1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước về giáo dục và đào tạo tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang

120 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình đổi mới và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, trong những năm qua công tác quản lý thu - chi Ngân sách nhà nước N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ DUNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

CHU N NGÀNH QUẢN LÝ INH TẾ

MÃ SỐ: 83.10.110

LUẬN VĂN THẠC SĨ HOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH VĂN SƠN

HUẾ - 2019

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và Đào tạo tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu được nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành đề tài luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

và sâu sắc nhất đến PGS.TS Trịnh Văn Sơn người trực tiếp hướng dẫn, đã quan tâm,

đưa ra những chỉ bảo quý báo và giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn Quý Thầy, Cô giáo trường Đại học kinh tế Huế đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học

Tiếp đến, Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Trường Đại học Tiền Giang, Ban Lãnh đạo Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố Mỹ Tho đã tạo mọi điều kiện để tôi có cơ hội học tập, cũng như gửi lời cảm ơn đến các anh, chị trong Phòng đã giúp

đỡ trong việc cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù, bản thân đã có nhiều cố gắng tìm hiểu và học hỏi, song do thời gian thực hiện luận văn và kiến thức còn hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Quý Thầy Cô thông cảm và góp ý để Luận văn hoàn thiện Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong được sự đóng góp quý báu của Quý Thầy Cô

Tác giả

Phan Thị Dung

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ HOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: PHAN THỊ DUNG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 83.10.110

Niên khóa: 2016-2019

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRINH VĂN SƠN

Tên đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG”

1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng,

Luận văn nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại TP Mỹ Tho, Tiền Giang trong thời gian tới

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực

trạng công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại TP Mỹ Tho, Tiền Giang

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

Luận văn đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp thu thập số liệu, dữ liệu; Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu và Phương pháp phân tích, phương pháp chuyên gia tham khảo

Dùng phần mềm Excel và SPSS để tiến hành xử lý, phân tích số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu

3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận:

Trên cơ sở nghiên cứu và hoàn thiện, Luận văn cơ bản đã giải quyết các nội dung nêu ra và có những đóng góp:

- Thứ nhất: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT;

- Thứ hai: Luận văn đã đánh giá và giải quyết được các nội dung nêu ra về thực trạng công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang giai đoan 2015-2017

- Thứ ba: Luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong đến năm 2022

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Tóm lược luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Mục lục v

Danh mục bảng xi

Danh mục biểu đồ - hình vẽ xii

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Nội dung nghiên cứu 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 6

1.1 TỔNG QUAN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân sách nhà nước 6

1.1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước 7

1.1.3 Hệ thống và Nguyên tắc của Ngân sách nhà nước 9

1.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO 10

1.2.1 Khái niệm và vai trò chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo 10

1.2.2 Đặc điểm, nguyên tắc và yêu cầu chi Ngân sách nhà nước cho Giáo dục và đào tạo 14

1.2.3 Cơ chế phân cấp chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo 15

1.2.4 Nội dung công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo 18

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo 24

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

1.2.6 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo

dục và đào tạo 27

1.3 THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 29

1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 29

1.3.2 Kinh nghiệm một số tỉnh trong nước 34

1.3.3 Bài học cho TP Mỹ Tho, Tiền Giang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI TP MỸ THO, TIỀN GIANG 38

2.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ MỸ THO, TIỀN GIANG 38

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Đặc điểm điều kiện xã hội 39

2.1.3 Tổng quan về Phòng Tài chính – Kế hoạch, TP Mỹ Tho 41

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI TP MỸ THO, TIỀN GIANG 45

2.2.1 Đánh giá về tình hình thu - chi Ngân sách nhà nước và cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo ở Thành phố Mỹ Tho 45

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo tại thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang 52

2.2.3 Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT 65

2.3 Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TP MỸ THO, TIỀN GIANG 69

2.3.1 Mẫu điều tra 69

2.3.2 Kết quả đánh giá 72

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG THUẬN LỢI KHÓ KHĂN, KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 80

2.4.1 Những thuận lợi và khó khăn 80

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

2.4.2 Nhận diện những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế, nguyên nhân 81

Chương 3 ĐINH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TP MỸ THO, TIỀN GIANG 84

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU 84

3.1.1 Định hướng 84

3.1.2 Mục tiêu 85

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 86

3.2.1 Nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ và hoàn thiện bộ máy quản lý 86

3.2.2 Hoàn thiện Quy trình giao dự toán, kiểm soát chi thường xuyên 86

3.2.3 Hoàn thiện công tác Định mức, cấp vốn Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo 87

3.2.4 Hoàn thiện công tác lập, phân bổ dự toán Ngân sách cho GD&ĐT 89

3.2.5 Hoàn thiện công tác thực hiện dự toán và thanh, quyết toán chi 91

3.2.6 Hoàn thiện công tác thanh, kiểm tra chi NSNN cho giáo dục và đào tạo 91

3.2.7 Một số giải pháp khác 92

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ IẾN NGHỊ 93

1.KẾT LUẬN 93

2.KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Quyết định Hội đồng chấm luận văn

Bản nhận xét phản biện 1

Bản nhận xét phản biện 2

Biên bản của Hội đồng

Bản giải trình chỉnh sửa luận văn

Xác nhận hoàn thiện luận văn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân - giai đoạn 2015 - 2017 39

Bảng 2.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế ở Thành phố Mỹ Tho 40

Bảng 2.3 Tình hình thực hiện và dự toán thu ngân sách, năm 2017 46

Bảng 2.4 Tình hình thực hiện dự toán chi Ngân sách nhà nước ở TP Mỹ Tho 49

Bảng 2.5 Cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT ở TP Mỹ Tho 50

Bảng 2.6 Cơ cấu Chi thường xuyên cho GD&ĐT ở TP Mỹ Tho 51

Bảng 2.7 Chi tiết chi ngân sách cho GD&ĐT, giai đoạn 2015-2017 56

Bảng 2.8 Số liệu quyết toán ngân sách năm 2015-2017 60

Bảng 2.9 Thông tin về đối tượng được khảo sát 70

Bảng 2.10 Bảng mã hóa dữ liệu 71

Bảng 2.11 Kết quả khảo sát về chính sách, quy định chi NSNN 74

Bảng 2.12 Bảng kết quả khảo sát về chính sách, quy định chi NSNN về GD - ĐT 75

Bảng 2.13 Kết quả đánh giá về cán bộ quản lý 76

Bảng 2.14 Kết quả khảo sát về quy trình giao dự toán, chi thường xuyên 77

Bảng 2.15 Kết quả đánh giá về định mức, cấp vốn và thanh, quyết toán 78

Bảng 2.16 Kết quả đánh giá chung 79

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tình hình kinh tế Thành phố Mỹ Tho giai đoạn 2015 - 2017 39

Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế ở Thành phố Mỹ Tho 40

Biểu đồ 2.3 Tổng chi ngân sách giai đoạn 2015 – 2017 48

Biểu đồ 2.4 Định mức chi qua các năm 53

Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng các khoản trong chi ngân sách 58

Biểu đồ 2.6 Số liệu quyết toán ngân sách 60

Biểu đồ 2.7 Kết quả khảo sát 73

Biểu đồ 2.8 Kết quả khảo sát về chính sách và quy định 75

Biểu đồ 2.9 Kết quả khảo sát về cán bộ quản lý 76

Biểu đồ 2.10 Kết quả khảo sát về quy trình giao dự toán, chi thường xuyên 77

Biểu đồ 2.11 Kết quả khảo sát về định mức chi ngân sách 79

HÌNH VẼ Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Phòng Tài chính - Kế hoạch 42

