Cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng là một yếu tố quan trọng đóng vai trò then chốt đối với phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia trên thế giới. Đảng và Nhà nước ta cũng luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi ổn định và có những dấu hiệu tăng trưởng mạnh mẽ. Tăng trưởng GDP năm 2017 đạt 6,81%, vượt kế hoạch Quốc hội đề ra. Không những thế, mức tăng GDP trong 9 tháng đầu năm 2018 còn đạt mức 6,98%, mức cao nhất trong 8 năm trở lại đây. Những thành công trên về kinh tế không thể phủ nhận sự đóng góp không nhỏ của việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá, hành khách… Bên cạnh những đóng góp cho nền kinh tế, chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông còn góp phần thúc đẩy đời sống xã hội ở tất cả các vùng miền trên cả nước; góp phần gìn giữ chủ quyền; bảo vệ an ninh – quốc phòng; giao lưu văn hoá giữa các địa phương. Thế nhưng, để đáp ứng nhiều hơn nữa cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đón lấy những cơ hội để đưa nước ta phát triển vượt bậc; sánh vai với các cường quốc năm châu thì vẫn nhiều hơn sự quan tâm, đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Trong bối cảnh nợ công tăng cao, ngân sách Nhà nước thâm hụt. Thêm vào đó nguồn vốn ODA ngày càng khó tiếp cận và những hệ luỵ không nhỏ của nó về kinh tế, chính trị thì hình thức đối tác công tư trở thành một giải pháp quan trọng để hu hút vốn đầu tư tư nhân cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng đã áp dụng thành công và cho thấy được tính hiệu quả của hình thức này.
Trang 11.1.2 Vai trò và mục tiêu của các bên khi tham gia hợp đồng
1.2 HỢP ĐỒNG PPP TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNGGIAO
THÔNG 9 1.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông và vai trò của việc đầu tư phát triển
thông 9
Trang 21.2.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao
thông 9
1.2.1.2 Vai trò của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông 9
1.2.2 Hợp đồng PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông 1.2.2.1 Tính vượt trội của hình thức PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông 10
1.3 KINH NGHIỆM VỀ ĐẦU TƯ PPP TRONG LĨNH VỰC HẠ TẦNG GIAO THÔNG CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 12
1.3.1 Kinh nghiệm về đầu tư PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông một số nước trên thế giới 12
1.3.1.1 Một số nước phát triển 12
a Australia 12
b Hoa Kỳ 13
1.3.1.2 Một số nước đang phát triển 14
a Ấn độ 14
b Trung Quốc 15
1.3.2 Bài học cho Việt Nam 16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC PPP TẠI VIỆT NAM 17” 2.1 THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG TẠI VIỆT NAM
17 2.1.1 Hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông tại Việt Nam 17
2.1.2 Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam 18
2.1.2.1 Vốn ngân sách Nhà nước 19
2.1.2.2 Vốn ODA 19
2.1.2.3 Vốn tư nhân 20
2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC PPP TẠI VIỆT NAM 20
2.2.1 Khung pháp lý về đầu tư theo hình thức PPP ở Việt Nam 20
2.2.2.1 Khái quát khung pháp lý 21
2
Trang 32.2.1.2 Nghị định CP 21
2.2.1.3 Một vài điểm nổi bật của Nghị định CP 22
2.2.2 Về hình thức triển khai thựchiện 23
2.2.2.1 BOT 24 2.2.2.2 BT 24 2.2.2.3 Nhượng quyền khai thác 25
2.2.4 Một vài dự án tiêu biểu 262.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNGTHEO HÌNH THỨC PPP TẠI VIỆT NAM 26 2.3.1 Thành tựu 26 2.3.2 Hạn chế 27
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CÁC
DỰ ÁN PPP TẠI VIỆT NAM 31
3.1 ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ CHO CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VIỆTNAM 31 3.1.1 Định hướng đầu tư 31 3.1.2 Định hướng vốn đầu tư 313.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ CÁC DỰ
ÁN PPP TẠI VIỆT NAM 32
KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
3
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng là một yếu
tố quan trọng đóng vai trò then chốt đối với phát triển kinh tế - xã hội ở mỗiquốc gia trên thế giới Đảng và Nhà nước ta cũng luôn dành sự quan tâm đặcbiệt đối với công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi ổn định và
có những dấu hiệu tăng trưởng mạnh mẽ Tăng trưởng GDP năm 2017 đạt6,81%, vượt kế hoạch Quốc hội đề ra Không những thế, mức tăng GDP trong 9tháng đầu năm 2018 còn đạt mức 6,98%, mức cao nhất trong 8 năm trở lại đây.Những thành công trên về kinh tế không thể phủ nhận sự đóng góp không nhỏcủa việc nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá,hành khách… Bên cạnh những đóng góp cho nền kinh tế, chất lượng cơ sở hạtầng giao thông còn góp phần thúc đẩy đời sống xã hội ở tất cả các vùng miềntrên cả nước; góp phần gìn giữ chủ quyền; bảo vệ an ninh – quốc phòng; giaolưu văn hoá giữa các địa phương
Thế nhưng, để đáp ứng nhiều hơn nữa cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước, đón lấy những cơ hội để đưa nước ta phát triển vượt bậc; sánh vaivới các cường quốc năm châu thì vẫn nhiều hơn sự quan tâm, đầu tư cho pháttriển cơ sở hạ tầng giao thông
Trong bối cảnh nợ công tăng cao, ngân sách Nhà nước thâm hụt Thêm vào
đó nguồn vốn ODA ngày càng khó tiếp cận và những hệ luỵ không nhỏ của nó
về kinh tế, chính trị thì hình thức đối tác công tư trở thành một giải pháp quantrọng để hu hút vốn đầu tư tư nhân cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giaothông Không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng đã áp dụngthành công và cho thấy được tính hiệu quả của hình thức này
Tuy hình thức đối tác công tư đã được đưa vào áp dụng trong đầu tư pháttriển giao thông và đem lại nhiều kết quả tích cực nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tạikhông ít hạn chế, một số hạn chế của hình thức này thậm chí còn gây bức xúclớn trong xã hội thời gian gần đây
Nắm bắt được những xu thế đó, đề án môn học này tập trung nghiên cứu vềhình thức đối tác công tư trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở ViệtNam Với mục đích chính là hiểu rõ thực tiễn áp dụng hình thức này ở nước ta
và tìm ra một vài giải pháp để thu hút vốn đầu tư cho hình thức đối tác công tư
và nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước đối với nó
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH THỨC ĐỐI TÁC
CÔNG – TƯ PPP
1.1 Hình thức đối tác công tư PPP
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của PPP
1.1.1.1 Khái niệm
Hợp đồng PPP (Public- private- partnership) là hợp đồng đầu tư theo hình
thức đối tác công tư “Theo Nghị định 63/2018/NĐ_CP: Đầu tư theo hình thức
PPP là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan Nhà nước có thầm và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận
hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công”
“PPP là một mối quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân đểthực hiện một dự án hoặc một dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm phải đứng racung cấp Đây là hình thức trong đó nhà nước cho phép tư nhân cùng tham giađầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng Theo đó, Nhà nước sẽ cóthiết lập những quy định chi tiết về lĩnh vực, điều kiện, thủ tục và các tiêu chuẩn
về cung cấp dịch vụ công còn khu vực tư nhân được tham gia hợp tác bằng cơchế thanh toán chất lượng dịch vụ PPP là hình thức hợp tác tối ưu hoá hiệu quảđầu tư và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao Hình thức này tận dụng đượcnguồn lực tài chính và lợi thế quản lý chặt chẽ từ khu vực tư nhân, trong khi vẫnđảm bảo được lợi ích của người dân.”
