ sẵn sàng đểhiểu biết các mối quan hệ nhân quả và sự phụ thuộc nếu như chúng thể hiện ởhình thức trực quan hình tượng Nếu trẻ được cung cấp kiến thức về các mốiliên hệ đơn giản và sự phụ thuộc thì trẻ không chỉ tiếp thu được mà còn lậpluận, suy luận về chúng
-Mẫu giáo nhỡ ( 4 đến 5 tuổi )
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quan hình tượng.Trẻ có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng
để giải bài toán nhận thức ngày càng đa dạng và phức tạp Ngoài ra trẻ mẫugiáo nhỡ cũng có khả năng suy luận mặc dù những kết luận của trẻ còn rấtngây thơ và ngộ nghĩnh Trẻ chưa có tư duy trừu tượng, trẻ thường chỉ dựavào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã qua để suy luận nhữngvấn đề mới tuy nhiên chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài chứ chưa
đi sâu vào bản chất bên trong Trẻ mẫu giáo lớn đã biết so sánh các dấu hiệugiống và khác nhau của hai đối tượng Trong giao tiếp trẻ đã có ý thức đối với
Trang 18hành động và lời nói của mình Trẻ biết thực hiện nghĩa vụ bản thân và tuânthủ những quy định, nề nếp trong vui chơi, học tập, lao động và sinh hoạt ởgia đình cũng như ở trường mầm non.
-Mẫu giáo lớn (5 đến 6 tuổi)
Ở giai đoạn này trẻ đã biết tương đối nhiều về bản thân, biết điều khiển nhữngcảm xúc và hành vi, điều đó tạo điều kiện cho sự chủ động của hành vi Ởmẫu giáo lớn, ý thức bản ngã của trẻ đã được xác định, trẻ có khả năng sosánh mình với những người khác Trẻ đã hiểu được giới tính của mình và biếtphải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính Trẻ có thể lĩnh hội cáckhái niệm sơ đẳng và có các lập luận chính xã khi được dạy dỗ Sự chú ý củatrẻ cũng được nâng cao hơn, bền vũng hơn, ghi nhớ cũng có tính chủ độnghơn Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tổng hợp và khái quát hóa đơn giảnnhững dấu hiệu tiêu biểu bên ngoài Trẻ biết so sánh đặc điểm giống và khácnhau của một vài đối tượng, biết phân nhóm các đối tượng theo một vài dấuhiệu rõ rệt
Ở trẻ mẫu giáo lớn, kiểu tư duy trực quan hình tượng vẫn mạnh mẽ, vào cuốituổi mẫu giáo lớn đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ Nó cho phép trẻ đisâu vào những mối liên hệ phức tập của sự vật và mở ra khả năng nhìn thấybản chất sự vật, hiện tượng, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức ở trình độ khái quátcao nhưng vẫn nằm trong phạm vi của tư duy trực quan hình tượng nói chung.Theo tác giả L.A.Venger, tư duy trực quan sơ đồ của trẻ 5-6 tuổi là quá trìnhhình thành các biểu tượng về không gian với hai thao tác trí tuệ là sơ đồ hóa(mã hóa), tức là sắp xếp vị trí của các sự vật trong không gian thật (3 chiều)vào một sơ đồ (không gian 2 chiều) theo một chuẩn trong một hệ quy chiếunhất định bằng các kí hiệu đã được quy ước và đọc hiểu sơ đồ (giải mã) tức là
từ một sơ đồ không gian 2 chiều trẻ có thể xác định được vị trí của các vật tồntại
Trang 191.1.2 Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản
và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người Ngôn ngữ đồngthời cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống vănhóa- lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác
Tùy theo hoàn cảnh lịch sử mà sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân tộc mỗinơi, mỗi thời kì một khác, theo những con đường khác nhau Mác vàĂngghen đã viết “ Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyênnhân khiến cho một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lênthành ngôn ngữ dân tộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển mộtcách lịch sử từ chỗ nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã
và ngôn ngữ Giescmani chẳng hạn; một phần là do sự giao dịch và hỗn hợpcủa các dân tộc như tiếng Anh; một phần nữa là do các phương ngữ tập trungthành ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh
tế, chính trị quyết định.
Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ sơ sinh trở thành một thành viên trong xã hội loàingười Vậy ngôn ngữ có vai trò gì? Chúng tôi xin đưa ra một số vai trò củangôn ngữ như sau:
1.1.2.1 Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp
Theo C Mác “ Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặctrưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quantrọng nhất” (Lenin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau,cùng nhau hành động vì những mục đích chung Không có ngôn ngữ conngười không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ
em, một sinh thể yếu ớt rất cần sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọngcủa mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giúp
Trang 20đỡ Giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạtđộng và trong hoạt động hình thành nhân cách.
1.1.2.2 Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy nhận thức
Trong quá trình trưởng thành của một đứa trẻ, bên cạnh thể chất là trí tuệ,trong đó ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy Ngôn ngữ chính là hiệnthực (sự hiện hữu) của tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được(nhất là tư duy trừu tượng) đều nhờ vào ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ cómối quan hệ mật thiết với nhau; nếu không có ngôn ngữ thì tư duy của conngười không thể diễn ra Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cụthể hóa, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và bản thân chủ thể
tư duy Ngược lại nếu không có tư duy và các sản phảm của nó thì ngôn ngữchỉ là những âm thanh vô nghĩa Phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ có mụcđích phát triển bản thân mà có ngôn ngữ tư duy của trẻ được phát triển Đây làhai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại mạnh mẽ đến nhau(Galperin: ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ em) Ngônngữ phát triển đồng thời làm cho tư duy phát triển Ngược lại, tư duy pháttriển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ Mối quan hệ đó có thể được
sơ đồ hóa như sau:
Tư duy Nhận thức
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi- đây là những hoạt động chủ yếu
ở trường mầm non Giống như việc dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, pháttriển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻhọc để biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi,học tập ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục,
Trang 21ở mọi nơi, mọi lúc Như vây, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngượclại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ phát triển nhận thức
1.1.2.3 Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức,chuẩn mực hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu? cần phải ứng xử giaotiếp như thế nào cho phù hợp? không chỉ là sự bắt chước máy móc Ngônngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này giúp cho trẻ cóđiều kiện học hổi những gì tốt đẹp xunh quanh trẻ Giáo viên sử dụng lời cũng
sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dụchành vi đạo đức cho trẻ
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ
ca, kể chuyện - những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thểđem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu Đó là sự tác động của lời nói nghệthuật như một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
1.1.2.4 Ý nghĩa của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi
Giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tuổi, nhất là từ 3 đến 6 tuổi, là giai đoạn “siêutốc” phát triển ngôn ngữ Thành tựu phát triển tối ưu nhất thiết đòi hỏi phải có
sự giáo dục ngôn ngữ “kịp thời”, “đúng lúc” (khái niệm của các nhà giáo dụcNga “vovremia”) Những thành tựu phát triển lời nói ở lứa tuổi này là rất tolớn chẳng hạn, đây là giai đoạn hoàn thiện cơ quan phát âm Đến 6 tuổi, về
cơ bản trẻ đã phát âm chính xác tất cả các âm vị, thanh điệu của tiếng mẹ đẻ.Trẻ đã nói năng tương đối lưu loát, biểu cảm Về mặt ngữ pháp, hầu hết cácmẫu câu tiếng Việt trẻ cũng đã sử dụng vào lúc 6 tuổi Sự thật là từ những giờhọc ngôn ngữ đầu tiên đối với mỗi con người là ngay từ khi lọt lòng mẹ.Trường mầm non là trường học đầu tiên Ở đây, có điều kiện, có cơ hội để
giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học
tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất.
Trang 221.1.3 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
1.1.3.1 Khái niệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
U.Sinxki đã khẳng định “tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốnquý của mọi tri thức” Từ đó có thể thấy rằng ngôn ngữ có vai trò rất to lớntrong cuộc sống con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, đồng thời làcông cụ tư duy Nhờ ngôn ngữ con người có thể trao đổi với nhau những kinhnghiệm hay tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thànhnhững con người phát triển toàn diện
Về mặt đạo đức: ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạođức cho trẻ Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ dồidào những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực, đạo đức, rèn luyện chotrẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống
Về trí tuệ: ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục trí tuệ chotrẻ Thông qua ngôn ngữ, trẻ có thể nhận thức thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng, chính xác Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Vì vậy, việc phát triển trí tuệ cho trẻ không tách rời phát triển ngôn ngữ
Về mặt thể lực: giáo dục thể lực trong trường mầm non là quá trình tácđộng chủ yếu vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ em vận động, rèn luyện cơ thể,giữ gìn vệ sinh tổ chức chế độ sinh hoạt hợp lí nhằm bảo vệ và làm cho cơ thểtrẻ phát triển một cách hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng cường đạt và đến trạngthái hoàn thiện về mặt thể chất Để giáo dục thể lực cho trẻ các nhà giáo dục
đã kết hợp nhiều phương pháp khác nhau Trong đó, ngôn ngữ đóng vai tròquan trọng đáng kể
Về mặt thẩm mỹ: ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tácđộng có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp và
Trang 23hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật,giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo ra cái đẹp.
Ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trởthành những con người phát triển toàn diện, sự phát triển chậm trễ về mặtngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ
1.1.3.2 Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em được các nhà tâm lí – ngôn ngữ học nhìnnhận từ những góc góp khác nhau L.S Vugotxki xuất phát từ mục đích mànhìn nhận: “Bản chất sự phát triển ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp, nhậnthức và tất nhiên sự phát triển ngôn ngữ của đứa trẻ không chỉ thuần túy dựatrên sự phát triển khả năng nhận thức của đứa trẻ”
Nhấn mạnh vai trò giao tiếp của ngôn ngữ, A.A Leonchiev lại cho rằng:
“Sự phát triển của lời nói (ngôn ngữ) của trẻ trước hết là sự phát triển củaphương thức giao tiếp”
Nguyễn Huy Cẩn và K Haino Dich đều thống nhất với nhau khi cho rằng:
“Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trải qua các giai đoạn từ thấp đến cao, phùhợp với gian đoạn các giai đoạn nhất định của lứa tuổi; có thể thấy đượcnguồn gốc của sự phát triển ngôn ngữ ở các giai đoạn trước”
Các nhà khoa học Hoa Kì, Australia ( Morrow Lesley, Otto Bervelly, ), coiphát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ tích hợp các thành tố ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp, lời nói mạch lạc, ngữ dụng, thêm vào đó là phát triển khả năng tiềnđọc- viết (emergent literacy) của trẻ
Như vậy, có thể thấy rằng: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình
từ thấp đến cao với các giải mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vàotừng độ tuổi của trẻ; ở mỗi giai đoạn có sự kế thừa và phát triển những thànhtựu của giai đoạn trước
Các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau chia hai giai đoạn: Giaiđoạn tiền ngôn ngữ và giai đoạn ngôn ngữ chính thức
Trang 24- Giai đoạn tiền ngôn ngữ: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình họcnói của đứa trẻ Mặc dù trẻ chưa có các từ, chưa hiểu cách sử dụng các quytắc ngữ pháp nhưng trẻ đã bắt đầu vào giao tiếp Các nhà tâm lí học cho rằngthời kì tiền ngôn ngữ này là chung cho tất cả các ngôn ngữ và thời kì âm bập
bẹ của trẻ em trên toàn thế giới là như nhau Đứa trẻ sử dụng các âm bập bẹ,
cử chỉ, thái độ để giao tiếp với người lớn
- Giai đoạn ngôn ngữ: Bắt đầu từ tháng 12 trở đi sẽ xuất hiện những
âm bập bẹ có nghĩa đầu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếpvới người lớn Các âm bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các từtham gia vào cấu tạo câu sử dụng trong giao tiếp Những từ đầu tiên xuấthiện, các kiểu câu đơn giản gồm 2-3 từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻtăng lên Trẻ tích cực hơn trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.Nhu cầu giao tiếp tăng lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, kết quả làcác kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ được hình thành
Các tác giả Penny Tassony và Kate Beith trong cuốn Nursery Nursing
(chăm sóc trẻ thơ) đã khái quá các bước phát triển chung ngôn ngữ cho
trẻ em theo bảng dưới đây:
Trang 25THỜI KÌ TIỀN NGÔN NGỮ
- Khóc để biểu thị tình trạng đói, mệt, ốm,
- Nhận ra những âm sắc lời nói khác nhau
- Phát ra những âm thanh gừ gừ trong cổ họng
để thể hiện sự thích thú, toại nguyện
0-3 tháng - Đến 3 tháng có thể nhận ra âm sắc giọng nói
của người chăm sóc và thể hiện sự vui sướngkhi nghe thấy giọng nói, âm thanh đó
- Mỉm cười với người khác
3-6 tháng
-Vẫn khóc để thể hiện tình trạng bị mệt, bịđau nhưng dễ nín hơn
Âm bập bẹ trở nên du dương hơn, sáng tạo hơn và đến 9 tháng tuổi hầu hết các âm thanhđược sử dụng đều cần thiết để trẻ học nói Đến tháng 10, trẻ đã hiểu được khoảng 15 từ
Trang 26de ( đòi uống).
