MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Tăng cường hiệu quả đấu tranh đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một đất nước là một yêu cầu cấp thiết, vừa là mục tiêu và một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới. Trong những năm gần đây, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam diễn ra khá phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn bằng tội phạm hình sự nhưng với số lượng nhiều và ngày càng gia tăng, vi phạm hành chính đang gây tổn hại không nhỏ cho môi trường. Cũng cần khẳng định rằng, nếu đấu tranh với các vi phạm hành chính kém hiệu quả thì sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường càng tăng về số lượng và tính chất, ảnh hưởng khá lớn đến mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 của Đảng đã khẳng định "Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường,...” và “hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm”. Xử lý vi phạm hành chính là biện pháp pháp lý của Nhà nước có tác dụng to lớn trong đấu tranh với vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhận thức rõ điều này, Nhà nước ta đã chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và từng bước nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này trên thực tiễn. Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,...được coi là hạt nhân cơ bản của hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy còn bộc lộ nhiều thiếu sót, có không ít những quy định về vi phạm hành chính, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn chồng chéo, không phù hợp, gây khó khăn cho việc thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên thực tế [122, tr. 47]. Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường, tích cực tham gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của cá nhân, tổ chức chưa cao; chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; công tác phối hợp trong xử lý chưa chặt chẽ; phương tiện kỹ thuật phục vụ cho xử lý vi phạm hành chính chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn; việc xử lý mới tập trung áp dụng hình thức xử phạt tiền, chưa quan tâm áp dụng hình thức khắc phục hậu quả, cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính nên đã làm giảm hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Mặt khác, nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước phải có trách nhiệm kiểm soát môi trường, mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đều phải bị xử lý nghiêm minh để bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm quyền lợi tự nhiên của con người nhằm góp phần phát triển bền vững. Để thực hiện được điều này, Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên thực tế. Việc nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xử lý hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết đối với nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đó là lý do, tác giả lựa chọn vấn đề “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” để làm luận án tiến sỹ luật học. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích đặt ra trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau: - Phân tích lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như: khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vai trò và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó; - Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ HẰNG
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
2.1 Mục đích nghiên cứu 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
3.1 Phương pháp luận 3
3.2 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 7
7 Kết cấu luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9
1.1Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án 9
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 25
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 31
2.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 31
2.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 43
Trang 3CHƯƠNG 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 133
4.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệmôi trường 1334.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường 1394.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường 160KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 177
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 178 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Tăng cường hiệu quả đấu tranh đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân,
góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế củamột đất nước là một yêu cầu cấp thiết, vừa là mục tiêu và một trong những nội dung
cơ bản của phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới
Trong những năm gần đây, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường ở Việt Nam diễn ra khá phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số vi phạmpháp luật về bảo vệ môi trường Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn bằngtội phạm hình sự nhưng với số lượng nhiều và ngày càng gia tăng, vi phạm hànhchính đang gây tổn hại không nhỏ cho môi trường Cũng cần khẳng định rằng, nếuđấu tranh với các vi phạm hành chính kém hiệu quả thì sẽ dẫn đến vi phạm pháp luậttrong lĩnh vực bảo vệ môi trường càng tăng về số lượng và tính chất, ảnh hưởng khálớn đến mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2010-2020 của Đảng đã khẳng định "Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, ” và “hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm”