Cũng theo Nghị định 63, các lĩnh vực đầu tư của PPP bao gồm:
- Giao thông vận tải
- Đô thị, công viên, sân bãi để xe ô tô
- Điện
- Công trình kết cấu hạ tầng xã hội
- Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khu kinh tế, khu công nghệcao
- Nông nghiệp
- Lĩnh vực khác
1.1.1.2 Đặc trưng
Từ khái niệm trên có thể thấy được những đặc trưng của hình thức đầu tư
theo hợp đồng PPP như sau:
Là sự hợp tác giữa khu vực Nhà nước và đối tác tư nhân trên một hợp đồng lâu dài để tạo ra các tài sản hoặc dịch vụ công
Quan hệ hợp tác công tư có sự tham gia của khu vực tư nhân nhưng vẫnghi nhận vai trò của khu vực Nhà nước Hợp đồng PPP thể hiện sự hợp tác dựatrên một hợp đồng dài hạn, qua đó mỗi bên sẽ cung cấp nhưng kỹ năng, nănglực, tài sản của mình để tạo ra những sản phẩm nhất định Sản phẩm của hợpđồng PPP là các công trình phục vụ lợi ích công cộng, cung cấp dịch vụ công ví
dụ như: Công trình giao thông vận tải; công trình điện như nhà máy điện, đườngdây tải điện; hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nước, cung cấp nước sạch, xử lí chất
Trang 6thải… công cộng; Các công trình phục vụ y tế, giáo dục; Công trình phát triểnnông nghiệp, nông thôn; Hạ tầng đô thị, khu phục vụ phát triển công nghệ cao;khu kinh tế… Nói tóm lại là các công trình tạo động lực phát triển cho kinh tế,
xã hội của đất nước Vốn đầu tư sẽ được phân bổ theo một thời gian quy địnhsẵn trong hợp đồng, có sự tách biệt rõ ràng giữa dòng tiền doanh thu với dòngvốn đầu tư
Lợi ích, chi phí, rủi ro và trách nhiệm được phân bổ một cách hợp lí giữa hai khu vực
Tư nhân sẽ sử dụng những kỹ năng về xây dựng, quản lý, điều hành của
mình để thực hiện và vận hành, quản lý dự án sau đó nhận được lợi ích từ việckinh doanh trên dự án hay khoản thanh toán của Nhà nước bằng tiền hoặc cácloại tài sản khác Trong khi đó, Nhà nước cũng đóng góp cho dự án bằng cách
hỗ trợ về pháp lý, môi trường, tài chính, hỗ trợ vốn đầu tư cho dự án, hỗ trợkinh nghiệm quản lý hoặc đóng góp các hiện vật khác; Lợi ích mà Nhà nước đạtđược là các tài sản, dịch vụ công đã được hoàn thiện và giảm gánh nặng chongân sách “Cơ cấu của mối quan hệ hợp tác được thiết lập để phân bổ rủi ro chođối tác nào có khả năng giải quyết rủi ro đó một cách tốt nhất.”
Cả hai bên đều có chung kết quả mong đợi là chất lượng hàng hoá, dịch
vụ và hiệu quả sử dụng vốn
Khi dự án đạt chất lượng tốt, hiệu quả sử dụng vốn cao thì cả hai khu vực
là Nhà nước và tư nhân đều được hưởng lợi cho nên đây là mục tiêu chung của
cả hai khu vực khi tham gia hợp đồng PPP
Khu vực tư nhân chịu trách nhiệm xây dựng và triển khai
Đối tác tư nhân tham gia vào việc tài trợ vốn, đưa ra phương án thiết kế,xây dựng, và vận hành các dự án cơ sở hạ tầng Tư nhân cũng chịu trách nhiệm
về hiệu quả vận hành của dự án trong dài hạn và được chủ động trong việcquyết định phương thức vận hành dự án
Khu vực công nắm quyền sở hữu tài sản
Quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về khu vực công và được khu vực tư nhânchuyển giao sau khi kết thúc hợp đồng Việc thanh toán được thực hiện trongsuốt thời gian của hợp đồng
1.1.2 Vai trò và mục tiêu của các bên khi tham gia hợp đồng PPP
1.1.2.1 Vai trò của các bên liên quan trong hợp đồng PPP
Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng hình thức PPP ngoài sự tham gia của
hai khu vực chính là cơ quan Nhà nước và công ty thực hiện dự án thì còn cóhiện diện của nhiều đối tượng khác đóng vai trò quan trọng vào việc hình thànhnên một hợp đồng PPP Ví dụ như một công trình cơ sở hạ tầng phải luôn xuấtphát từ nhu cầu sử dụng công trình đó của một địa phương, vùng miền haynhững đối tượng cụ thể; Có như vậy thì Nhà nước mới nhìn thấy được cần đầu
tư vào đâu, đầu tư như thế nào, hay giả như khi thực hiện dự án PPP, rất ít nhàđầu tư có thể tự lo được toàn bộ vốn thực hiện mà phải vay từ các ngân hàngthương mại hoặc các tổ chức tài chình Vì thế bên cạnh hai khu vực chính là
Trang 7Nhà nước và chủ đầu tư thì không thể thiếu được sự đóng góp của các thànhphần kinh tế, xã hội khác Các thành phần ấy được thể hiện dưới đây:
Hình 1.1: Vai trò của các bên liên quan trong hợp đồng PPP
(nguồn: KPMG)
1.1.2.2 Mục tiêu tham gia PPP của các bên
Khi tham gia vào hợp đồng PPP, mỗi bên liên quan kể cả hai đối tác chính
là Nhà nước và nhà đầu tư đều có những lí do chính hay những mục tiêu đểhướng đến Những mục tiêu ấy được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 8Hình 1.2: Mục tiêu của các bên liên quan trong hợp đồng PPP (nguồn: Vụ đối tác công tư – Bộ KH&ĐT)
1.1.3 Các hình thức hợp tác công-tư
1.1.3.1 Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT)
“Hợp đồng BOT là hợp đồng được kí giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; saukhi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền kinhdoanh công trình đó trong một thời hạn nhất định; hết hạn, nhà đầu tư, doanhnghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Đây là loại hình đầu tư được thực hiện nhiều nhất trong các loại hình đầu tưbằng hợp đồng PPP.”