Hình 2.2 Sơ đồ quy trình xin cấp ngân sách 54

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình đổi mới và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, trong những năm qua công tác quản lý thu - chi Ngân sách nhà nước (NSNN) đã có những đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng Đặc biệt

là từ khi Luật NSNN được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25 tháng 6 năm

2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, với mục tiêu và ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý, điều hành NSNN, phát triển kinh tế xã hội tăng cường tiềm lực về tài chính đất nước, quản lý thống nhất nền tài chính đất nước, xây dựng Ngân sách nhà nước lành mạnh, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài sản nhà nước nhằm thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội

Sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia Giáo dục & Đào tạo là nền tảng, là cơ sở để cung cấp kiến thức và kỹ năng cho mỗi cá nhân trong xã hội, là nhân tố quyết định sự thắng lợi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế chính là con người, là nguồn nhân lực Chỉ có Giáo dục & Đào tạo mới nâng cao được dân trí, bồi dưỡng được nhân tài, hướng nhân loại đến mục tiêu ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội Ngày nay, trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức, Nhà nước ta càng coi trọng giáo dục, khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu cho sự phát triển Trong sự phát triền ấy, quản lý tài chính là một bộ phận không thể thiếu đối với sự phát triển Giáo dục & Đào tạo Vì thế, trong các khoản chi về NSNN thì chi NSNN cho sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo thường chiếm

một tỷ trọng khá lớn trong tổng chi NSNN

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Giáo dục & Đào tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, trong những năm qua các nguồn chi NSNN cho hoạt động Giáo dục & Đào tạo đã không ngừng tăng lên theo từng năm đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

Mỹ Tho là thành phố trung tâm văn hóa và là trung tâm Giáo dục & Đào tạo lớn của tỉnh Tiền Giang Trong thời gian qua, công tác quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN cho các hoạt động, trong đó có chi cho sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo của thành phố luôn được đổi mới, hoàn thiện và đã đạt được có những thành quả đáng mừng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản

lý chi NSNN nói chung và quản lý chi cho Giáo dục & Đào tạo ở thành phố Mỹ Tho đã gặp nhiều khó khăn, thử thách và bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cần sớm được tháo gỡ và hoàn thiện cụ thể như: chất lượng xây dựng dự toán của các cơ sở giáo dục nhìn chung chưa cao, chưa đồng đều, công tác lập dự toán chưa kịp thời, một số nội dung dự toán chưa được phân khai cụ thề để thực hiện, đặ biệt là là công tác quản lý chi, công tác định mức phân bổ vẫn chưa thật sự gắn liền với các tiêu chí đảm bảo chất lượng Giáo dục & Đào tạo; Cơ chế tự chủ, chịu trách nhiệm về nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy và tài chính ở thành phố Mỹ Tho còn hạn chế, chưa thu hút được nhiều nhân tài

Để tiếp tục phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo tại thành phố Mỹ Tho, việc tìm ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo có ý nghĩa quan trọng

Trước thực tế đó, đòi hỏi công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT phải đổi mới, hoàn thiện và có hiệu quả Vì thế, tôi chọn đề tài:

“Hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và

Đào tạo tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang” để làm đề tài Luận văn cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước về GD&ĐT

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về GD&ĐT tại

TP Mỹ Tho, Tiền Giang trong giai đoạn 2015-2017;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho GD&ĐT ở thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang đến năm 2022

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng công tác quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại TP Mỹ Tho, Tiền Giang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về Nội dung: Nghiên cứu những nội dung cơ bản về thực trạng Công tác

quản lý chi NSNN về GD&ĐT tại TP Mỹ tho, Tiền Giang Luận văn chủ yếu

nghiên cứu về chi thường xuyên NSNN cho GD&ĐT, không xem xét khía cạnh về

chi đầu tư, chi từ các khoản thu khác của các cơ sở giáo dục

- Không gian: Đề tài được thực hiện tại TP Mỹ Tho (đơn vị phụ trách chủ

yếu về quản lý Chi NSNN là tại Phòng Tài chính – Kế hoạch TP Mỹ Tho),

-Thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2015-2017

Số liệu sơ cấp điều tra trong quý 1-năm 2018

Giải pháp đề xuất đến năm 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp chung: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, số liệu

Số liệu thứ cấp

Thu thập các nguồn thông tin thứ cấp qua Niên giám thống kê; Báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm; Báo cáo tình hình KT-XH của Thành phố; Báo cáo đánh giá về thu chi NSNN (chủ yếu chi NSNN cho GD&ĐT) của tỉnh và TP; Các nguồn tài liệu về công tác quản lý chi NSNN cho GD&ĐT tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc UBND thành phố Mỹ Tho và các đơn vị sử dụng ngân sách Các nguồn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

tài liệu của Nhà nước, Bộ Tài chính và các Ban ngành có liên quan, các thông tin tài liệu từ tỉnh Tiền Giang và TP Mỹ Tho

Số liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp dùng cho nghiên cứu bao gồm các dữ liệu có liên quan đến công tác quản lý chi NSNN cho GD&ĐT, nguồn số liệu chủ yếu thông qua số liệu khảo sát, điều tra

- Đối tượng điều tra gồm 2 nhóm đối tượng:

Nhóm đối tượng thứ nhất: Điều tra toàn bộ Cán bộ Lãnh đạo thuộc HĐND &

UBND Thành phố Mỹ tho; Lãnh đạo và cán bộ trực tiếp quản lý chi NSNN của Phòng Tài chính- Kế hoạch; Lãnh đạo và Bộ phần quản lý tài chính của Phòng GD&ĐT, Kho bạc nhà nước (tổng mẫu điều tra 83)

Nhóm đối tượng hai: Điều tra chọn mẫu một số CB lãnh đạo và cán bộ trực

tiếp quản lý, sử dụng NSNN tại các đơn vị sử dụng NSNN thuộc một số Trường THCS và Tiểu học trên địa bàn TP Mỹ Tho (Tổng mẫu điều tra 97)

4.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Số liệu thu thập và điều tra sẽ được tổng hợp theo các tiêu chí và hệ thống chỉ tiêu liên quan đến các nội dung về công tác quản lý chi Ngân sách: Xây dựng cơ

sở lý thuyết về NSNN, chi NSNN, quản lý chi NSNN để phân tích thực trạng quản

lý chi NSNN cho GD&ĐT Nguồn số liệu sẽ được xử lý trên các công cụ hỗ trợ là Phần mềm Excel và SPSS

4.3 Phương pháp phân tích

Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các nghiên cứu trước đây, kế thừa có chọn lọc một số kết quả từ những tài liệu này

- Phương pháp Phân tổ thống kê: Số liệu thông tin thu thập được phân tổ

theo từng nhóm và tiêu thức phù hợp nhằm phục vụ công tác đánh giá công tác quản

lý về chi NSNN

- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh để so sánh mức độ

thực hiện giữa thực tế với dự toán (hay kế hoạch), so sánh các chỉ tiêu liên quan về thu chi NSNN về GD&ĐT qua các năm Phương pháp phân tích nhằm đánh giá theo mức biến động tuyệt đối, số tương đối, tốc độ thay đổi số bình quân; sử dụng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

phương pháp so sánh về không gian, thời gian; theo chuỗi thời gian để phân tích giải quyết vấn đề

- Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập số liệu từ các Báo cáo quyết toán, Báo cáo tổng hợp về thu chi NSNN nói chung và cho GD&ĐT nói riêng Sử dụng Phương pháp thống kê mô tả để tính tốc độ phát triển và phân tích mức độ biến động về thu chi NSNN và chi cho GD&ĐT; Là phương pháp được sử dụng để mô

tả các đặc tính cơ bản của những số liệu thu thập được

- Phương pháp cân đối: Cân đối Thu- Chi NSNN nhằm tìm nguyên nhân và

giải pháp vấn đề bất cân đối

4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực quản lý chi thường xuyên

