Lý do và tính cần thiết của nghiên cứu Bệnh cơ tim phì đại BCTPĐ được gây ra do đột biến trên gene mã hóa protein liên quan đến sarcomere và các protein liên quan đến hoạt động co cơ..
Trang 2Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM
- Thư viện Đại học Y Dược TP HCM
Trang 3GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
a Lý do và tính cần thiết của nghiên cứu
Bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ) được gây ra do đột biến trên gene mã hóa protein liên quan đến sarcomere và các protein liên quan đến hoạt động co cơ Bệnh lý này di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường Chẩn đoán phân tử giúp thân nhân bệnh nhân BCTPĐ được chẩn đoán bệnh sớm thậm chí ngay cả khi chưa biểu hiện bệnh thông qua việc tầm soát di truyền trong gia đình bệnh nhân BCTPĐ Từ đó, việc phân tầng nguy cơ được áp dụng, giúp ngăn ngừa biến chứng, làm thay đổi bệnh sử tự nhiên của bệnh
Cho đến thời điểm hiện tại, dữ liệu từ các nghiên cứu được thực hiện ở Châu Âu, châu Mỹ cho thấy tỷ lệ đột biến trên các gene trong BCTPĐ có sự khác nhau
Việc xác định tỷ lệ các kiểu đột biến gây bệnh đóng vai trò quan trọng vì điều đó liên quan đến vấn đề tiên lượng ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại Việc xác định mối liên hệ kiểu gene - kiểu hình trong BCTPĐ đã được nghiên cứu trong suốt nhiều thập kỷ qua Bởi vì kiểu gene được kỳ vọng sẽ là một trong những yếu tố giúp phân tầng nguy cơ, cũng như góp phần đưa ra quyết định điều trị Đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy
có mối liên hệ kiểu gene – kiểu hình trong BCTPĐ Tuy chưa có bằng chứng lớn và thật chắc chắn nhưng cũng đưa ra những mối liên hệ cần lưu ý Vì vậy, cần cung cấp thêm những chứng cứ qua các công trình nghiên cứu để mối liên hệ kiểu gene – kiểu hình sáng tỏ hơn
Trang 4Tại Việt Nam, vào năm 2014, chỉ có một báo cáo phát hiện
đột biến Arg403Glu tại exon 13 trên gene MYH7 ở một bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại gần ngất Chưa có báo cáo trong dân số
Việt Nam liên quan đến tỷ lệ đột biến gây bệnh cũng như các kiểu đột biến gây bệnh và biểu hiện triệu chứng ở nhóm bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại được công bố
b Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại với các mục tiêu cụ thể:
Xác định tỷ lệ các kiểu đột biến gây bệnh ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại
Xác định các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên hệ đến đột biến gây bệnh ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại
c Những đóng góp mới của luận án
Tỷ lệ đột biến gây bệnh là 47,1%
Có 31 đột biến gây bệnh được phát hiện trên 9 gene bao
gồm MYBPC3, MYH7, TPM1, TNNT2, TNNI3, TCAP, MYL2,
Trang 5Những bệnh nhân mang đột biến gây bệnh trên gene
MYH7 tăng nguy cơ bị phình mỏm thất trái
Không có sự liên hệ giữa nguy cơ đột tử 5 năm cao (≥ 6%) và bệnh nhân có mang đột biến gây bệnh
HƯƠN 1 ỔN QUAN L ỆU
1.1 Diễn tiến tự nhiên