“Trong hợp đồng BOT nhà điều hành tư nhân được quyền sở hữu tài sảntrong một khoảng thời gian đủ để cho đối tác tư nhân xây dựng cơ sở hạ tầngthu hồi chi phí đầu tư và tạo ra một khoản lợi nhuận qua việc trả phí của người
sử dụng Sau khi đã thực hiện việc kinh doanh trên dự án theo một thời giannhất định đã được kí kết trong hợp đồng thì nhà đầu tư phải chuyển giao quyềnđiều hành, quản lý dự án ấy lại cho cơ quan nhà nước và không được quyền thuphí trên dự án đó nữa.”
Trang 9Hình 1.3: Cấu trúc hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT)
“Qua định nghĩa này có thể thấy Nhà nước nhìn nhận hợp đồng BOT theohai khía cạnh Thứ nhất, hợp đồng BOT được thực hiện dựa trên một quá trìnhđầu tư của nhà đầu tư, nhấn mạnh đến tiến trình từ việc nhà đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng cho đến việc kinh doanh công trình đó và chuyển giao không bồihoàn cho nhà nước Khía cạnh thứ hai là mối quan hệ chủ thể giữa các bên tronghợp đồng, trong đó nhà nước giữ vai trò quản lý hành chính vĩ mô còn nhà đầu
tư tiến hành các hoạt động đầu tư và kinh doanh đối với các công trình Cụ thể,
cơ quan Nhà nước tham gia vào hầu hết các quá trình giao kết và thực hiện hợpđồng BOT nhưu xây dựng danh mục dự án, lựa chọn nhà đầu tư, cấp giấy chứngnhận đầu tư, chuyển giao công trình dự án.”
Hợp đồng BOT có những nét đặc biệt như sau:
- Đối tượng thực hiện của hợp đồng BOT không bao giờ là động sản mà luôn
là các công trình cơ sở hạ tầng như nhà máy, điện, đường sá, cầu cống, hệthống thoát nước, sân bay… Đây là những hạng mục thường do Nhà nướcchịu trách nhiệm thực hiện
- Chủ thể của hợp đồng này gồm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ đầu
tư
- Nhà đầu tư sẽ thay Nhà nước thực hiện những hạng mục mà Nhà nước cótrách nhiệm thực hiện và sau quá trình kinh doanh trên dự án ấy thì quyền sởhữu sẽ được chuyển giao cho Nhà nước
- Khi thực hiện dự án BOT, nhà đầu tư thường sẽ được nhà nước hỗ trợ về vốnhay thường là đứng ra bảo đảm cho nhà đầu tư vay vốn thực hiện dự án tạicác ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng Ngoài ra Nhà nước còn hỗ trợ nhà đầu
tư về mặt pháp lý, môi trường đầu tư hoặc mặt bằng thực hiện dự án
1.1.3.2 Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh(BTO)
“Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trìnhkết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơquan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trongmột thời hạn nhất định.”
Hợp đồng BTO có những đặc điểm như:
- Đơn vị tư nhân cấp vốn và xây dựng theo hình thức chìa khoá trao tay
- Đơn vị tư nhân chuyển giao cho Nhà nước sau khi đưa vào vận hành
- Đơn vị tư nhân vận hành theo các điều khoản thoả thuận với Nhà nước 1.1.3.3 Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT)
“Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng;nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàđược thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác.”
Các công trình được thực hiện theo hình thức này có một số đặc điểm:
- Đơn vị tư nhân cấp vốn và xây dựng theo hình thức chìa khoá trao tay
Trang 10- Đơn vị tư nhân chuyển giao cho Nhà nước sau khi đưa vào vận hành
- Đơn vị tư nhân nhận thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện dự án khác
- Nhà nước chịu trách nhiệm vận hành dự án
1.1.3.4 Hợp đồng Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (BOO)
“Hợp đồng Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (BOO) là hợp đồng được kýgiữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kếtcấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyềnkinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.”
Hình thức này có những đặc điểm:
- Đơn vị tư nhân triển khai dự án
- Đơn tư nhân vận hành và duy trì liên tục trong khoảng thời gian cho phép
1.1.3.5 Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ (BTL)
“Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-thuê dịch vụ là hợp đồng được ký giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhànước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khaithác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩmquyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư.”
Hình thức này có những đặc điểm sau:
- Đơn vị tư nhân cấp vốn và xây dựng theo nguyên tắc chìa khoá trao tay
- Đơn vị tư nhân chuyển giao cho nhà nước sau khi đưa vào vận hành
- Đơn vị tư nhân vận hành dự án
- Đơn vị tư nhân thu phí thuê công trình từ Nhà nước
1.1.3.6 Hợp đồng Xây dựng – Thuê dịch vụ – Chuyển giao (BLT)
“Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu
tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đótrong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ vàthanh toán cho nhà đầu tư; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyểngiao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.””