để tham khảo đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp

5 Nội dung nghiên cứu

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi Ngân sách nhà nước về GD&ĐT

Chương 2: Thực trạng của công tác chi Ngân sách nhà nước về GD&ĐT tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về GD&ĐT tại Thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang

Phần 3: Kết luận

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

PHẦN II: NỘI DUNG NGHI N CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1.1 TỔNG QUAN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 hái niệm và đặc điểm của Ngân sách nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước (NSNN) với tư cách là một phạm trù kinh tế luôn luôn gắn liền với sự tồn tại của Nhà nước Sự xuất hiện của Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để đáp ứng các yêu cầu chi tiêu nhằm phục

vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Theo quy định của Luật NSNN số 01/2002/QH11 “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định

và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Trích Điều 1 Luật NSNN)

Luật NSNN số 83/2015/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 25 tháng 6 năm

2015, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 (sau đây gọi tắc là Luật NSNN năm 2015) thay thế Luật NSNN số 11/2002/QH11 Luật NSNN năm 2015 tiếp tục

kế thừa các quy định của Luật NSNN hiện hành, bảo đảm tính thống nhất của NSNN, tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, phát huy tính chủ đạo của các cấp ngân sách chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng NSNN Quy định

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Trích Điều 4 Luật NSNN)

1.1.1.2 Đặc điểm Ngân sách nhà nước

- Hoạt động NSNN được thể hiện thông qua thu, chi của Nhà nước

Trong thực tế hoạt động các hình thức thu, chi của NSNN hết sức phong phú

và đa dạng, nhưng chúng không hề mang tính tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm sát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

của Nhà nước mà chúng luôn bị ràng buộc bởi những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ

- Các khoản thu NSNN hầu hết đều mang tính bắt buộc, còn các khoản chi lại mang tính cấp phát

Đặc điểm này xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và nhu cầu quản lý để thực hiện các chức năng về quản lý và điều hành kinh tế - xã hội của Nhà nước

- Mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều thể hiện các mối quan hệ phân phối các nguồn tài chính

Đó là các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội

Trong quá trình phân phối, vấn đề cần giải quyết các đối tượng tham gia chính là các vấn đề lợi ích kinh tế chứ không phải sự gán ghép hay bắt buộc Thừa nhận quyền lực tối cao của Nhà nước, cho phép đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu và chi phối tới các lợi ích khác Song, quyền lực đó phải được giới hạn nhất định mới giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, mới tạo nên động lực phát triển dây chuyền mà trong đó nền tảng là lấy sản xuất làm gốc, khuyến khích các thành viên trong xã hội tạo ra nhiều của cải, nguồn lực tài chính cho xã hội

1.1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường vai trò của NSNN được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng, trong quản lý vĩ mô nền kinh tế NSNN có các vai trò như sau:

Thứ nhất: Vai trò huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN để đảm bảo cho hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào đều phải thực hiện

Thứ hai: Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả

và chống lạm phát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự canh tranh giữa các nhà doanh nghiệp (DN) nhằm đạt lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường dẫn đến sự chuyển dịch vốn của các DN từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác

Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng mà Nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ NSNN dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hóa và dự trữ tài chính Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát

Thứ ba: Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng phát triển sản xuất

Để định hướng và tăng trưởng phát triển kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác Nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng, những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn…Nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

Thứ tư: Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư

Nền kinh tế thị trường với những hạn chế của nó sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu, nghèo giữa các tầng lớp dân cư, Nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách về thu nhập trong dân cư NSNN là công

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập lũy tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt…một mặt tạo nguồn thu cho Ngân sách, mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình xã hội: Phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân

số và kế hoạch hóa gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp

Các vai trò trên của NSNN cho thấy tính chất quan trọng của Nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế

1.1.3 Hệ thống và Nguyên tắc của Ngân sách nhà nước

Hệ thống NSNN là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền Nhà nước ở nước ta với mô hình Nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp: Ngân sách Trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương

Ngân sách Trung ương:

Là các khoản thu ngân sách Nhà nước phân cấp cho cấp Trung ương hưởng

và các khoản chi ngân sách Nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp Trung ương

Ngân sách địa phương:

Là các khoản thu ngân sách Nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách Nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương

Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:

Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

Hệ thống NSNN ở Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên

tắc tập trung và dân chủ, thể hiện những nguyên tắc sau đây:

Tính thống nhất Đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành

một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

Tính tập trung Thể hiện ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung

các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm bảo đảm cân đối của ngân sách cấp mình

Tính dân chủ Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân

sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình

Đảm bảo tính phù hợp: Phù hợp giữa ngân sách với cấp chính quyền Nhà nước 1.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

1.2.1 hái niệm và vai trò chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo

1.2.1.1 Khái niệm chi Ngân sách nhà nước và chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo

Chi NSNN: Là một nội dung quan trọng trong hoạt động NSNN “Chi NSNN

là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định” (Trích điều 4 luật ngân

sách)

Chi NSNN bao gồm các khoản chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển

Ở Việt Nam trong cơ cấu chi thường xuyên thì chi cho các đơn vị GD&ĐT chiếm tỷ trọng lớn

Chi NSNN cho GD&ĐT: Là quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị từ quỹ

tiền tệ tập trung của nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp, nhằm duy trì và phát triển một nền giáo dục của đất nước

Xét về hiện tượng bên ngoài, khoản chi NSNN cho GD&ĐT là khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng về mặt tác dụng lâu dài thì chi NSNN cho GD&ĐT là khoản chi cho đầu tư phát triển

vì khoản chi này là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội trong hiện tại

và tương lai của đất nước

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

1.2.1.2 Vai trò chi Ngân sách nhà nước cho Giáo dục và Đào tạo

Chi NSNN cho GD&ĐT là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ

từ quỹ NSNN để duy trì, phát triển sự nghiệp GD&ĐT theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp

Vai trò của chi NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì và củng cố các hoạt động GD&ĐT, mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động GD&ĐT phát triển theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước

Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ vốn đầu tư cho GD&ĐT do NSNN đài thọ Nguồn kinh phí này đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển sự nghiệp GD&ĐT, góp phần phát triển nâng cao trình độ dân trí, đào tạo ra những lớp người có đủ năng lực, trí tuệ đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quan điểm "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng ”, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương " Xã hội hóa GD&ĐT” Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nước thực hiện mở rộng đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và nước ngoài “Nhà nước

ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt nam định cư ở nước ngoài, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”

Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho GD&ĐT như vậy những nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò chủ đạo của chi NSNN cho GD&ĐT được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất Ngân sách nhà nước luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để

duy trì, định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Giáo dục & đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Đảng, Nhà nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng, “Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho GD&ĐT” Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư của NSNN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho GD&ĐT

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách lớn để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục như chính sách về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trường, đóng góp phí đào tạo từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho GD&ĐT Tuy nhiên, do việc xã hội hoá trong lĩnh vực GD&ĐT thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế Vì vậy, cho dù đối tượng chi có giảm đi nhưng kinh phí đầu tư của NSNN cho GD&ĐT hàng năm không giảm mà ngày một tăng lên

Trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương NSNN luôn luôn giữ vai trò chủ yếu trong việc cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì và phát triển sự nghiệp GD&ĐT Có thể nói đầu tư cho GD&ĐT đúng mức sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh chóng và thu lợi nhuận cao hơn bất cứ một lĩnh vực đầu tư nào khác Đầu tư cho GD&ĐT không chỉ là một chính sách xã hội mà còn phải được coi

là một chính sách kinh tế, chính sách phát triển sản xuất Đó là sự đầu tư kép và là đầu tư trực tiếp vào con người - yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất

Thứ hai Chi ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố,

tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Hai yếu tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động GD&ĐT

Phải thấy rằng, lương của giáo viên là một vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của giáo viên Một chính sách lương hợp lý cho phép giáo viên không cần kiếm việc làm thêm, ngược lại nếu mức lương giáo viên không đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và không khuyến khích giáo viên toàn tâm toàn ý cho việc dạy học thì họ sẽ tìm mọi cách để có thêm thu nhập Ví dụ như dạy

tư (thường là dạy chính những học sinh ở trường công) hoặc bằng nhiều hoạt động kinh doanh khác Hậu quả là nó tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục được cung cấp qua hệ thống của Nhà nước

Trong xu hướng xã hội hoá GD&ĐT hiện nay, mặc dù một số gánh nặng về chi phí cho GD&ĐT được chia sẻ với khu vực tư nhân, song chi tiêu của tư nhân không tự nó dẫn đến chất lượng giáo dục tốt hơn, vì vậy vẫn cần nguồn kinh phí lớn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

và tăng nhanh từ NSNN để đáp ứng sự gia tăng về số học sinh, do sức ép dân số

và chi phí để nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực GD&ĐT

Thứ ba Nguồn vốn NSNN là nguồn duy nhất đảm bảo kinh phí để thực hiện

các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục

Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, chương trình tăng cường cơ sở vật chất trường học, chương trình đầu tư cho giáo dục vùng cao Đây

là những chương trình mục tiêu lớn, cấp bách cần phải thực hiện và đòi hỏi phải có

sự đầu tư kinh phí khá lớn Vì vậy, Nhà nước phải tập trung ngân sách đầu tư thực hiện cho được các chương trình này

Thứ tư Thông qua cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục có tác dụng

điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành

Trong điều kiện đa dạng hoá GD&ĐT như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa các vùng là hết sức quan trọng Đảm bảo cho GD&ĐT phát triển cân đối, theo đúng định hướng đường lối của đảng và Nhà nước

Thứ năm Sự đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu hút các

nguồn vốn khác đầu tư cho GD&ĐT

Đầu tư của Nhà nước hình thành nên các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục đó Mặt khác, trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án GD&ĐT thì sự đầu tư vốn của NSNN là số vốn đối ứng quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục Thông qua

sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đầy mạnh mẽ phong trào xã hội hoá giáo dục về mặt tài chính

Qua phân tích các vấn đề trên cho thấy, mức độ đầu tư của NSNN được coi như một trong các yếu tố tác động có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc gia Từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

Sự tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục sẽ dẫn đến kết quả là nguồn nhân lực phát triển, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trên cơ sở đó ngân sách nhà nước tăng thu và có điều kiện để đầu tư trở lại cho GD&ĐT cao hơn nữa Đó là mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư cho GD&ĐT với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ

xã hội, đó cũng chính là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

1.2.2 Đặc điểm, nguyên tắc và yêu cầu chi Ngân sách nhà nước cho Giáo dục và đào tạo

1.2.2.1 Đặc điểm

Ngân sách GD&ĐT chủ yếu dành cho những chi phí liên quan đến con người Trong đó, chi lương và phụ cấp cho giáo viên luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho GD&ĐT Hiện nay, trừ một phần nhỏ các trường dân lập, bán công thì lương và phụ cấp cho giáo viên đều do NSNN đảm bảo

Ngân sách địa phương trong những năm qua đã đầu tư một khoản kinh phí lớn cho công tác này, thường chiếm trên 80% trong tổng vốn đầu tư cho GD&ĐT Ngân sách nhà nước là khoản chi nhằm định hướng, điều phối quy mô giữa các cấp học, và giữa các vùng miền, khu vực

1.2.2.2 Nguyên tắc

Phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước; đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; thúc đẩy từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; đưa tối đa các khoản chi thường xuyên vào định mức chi công việc của các cơ quan, đơn vị với yêu cầu triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và thu nhập cho người lao động

Định mức chi cho sự nghiệp giáo dục theo cơ cấu chi con người tính theo biên chế kế hoạch là 82% (bao gồm: tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản đóng góp theo lương tính theo biên chế kế hoạch được cơ quan có thẩm quyền giao), chi công việc là 18% Định mức chi này bao gồm cả kinh phí để lại Phòng Giáo dục - Đào tạo để phục vụ các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn, sửa chữa và mua sắm của ngành giáo dục

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

- Chi đào tạo, tập huấn ngắn hạn: định mức chi là 800 triệu đồng/năm;

- Trung tâm Bồi dưỡng chính trị: Định mức chi theo cơ cấu chi con người là 82% (bao gồm: tiền lương cho biên chế, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản đóng góp theo lương tính theo biên chế kế hoạch được cấp có thẩm quyền giao); chi

công việc là 18%

1.2.2.3 Yêu cầu

Hoạt động chi ngân sách Nhà nước được thực hiện dựa trên các nguyên tắc đồng thời để thực hiện chi NSNN trong các trường hợp cụ thể Pháp luật quy định các yêu cầu cụ thể khi tiến hành chi NSNN Các yêu cầu đó bao gồm:

Thứ nhất, khoản chi đã được xác định trong dự toán ngân sách được duyệt

Điều kiện này không áp dụng trong trường hợp vào đầu năm ngân sách dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định

cơ quan tài chính các cấp được phép cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được quyết định Điều kiện này cũng không được áp dụng trong trường hợp có sự thay đổi về thu, chi mà sự thay đổi đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận và quyết định

Thứ hai: Khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quy định

Thứ ba: Khoản chi đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng

ngân sách hoặc người được ủy quyền chuẩn chi

Thứ tư: Khoản chi được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ chứng từ có liên quan

Tùy theo tính chất từng khoản chi, pháp luật quy định cụ thể những loại hồ

sơ, chứng từ thanh toán bắt buộc phải có là điều kiện thực hiện các khoản chi ngân sách Nhà nước

1.2.3 Cơ chế phân cấp chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo

1.2.3.1 Tổ chức Bộ máy quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục & Đào tạo

Đối với GD&ĐT, theo quy định chung Sở GD&ĐT các tỉnh quản lý chung

và trực tiếp quản lý các Trường THPT Đối với Thành phố trực thuộc (huyện) thì quản lý các trường THCS, Tiểu học và mầm non

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

Bộ máy quản lý tài chính về GD&ĐT được thực hiện từ cấp Trung ương đến

cơ sở (địa phương) Để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả về công tác quản lý nhà nước

về chi NSNN cho GD&ĐT đòi hỏi phải đổi mới toàn diện và thực hiện một cách đồng bộ Hệ thống quản lsy Tài chính cho sự nghiệp GD&ĐT:

- Các cơ quan Trung ương: Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT và Kho bạc Nhà nước Trung ương

- Các cơ quan quản lý địa phương:

+ Cấp tỉnh: HĐND và UBND tỉnh, do Sở Tài chính, Sở GD&ĐT, KBNN tỉnh + Cấp huyện (thành phố trực thuộc): HĐND và UBND; Phòng KHTC, Phòng GD&ĐT, Kho Bạc huyện hay thành phố, nhưng với sự kiểm soát của Sở Tài chính và Sở GD&ĐT