Xử lý vi phạm hành chính là biện pháp pháp lý của Nhà nước có tác dụng to lớntrong đấu tranh với vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, góp phần nângcao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xãhội Nhận thức rõ điều này, Nhà nước ta đã chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính và từng bước nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực này trên thực tiễn Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường, được coi là hạt nhân cơ bản của hệ thống pháp luật về xử lý viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 5Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy còn bộc lộ nhiều thiếu sót, cókhông ít những quy định về vi phạm hành chính, thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn chồng chéo, không phù hợp, gâykhó khăn cho việc thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường trên thực tế [122, tr 47] Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường, tíchcực tham gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của cá nhân, tổchức chưa cao; chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cònhạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; công tác phối hợp trong xử lý chưa chặt chẽ;phương tiện kỹ thuật phục vụ cho xử lý vi phạm hành chính chưa đáp ứng đòi hỏi củathực tiễn; việc xử lý mới tập trung áp dụng hình thức xử phạt tiền, chưa quan tâm ápdụng hình thức khắc phục hậu quả, cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hànhchính nên đã làm giảm hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường
Mặt khác, nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân Nhà nước phải có trách nhiệm kiểm soát môi trường, mọi viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đều phải bị xử lý nghiêm minh đểbảo đảm cho người dân được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm quyền lợi tựnhiên của con người nhằm góp phần phát triển bền vững Để thực hiện được điều này,Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả tổchức thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trênthực tế
Việc nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về lý luận, thực trạngpháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xử lýhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết đốivới nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững và hội nhập
Trang 6quốc tế Đó là lý do, tác giả lựa chọn vấn đề “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” để làm luận án tiến sỹ luật học.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:
- Phân tích lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường như: khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vai trò và những yếu tố ảnh hưởngđến hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng hoạt động xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam thời gian qua, chỉ
ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp
luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lê nin và tư tưởng HồChí Minh để xem xét và phân tích các vấn đề Bên cạnh đó, luận án còn sử dụngquan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, về phát triển bền vững, xây dựng nhà nước pháp quyền; về chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật để nghiên cứu
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận án sử dụng các loại phương pháp sau đây:
Trang 7-Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đây là nhóm các phương pháp được sử dụng
để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tài dưới góc độ luật học với phương pháp tiếp cận
hệ thống chuyên ngành như Luật Môi trường, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Xãhội học pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Những luận điểm khoa họctrong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các Tạpchí chuyên ngành liên quan đến vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quan
điểm, các quy định pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoahọc về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm đưa ra được giảipháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay Phương pháp nghiên cứunày sẽ được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
-Phương pháp mô tả và phân tích thuần tuý quy phạm pháp luật chủ yếu được
sử dụng trong quá trình làm rõ những quy định của pháp luật về hành vi vi phạmhành chính, thẩm quyền, các biện pháp chế tài, thủ tục xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế củapháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lý, số liệu khi nghiên
cứu tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu liên quan đề tài; tình hình viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thực tiễn xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, phương pháp này được sửdụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 3
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu điểm tương đồng và khác biệt
giữa pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của ViệtNam và các nước trên thế giới; mức độ hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính
và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường ở Việt Nam, Phương pháp này được sử dụng trong Chương 1, Chương 3,Chương 4
Trang 8- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm tại
chương 2, các nhận định về thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam tại Chương 3 và các quan điểm,
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường ở Chương 4 của luận án
- Phương pháp điều tra bằng ankét được sử dụng ở Chương 3 với hai mẫu
điều tra xã hội học: 200 phiếu dùng cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy bannhân dân các cấp; công chức ngành Tài nguyên và Môi trường, chiến sỹ cảnh sátphòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; 200 phiếu dùngcho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, trong đó 100 phiếu dùng cho cá nhân, tổ chức