Hình thức này có những đặc điểm sau:
- Đơn vị tư nhân cấp vốn và xây dựng theo nguyên tắc chìa khoá trao tay
- Đơn vị tư nhân vận hành dự án
- Đơn vị tư nhân thu phí thuê công trình từ Nhà nước
- Đơn vị tư nhân chuyển giao cho nhà nước sau thời gian vận hành cho phép
1.1.3.7 Hợp đồng Kinh doanh – Quản lý (O&M)
“Là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định.” Gồm một số đặc điểm sau:
- Nhà nước sở hữu tài sản dự án
Trang 11- Đơn vị tư nhân ký hợp đồng vận hành và duy trì liên tục, thực hiện quản
lý hoạt động nhưng không sở hữu
1.1.4 Những thuận lợi và hạn chế của hình thức đối tác công tư PPP
1.1.4.1 Thuận lợi
So với các hình thức đầu tư truyền thông là đầu tư công và đầu tư tư nhân
thì hình thức PPP có những điểm thuận lợi như sau:
Thứ nhất, thu hút được nguồn vốn đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước
tham gia vào các lĩnh vực của việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trongkhi đó đối tác nhà nước vẫn có thể tham gia tài trợ cho các dự án bằng nguồn tàichính hoặc tài trợ về mặt pháp lý, môi trường đầu tư Đối với Nhà nước, việcthu hút được vốn đầu tư tư nhân giúp giảm gánh nặng cho nguồn ngân sách,giảm nợ công mà vẫn tăng tiềm năng đầu tư cho cơ sở hạ tầng Từ đó có thể tậptrung ngân sách cho những lĩnh vực quan trọng khác như giáo dục đào tạo, pháttriển khoa học – công nghệ Còn đối với tư nhân, hình thức PPP giúp cho cácnhà đầu tư tư nhân tiếp cận được với một lĩnh vực đầu tư lớn, tiếp cận dòng vốn
có sự bảo trợ từ khu vực nhà nước và hỗ trợ họ tiếp cận các giai đoạn khác trongchuỗi giá trị Nói tóm lại hình thức này có thể mang lại những hiệu quả cao vềtài chính cho cả khu vực tư nhân và Nhà nước
Thứ hai, sử dụng được chuyên môn, kỹ năng về kỹ thuật, công nghệ, quản
lý của tư nhân Bên cạnh đó Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việcgiám sát thực hiện các dự án Từ đó giúp cho dự án đạt hiệu quả cao về cả mặtchất lượng, tài chính và tiến độ
Thứ ba, tăng hiệu quả cung cấp tài sản, dịch vụ công nhờ khả năng quản
lý, vận hành tốt của tư nhân Đồng thời đảm bảo tính an toàn vốn thông quachính sách “không cung cấp dịch vụ, không thanh toán”
Thứ tư, rủi ro từ dự án có thể được phân chia phù hợp với các bên tham
gia Đây là một lợi thế ro rệt nếu so với đầu tư công và đầu tư hoàn toàn bằng tưnhân truyền thống thì mỗi bên phải tự chịu rủi ro
Thứ năm, cải thiện tính minh bạch so với hình thức đầu tư công truyền
thông khi phía tư nhân xây dựng, vận hành, quản lý còn phía Nhà nước sẽ giámsát quá trình này
1.1.4.2 Hạn chế
“Bên cạnh mặt tích cực, hình thức PPP vẫn tồn tại nhiều hạn chế
- Khi tham gia hợp đồng PPP khu vực công sẽ ít nhiều mất đi quyền kiểm
soát và quản lý và vì vậy khó được chấp nhận trên góc độ chính trị Nhất làđối với những dự án có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến an ninh, quốcphòng, an ninh năng lượng hoặc tác động đến nền kinh tế vĩ mô
- Đòi hỏi khu vực công phải đủ năng lực và kỹ năng để áp dụng phương pháp
PPP và thiết lập được một môi trường pháp lý khuyến khích nhà đầu tư Cònkhu vực tư nhân phải đủ năng lực chuyên môn và tài chính mới đảm bảothực hiện được dự án PPP”
- Quá trình đấu thầu phức tạp và tốn kém, bắt buộc phải lựa chọn nhà đầu tư
kỹ càng do các công trình, dịch vụ công cộng đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời
Trang 12gian thu hồi vốn dài và rủi ro cao Đồng thời phát sinh nhiều khoản chi phíngầm so với đầu tư công truyền thống
- Đối với khu vực tư nhân, phải chia sẻ lợi nhuận đạt được với Nhà nước
đồng thời chịu sự giám sát của Nhà nước về tài chính – hạn chế trong việcthu được các khoản lợi ích về kinh tế Thế nhưng nếu dự án thất bại họ sẽphải chịu rủi ro cuối cùng, nhất là khi phải vay vốn tín dụng để thực hiện dự
án
1.2 Hợp đồng PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
1.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông và vai trò của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
1.2.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông
“Cơ sở hạ tầng giao thông là tất cả những điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật
và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động giao thông như:giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không được diễn ramột cách bình thường Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm những côngtrình phục vụ cho nhu cầu đi lại hàng ngày của con người hay nhu cầu vậnchuyển hàng hoá bao gồm: hệ thống cầu, đường bộ, đường hầm, sân bay, cảng
biển, Cơ sở hạ tầng giao thông là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân.”
1.2.1.2 Vai trò của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
“Thứ nhất, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải có vai trò là tiền đề vật chất
cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá Nếu không có giao thôngthì không thể vận chuyển nguyên vật liệu, máy móc thiết bị dùng để cung cấpcho việc sản xuất hàng hoá và hàng hoá nếu được sản xuất cũng không thể vậnchuyển, lưu thông đến thị trường tiêu thụ Vì vậy giữa yêu cầu phát triển giaothông và sản xuất hàng hoá thì giao thông phải được xây dựng và phát triểntrước so với sản xuất hàng hoá Song để giao thông phát triển thì đầu tiên phảiđầu tư phát triển nền tảng cơ bản của nó chính là cơ sở hạ tầng giao thông.”
“Thứ hai, giao thông là phương tiện kết nối giữa các vùng miền, địa
phương trong một đất nước và kết nối giữa một đất nước với các đất nước vàkhu vực khác trên thế giới Cơ sở hạ tầng giao thông cũng giống như mạch máutrong cơ thể con người, là nền tảng cơ bản giúp cho hoạt động giao thông diễn
ra thông suốt Một cơ sở hạ tầng giao thông phát triển giúp cho con người vàhàng hoá có thể lưu thông một cách nhanh chóng dễ dàng giữa các vùng miền,địa phương trong một nước và giữa các đất nước, vùng lãnh thổ với nhau Nếukhông quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại, bền vững thì kếtcấu hạ tầng của nền kinh tế sẽ trở thành một thể lỏng lẻo, thiếu tính liên kết vàkhông thể phát triển được.”
Thứ ba, hạ tầng giao thông phát triển giúp phát triển kinh tế - xã hội một
cách đồng đều trên cả nước Nhất là để các vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hảiđảo không bị chậm phát triển so với toàn xã hội Ngoài ra nó còn là một yếu tốquan trọng thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với các địa phương, giúpphân bổ vốn đầu tư một cách đồng đều trên cả nước
Trang 13Thứ tư, phát triển hạ tầng giao thông sẽ đảm bảo đảm bảo công tác vận tải
đáp ứng nhu cầu của nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh, đặc biệt ở các vùng biêngiới, hải đảo là các điểm nóng về Quốc phòng- An ninh Thêm nữa, nó còn thúcđẩy giao lưu văn hoá, giáo dục giữa các vùng miền và với thế giới
Qua những vấn đề trên, có thể thấy đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông
là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia.
1.2.2 Hợp đồng PPP trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
1.2.2.1 Tính vượt trội của hình thức PPP trong đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông
“Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) là một bộ phận chủ yếucủa hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, là cơ sở quan trọng để phát triển kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội và là cầu nối giúp một quốc gia hội nhập với các nướctrong khu vực và trên thế giới; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông phát triển sẽ
là chất xúc tác giúp cho các hoạt động của nền kinh tế quốc gia đó phát triểnnhanh.”Vì thế cho nên đây luôn là một lĩnh vực được các nước ưu tiên phát
triển hàng đầu và có nhiều hình thức đầu tư đầu tư cho nó Trong đó hình thức PPP là một trong những loại hình đóng vai trò hết sức quan trọng Vậy
vì sao phải huy động vốn đầu tư theo hình thức PPP?