12-18 tháng - Các từ được sử dụng thường nhiều nghĩa hơn
tùy thuộc vào ngữ điệu mà trẻ sử dụng khi nói Ví dụ:
de de có thể có nghia là “ tôi muốn uống nước”, “tôiuống nước xong rồi”, “tôi muốn uống nữa” (các nhàngôn ngữ học gọi những từ kiểu này là holopharase-câu đa nghĩa)
- Vào khoảng thứ 15 trẻ em sẽ có khoảng 10 từ
và những người chăm sóc trẻ mới có thể hiểu đượcnhững từ này
-
-18-24 tháng
-
-Hai từ được nối với nhau Ví dụ: ma măm,
bà di,
Những bài đối thoại ngắn xuất hiện; trẻ thường chỉ chú ý đến những từ chính, câuthường sai ngữ pháp
Vốn từ vựng của trẻ tăng lên Trẻ học được
từ 10 đến 30 từ trong một tháng
Đến 2 tuổi, hầu hết các trẻ đều có khoảng
200 từ
Trang 272-3 năm
3-4 năm
-
-Trẻ học từ mới rất nhanh
Sử dụng các từ số nhiều Ví dụ: cats ( nhữngcon mèo)
Trẻ thường mắc các lỗi về cấu tạo từ Ví dụ:drawed (vẽ)
Bắt đầu biết dùng phủ định Ví dụ: không có con chó nào
-Biết bắt chước lời nói của người lớn mộtcách chính xác Ví dụ: “ Chúng mình thíchcái đó, có phải không nhỉ?”
Người lạ cũng có thể hiểu được lời nói củatrẻ
Các câu có hơn 4 từ, trẻ biết nói đúng ngữpháp
Vốn từ vựng tăng lên; trẻ nhận biết được têncác bộ phận của cơ thể, tên các đồ vật, cácvật nuôi trong nhà
Trang 284-6 năm
- Từ 4 tuổi trở đi, trẻ em đã phát triển và thànhthục với ngôn ngữ hơn; các lỗi đã giảmnhiều và trẻ đã bắt đầu tham gia sử dụngngôn ngữ như là một phương tiện để thamgia vào cuộc sống xã hội và giao tiếp vớinhững người khác, thể hiện nhu cầu của trẻ
và thuật lại những trải nghiệm của chúng
- Đến 5 tuổi, từ vựng của trẻ có khoảng 5000từ
- Trẻ biết nói đúng các câu phức hợp
- Thích tham gia vào nghe và kể chuyện
- Hiểu răng ngôn ngữ có thể viết dưới dạngcác biểu tượng,
1.1.4 Trò chơi và một số phương pháp giáo dục trong trường mầm non 1.1.4.1 Một số phương pháp giáo dục trong trường mầm non
“Hiền dữ đâu phải do tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Theo lời Hồ Chí Minh, bản tính con người không phải sinh ra đã có sẵn mà phần nhiều do ảnh hưởng từ giáo dục mà nên Nếu ngay từ nhỏ, trẻ được hưởng một nền giáo dục tốt, được sự quan tâm của gia đình, thầy cô và
xã hội thì chắc chắn sẽ trở thành một người tốt Chính vì vậy, những phươngpháp giáo dục trẻ mầm non luôn được gia đình, nhà trường và xã hội chú trọng và quan tâm phát triển
Dưới đây là bảng thống kê một số phương pháp giáo dục thườngđược sử dụng trong trường mầm non:
Trang 29STT Phương pháp Hình thức Phương tiện Lưu ý
- Có thể tích hợp với phương pháp dùng lời, trò chơi, để đạt hiệu quả cao trong giáo dục
- Có thể kết hợp với tất cảcác phương pháp giáo dụckhác
+ thuyết trình+ hướng dẫn+ chỉ dẫn+ nhắc nhở+ đàm thoại+ đọc, kểchuyện-Ngoài giờ+ trò chuyện
(thơ, chuyện, cadao, dân ca)
Trang 303 Thực hành -Trên lớp, trong
các giờ học
- Ngoài giờ học,khi trẻ tham giamọi hoạt động
được hoạt động tích cực vào các hoạt động học tập,vui chơi, lao động
- Là phương pháp để ôn luyện củng cố nên được sửdụng và kết hợp trong các tiết học của trẻ
- đồ dùng, đồchơi
4 Trò chơi -Trên lớp, trong
- Là phương pháp phù hợp với đặc điểm tâm lí trẻ, có tác động mạnh mẽ vào tâm
lí nê trẻ dễ tiếp thu tri thức của giờ học một các dễ dàng