đã bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 100 phiếu dùngcho người dân sống trong các địa bàn có vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệmôi trường Sử dụng phiếu điều tra xã hội học nhằm mục đích thu thập những cứliệu phục vụ cho việc đánh giá đúng thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời gian qua Sửdụng phần mềm SPSS Window 16.0 để xử lý số liệu thu được
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là lý luận về xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: hệ thống hóa, lý giải những vấn đề lý luận xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; đánh giá thực trạng pháp luật mà chủ yếu làcác quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong Luật Bảo vệ môi trườngnăm 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thực tiễn xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam; đề xuất các quan điểm, giải
Trang 9pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
Trang 10-Phạm vi không gian: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam với việc khảosát trực tiếp ở một số tỉnh, thành phố điển hình trong xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Thanh Hóa,
Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng
-Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở ViệtNam trong thời gian từ năm 2012-2018
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Điểm mới nổi bật của luận án được khẳng định, đây là công trình chuyên khảođầu tiên trong khoa học Luật hành chính nước ta đã đề cập khá toàn diện và có hệthống về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt nam.Luận án có những đóng góp mới sau:
- Xây dựng khái niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường và làm rõ những đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường
- Phân tích, góp phần làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về xử lý viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như cơ sở, thẩm quyền, thủ tục,hình thức xử lý, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến xử lý vi phạm hành chính tronglĩnh vực bảo vệ môi trường
- Phân tích sâu sắc hơn và đánh giá một cách toàn diện những thành tựu, hạnchế trong quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng hoạt động xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt nam Từ đó, rút ra nguyên nhânhạn chế của vấn đề
- Xây dựng luận cứ về quan điểm và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường ở Việt Nam Đề xuất sửa đổi Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 và Nghị định số 155/2016/NĐCP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung thêm đối tượng bị xử lý vi phạm hành
Trang 11chính và hành vi vi phạm hành chính; tăng mức phạt tiền đối với những hành vi cómục đích lợi nhuận; tăng thẩm quyền cho các chủ thể trực tiếp thực thi công vụ;nâng cao nhận thức của người dân về tham gia xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường; đổi mới tổ chức, bộ máy, nâng cao năng lực cho đội ngũchủ thể xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam làcông trình nghiên cứu quy mô, mới, từ góc độ khoa học pháp lý, trên cơ sở các quyđịnh trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghịđịnh 155/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vàcác văn bản pháp luật liên quan Luận án nghiên cứu làm rõ các vấn đề từ lý luận,pháp lý đến thực tiễn về quá trình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệmôi trường, Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường ở Việt Nam, đối chiếu pháp luật hiện hành với pháp luật một
số nước trên thế giới để phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, bất cập
Từ đó, đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng caohiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môitrường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo tốt các cơ quan lập pháp,lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đặc biệt là sự sửa đổi Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định 155/2016/NĐ-CP Luận án có giá trịcho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đào tạo cao học, đại học, cao đẳngchuyên ngành luật Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan thực tiễntrong quá trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan đến xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 127 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận ánđược kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 2 Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường
Chương 3 Thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường và thực tiễn thi hành ở Việt Nam
Chương 4 Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các họcgiả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu này, nghiên cứu sinh tổnghợp tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau:
1.1.1 Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.1.1.1 Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về môi trường, bảo vệ môi trường,
xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Môi trường có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người và sinh vật.Bảo vệ môi trường bằng các biện pháp khác nhau là yếu tố quan trọng trong chiếnlược phát triển của các quốc gia Do vậy, việc tổng quan các công trình nghiên cứu
về môi trường, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệmôi trường sẽ tạo cơ sở nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu thựctrạng pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