Thứ nhất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông cần khối lượng vốn
lớn, thời gian xây dựng công trình dài thế nên nguồn vốn đầu tư chủ yếu là từngân sách Nhà nước (vốn ngân sách thường chiếm từ 60-70% tổng vốn đầu tư).Nếu trong điều kiện nguồn ngân sách hạn hẹp, tỷ lệ nợ công cao khiến chi tiêucủa Nhà nước giảm thì sẽ gây thiếu hụt vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng nói chung
và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng Lúc này, nguồn vốn tư nhân theo hìnhthức PPP sẽ cung cấp các nguồn tài chính cũng như nguồn tài trợ khác như máymóc thiết bị, nhân công, kinh nghiệm chuyên môn để giải quyết vấn đề thiếuvốn Đây là phương án tối ưu giúp phân bổ nguồn tài chính hợp lý, nguồn vốnthực hiện dự án vừa đến từ tư nhân, vừa có thể được Nhà nước tài trợ thêm đểđảm bảo tính khả thi về tài chính Điều này giúp giảm gánh nặng không nhỏ chongân sách nhà nước ngoài ra còn giúp tư nhân tham gia được vào một lĩnh vựcđầu tư lớn nhưng vẫn phần nào đảm bảo về mặt tài chính
Thứ hai, các dự án cơ sở hạ tầng giao thông thường chưa hiệu quả trong
việc lập kế hoạch và lựa chọn dự án Lý do là khi được thực hiện bằng vốn ngânsách, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thường không đánh gía được hếtnhu cầu của xã hội đối với từng dự án do phải đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnhvực, nhiều dự án và những hạn chế về chuyên môn trong việc phân tích tính khảthi và nhu cầu xã hội Vì thế cho nên, khi thực hiện dự án bằng hình thức PPP,
có thể dễ dàng tận dụng các phương pháp phân tích của khu vực tư nhân Khuvực tư nhân thường có danh mục đầu tư nhỏ hơn nhiều so với một cơ quan Nhànước và kỹ năng chuyên môn về phân tích thị trường, phân tích tính khả thi của
họ thường tốt hơn Từ đó họ sẽ đánh giá được một cách chính xác nhất nên đầu
Trang 14tư như thế nào, đầu tư ra sao để dự án đạt hiệu quả nhất và đáp ứng đúng nhucầu xã hội cũng như tính khả thi về tài chính.
Thứ ba, hình thức PPP sẽ giải quyết một cách tương đối hoàn thiện những
vấn đề mà hình thức đầu tư truyền thống gặp phải đó là chất lượng dự án, hiệuquả sử dụng vốn và tiến độ hoàn thành bởi vì:
- Khác với hình thức đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông truyền thống chủ yếuđược tài trợ từ ngân sách Vốn của dự án PPP là nguồn vốn do tư nhân tự huyđộng bằng vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay, vì thế cho nên nhà đầu tư tư nhân sẽphải tính toán làm sao để sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả nhất, bởi nóảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài chính cũng như áp lực lãi vay của họ
- Sau khi hoàn thành dự án, nhà đầu tư tư nhân sẽ nhận lợi ích bằng cách kinhdoanh trên chính dự án đó rồi mới chuyển giao cho Nhà nước Do vậy nếu dự ánkém chất lượng họ sẽ phải tốn thêm chi phí sửa chữa, bảo dưỡng trong quá trìnhkinh doanh gây ảnh hưởng đến lợi ích họ nhận được; đồng thời chất lượng các
dự án này cũng phải được quản lý gắt gao bởi cơ quan quản lý Nhà nước cóthẩm quyền Đây là một lợi thế rõ ràng nếu so với hình thức đầu tư bằng ngânsách vì các dự án này thường xuyên gặp tình trạng công trình kém chất lượng,thậm chí bị rút ruột công trình
- Nhà đầu tư tư nhân sẽ đẩy nhanh tiến độ nhất có thể để nhanh chóng thu hồivốn và tránh hiện tượng đội vốn do chậm tiến độ So với các dự án bằng vốnngân sách thường xuyên bị chậm tiến độ thì đây là một lợi thế không hề nhỏ “Minh hoạ tính vượt trội về tài chính của hình thức PPP so với đầu tư
công truyền thống:
Hình thức đầu tư truyền thống được tài trợ từ thuế và nợ công Nhà nước
tài trợ toàn bộ chi phí, bao gồm cả chi phí vượt trội Việc vận hành và bảodưỡng do nhà nước quản lý, nhà thầu không chịu trách nhiệm sau khi kết thúcthời gian bảo hành.”
Trang 15Hình 1.4: Quy trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông truyền
thống (nguồn: KPMG) “Qua hình trên ta có thể thấy rõ hình thức đầu tư truyền thống làm cho chi
phí và thời gian thực hiện dự án vượt quá kế hoạch ban đầu Ngoài ra, đầu tư theo hình thức này còn phát sinh các khoản chênh lệch đáng kể giữa dự toán và thực tế trong hoạt động vận hành và bảo dưỡng.”
Hình 1.5: Quy trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP
(nguồn: KPMG) “Đối với hình thức PPP, từ hình trên cho thấy, đồ thị thanh toán bằng phẳng thể hiện sự ổn định của dòng chi phí đầu tư và chính phủ chỉ thanh toán khi có dịch vụ Chính phủ sẽ xác định rõ những yêu cầu đối với dự án, giao cho
tư nhân thiết kế, tài trợ, xây dựng và vận hành dự án đáp ứng cac tiêu chí của
dự án trong dài hạn Doanh nghiệp dự án (tư nhân) sẽ nhận được khoản thanh toán trong suốt vòng đời của hợp đồng PPP (trung bình 25 năm) theo một thỏa thuận trước và không trả tiền thêm cho phần vượt dự toán Các rủi ro liên quan đến thiết kế và xây dựng; nhu cầu thị trường; chi phí vận hành và bảo dưỡng được chuyển từ nhà nước sang tư nhân một phần hoặc toàn phần.”
1.3 Kinh nghiệm về đầu tư PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông các
nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam.
1.3.1 Kinh nghiệm về đầu tư PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Một số nước phát triển
a Australia
“Là nước có nhiều kinh nghiệm thành công về triển khai hình thức PPPtrong những năm qua Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF), năm 2013, Australia là 1 trong 10 nước có đầu tư PPP hiệu quả nhấttrong tổng số gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ (Việt Nam đứng thứ 134 thếgiới) Cơ sở thành công của nước này là do:”
Trang 16“Một là, Chính phủ Australia đã xây dựng được khung chính sách vững chắc
về PPP; đặc biệt là quy trình dự thầu đối với dự án PPP rất chặt chẽ, góp phầntối ưu hóa hiệu quả kinh tế cho các dự án.”