- Được sử dụng trong tất cảcác môn học
chơi
- Lời nói
- Không giantrong và ngoàilớp học
Trang 31Ngoài những phương pháp trên còn có một số phương pháp khác:
- Phương pháp nêu gương và phương pháp khen chê (tác động mạnh mẽ đếntâm lí trẻ do vậy cần sử dụng phương pháp này một các hợp lí, không lạmdụng)
- Phương pháp thống nhất tác động giáo dục và phương pháp tạo dụng môitrường giáo dục
Qua bảng thống kê trên ta có thể thấy rằng phương pháp trò chơi là phươngpháp được sử dụng rất nhiều và đạt hiệu quả cao trong giáo dục Vậy để hiểu
rõ hơn về phương pháp trò chơi và những hiệu quả của phương pháp này đốivới việc giáo dục trẻ chúng tôi sẽ phân tích rõ hơn ở phần sau
1.1.4.2 Khái niệm trò chơi
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, do Trung tâm từ điển học xuất bản năm
2007 trò chơi được định nghĩa là “hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí”.Trò: là hoạt động diễn ra trước mắt người khác để mua vui Chơi: là hoạtđộng giải trí hoặc nghỉ ngơi, chỉ nhằm mục đích cho vui mà thôi Trò chơi làmột thuật ngữ và mang hai nghĩa khác nhau tương đối xa:
+ Nghĩa thứ nhất: “Trò chơi là chơi có luật và có tính cạnh tranh, thách thứcvới người tham gia phải biết quy tắc, mục đích, kết quả và yêu cầu”
+ Nghĩa thứ hai: “Trò chơi là những công việc được tổ chức và tiến hành dướihình thức trò chơi”
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và lịch sử phát triển trò chơi,các nhà Tâm lí học Xô Viết trước đây đã cho rằng: “Trò chơi là một nghệthuật xuất hiện sau lao động và là một hiện tượng mang tính xã hội, là phươngtiện chuẩn bị cho đứa trẻ làm quen với xã hội của người lớn” TheoN.K.Crupxkalia trong cuốn “Trò chơi của trẻ mẫu giáo, tập 6 – Tuyển tập sưphạm toàn tập” bà đã chỉ ra rằng: “Trò chơi là phương thức nhận biết thế giới,
là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí” Các công trình nghiên cứu của
Trang 32A.N.Leonchep, A.P.Uxova thì lại cho rằng: “Trò chơi là sản phẩm sáng tạocủa cá nhân thuần túy dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh”.Trong cuốn Tâm lí học trẻ em M.1972 theo Đ.V.Enconhin thì: “Trò chơigắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứatrẻ trong các mối quan hệ xã hội” Theo cuốn Tuyển tập sư phạm toàn tập, tập6: K.Đ.Usinxki, nhà Giáo dục người Nga cho răng: “Trò chơi là một hoạtđộng không nhằm tạo ra sẳn phẩm kết quả vật chất mà chỉ nhằm thỏa mãnnhu cầu được chơi của đứa trẻ” Trong cuốn “Giáo dục học trẻ em, tập III,NXB ĐHQG Hà Nội- 1997” thì: “Trò chơi là một hoạt động học tập- tự do và
tự nguyện của đứa trẻ” Trò chơi của trẻ không phải là thật mà là giả vờ làmmột cái gì đó nhưng sự giả vờ đó mang tính chân thật
Theo cách hiểu chung của mọi người thì: “Trò chơi là một hoạt động thườngdùng để giả trí đôi khi cũng được sử dụng như một công cụ giáo dục” Tròchơi còn là một hình thức dưỡng sinh của người lớn tuổi, nó giúp họ vui vẻ,thư giãn
Nói tóm lại: “Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏamãn những nhu cầu giải trí đa dạng của con người”