Bệnh có thể biểu hiện triệu chứng ở bất kỳ lứa tuổi nào từ nhũ nhi đến 90 tuổi Những biến chứng có thể xảy ra ở bệnh nhân BCTPĐ bao gồm đột tử, suy tim, nghẽn đường ra thất trái, rung nhĩ, thuyên tắc, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
1.2 Vai trò của di truyền học trong bệnh cơ tim phì đại
1.2.1 Bệnh cơ tim phì đại là bệnh lý của các protein liên quan đến sự co cơ
Tỷ lệ bệnh do đột biến các gene mã hóa protein liên quan đến sự co cơ chiếm tỷ lệ 45-70% của tổng số các đột biến liên quan đến BCTPĐ đã biết, tần suất cao hơn ở BCTPĐ gia đình BCTPĐ là bệnh lý tim mạch do rối loạn một gene là thường gặp nhất, rối loạn nhiều hơn một gene thì ít gặp hơn Hơn 1400 đột
Trang 6biến đã được xác định trên hơn 11 gene liên quan đến sự co cơ
Các gene có bằng chứng sinh học mạnh bao gồm MYH7,
MYBPC3, MYL2, TNNT2, TNNI3, TNNC1, TPM1, MYL3, ACTC, ACTN2, MYOZ2; các gene có bằng chứng sinh học yếu như TTN, MYH6, CSRP3, TCAP, VCL, CASQ2, JPH2
1.2.2 Kiểu phì đại cơ tim do đột biến gene không liên quan đến các protein của hoạt động co cơ
Có 30-55% kiểu hình BCTPĐ không được giải thích do đột
biến gene mã hóa protein liên quan đến sự co cơ Những bệnh lý này do đột biến gene không phải protein liên quan đến sự co cơ,
các đột biến đó bao gồm đột biến trên gene PRKAG2, tiểu đơn vị
điều hòa của adenosine monophosphate-activated protein kinase
(AMPK); và gen LAMP2, protein màng liên quan lysosome trên
nhiễm sắc thể giới tính X; gene mã hóa lysosomal hydrolase,
α-galactosidase GLA Bệnh cơ tim do đột biến các gene này được
gọi chung là bệnh cơ tim chuyển hóa, chiếm tỷ lệ 2-12% BCTPĐ
có đột biến không phải protein liên quan đến co cơ Còn lại 20 – 30% BCTPĐ không phát hiện đột biến khi làm xét nghiệm di truyền
1.2.3 Xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán bệnh cơ tim phì đại
Trang 7thước bề dày thất trái tối thiểu để chẩn đoán BCTPĐ không cần thiết nữa Do đó, những bệnh nhân có chẩn đoán BCTPĐ không chắc chắn trên lâm sàng cần được chỉ định xét nghiệm di truyền theo khuyến cáo (loại I) của hội tim Châu Âu để xác định chẩn đoán
Tầm soát di truyền gia đình
Biểu hiện lâm sàng của bệnh lý này phụ thuộc tuổi nên cần chỉ định xét nghiệm di truyền để phát hiện những người thân mang đột biến gene mà chưa có biểu hiện lâm sàng Cần theo dõi lâm sàng lâu dài những người mang đột biến gene Những người thân không mang đột biến không cần theo dõi nghiêm ngặt như người mang đột biến gene Gánh nặng về tâm lý sẽ được gỡ bỏ Hơn thế nữa, chi phí cho những lần thăm khám, điện tâm đồ và siêu âm tim định kỳ cũng như thời gian của họ cũng được tiết kiệm
trên gene MYBPC3 thường biểu hiệu triệu chứng ở lứa tuổi trung niên Đột biến TNNT2 có liên quan đến xuất độ đột tử cao dù phì
đại không nhiều như những đột biến khác Ngoài ra, nhiều đột biến trên cùng một bệnh nhân cho thấy làm tăng khả năng suy tim
Xác định đột biến gây bệnh mới
Trang 8Với những phương pháp sử dụng trong xét nghiệm di truyền hiện nay được cải tiến và phù hợp hơn trong ứng dụng lâm sàng, xét nghiệm di truyền đã giúp xác định nhiều hơn nữa đột biến gây bệnh Việc xác định đột biến gây bệnh mới góp phần đánh giá đặc tính bệnh học của đột biến này ở những bệnh nhân khác mang cùng đột biến