1.2.3.2 Cơ chế phân cấp chi

Trong cơ chế quản lý ngân sách, cơ chế phân cấp ngân sách có vị trí rất quan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều hành ngân sách Yêu cầu đối với cơ chế phân cấp ngân sách là Ngân sách Trung ương phải giữ vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu có tính chất quốc gia và giải quyết các nhu cầu chi tiêu có tính chất trọng điểm trên phạm vi cả nước

Ngân sách địa phương phải được phân cấp một số nguồn thu và nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trên địa bàn Mối quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương phải được giải quyết hài hòa thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa trung ương và địa phương Việc địa phương quản lý ngân sách có thể giúp huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn và làm cho cung cấp dịch vụ phù hợp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương với hiệu quả cao hơn, phù hợp hơn với điều kiện và tình hình cụ thể tại địa phương Tuy nhiên nếu phân cấp không tốt sẽ dẫn đến những rủi ro như sự chồng chéo, làm suy yếu sự điều phối trung ương và địa phương

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

Việt Nam có 4 cấp chính quyền Ở cấp Trung ương, quyền lập pháp thuộc về Quốc hội và là cơ quan có trách nhiệm quyết định ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước gồm không chỉ ngân sách của chính quyền trung ương mà còn có cả ngân sách tổng hợp của các cấp tỉnh - huyện - xã Cơ cấu của ngân sách mang tính thứ bậc Ngân sách của mỗi cấp không chỉ được Hội đồng nhân dân cấp đó quyết định

mà còn phải được chính quyền cấp trên phê chuẩn Chính quyền ở mọi cấp hoạt động theo một hệ thống song trùng lãnh đạo Từng cấp ngân sách phải chịu trách nhiệm lập dự toán ngân sách hàng năm (bao gồm các khoản thu chi trên địa bàn), chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát việc thực hiện ngân sách cấp dưới Cấp huyện tổng hợp dự toán ngân sách xã, báo lên tỉnh Tỉnh tổng hợp dự toán ngân sách các huyện báo cáo lên Bộ Tài chính

Dự toán ngân sách cấp xã do Ban tài chính xã lập, Dự toán ngân sách cấp huyện do Phòng Tài chính huyện lập và dự toán ngân sách tỉnh do Sở Tài chính lập Mục đích của việc phân cấp ngân sách giữa các cấp chính quyền là nhằm giảm bớt sự ỷ lại của cơ quan cấp dưới, đồng thời xoá bỏ sự bao biện, làm thay của chính quyền cấp trên Nhờ đó mà sự phân định trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý ngân sách nhà nước một cách rõ ràng hơn và tạo ra các điều kiện cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý ở lĩnh vực này

Căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo nguyên tắc sau:

a) Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, trình độ quản lý của từng vùng, từng địa phương;

b) Ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ các khoản: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất;

c) Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ;

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

d) Trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải có nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông công lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác

Căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia do Chính phủ giao và các nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp ở địa phương

1.2.4 Nội dung công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo

Chi Ngân sách nhà nước nói chung và về lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng có nội dung hết sức phong phú và phức tạp Nó được tiến hành cho nhiều đối tượng và bao gồm nhiều khoản chi có tính chất, đặc điểm khác nhau Vì vậy, muốn phát huy được hiệu quả các khoản chi đảm bảo tiết kiệm cho NSNN cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý chi NSNN cho GD&ĐT

Thực chất quản lý chi NSNN cho GD&ĐT là các hoạt động và tổ chức các hoạt động phân phối ngân sách Nhà nước, kiểm tra giám sát việc phân phối và sử dụng ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT theo đúng quy định của pháp luật

1.2.4.1 Lập Dự toán chi

Trong hoạt động tài chính, việc lập dự toán giữ vai trò hết sức quan trọng, không những cung cấp thông tin cần thiết cho việc điều hành ngân sách mà còn giúp cho các cấp có thẩm quyền hoạch định các chính sách tài chính, ngân sách ngắn hạn, dài hạn, cũng như tạo cơ sở cho việc đề xuất hoặc điều chỉnh các chính sách, chế độ tài chính hiện hành Đối với đơn vị sử dụng ngân sách, việc dự tính sát đúng, có chất lượng các nhu cầu kinh phí của đơn vị trong 1 năm có ý nghĩa quyết định đến việc đảm bảo các nhu cầu tài chính phục vụ các yêu cầu, nhiệm vụ công tác chuyên môn của đơn vị Nội dung cụ thể của công tác lập dự toán là:

Căn cứ lập dự toán, gồm

+ Căn cứ vào kế hoạch, nhiệm vụ được giao trong năm của đơn vị;

+ Căn cứ vào biên chế, định mức lao động, các chế độ tiêu chuẩn, định mức thu, chi và các chế độ chính sách hiện hành;

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

+ Căn cứ vào số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo (cơ quan tài chính, đơn vị dự toán cấp trên);

+ Tình hình thực hiện dự toán ngân sách các năm trước

Hệ thống chỉ tiêu lập dự toán Dự toán chi NSNN về GD&ĐT được lập

theo hai nhóm chỉ tiêu chi thường xuyên và nhóm chi không thường xuyên như sau:

+ Nhóm chi thường xuyên: Là các khoản chi mang tính chất thường xuyên

cho hoạt động giảng dạy, học tập và duy trì hoạt động bình thường của nhà trường Trong chi thường xuyên chia thành hai tiểu nhóm sau:

Tiểu nhóm chi cho người lao động, gồm: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo quy định

Tiểu nhóm chi hoạt động, gồm: quản lý hành chính, dịch vụ, thông tin liên lạc, chi chuyên môn nghiệp vụ, chi sửa chữa, các khoản chi khác

+ Nhóm chi không thường xuyên: Mục đích của các khoản chi thuộc nhóm

này là để mua sắm, xây dựng, trang bị thêm TSCĐ của nhà trường Nhóm chi này gồm các tiểu nhóm sau đây:

Tiểu nhóm chi mua sắm TSCĐ;

Tiểu nhóm chi xây dựng, sửa chữa lớn tài sản, nhà cửa;

Tiểu nhóm chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất

- Dự toán các khoản thu theo quy định của nhà trường: Căn cứ vào chế độ, mức thu học phí và các khoản thu khác trong nhà trường do Nhà nước, Tỉnh và Thành phố quy định; số học sinh có mặt bình quân, số học sinh thuộc đối tượng được miễn Nhà trường xây dựng dự toán thu trong năm

Quy trình lập dự toán,

Việc quản lý chi NSNN về GD&ĐT cấp nào thì do cấp đó đảm nhiệm Căn cứ

dự toán ngân sách của các quận, huyện gửi đến, Sở Tài chính phối hợp với Sở Giáo dục tổ chức thảo luận dự toán với các quận, huyện sau đó tham mưu với Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân quyết định phương án phân bổ, dự toán thu chi NSNN hàng năm cho các quận, huyện và các đơn vị có liên quan

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

Sau khi được Ủy ban nhân dân cấp huyện giao dự toán thu, chi NSNN hàng năm, căn cứ dự toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp 1 gửi đến Phòng Tài chính - Kế hoạch quận, huyện phối hợp với các phòng, ban liên quan và các đơn vị

dự toán thảo luận, tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện dự toán thu, chi NSNN của quận, huyện trình Hội đồng nhân dân quyết định phương án phân bổ và dự toán thu, chi NSNN quận, huyện Căn cứ nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp huyện Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao dự toán thu, chi NSNN chi tiết đến các đơn

vị dự toán trực thuộc

Căn cứ Quyết định giao dự toán Ủy ban nhân dân cấp huyện, các đơn vị dự toán cấp 1 lập phương án phân bổ dự toán gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện thẩm tra cho ý kiến, sau đó gửi Kho bạc Nhà nước cấp huyện để thực hiện rút

dự toán đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị mình

Xây dựng định mức chi

Trong quản lý các khoản chi thường xuyên cho ngân sách Nhà nước, nhất thiết phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó mà các ngành các cấp các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể thuộc quá trình quản lý chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước

Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các khoản chi, đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước (NSNN)

Định mức chi phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

Thứ nhất: Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ việc

phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ có cơ sở khoa học xác đáng Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị

Thứ hai: Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là nó phải phản ánh

mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ có như vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

Thứ ba: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi với

từng đối tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại

Thứ tư: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao

Định mức chi thường xuyên của NSNN thường bao gồm hai loại

- Định mức chi tiết: là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi của ngân

sách Nhà nước cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó ví dụ như: Chi công tác phí, hội nghị, chi lương, học bổng

- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi từ

ngân sách Nhà nước cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng Do vậy, với mỗi loại hình đơn vị khác nhau sẽ có đối tượng để tính định mức chi tổng hợp khác nhau

Mỗi loại định mức chi đều có những ưu nhược điểm riêng của nó Tùy theo mục đích quản lý mà có sự lựa chọn hoặc vận dụng kết hợp các loại định mức chi cho hợp lý Đối với định mức chi tiết theo ưu điểm của nó là tính chính xác và tính thực tiễn khá cao nên nó thường được sử dụng trong quá trình nghiên cứu ban hành các chế độ chi thường xuyên của NSNN Ngoài ra, nó cũng còn được sử dụng trong quá trình thẩm định tính khả thi của các dự toán kinh phí và dự toán chi NSNN, đối với định mức chi tổng hợp ưu điểm của nó là có thể xác định được dự toán chi NSNN nhanh, nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ một nhược điểm là tính chính xác không cao vì vậy nó được lấy làm căn cứ để hướng dẫn cho các ngành các cấp tiến hành xây dựng dự toán kinh phí đồng thời nó cũng là một trong những cơ sở cho cơ quan tài chính khi thẩm định dự toán kinh phí của các đơn vị trực thuộc

Trong lĩnh vực GD&ĐT, định mức chi tiết thường được áp dụng theo hệ thống định mức chi ngân sách Nhà nước áp dụng chung cho lĩnh vực hành chính sự nghiệp còn định mức chi tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong khâu phân bổ ngân sách GD&ĐT cho các địa phương, các đơn vị Định mức chi tổng hợp cho GD&ĐT

có thể được xác định theo đầu dân số hoặc đầu học sinh và theo từng thời kỳ có thay đổi cho phù hợp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

Hệ thống định mức tiêu chuẩn chi tiêu có ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ quá trình lập, duyệt, phân bổ, chấp hành và kiểm tra, duyệt quyết toán NSNN chi cho GD&ĐT Nếu có đầy đủ các loại định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cũng như việc xác định số biên chế, giáo viên cần thiết được tính toán một cách có khoa học phù hợp với khối lượng công việc do từng đơn vị đảm nhiệm thì nhu cầu chi NSNN sẽ được phản ánh chính xác, trung thực trong dự toán NSNN; đồng thời đó cũng là các căn cứ để các cơ quan chức năng duyệt và kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành NSNN của các đơn vị Ngược lại nếu hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu không đầy đủ, không hoàn thiện thì bản thân các đơn vị thiếu những cơ sở để lập dự toán chi, các cơ quan quản lý không có căn cứ để duyệt dự toán, cơ quan Kho bạc Nhà nước không có căn cứ để kiểm soát chi, cơ quan thanh tra, kiểm toán không có căn

cứ để kiểm tra và xác nhận tính chính xác, hợp lệ, hợp pháp của các khoản chi cũng như quyết toán chi tiêu của các đơn vị

Từ sự phân tích trên cho thấy, trong quản lý chi NSNN cho GD&ĐT không những phải xây dựng được hệ thống định mức, chế độ chi tiêu một cách đầy đủ, có

cơ sở khoa học, quá trình quản lý phải tuân thủ triệt để hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đó mà còn phải đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức nhằm xem xét tính phù hợp của hệ thống định mức hiện hành Xu hướng chung, các loại hoạt động càng ngày càng phát triển nên làm nảy sinh các nhu cầu mới Đặc biệt, trong điều kiện còn xảy ra mất giá của tiền tệ càng dễ làm cho định mức chi dễ bị lạc hậu so với thực tiễn

1.2.4.2 Chấp hành dự toán Chi (Tổ chức thực hiện chi)

Hồ sơ dự toán do đơn vị lập cho năm đầu tiên được gửi đến cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước và cơ quan chủ quản cấp trên xem xét tổng hợp Trên cơ sở chỉ tiêu tổng mức ngân sách GD&ĐT và dự toán thu chi do các đơn vị trực thuộc lập,

cơ quan tài chính phối hợp với cơ quan chủ quản trình UBND tỉnh, thành phố quyết định chỉ tiêu dự toán ngân sách cho giáo dục giao cho các trường thực hiện

Chỉ tiêu dự toán do UBND tỉnh (hoặc UBND huyện) giao tới các đơn vị gồm

có 3 chỉ tiêu chính, đó là:

+ Tổng mức dự toán chi năm;

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

+ Tổng số thu học phí và thu khác theo quy định;

+ Tổng số kinh phí do NSNN cấp

Đối với dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên: Căn cứ vào dự toán giao cho các trường học trong năm đầu tiên, cơ quan tài chính và cơ quan chủ quản trình UBND tỉnh, thành phố quyết định chỉ giao cho các trường học mức kinh phí tăng thêm hàng năm theo các lĩnh vực, chứ không duyệt lại dự toán cho hai năm tiếp theo của thời kỳ ổn định

Đối với mức chi không thường xuyên: Căn cứ vào tổng mức ngân sách của địa phương, cơ quan tài chính và cơ quan chủ quản xem xét trình UBND Tỉnh, Thành phố quyết định mức chi cụ thể hàng năm giao cho các trường thực hiện

Căn cứ vào dự toán ngân sách đã được phê duyệt cho GD&ĐT cơ quan tài chính tiến hành cấp phát kinh phí cho các đơn vị thụ hưởng kinh phí ngân sách Nhà nước theo dự toán đã được phê duyệt

1.2.4.3 Công tác Quyết toán chi

Là khâu cuối cùng trong quá trình quản lý chi NSNN Đó chính là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ hạch toán nhằm phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán trong năm Ngân sách

1.2.4.4 Công tác Kiểm tra và kiểm soát

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN cho GD&ĐT không thể thiếu vai trò của công tác kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt trong quá trình thực hiện dự toán chi NSNN

Quá trình kiểm tra, kiểm soát đảm bảo cho việc thực hiện ngân sách đúng chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước, đồng thời giúp cho việc sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu đề ra Quá trình này có nhiều cơ quan tham gia như: Cơ quan Tài chính, Cơ quan chủ quản, Kho bạc nhà nước, Thanh tra tài chính, Đơn vị sử dụng ngân sách Trong đó các Bộ, sở và cơ quan các đơn vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các đơn vị này thực hiện công tác kiểm tra nội bộ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Cơ quan tài chính có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị sử dụng ngân sách Thanh tra tài chính có nhiệm

vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của các tổ chức, xem xét giải quyết các đơn khiếu tố về tài chính, kiểm tra các vụ việc đã xảy ra trong hoạt động quản lý ngân sách Các tổ chức cá nhân có nhiệm vụ thu, nộp NSNN, sử dụng vốn, kinh phí NSNN và quản lý các khoản thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán các khoản thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và mục lục NSNN