Trong hoạt động giáo dục tại trường mầm non, trò chơi chiếm giữ một vịtrí quan trọng trong các hoạt động giáo dục Đối với việc dạy nói co trẻ thìđiều này càng rõ hơn Có nhiều trò chơi có thể được sử dụng vào mục đíchdạy nói cho trẻ Ví dụ: trò chơi luyện phát âm: Ngửi hoa, Thổi bóng ; các tròchơi để phát triển vốn từ: Chiếc túi kì diệu, Cái gì biến mất? ; các trò chơiphát triển kí năng nói mạch lạc, giao tiếp ngôn ngữ có vănhóa như các tròchơi đóng vai theo chủ đề: Mẹ và con, Bán hàng, Cô giáo, Kết quả của việc
sử dụng các trò chơi để phát triển lời nói cho trẻ phu thuộc rất nhiều vào khảnăng tìm tòi, sáng tạo của cô giáo Có rất nhiều trò chơi có sẵn, cũng có thểcần đến sự sáng tạo của cô để tạo ra các trò chơi mới phục vụ cho mục đíchdạy học Trong những trò chơi giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì trò chơi
Trang 33dân gian đóng vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng vốn từ cho trẻ, giúptrẻ luyện phát âm và nói mạch lạc hơn Vậy trò chơi dân gian là gì? Trò chơidân gian có tác động gì tới sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Chúng tôi
sẽ đi sâu phân tích hơn ở phần tiếp theo
1.1.5 Trò chơi dân gian
1.1.5.1 Khái niệm trò chơi dân gian
Trò chơi dân gian là một lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu văn hóaquan tâm Trò chơi dân gian được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:
xã hội, sinh học, văn hóa, cho nên để đưa ra một định nghĩa chung về trò chơidân gian là không dễ Có thể điểm qua một số nghiên cứu của các tác giả vềtrò chơi dân gian
Trong “Trò chơi dân gian trẻ em”, Bùi Lương Việt và Trần Hòa Bình
cho răng : “Nền văn hóa truyền thống của dân tộc nào cũng có một bọ phận
hợp thành, đó là trò chơi dân gian Những trò chơi này không chỉ xuất hiện trong những lễ hội đặc trưng mà còn diễn ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt của từng cộng đồng [1,3]” Giống như nhiều dân tộc khác trên thế
giới, dân tộc Việt Nam cũng có những trò chơi dân gian của mình Nó xuấthiện cùng với lao động và sau lao động, vì nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải tríđược nảy sinh từ trong lao động Đồng thời những trò chơi dân gian này đãthể hiện rõ nét ước muốn của cả cộng đồng dân cư đối với kết quả lao động.Ngược dòng thời gian tìm về với lịch sử, chúng tôi thấy rằng mọi cuộcvui chơi, nhảy múa của người xưa đều mô phỏng những hoạt động sản xuất,lao động, những hành vi ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trongđời sống sinh hoạt hàng ngày Nếu như lao động nhằm mục đích duy trì cuộcsống thì trò chơi bổ sung cho lao động để tạo thêm lòng tin, ước vọng của conngười vào cuộc sống và kết quả lao động của họ Ý nghĩa này của trò chơi nóichung và trò chơi dân gian nói riêng vẫn còn nguyên vẹn giá trị đến nay
Trang 34Dựa vào những cơ sở này, chúng tôi quan niệm trò chơi dân gian là
những trò chơi có nguồn gốc từ trong lao động sản xuất, từ nhu cầu vui chơi giải trí và từ những ước vọng của con người Qua đó, trò chơi dân gian mô phỏng những hoạt động sản xuất hành vi ứng xử của con người trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Nó phản ánh lại nhưng mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa xã hội và giữa những con người với nhau.