“Hai là, khuyến khích cắt giảm chi phí chuẩn bị đấu thầu Để tăng cường
hiệu quả kinh tế cho các dự án PPP, trước khi thực hiện bất kỳ một dự án PPPnào, Chính phủ Australia khuyến khích các sáng kiến, để cắt giảm chi phí chuẩn
bị đấu thầu dự án PPP, tiết kiệm một khoản tiền không nhỏ cho dự án PPP (tiếtkiệm từ 0,5% - 1,5% giá trị phí dự án).”
“Ba là, các dự án PPP của Australia đều phải tuân thủ chặt chẽ quy định về
thời gian (thời gian dự thầu trung bình cho một dự án PPP về hạ tầng xã hội ởAustralia là 17 tháng, thấp hơn nhiều so với ở Anh (34 tháng).”
“Bốn là, quá trình thực hiện các dự án PPP tại nước này cũng được chuẩn
hóa thông qua hợp đồng và giảm số lượng tài liệu hồ sơ cần nộp khi tham giađấu thầu các dự án PPP.”
“Năm là, để tối đa hóa hiệu quả dự án PPP, Australia cũng chuẩn bị nguồn
dự án PPP lớn; thực hiện bồi hoàn một số chi phí đấu thầu bên ngoài nhất định.”
“Sáu là, rút ngắn danh sách nhà thầu trước khi thực hiện đấu thầu dự án
PPP Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền thông tin về dự án và mời gọi các nhàthầu khác tham gia.”
b Mỹ
“Là nước triển khai hình thức hợp tác công tư (PPP) từ những năm 1980, đếnnay, nước này có trên 450 dự án đầu tư theo hình thức PPP với kinh phí triển khailên tới hàng trăm tỷ USD Theo đánh giá của Chính phủ Mỹ, hình thức PPP đãthực sự mang lại hiệu quả đối với nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng và các dịch vụcông cộng của nước này trong bối cảnh kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoáinhững năm gần đây Các chuyên gia kinh tế nhận định, hình thức PPP của Mỹ vẫn
là một giải pháp quan trọng để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng nước này đáp ứng
sự phát triển của xã hội tương lai.”
“Để triển khai hiệu quả hình thức PPP, Mỹ đã thực hiện tốt một số giảipháp sau:”
“Thứ nhất, về xây dựng cơ chế chính sách và luật pháp, chính quyền liênbang một mặt chủ động xây dựng, hoàn thiện các cơ chế chính sách và các công
cụ điều hành hướng dẫn triển khai hình thức này trên phạm vi toàn nước Mỹ,mặt khác phân quyền cho các bang tự quyết định việc tổ chức và triển khai hìnhthức PPP Hiện nay, ở Mỹ đã có 36 bang ban hành luật và các cơ chế chính sáchthực thi hình thức này, các bang đi đầu trong triển khai hình thức này là Florida,California và Texas.”
“Thứ hai, xác định cụ thể các lĩnh vực và hình thức đầu tư Về lĩnh vực đầu
tư, hiện nay, tại Mỹ, PPP được áp dụng chủ yếu trong các lĩnh vực phát triển hạtầng, nhà ở, trường học và bệnh viện (chiếm từ 85% - 90%) Từ năm 1985 đếnnay, Mỹ đã triển khai khoảng 450 dự án theo hình thức PPP, chiếm 10% tổngvốn đầu tư các cơ sở hạ tầng (so với các nước trong khối Liên minh châu Âu(EU) là 45%) Về các hình thức đầu tư, Mỹ cho phép triển khai đa dạng các
Trang 17hình thức như: Thiết kế xây dựng; thiết kế, xây dựng, tài trợ, vận hành; thiết kế,xây dựng, tài trợ…”
“Thứ ba, các dự án PPP phải là trọng điểm, có lợi ích về kinh tế - xã hội lâudài, quá trình tổ chức triển khai chú trọng đến chất lượng hơn là số lượng Trênthực tế, hầu hết các dự án PPP ở Mỹ đều là những công trình lớn, quan trọng tácđộng lâu dài đến đời sống - xã hội của Liên bang hoặc các bang.”
“Thứ tư, đối với các doanh nghiệp (DN) nước ngoài tham gia dự án PPP tại
Mỹ, chính quyền nước này một mặt khuyến khích đối tượng DN này tham gianhằm thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm, nhưng mặt khác cũng có những quyđịnh mang tính đặc thù nhằm hạn chế rủi ro Vì vậy, các dự án PPP của DNnước ngoài tham gia phải có sự phê chuẩn và cấp phép của chính quyền Liênbang.”
1.3.1.2 Một số nước đang phát triển
a Ấn Độ
Nhận thức đượci các lợi ích của hình thức PPP, từ những năm 1990 chođến nay, Ấn Độ là quốc gia châu Á đã áp dụng PPP rộng rãi cho các dự án pháttriển cơ sở hạ tầng Tại hội thảo về hình thức PPP trong đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng của Ấn Độ vào tháng 4/2006, ông Montek Singh Ahluwalia – Phó chủtịch Ủy ban Kế hoạch đầu tư Ấn Độ đã đánh giá rằng sự tham gia của nguồnvốn tư nhân và cách quản lý hiệu quả của họ, với những kỹ thuật tiên tiến, đãthực hiện đánh giá tốt hơn về rủi ro thị trường, ước lượng được những thay đổitrong nhu cầu và đề ra những giải pháp phù hợp, do đó làm cho tính hữu dụngcủa các công trình dự án tăng lên và hiệu quả hơn, giải phóng áp lực cho nguồnvốn của Chính phủ và tận dụng được các nguồn vốn khác trong xã hội Hội thảonày đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm từ thành công của Ấn Độ trong việcthực hiện PPP đối với các dự án cơ sở hạ tầng, đó là:”
“- Các cam kết hỗ trợ về chính trị mạnh mẽ từ phía chính phủ: là yếu tố quantrọng nhất tạo ra sự sáng tạo và vận hành hiệui quả của hình thức PPP trong pháttriển cơ sở hạ tầng, cụ thể là các dự án xây dựng cảng.”
“- Sự minh bạch: rất quan trọng khi thiết kế hợp đồng PPP Điều này giúpgiảm thiểu sự tham nhũng trong các hợp đồng của khu vực nhà nước.”
“- Sự nhất quán của chính sách, các quy định của Chính phủ có tính hiệu quả
và linh hoạt.”
“- Thiết kế hợp đồng một cách cẩn trọng, chú ý nhiều đến vấn đề phân bổ rủi
ro và thu hồi bù đắp cho chi phí Xác định rõ ràng vai trò của các bên tham giatrong dự án PPP.”