Về môi trường và bảo vệ môi trường nói chung đã được nhiều công trình ởtrong nước như [108] [113] [65] [49] [64] [96] [2] [119] [120] và nước ngoài[135] [136] [140] [144] nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau từ lý luận đến
thực tiễn Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, (2002):
“Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [120 Tr.618] Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là "Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình
đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu
Trang 14cầu của con người"[127] Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, quan điểm được ghi trong Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội hiểu “Môi trường là
hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [113, tr.9],… Môi trường hiện tại đang có
những thay đổi bất lợi cho con người, tình trạng ô nhiễm môi trường đang đe dọa
sự sinh tồn và phát triển của con người và sinh vật Do vậy, bảo vệ môi trường ởcác cấp độ cá nhân, cộng đồng, địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế là mộttrong những vấn đề sống còn của nhân loại Theo kết quả Nghiên cứu của Diễnđàn kinh tế thế giới tại Davos, Thụy Sĩ, Việt Nam nằm trong số 49 quốc gia cóchất lượng môi trường thấp nhất [38] Vấn đề BVMT đã thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều học giả, các nhà khoa học trên thế giới, các tổ chức quốc tếnhư: Ngân hàng thế giới, Chương trình môi trường Liên hợp quốc, đã có nhiềucông trình nghiên cứu hoặc tài trợ cho nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề
cụ thể của BVMT
Dưới góc độ pháp lý thì“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” [83, Điều 1] Theo đó, BVMT không phải chỉ là hoạt
động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường mà còn là hoạt động khắc phục ônhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý tàinguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, hướng đến mục tiêu gìn giữ môi
trường trong lành, sạch đẹp BVMT phải được thực hiện bằng các biện pháp khác
nhau, trong đó các biện pháp pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng Môi trường bịhủy hoại chủ yếu do sự phá hoại của con người, chính con người trong quá trìnhkhai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất sự cân bằng sinh thái, gây tổn hạicho môi trường Vì vậy, muốn BVMT trước hết phải tác động đến con người.Pháp luật với tư cách là hệ thống các qui phạm điều chỉnh hành vi xử sự của conngười sẽ có tác dụng rất lớn trong việc BVMT Các biện pháp pháp lý cơ bản được
Trang 15Nhà nước sử dụng để BVMT là qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các
tổ chức BVMT; ban hành các tiêu chuẩn về BVMT; quy định các chế tài hình sự, dân
sự, hành chính để xử lý đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môitrường Thông qua các qui định về các biện pháp chế tài pháp lý này hoặc cách lynhững kẻ vi phạm nguy hiểm khỏi xã hội hoặc áp dụng những hậu quả vật chất, tinhthần tương ứng tỏ ra là biện pháp pháp lý hữu hiệu để buộc cá nhân, tổ chức phải thựchiện đầy đủ đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môitrường [113, tr.28] [70] [101] [67]
Xử lý vi phạm pháp luật là một dạng hoạt động của Nhà nước trong BVMT,
đó là việc nhà nước (qua các cơ quan nhà nước) áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc các cá nhân, tổ chức vi phạm nghĩa vụ pháp lý về BVMT phải chịu hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần tương ứng với vi phạm pháp luật đã thực hiện Các biện pháp cưỡng chế đa dạng ngoài cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù,…
còn sử dụng biện pháp đặc thù như: buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lýchất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; tạm đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiệnxong các biện pháp BVMT cần thiết; cấm hoạt động; buộc di dời cơ sở,…[115,tr.73] Xử lý vi phạm pháp luật về BVMT vừa được thực hiện theo hình thứcchung của áp dụng các biện pháp cưỡng chế xử lý vi phạm pháp luật nói chung,vừa bảo đảm tính chất của cưỡng chế trong một lĩnh vực chuyên ngành
Cơ sở của xử lý vi phạm pháp luật về BVMT là vi phạm pháp luật môi
trường Theo quan điểm của Trần Quốc Tỏ, Luận án tiến sỹ: Phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường trên địa bàn Thành phố Hà Nội thì “Vi phạm pháp luật môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được pháp luật qui định do cơ quan,
tổ chức hoặc cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quan hệ
xã hội liên quan đến BVMT [104, tr.26] Đặc điểm của vi phạm pháp luật về
BVMT đều là hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được Nhànước xác lập để BVMT; VPPL là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái với quy địnhcủa pháp luật BVMT, được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động;hành vi VPPL về môi trường phải có lỗi; chủ thể thực hiện hành vi phải là cá nhân
Trang 16hoặc tổ chức có đủ điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật[104, tr 25] Nội dung của XLVPPL trong lĩnh vực BVMT bao gồm xử lý hànhchính, hình sự, dân sự đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luậtBVMT như: phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên; khai thácnguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt,không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; khai thác, kinhdoanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp,quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; vậnchuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác khôngđúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thải chất thải chưa được xử lý đạtquy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khácvào đất, nguồn nước và không khí; [68, tr.26]