Thay đổi bệnh sử tự nhiên của bệnh và giảm nhẹ bệnh
Trong một nghiên cứu của Semsarian và cộng sự, chuột
mang đột biến Arg403Gln ở MYH7 được điều trị sớm với thuốc ức
chế kênh can xi L-type, diltiazem trước khi có triệu chứng lâm sàng dường như làm giảm bớt sự phát triển của phì đại và sợi hóa
ác phương pháp giải trình tự DNA các gene liên quan trong bệnh cơ tim phì đại
Giải trình tự theo phương pháp Sanger
Phương pháp giải trình tự Sanger thường được dùng để giải trình tự một đoạn DNA ngắn (< 1000 base) So với phương pháp giải trình tự thế hệ mới (NGS), phương pháp giải trình tự Sanger cho kết quả chính xác hơn, đơn giản hơn về mặt kỹ thuật và phân tích kết quả Tuy nhiên, phương pháp Sanger là tốn kém và tiêu tốn nhiều thời gian trong việc giải trình tự các gene có kích thước lớn, một số lượng lớn các gene hay toàn bộ bộ gene
Phương pháp giải trình tự thế hệ mới
So với Sanger, phương pháp NGS cho phép giải trình tự các gene có kích thước lớn, hay một số lượng lớn các gene hay toàn
bộ bộ gene với thời gian ngắn và chi phí thấp hơn Trong phân tích đột biến soma, phương pháp NGS có độ nhạy cao hơn
Trang 9Phương pháp giải trình tự thế hệ mới phù hợp với việc giải trình tự
đa gene như trong bệnh cơ tim, tăng cholesterol gia đình
1.3 Hướng nghiên cứu
Cho đến nay, dữ liệu về tỷ lệ đột biến được công bố có nhiều khác nhau giữa các nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thực sự có mối liên hệ kiểu hình – kiểu gene tuy một số nghiên cứu cho kết quả khác nhau Chẳng hạn như nghiên cứu của Richard, Wang, Marsiglia cùng
phát biểu rằng đột biến trên gene MYH7 là đột biến ác tính liên
quan đến độ dày vách liên thất, rối loạn nhịp thất phải phòng ngừa bằng máy phá rung cấy được cao hơn những kiểu đột biến khác Ngoài ra, Coppini cho rằng đột biến liên quan sợi mỏng lành tính hơn đột biến của sợi dày Tuy nhiên, Li tìm thấy không có sự khác
biệt về tiên lượng giữa đột biến trên gene MYH7 và MYBPC3 Sự
khác biệt này có thể do nhiều yếu tố như phương pháp nghiên cứu, cách tuyển bệnh, số lượng gene được thực hiện khác nhau Vì vậy, việc tiến hành thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa để đưa ra những kết luận chắc chắn hơn là điều rất cần thiết
HƯƠN 2 Ố ƯỢNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế: cắt ngang mô tả và phân tích
2.2 Dân số chọn mẫu:
Tất cả bệnh nhân có tuổi ≥ 16, được chẩn đoán BCTPĐ, đến khám tại Bệnh viện tim Tâm Đức và Viện Tim TPHCM
2.3 Cỡ mẫu:
Trang 10Công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng tỷ lệ với sai số biên ở mức tin cậy (1-α) là:
⁄ Trong đó Z1-α ⁄2 là phân vị của phân phối chuẩn bình thường tại 1-α ⁄2, n là cỡ mẫu Vậy trong nghiên cứu này với sai số biên cho phép = 8% ở độ tin cậy 95% (α = 0,05) và ước lượng tỷ lệ = 30%-80% (tỷ lệ phát hiện đột biến gây bệnh trong các nghiên cứu) thì cỡ mẫu là: 96-126