“- Chính sách tài chính cho dự án PPP: chính phủ trợ cấp cho một số dự án dựatrên rủi ro và lợi ích trong các giai đoạn khác nhau (xây dựng phát triển- vậnhành) nhằm khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân Sau đây là mộtminh chứng bằng thực tế về vấn đề trợ cấp trong chính sách tài trợ cho dự ánPPP Esther Malini (2007) tiến hành thựci nghiệm tại một thành phố có mức độphát triển trung bình ở Ấn Độ Để cải thiện cơ sở hạ tầng lạc hậu và thiếu thốn,chính phủ quyết định xây dựng một cây cầu mới theo hình thức BOT do nguồn
Trang 18lực tài chính của thành phố bị hạn chế, không thể tài trợ toàn bộ kinh phí xâydựng.”
b Trung Quốc
“Trung Quốc đã và đang quy hoạch đầu tư cho hệ thống đường bộ Nhưnhiều nền kinh tế mới nổi ở châu Á, Chính phủ không đủ ngân sách cho việcđầu tư này Sự thiếu hụt 150 tỷ USD (1998- 2020) được bù đắp một phần từngân sách nhà nước, phần còn lại cần sự hỗ trợ của tư nhân Vì thế, nhiều dự ángiao thông đường bộ đã được thực hiện theo hình thức PPP.Theo nghiên cứucủa Qiao và các công sự (2001) về các dự án PPP được thực hiện tại TrungQuốc trong thời gian qua thì các nhân tố sau đây đã tạo nên tính thành công chocác dự án: Dự án phù hợp, kinh tế - chính trị ổn định, mức thuế phù hợp, phân
bổ rủi ro hợp lý, lựa chọn các nhà thầu phụ phù hợp, kiểm soát và quản lý các
dự án một cách chặt chẽ, chuyển nhượng công nghệ mới.”
“Tuy nhiên, cơ cấu tài trợ của nhiều dự án đường bộ theo hình thức PPP ởTrung Quốc là dựa trên các khoản vay và trái phiếu quốc tế Điều này tạo ra rủi
ro tỷ giá cho chính phủ Mức phí thu cao so với thu nhập bình quân đầu người
Do đó, các lợi ích kinh tế và tài chính để tạo tính hấp dẫn cho đầu tư vẫn chưađạt được Đây là hai bài học kinh nghiệm rất đáng suy ngẫm cho Việt Nam khi
áp dụng hình thức PPP để phát triển hạ tầng giao thông Trong một nghiên cứu
về các dự án PPP đường cao tốc ở Trung Quốc, Yelin Xu và các cộng sự (2010)
sử dụng hình thức phân bổ rủi ro mờ (Fuzzy Risk Allocation Model – FRAM)
để xác định mức phân bổ rủi ro giữa chính phủ và tư nhân Kết quả nghiên cứucho thấy mức rủi ro tổng thể của các dự án đường cao tốc ở Trung Quốc nằmtrong khoảng trung bình đến cao Nghiên cứu này cũng tiết lộ rằng sự can thiệpcủa chính phủ và tham nhũng là trở ngại lớn nhất cho sự thành công của hìnhthức PPP ở Trung Quốc, nguyên nhân là do các quy định pháp luật chưa đầy đủ,
hệ thống giám sát yếu, chưa công khai trong quá trình ra quyết định.”
“Từ kinh nghiệm đi trước của các quốc gia trên thế giới như đã nêu ở phầntrên có thể thấy hình thức PPP là hình thức đầu tư hiệu quả nên đã trở nên phổbiến trên thế giới, rất phù hợp để áp dụng tại Việt Nam để thực hiện các dự ánphát triển giao thông đường bộ nhằm giảm áp lực cho ngân sách quốc gia vàgiảm sự lệ thuộc vào nguồn vốn ODA, nâng cao hiệu quả đầu tư, cải thiện chấtlượng dịch vụ, đồng thời giảm các tiêu cực trong hoạt động đầu tư xây dựng cơbản Các nghiên cứu cũng đã cho thấy để hình thức PPP thành công có nhữngyếu tố thống nhất chung tại các quốc gia đồng thời cũng có những yếu tố đặcthù riêng tùy theo mỗi nền kinh tế và mỗi giai đoạn phát triển Để vận dụngthành công hình thức PPP đòi hỏi nhiều nỗ lực cải cách từ phía Chính phủ Kếthừa những kinh nghiệm thành công và thất bại của các quốc gia đi trước này sẽgiúp Việt Nam thực hiện PPP có hiệu quả hơn trong thực tế.”
1.3.2 Bài học cho Việt Nam
“ Bài học thứ nhất: Hình thức PPP có phù hợp với tất cả các dự án
“Hình thức PPP chỉ phù hợp với những dự án lớn và phức tạp do:
Trang 19- Chi phí đầu tư, bảo trì và các chi phí khác lớn
- Quá trình mời thầu và quản lý điều hành dự án phức tạp và tốn kém
- Thời gian hoạt động của dự án dài để đạt được giá trị của đồng tiền và
giảm chi phí vòng đời dự án”
“Bài học thứ hai: Nên chọn dự án nhỏ thí điểm PPP để hạn chế rủi ro
Theo các chuyên gia quốc tế, Việt Nam nên chọn những dự án nhỏ và đơngiản để thực hiện thí điểm PPP trước; khi làm thành công ở dự án nhỏ, củng cốniềm tin cho các nhà đầu tư thì việc thực hiện ở các dự án lớn sẽ dễ dàng hơn.Đặc biệt, cần tránh việc quảng cáo, thông tin rầm rộ về những dự án lớn đượcmời gọi đầu tư theo hình thức PPP, trong khi dự án chưa tiến triển thật sự, nhất
là chưa đạt được sự đồng thuận giữa các bên.”
“Thực tế cho thấy Nhật Bản là nước phát triển, nhưng cũng không được xếpthứ hạng cao về thực hiện dự án PPP, điều này cho thấy mức độ phức tạp của dự
“Chẳng hạn, đối với rủi ro ở giai đoạn hoàn thành công trình, chuyên giaJBIC đánh giá, đây là rủi ro lớn nhất, các bên cần phải cẩn trọng Đó là nhàthầu, nhất là nhà thầu EPC, có thể chậm tiến độ so với thời gian cam kết Do đó,cần tính đến các biện pháp xử lý đối với trường hợp nhà thầu chậm tiến độ Nếu
do nhà thầu thì đương nhiên nhà thầu phải chịu trách nhiệm Nếu vì lý do bấtkhả kháng như thiên tai… thì công ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm với điềukiện công trình được bảo hiểm Còn với các lý do khác, thì dự án có thể sử dụngquỹ dự phòng hoặc cam kết vốn bổ sung.”
“Bài học thứ ba: Chính phủ cần tạo môi trường thuận lợi cho hình thức
PPP để thu hút vốn đầu tư tư nhân.