Trò chơi dân gian được lưu truyền dưới hình thức truyền miệng Do đó,trong quá trình tồn tại có những trò chơi đã trở thành phổ biến ở khắp cácvùng miền trong cả nước: đánh chuyền (đánh chắt), đánh đáo, đánh khăng,oản tù tì, thả đỉa ba ba, rông rắn lên mây, nhảy dây Tuy nhiên cũng có nhiềutrò chơi đã bị thất truyền chỉ còn tồn tại ở một số vùng miền như: quay cuncút, pháo đất, đấu vật Có lẽ vì thế, trò chơi dân gian Việt Nam có tính chấtvùng miền mang đặc thù riêng của từng dân tộc
Miền Bắc và miền núi phía Bắc có các trò trốn tìm, đấu vật, bịt mắt đập
niêu, phách xâu tiền Dân tộc Tày có trò ném còn, đố lá, mời nàng trứng ;
dân tộc Mường: ném lao, cổ búng ; dân tộc thái có diễn xướng dồng dao
Thái
Miền Trung có trò dừng, xung phong (Thanh Hóa, Nghệ An)
Tây Nguyên có bịt mắt đánh trống, đi cà kheo đá bóng
Chăm- Khơ Me lại có trò nặn vọc đất, gánh lúa qua cầu
Đặc biệt, trò chơi dân gian rất gần gũi với trẻ em Trò chơi dân gian giúpcác em phát huy được trí tưởng tượng Chỉ có óc sáng tạo và trí tưởng tượngphong phú thì trẻ em mới thấy được cái lá là đồng tiền, cái gậy là con ngựahay một đoàn người nối đuôi nhau thành con rồng, con rắn Cũng từ trí tưởngtượng mà các em đã hóa thân thành nhà du hành vũ trụ, đưa mình lên chíntầng mây hay chỉ đơn giản các em hóa thân mình vào một cậu bé chăn trâu
Có lẽ vì thế GS.TS Tô Ngọc Thanh đã đúng khi cho rằng: Trí tưởng tượng và
Trang 35nhu cầu hóa thân là hai thuộc tính chủ yếu thể hiện chất sáng tạo của trò chơi dân gian Việt Nam [8,126].
Hơn thế nữa, trò chơi dân gian của trẻ em là những trò chơi đơn giản, dễchơi, dễ hòa nhập Bất cứ cháu nào cũng có thể tham gia Nó tiện lợi, có thểchơi ở mọi lúc mọi nơi: trên bờ đê, bãi cỏ, dưới triền sông hay chỉ là ở mộtgóc sân nhỏ
Với những nguyên vật liệu đơn giản, dễ tìm, dễ làm như hòn sỏi, vỏ sò, vỏhến, cành hoa , mỗi trò chơi có một quy luật riêng, mang sắc thái riêng khiếncho ai đã từng chơi một lần sẽ khó có thể quên được nó
Mặt khác, khi chơi các trò chơi dân gian, trẻ em có thể rèn kĩ năng nóiqua các bài đồng dao Từ đó, trẻ có thể phát triển tốt về phương diện ngônngữ
1.1.5.2 Phân loại trò chơi dân gian
Trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam rất đa dạng và phong phú về số lượng
và thể loại Do đó, phân loại trò chơi dân gian là một công việc không hề đơngiản Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt đã phân loại trò chơi dân gian theocác mục đích giáo dục: phát triển trí tuệ, phát triển thẩm mỹ, phát triển thểchât [1, 4]
Với 16 trò chơi phát triển trí tuệ, 15 trò chơi phát triển thẩm mỹ, 46 trò chơiphát triển thể chất, các tác giả đã đưa chúng ta đến với thế giới trò chơi của rấtnhiều các dân tộc anh em: Dao, Nùng, Tày, Thái, Mường, Sán Dìu, Chăm,Khơ me, Rộng hơn là kho tàng trò chơi dân gian ở các vùng miền trên đấtnước ta: miền núi phía Bắc; trung du và đông bằng Bắc Bộ, miền núi Trung
Bộ, Tây Nguyên và các địa phương phía Nam càng làm rõ hơn sự đa dạng củatrò chơi dân gian Việt Nam Cuộc sống của mỗi vùng miền tuy có khác nhaunhưng sự hồn nhiên, vô tư, trong sáng của tuổi thơ thì ở vùng miền nào cũngvậy, nó được thể hiện rõ qua những nội dung, hình thức, những lời đồng daorất trẻ con rất đỗi quen thuộc Tuy nhiên, cách phân loại của hai tác giả chỉ
Trang 36mang tính tương đối bởi trong mỗi trò chơi đều chứa đựng tất cả các yếu tố vềtrí tuệ, thẩm mỹ và thể chất.