2.4 Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ:
Tiêu chuẩn chọn bệnh: Bệnh nhân được chẩn đoán
BCTPĐ có tuổi ≥ 16 với bề dày tối đa thành thất trái ≥15 mm, không có các bệnh gây nghẽn đường ra thất trái khác (hẹp dưới van động mạch chủ, hẹp van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, u trong tim gây nghẽn đường ra thất trái)
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân tăng huyết áp có tỷ lệ bề
dày tối đa vách liên thất/bề dày thành sau thất trái < 1,3 Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
2.5 Kỹ thuật chọn mẫu: thuận tiện
2.6 Biến số nghiên cứu
Biến số dân số học và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng:
Tuổi, giới
Tiền căn gia đình BCTPĐ
Tiền căn gia đình có người đột tử
Bề dày thành thất trái tối đa
Nhịp nhanh thất không kéo dài
Biến số độc lập:
Trang 11 Đột biến gene gây bệnh (có, không)
Biến số phụ thuộc:
Suy tim (độ I, II, III, IV)
Ngất (có, không); nhịp nhanh thất kéo dài (có, không), nghẽn đường ra thất trái (có, không)
2.7 Kỹ thuật đo lường biến số:
Đột biến gene được phát hiện bằng phương pháp giải trình tự
thế hệ mới 23 gene có liên quan đến bệnh cơ tim phì đại (MYH7,
MYBPC3, TNNT2, TNNI3, TPM1, MYL2, MYL3, ACTC1, TNNC1, MYH6, LDB3, CSRP3, TCAP, VCL, ACTN2, MYOZ2, NEXN, PLN, JPH2, TTR, GLA, LAMP2, và PRKAG2) tại công ty trách
nhiệm hữu hạn công nghệ sinh học Khoa Thương
2.8 Thu thập và phân tích số liệu:
Thu thập số liệu từ bệnh án điện tử và ghi nhận vào bệnh án nghiên cứu
Phân tích số liệu: phần mềm Stata 11.1; có ý nghĩa: p
<0,05
Dùng phép kiểm T – test, Wilcoxon ranksum để so sánh các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Dùng phép kiểm Chi-square, chính xác Fisher để tìm sự liên quan các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Dùng mô hình hồi qui logistic để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng với kiểu gene (+)
HƯƠN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ặc điểm của dân số nghiên cứu
3.1.1 Dân số nghiên cứu
Trang 12Dân số nghiên cứu gồm 104 bệnh nhân BCTPĐ từ 17-85 tuổi, 63,5% là nam; tuổi chẩn đoán trung bình 48,5 ± 16 năm
3.1.2 ặc điểm lâm sàng
19 bệnh nhân (18,3%) có tiền căn gia đình BCTPĐ; 11 bệnh nhân (10,6%) tiền căn gia đình có người đột tử Triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm đau ngực (50%), khó thở (47,1%), hồi hộp (33,7%), ngất (6,7%) Phát hiện bệnh thông qua việc tầm soát gia đình 2,9%
3.1.3 ặc điểm cận lâm sàng
Có 64,4% bệnh nhân dày thất trái trên điện tâm đồ, bề dày thành thất trái tối đa từ 15-39 mm (trung bình 22.5 ± 4.8 mm); 8,7% bệnh nhân dày nặng thành thất trái; 74% bệnh nhân có thể thất trái phì đại không đồng tâm; 16,3 % bệnh nhân nghẽn đường
ra thất trái; 5,8% bệnh nhân phình mỏm thất trái, rung nhĩ và nhịp nhanh thất không kéo dài xảy ra lần lượt ở 10,7% và 9,7 % bệnh nhân; rung nhĩ cơn chiếm 4,8% Rối loạn chức năng tâm trương với nhiều mức độ lệ 68,3% bệnh nhân Thất trái dày không đồng tâm chiếm 74% bệnh nhân; phì đại thể mỏm 15,4%
3.2 Các kiểu đột biến gene