Cụ thể:
- Xây dựng khuôn khổ pháp luật phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả vàcông bằng trong suốt vòng đời dự án
Hỗ trợ chính phủ đủ lớn để hấp dẫn khu vực tư nhân tham gia
- Tích lũy khiến thức và kinh nghiệm để tổ chức hợp đồng PPP thànhcông
- Phát triển mối quan hệ với các bên tham gia PPP như các nhà tư vấn,các nhà tài trợ và các cơ quan đa phương để tránh xung đột trong quá trình hợptác
- Giám sát và đánh giá PPP thường xuyên, liên tục để nâng cao hiệu quảđầu tư
Trang 20- Xây dựng bộ tiêu chuẩn khoa học để đánh giá chính xác các dự án PPPCam kết của chính phủ phải đảm bảo hiệu lực thực thi.”
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC PPP TẠI VIỆT NAM
2.1: Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông tại Việt Nam
2.1.1: Hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông tại Việt Nam
Chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam mặc dù vẫn còn nhiều bấtcập, thế nhưng trong những năm gần đây đã liên tục được cải thiện và đạt đượcnhiều thành tựu tương đối rõ ràng
“Hiện nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam được đầu
tư phát triển trên nhiều lĩnh vực Đường bộ có tổng chiều dài khoảng 24.203
km Trong đó có 14 tuyến đường cao tốc với tổng chiều dài gần 900 km;Quốc lộ có tổng chiều dài 23.862 km Mạng lưới đường sắt 3.159,908 kmgồm hơn 200 ga đường sắt; 21 cảng hàng không với công suất đạt 77,8 triệuhàng khách/năm và 1,01 triệu tấn hàng hoá/năm Ngoài ra còn 32 cảng biểnlớn nhỏ, 13 cảng dầu khí đạt công suất và sản lượng khá cao.”
Trong những năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng giao thông ở nước ta đã vàđang được cải thiện một cách hết sức rõ rệt Nhiều công trình giao thông có quy
mô lớn, chất lượng hiện đại được phát triển từ thành thị đến nông thôn, từ cácvùng đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa giúp kết nối giữa các địaphương cũng như lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế- xã hội Nhiều dự ánlớn được triển khai trong những năm gần đây mang lại hiệu quả cao cụ thể như:
Đường bộ: Nâng cấp QL1A từ hai làn xe lên thành bốn làn xe chạy, cógiải phân cách cứng giữa hai chiều xe chạy, nâng cấp đường Hồ Chí Minhđoạn qua Tây Nguyên Nhiều tuyến đường cao tốc hiện đại được đầu tư xâydựng như: Cầu Giẽ - Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh- Long Thành, Hà Nội-Lào Cai, Hải Phòng - Hạ long,… Ngoài ra cũng có nhiều cây cầu lớn đượchoàn thành như cầu Nhật Tân, Cao Lãnh, cầu vượt biển Tân Vũ- LạchHuyện, cầu Bạch Đằng nối Quảng Ninh với Hải Phòng, … Các dự án này đã
và đang phát huy hiệu quả cao giảm thời gian vận chuyển người và hàng hoágiữa các địa phương, vùng miền trên cả nước mà còn là bàn đạp thúc đẩykinh tế- xã hội cả nước phát triển
Chất lượng hạ tầng giao thông đường đô thị ngày càng được nâng cao.Nhiều dự án giao thông đường bộ như cầu vượt, hầm chui, hầm vượt sông,
Trang 21bến xe… đã được đầu tư xây dựng nhằm bắt kịp tốc độ đô thị hoá tại cácthành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,… Đồng thời cũnggóp phần làm giảm tình trạng ùn tắc, mất an toàn giao thông.
Đường Sắt cũng được chú trọng đầu tư xây dựng và nâng cấp Hệ thống
cơ sở hạ tầng đường sắt được từng bước hiện đại hoá, mua về và sản xuấtnhững toa tàu mới và nghiên cứu triển khai dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam
Ở lĩnh vực hàng hải, ngành GTVT cũng hoàn thành nâng cấp, xây dựngnhiều cảng biển quốc tế như: Cái Mép- Thị Vải, Cái Lân, Hải Phòng, VũngÁng, cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện… nhằm từng bước đưa Việt Namtrở thành một trung tâm vận tải hàng hải của thế giới, tận dụng một cách tối
đa vị trí địa lý của nước ta đồng thời cũng phát triển ngành Logistics, đưa lạikhông ít lợi ích về kinh tế
Ngoài ra, ngành hàng không cũng có không ít tín hiệu nổi bật: xây dựngnhà ga T2 sân bay quốc tế Nội Bài, xây mới nhà ga quốc tế sân bay ĐàNẵng, nhà ga quốc tế sân bay Cam Ranh, mở rộng và nâng cấp các sân bay ởcác địa điểm du lịch nổi tiếng như Phú Quốc, Quy Nhơn… Đây là những dự
án đem lại hiệu quả không hề nhỏ, giúp nâng cao cơ sở hạ tầng của ngànhhàng không Đặc biệt là việc mở rộng nâng cấp các sân bay tại các điểm dulịch như Nha Trang, Phú Quốc giúp cho các địa phương này tiếp cận ngàycàng nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế giúp phát triển ngành du lịchnước nhà cũng như kinh tế và đời sống của người dân ở các các địa phương
Bên cạnh những tín hiệu tích cực, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém.
Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông tuy đã được quan tâm đầu tư xây dựng
tuy nhiên quy mô vẫn còn nhỏ bé, chưa có tính liên hoàn và kết nối giữa các địaphương, vùng miền Cả nước mới chỉ có gần 900 km đường cao tốc và tập trung
ở các tỉnh phía Bắc với các tuyến từ Hà Nội đi các tỉnh miền Bắc là chủ yếu.Khu vực miền Trung mới chỉ có hơn một tuyến đường cao tốc duy nhất là ĐàNẵng- Quảng Ngãi Đặc biệt, ở khu vực Nam Trung Bộ là trung tâm kinh tế lớnnhất của cả nước chỉ có 2 tuyến cao tốc đang được vận hành Qua đây có thểthấy mạng lưới cao tốc của nước ta so với các nước trong khu vực và trên thếgiới vẫn còn rất sơ khai Nhiều tuyến đường quốc lộ đã xuống cấp trầm trọng,gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân và phát triển kinh tế- xãhội ở các địa phương, một số điển hình như Quốc lộ 80, Quốc lộ 54, 8a… đãxuống cấp nghiêm trọng nhưng từ lâu chưa được nâng cấp, sửa chữa
Hệ thống giao thông đô thị ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ ChíMinh cũng phát triển kịp so với tốc độ đô thị hoá, không có quy hoạch rõ ràngnên thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc, tai nạn giao thông, nhiều thành phốchưa có quy hoạch các tuyến đường vành đai, hệ thống giao thông công cộngnhư tàu điện ngầm, đường sắt trên cao mặc dù đã được triển khai từ lâu nhưngchưa được hoàn thiện Tại các vùng miền khác, hạ tầng giao thông nhiều nơivẫn còn rất kém phát triển, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới chưa đápứng đủ nhu cầu phát triển của địa phương và đảm bảo an ninh quốc phòng