Cơ quan KBNN tiến hành kiểm soát hồ sơ của các đơn vị sử dụng NSNN, bao gồm:

Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán NSNN được giao, đảm bảo các khoản chi có trong dự toán

Kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi

Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

KBNN được quyền từ chối, không chấp nhận thanh toán, chi trả nếu các khoản chi không đủ điều kiện chi

Quá trình kiểm tra, kiểm soát đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đơn vị, nhằm mục tiêu đưa công tác quản lý chi NSNN theo đúng khuôn khổ pháp lý, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo tính chủ động cho các đơn

vị sử dụng NSNN

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo

- Thứ nhất: Tốc độ phát triển kinh tế, dân số của đất nước

Về phát triển kinh tế cho thấy nếu nền kinh tế phát triển sẽ là động lực quan trọng để phát triển xã hội, nâng cao mức sống người dân và người lao động Theo chế độ tài chính hiện hành, thông thường tỷ lệ điều tiết của Nhà nước có tính ổn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

định trong một thời gian dài cho nên khi tổng sản phẩm quốc nội tăng sẽ làm tăng

số thu ngân sách Nhà nước, số chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT không những chịu ảnh hưởng đến tốc độ phát triển nền kinh tế, mà còn chịu ảnh hưởng của phương thức phân phối tổng sản phẩm quốc nội

Tốc độ dân số tăng lên, dân số lớn sẽ làm giảm thu nhập quốc dân bình quân đầu người, giảm thu nhập bình quân của mỗi gia đình Do đó, các gia đình khó có điều kiện cho con đi học, nguồn kinh phí đầu tư từ gia đình cũng giảm, gây ảnh hưởng tới số chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT

Trong trường hợp tốc độ tăng dân số nhỏ hơn tốc độ tăng sản phẩm quốc nội, nghĩa là thu nhập bình quân đầu người tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu đào tạo, chi NSNN cho GD&ĐT sẽ tăng lên Muốn đảm bảo cho GD&ĐT tạo phát triển được thì tốc độ tăng chi cho GD&ĐT phải lớn hơn tốc độ gia tăng của học sinh đào tạo Trong điều kiện nước ta hiện nay, nhu cầu đào tạo đã thực sự biến đổi tỷ lệ thuận với dân số Ngân sách Nhà nước khó có thể đáp ứng được chu toàn Trước tình cảnh đó việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình ngoài ý nghĩa giải quyết các vấn

đề xã hội còn có tác dụng giảm nhẹ nhu cầu chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT

- Thứ hai: Mạng lưới và bộ máy tổ chức GD&ĐT, Cơ sở vật chất phục vụ

công tác quản lý cho GD&ĐT

Mạng lưới tổ chức hoạt động GD&ĐT là hệ thống các trường đào tạo, cơ cấu tổ chức cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới khoản chi lương, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể cũng như chi phí quản lý hành chính Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới GD&ĐT sẽ tác động mạnh tới số chi, một mạng lưới vừa gọn nhẹ vừa đủ, bố trí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý, giảng dạy thì phần nào sẽ giảm chi cho ngân sách Nhà nước và ngược lại trường lớp bố trí không hợp lý, bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, biên chế giáo viên giảng dạy quá nhiều, không xếp đủ số giờ, số tiết tiêu chuẩn cho họ theo quy định của Nhà nước thì chi ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước sẽ giảm xuống

Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu dài là từng bước hợp lý hóa mạng lưới tổ chức, tinh giảm gọn nhẹ biên chế, nâng cao chất lượng giảng dạy,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệ thống GD&ĐT Ngành Tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức mạng lưới GD&ĐT

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới số chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT giúp chúng ta có cơ sở phân tích tính hợp lý về nội dung và mức độ chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT ở các năm, giải thích được sự khác nhau của nó ở các giai đoạn lịch sử, đồng thời từ những biến đổi của các hiện tượng kinh tế xã hội

mà thấy được sự cần thiết phải thay nội dung, mức độ chi cho phù hợp Khi ấy các nhân tố ảnh hưởng đã thực sự trở thành các cơ sở khoa học để xác định số chi ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT Ngoài ra trong công tác quản lý tài chính cũng thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố đó mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp trong từng thời kỳ

Tính hợp lý hay không hợp lý trong tổ chức mạng lưới GD&ĐT sẽ tác động mạnh đến số thu chi ngân sách Nếu bộ máy gọn nhẹ và bố trí trường lớp hợp lý thì sẽ tác động tích cực đến công tác quản lý tài chính, quản lý chi

Thực trạng trang thiết bị, cơ sở vật chất và phương tiện, nhân tố này có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất không thường xuyên của ngân sách Nhà nước cho GD&ĐT như khoản chi sửa chữa, mua sắm máy móc, thiết bị cho hoạt động giảng dạy, khoản chi này không có định mức quản lý và được xác định tùy thuộc vào thực trạng của nhà trường

- Thứ ba: Chính sách của Nhà nước

Đối với các nước nói chung và Việt nam nói riêng, GD&ĐT có ý nghĩa vô cùng quan trọng, sự phát triển của GD&ĐT có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực trong kinh tế, xã hội Đảng, Nhà nước ta coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu Xuất phát từ đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách và tăng cường đầu tư cho GD&ĐT Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động GD&ĐT đã tăng cường quản lý, hoàn thiện và từng bước được đổi mới

- Thứ tư: Trình độ đội ngũ kế toán của các cơ sở giáo dục

Trong những năm gần đây, công tác tổ chức cán bộ làm quản lý ngân sách nói chung và công tác kế toán của các đơn vị sử dụng ngân sách của trường, có sở giáo

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

dục luôn được các cấp ngành liên quan rất quan tâm Đội ngũ kế toán ngân sách, kế toán các cơ sở giáo dục đã được không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng mềm

- Thứ năm: Ý thức chấp hành luật của các đơn vị sử dụng ngân sách

Hệ thống tiêu chuẩn và định mức chi tiêu NSNN thực tế chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, Vì thế, nhiều đơn vị còn lợi dụng cơ chế để quyết định chi sai một số nội dung chưa sát với nhiệm vụ chuyên môn, nhiều cán bộ quản lý và cán bộ viên chức còn hời hợt, chưa sâu sát và còn buông lỏng quản lý

1.2.6 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác quản lý chi Ngân sách nhà nước về Giáo dục và đào tạo

Nền GD&ĐT nước ta hiện nay có nhiều loại hình trường học khác nhau, tuy nhiên trường công lập vẫn giữ vai trò chủ đạo Cùng với quá trình cải cách hành chính thì việc đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế tài chính đối với các trường công lập là một nhu cầu cấp thiết với xã hội

Thứ nhất Cơ chế quản lý tài chính hiện hành về cơ bản vẫn là cơ chế của

thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, không còn phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế không những tác động đến mục tiêu, nội dung và phương pháp của GD&ĐT mà còn đòi hỏi sự đổi mới của quản lý GD&ĐT Trong cơ chế thị trường, các cơ sở GD&ĐT phải có tính tự chủ cao, kể cả tự chủ tài chính để thực hiện chức năng nhiệm vụ Với nguồn kinh phí từ NSNN thì cơ sở giáo dục vẫn phải được chủ động sử dụng Cơ chế tài chính cũ với những quy định quá chặt chẽ, chi tiết và cứng nhắc đã hạn chế, cản trở sự chủ động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, sử dụng kinh phí kém hiệu quả và đôi khi phải vận dụng để qua mặt các cơ quan quản lý tài chính nên dễ nảy sinh tiêu cực