3.2.1 Tỷ lệ các kiểu đột biến gây bệnh
Có 49 bệnh nhân mang đột biến gây bệnh (47,1%)
Có 24 bệnh nhân mang VUS (Variant uncertain
significance) (23,1%), 31 bệnh nhân không mang đột biến gây bệnh, không mang VUS (29,8%)
Có 31 đột biến gây bệnh được phát hiện trên 9 gene bao
gồm MYBPC3, MYH7, TPM1, TNNT2, TNNI3, TCAP, MYL2,
Trang 13GLA, MYH6 với tỷ lệ lần lượt là 17,3%; 10,5%; 7,7%; 3,8%;
2,9%; 1,9%; 1%; 1%; 1%
3.2.2 Phổ đột biến gây bệnh
Trong số 49 bệnh nhân mang đột biến gây bệnh, có 48 bệnh nhân mang một đột biến gây bệnh, 1 bệnh nhân mang hai đột biến gây bệnh
Tất cả đột biến gây bệnh phát hiện được trong nghiên cứu đều là dị hợp tử
Tổng cộng có 31 đột biến gây bệnh khác nhau, trong đó có 3
đột biến mới trên gene MYBPC3, TPM1, và MYH6 Đa số đột biến
là nhầm nghĩa với 71%, tiếp theo là vô nghĩa chiếm 12,9% trong tổng số đột biến được phát hiện Vị trí ghép nối exone, mất một amino acid, lệch khung, ít gặp hơn với tỷ lệ lần lượt là 9,7%; 3,2%; 3,2% trong tổng số đột biến được phát hiện trong nghiên cứu
3.3 So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa các kiểu đột biến gây bệnh
3.3.1 So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa
B P gia đình với B P mắc phải
Nhóm bệnh nhân BCTPĐ gia đình có tuổi chẩn đoán bệnh sớm hơn (P= 0,002), tiền căn gia đình có người đột tử nhiều hơn (P = 0,000), nguy cơ đột tử cao nhiều hơn (P = 0,000), và tỷ lệ phát hiện đột biến gây bệnh cao hơn (P = 0,008) so với bệnh nhân BCTPĐ mắc phải
3.3.2 So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa kiểu gene (+) và kiểu gene (–)
Trang 14Những bệnh nhân có kiểu gene (+) được chẩn đoán bệnh sớm hơn những bệnh nhân có kiểu gene (–) 9 năm (P = 0,008) Tiền căn gia đình có BCTPĐ thường được tìm thấy ở bệnh nhân
có kiểu gene (+) hơn là bệnh nhân có kiểu gene (–) (P = 0,008) Thể thất trái phì đại không đồng tâm thường gặp ở bệnh nhân có kiểu gene (+) hơn là bệnh nhân có kiểu gene (–) (P = 0,009) Ngược lại, bệnh nhân thể mỏm thường có kiểu gene (-) hơn là kiểu gene (+) (P = 0,003) Bệnh nhân có kiểu gene (+) thường có tiền căn gia đình có người đột tử hơn bệnh nhân có kiểu gene (-) (P = 0,002) Bên cạnh đó, nhịp nhanh thất không kéo dài cũng thường xảy ra ở nhóm bệnh nhân có kiểu gene (+) hơn là nhóm bệnh nhân có kiểu gene (-) (P = 0,026) Những bệnh nhân kiểu gene (+) có tỷ lệ phình mỏm thất trái cao hơn những bệnh nhân có kiểu gene (-) (P = 0,008)
3.3.3 So sánh các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng giữa đột
biến gây bệnh trên gene MYBPC3, MYH7, TPM1, TNNT2 với
kiểu gene (-)
Tiền căn gia đình có người BCTPĐ thường được quan sát ở
những bệnh nhân mang đột biến gây bệnh trên gene MYH7,
TPM1, TNNT2 hơn ở những bệnh nhân kiểu gene ( -)
Nhóm bệnh nhân có đột biến gây bệnh trên gene MYBPC3
và TPM1 biểu hiện lâm sàng thể thất trái dày không đồng tâm
nhiều hơn nhóm bệnh nhân kiểu gene (-)
Tiền căn gia đình có người đột tử thường được ghi nhận ở
bệnh nhân mang đột biến gây bệnh trên gene TPM1 và TNNT2
hơn bệnh nhân có kiểu gene (-)