Cũng quan tâm đến trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam, GS.Vũ NgọcKhánh lại có cách phân loại trò chơi khác, căn cứ vào chức năng giáo dục củamỗi trò chơi: trò chơi vận động, trò chơi học tập, trò chơi sáng tạo [8, 213].Trò chơi vận động là trò chơi có mục đích nhằm phát triển thể lực cho trẻ,khi tham gia trẻ phải vận động chân tay; chạy, nhảy, lộn vòng Loại trò chơinày thường vui nhộn, hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nghịch ngợm của
trẻ: tập tầm vông, chi chi chành chành, dung dăng dung dẻ, kéo cưa lừa xẻ,
bịt mắt bắt dê, thả đỉa ba ba, lộn cầu vồng, rắn lên mây, mèo đuổi chuột
Bên cạnh đó, phần lớn các trò chơi này đều kèm theo những bài đồng dao,qua đó phát triển nhận thức và ngôn ngữ cho trẻ
Trò chơi học tập mang mục đích rèn luyện trí tuệ cho trẻ, dạy trẻ biếtquan sát, tính toán Thông qua trò chơi học tập, trẻ tiếp thu những tri thức,những kinh nghiệm của cuộc sống
Đến với trò chơi mô phỏng là loại trò chơi thể hiện được ước vọng muốnsống và làm việc như người lớn của trẻ Với trí tưởng tượng phong phú, trẻ đã
sử dụng tất cả những gì mình có và tìm được để mô phỏng cho trò chơi củamình Nhờ đó, trẻ biết được các mối quan hệ trong xã hội, học được nhữngcách ứng xử giữa con người với tự nhiên, xã hội, học được những cách ứng
xử giữa con người với con người, qua đó trẻ học được cách làm người
Cuối cùng trò chơi sáng tạo, trẻ sử dụng mắt quan sát và óc sáng tạo củamình để tạo ra những trò chơi dân dã từ những nguyên vật liệu thiên nhiên:que, gậy, lá cây, tờ giấy, vỏ sò, vỏ hến Trò chơi này giúp trẻ phát huy sángkiến, khơi dậy khiếu thẩm mỹ rất cần cho cuộc sống và lao động sau này củacác em
Đồng tình với ý kiến phân loại trên của GS Vũ Ngọc Khánh, tác giả
Trần Xuân Toàn, trình bạy trên trang chametainang.net trong bài Đồng dao
Trang 37và trò chơi trẻ em, những hình thức giáo dục trẻ dần bị lãng quên: Trò chơi cũng hay lắm, như trò chơi vận động (dung dăng dung dẻ, đánh khăng, đánh đáo), trò chơi học tập (đánh chuyền, đánh ô), trò chơi mô phỏng (đi chợ, làm nhà, chơi đồ hàng), trò chơi sáng tạo (xếp thuyền, đánh trận, chơi diều).Cả kho tàng phong phú ấy là phương tiện giáo dục trí, đức, thể, mĩ và nhân cách của các em trong tương lai Một lần nữa vai trò quan trọng của trò chơi dân
gian, sự đa dạng và phong phú của nó lại được khẳng định
Nếu như nhóm tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt đã căn cứ vàomục đích phát triển của trò chơi dân gian để chia các trò chơi làm ba nhóm:trò chơi phát triển trí tuệ, trò chơi phát triển thẩm mỹ và trò chơi phát triển thểchất; GS Vũ Ngọc Khánh lại căn cứ vào chức năng giáo dục của chúng đểchia trò chơi dân gian thành bốn loại: trò chơi vận động, trò chơi học tập, tròchơi mô phỏng và trò chơi sáng tạo; một số nhà nghiên cứu khác lại phân chiatrò chơi dân gian theo vùng miền xuất xứ hay theo trò chơi có luật và trò chơikhông có luật Chúng tôi không phủ nhận những cách phân loại trên, nhưngcăn cứ vào mục đích của đề tài khóa luận là tìm ra ý nghĩa của trò chơi dângian đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non, thì chúng tôichia trò chơi dân gian thành hai loại: trò chơi dân gian kèm đồng dao và tròchơi dân gian không kèm đồng dao Trong đó trò chơi dân gian có kèm đồngdao có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.1.6 Trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 1.1.6.1 Yếu tố ngôn ngữ trong trò chơi dân
Qua tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trò chơi dân gian trong cuốn Trò
chơi dân gian trẻ em của hai tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt, chúng
tôi có bảng thống kê sau:
Trang 38P h đ
ồ
k
è
tr iể
tr iể d
a
đ
ồ
t ừ
t ừ d
a
n h
1
C
h
X