Thứ hai Cơ chế thị trường đòi hỏi xã hội hoá giáo dục GD&ĐT không còn

là việc riêng của nhà nước mà là của toàn xã hội, của nhiều thành phần kinh tế Xã hội hoá giáo dục mới có khả năng đáp ứng được nhu cầu học tập tăng lên nhanh chóng của xã hội và mới thực sự có đủ nguồn để đáp ứng yêu cầu đó Trong cơ chế thị trường và giáo dục được xã hội hoá thì người học mới có nhiều cơ hội chọn địa

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

điểm học, ngành học, những kiến thức cần thiết mà công việc, nghề nghiệp đòi hỏi

và người học có trách nhiệm đóng góp kinh phí để thực hiện quá trình đào tạo Cơ

sở GD&ĐT phải được chủ động sử dụng huy động nguồn kinh phí hợp pháp để hoàn thành nhiệm vụ của mình

Thứ ba Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, sản phẩm của

GD&ĐT ở một khía cạnh nhất định phải được xem như hàng hoá dịch vụ Hàng hoá dịch vụ cũng có chi phí và giá cả Người sản xuất đòi hỏi phải bù đắp được chi phí

và có lãi cần thiết để tồn tại và phát triển Người mua hàng hoá dịch vụ phải trả đúng giá cả của hàng hoá Đối với các trường ngoài công lập thì đây chính là cơ sở

để xác định mức học phí, lệ phí hàng tháng phải đóng góp Đối với các trường công lập thì nguồn kinh phí chủ yếu vẫn là ngân sách Nhà nước Song, do yêu cầu phát triển nhanh chóng của GD&ĐT đặc biệt là trong thời đại bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đòi hỏi phải đầu tư cho GD&ĐT cơ sở vật chất, thiết

bị hiện đại tăng rất lớn thì ngân sách nhà nước không thể đáp ứng

Nhà nước cần huy động vốn thêm từ phía người học Cần có chế độ học phí phù hợp với từng cấp học, ngành học phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội

ở từng vùng Các đơn vị phải được quyền quyết định linh hoạt mức học phí với từng cấp học, ngành học phù hợp với quy định khung của Nhà nước và được quyền tự chủ sử dụng nguồn thu để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước không nên can thiệp quá sâu, quy định quá chi tiết các khoản thu của đơn vị tuy nhiên nhà nước cần có chế

độ thanh tra, kiểm tra tài chính một cách khoa học, đảm bảo hoạt động tài chính công khai, minh bạch, đúng mục đích và xử lý nghiêm những sai phạm trong hoạt động tài chính

Thứ tư Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, GD&ĐT cũng diễn ra

sự cạnh tranh Các cơ ở GD&ĐT từng bước xây dựng thương hiệu cho mình Tuy nhiên sự cạnh tranh trong GD&ĐT không phải về giá cả mà về chất lượng, chính chất lượng GD&ĐT làm nên thương hiệu các trường Ở thành phố lớn và các tỉnh hiện nay, việc học sinh đua nhau thi vào các trường có uy tín chính là khẳng định thương hiệu của trường đó Trong kinh tế thị trường thì thương hiệu chính là tài sản

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

vô hình, là yếu tố để tạo nên giá trị hàng hoá Như vậy cần nghiên cứu để áp dụng chế độ học phí khác nhau, không nên đặt ra mức thu bình quân như hiện nay đang thực hiện

GD&ĐT để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là yêu cầu khách quan Nhà nước có trách nhiệm phát triển GD&ĐT và đảm bảo cung ứng dịch vụ GD&ĐT cho xã hội một cách công bằng Còn đối với cá nhân thì học

để có kiến thức vững vàng, có kỹ năng, tay nghề nhằm ổn định cuộc sống, có việc làm và thu nhập hoặc cơ hội thăng tiến tức là đáp ứng yêu cầu cá nhân

Hơn nữa, sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền thường có sự mất cân đối, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng khác nhau Vì vậy ngân sách đầu tư cho phát triển giáo dục vào các vùng, các khu vực cũng khác nhau không thể dàn trải và mức thu học phí, lệ phí cũng cần có mức thu khác nhau đối với từng khu vực dân

cư Đó cũng là yêu cầu công bằng xã hội của GD&ĐT trong cơ chế thị trường

Như vậy, cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới về GD&ĐT và những đòi hỏi phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với GD&ĐT Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp GD&ĐT không thể tách rời quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường công lập là một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng như đối với bất kỳ địa phương nào

1.3 THỰC TIỄN VÀ INH NGHIỆM CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1.3.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm ở Sing-ga-po

Quản lý chi ngân sách theo kết quả Năm 1996, một khuôn khổ toàn diện

“Quản lý ngân sách theo kết quả” trong chương trình cải cách “Dịch vụ công thế kỷ 21” nhằm đưa dịch vụ công của Xing-ga-po “Đúng hẹn trong tương lai” (Being in

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

time for the future) được chính thức áp dụng Trụ cột chính hỗ trợ cách thức quản lý theo kết quả đó là “Bản đồ chiến lược của toàn bộ Chính phủ” Bản đồ này cho phép Chính phủ tập trung vào những mục tiêu tổng thể, chỉ ra ưu tiên quan trọng nhất và sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ và tổ chức Bản đồ cũng chỉ ra các nguồn lực cần thiết để hướng tư duy và hành động của các Bộ tới kết quả phát triển chung Đây được xem là khuôn khổ tương đối đồng bộ để quản lý nguồn nhân lực theo cách tiếp cận hệ thống nhằm đạt được kết quả Cũng trong lần cải cách cơ bản này, Chính phủ nhấn mạnh đến sự thay đổi trong cung cấp dịch vụ công trong mối quan

hệ mật thiết với cải cách tài chính công

Các tổ chức công được phép hoàn toàn tự chủ như một tổ chức độc lập theo

mô hình gần giống như doanh nghiệp (Autonomous Agencies) về quản lý con người

và tài chính, điều chỉnh theo sự thay đổi của môi trường trong nước và quốc tế Nguồn lực phân bổ theo các kết quả đầu ra và các mục tiêu hoạt động đã được thiết lập thay vì đầu vào Bằng cách kết nối ngân sách với kết quả đầu ra, các tổ chức công được quyền tự chủ cao hơn và linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn lực, nhưng cũng bị ràng buộc cao hơn về trách nhiệm giải trình đối với kết quả Ví dụ: tổ chức

có thể chuyển ngân sách sang năm sau nếu chưa sử dụng hết ngân sách phân bổ (giới hạn trong phạm vi dưới 5% số phân bổ đầu năm) hoặc quyết định phân bổ và chi tiêu cho ngân sách đầu tư và thường xuyên Nhằm tránh tình trạng ngân sách có trong dự toán nhưng không được sử dụng, những tổ chức công nào chi tiêu không đạt 95% so với số phân bổ đầu năm thì trong năm ngân sách tiếp theo ngân sách của

họ sẽ bị giảm xuống nhằm phản ánh chính xác nhu cầu thực của tổ chức

Để đo lường kết quả đầu ra, Bộ Tài chính không áp đặt chỉ số kết quả đầu ra và chỉ số hoạt động cho các Bộ và tổ chức công Các Bộ phải tự xây dựng các bộ chỉ số thích hợp với tổ chức sau đó chính những thông tin kết quả mà họ xây dựng sẽ được dùng trong khi thảo luận ngân sách với Bộ Tài chính và đánh giá kết quả hoạt động Công cụ “Thẻ báo cáo” được sử dụng rộng rãi nhằm “đo lường” sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công, đối với toàn bộ hoạt động của Chính phủ và của từng Bộ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 25/09/2019, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w