Các khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường, vi phạm pháp luật về BVMT,
xử lý VPPL về BVMT được nêu và phân tích ở trên là những kết quả nghiên cứuquan trọng mà tác giả có thể kế thừa hợp lý Tuy nhiên, đặc điểm của XLVPPL,trong đó có XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được thể hiện như thế nào thì côngtrình trên chưa giải quyết thấu đáo, bản chất của XLVPPL nói chung, XLVPHCnói riêng trong lĩnh vực BVMT chưa được luận giải rõ ràng Đây là khoảng trốngcòn bỏ ngỏ để luận án tiếp tục nghiên cứu và phát triển
1.1.1.2 Các nghiên cứu những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Một là, những nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm XLVPHC nói chung, khái niệm, đặc điểm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng Qua khảo cứu một số
công trình nghiên cứu của nước ngoài cho thấy, khái niệm XLVPHC không đượcđịnh nghĩa trong các văn bản pháp luật mà chủ yếu khẳng định XLVPHC là hoạtđộng thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước như cơ quan tư pháp hoặc
cơ quan hành chính, hoặc cả cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính Nội dung của
nó là đưa ra các phán quyết đối với vi phạm hành chính [15, tr.2] XLVPHC tronglĩnh vực BVMT là hoạt động phán quyết của các cơ quan tư pháp đối với tội phạm
Trang 17nhỏ hoặc cơ quan hành chính đối với VPPL trong lĩnh vực BVMT Theo đó, hệthống pháp luật các nước trên thế giới qui định xử lý VPPL về BVMT được thựchiện bởi 3 hệ thống cơ quan: cơ quan tư pháp (Ba Lan); cơ quan hành chính(Trung Quốc); cả cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp (Bang New South Wales(Australia)) Ở Việt Nam, qua nghiên cứu các công trình [113] [57] [126] [72][70], tác giả nhận thấy khái niệm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được bàn luậnkhá khiêm tốn, chủ yếu đề cập đến khái niệm xử phạt VPHC hoặc trách nhiệmhành chính trong lĩnh vực BVMT Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu[102] [114] [117] đã đưa ra các ý kiến về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Cụ thể
là, trong đề tài: Tuân thủ-cưỡng chế-giám sát trong kiểm soát ô nhiễm môi trường,
Đề tài khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội (2010) đã định nghĩa: xử lý hành chính về BVMT là việc áp dụng trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật môi trường của cơ quan có thẩm quyền đối với các chủ thể (cá nhân, tổ chức) có hành vi VPPL môi trường và phải bị áp dụng trách nhiệm hành chính [114, tr 73] Bên cạnh đó, các công trình cũng chỉ ra XLVPHC nói chung,
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng là hoạt động thuộc phạm trù QLHCNN,được tiến hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên, khái niệm vềXLVPHC trong lĩnh vực BVMT, chưa thể hiện đầy đủ nội hàm của từ “xử lýVPHC”, chưa làm sáng tỏ đặc điểm của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Hơnnữa, khi phân tích khái niệm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT, các đề tài này tiếpcận dưới góc độ qui định của Luật XLVPHC năm 2012 và cho rằng XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT chỉ bao gồm việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chínhcủa cơ quan, cá nhân có thẩm quyền còn không áp dụng các biện pháp xử lý hànhchính [126, tr 18] Việc xác định như vậy sẽ giúp cho việc xác định phạm vi ápdụng các biện pháp xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT phù hợp với LuậtXLVPHC nói chung nhưng sẽ dẫn đến trường hợp xem nhẹ các hình thức ngănchặn VPHC và bảo đảm thi hành quyết định xử lý; cưỡng chế thi hành quyết địnhXLVPHC trong lĩnh vực BVMT Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ kếthừa cách hiểu về XLVPHC nói chung, XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng
Trang 18trên cơ sở đó xây dựng một khái niệm mới có thể khắc phục được hạn chế của cáckhái niệm này.
Hai là, những nghiên cứu về cơ sở của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Vấn
đề này đã có một số công trình nghiên cứu phân tích, nhận diện như [126] [102][131] [46] [67] Với hầu hết các nước, không xem VPPL chưa tới mức truy cứu tráchnhiệm hành chính là VPHC Loại vi phạm này được xếp vào trách nhiệm hình sự với têngọi khinh tội hoặc tội hình sự nhỏ Chỉ có một số nước trên thế giới, VPHC được hiểu
là các hành vi VPPL mà không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hànhchính Ví dụ Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca, Minnesota định nghĩa VPHC
là hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…”. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa VPHC là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” [67, tr.67] Đề tài: Pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT, của tác giả Phan Thị Tố Uyên đã khẳng định: cơ sở của xử
phạt VPHC về BVMT là VPHC trong lĩnh vực BVMT,…[126, tr 13-14] Tuynhiên, có quan điểm lại cho rằng cơ sở để XLVPHC không phải là VPHC mà là hành
vi VPHC trong lĩnh vực BVMT [102, tr.20] Vấn đề này sẽ được tác giả luận án kếthừa và luận giải sâu sắc hơn để làm sáng tỏ cơ sở của XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT VPHC trong lĩnh vực BVMT bao gồm: các hành vi vi phạm các quy định vềquản lý chất thải; các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của cơ sở sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ; các hành vi gây ô nhiễm môi trường, [95]
Ba là, những nghiên cứu về đối tượng bị XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm phát triển bềnvững đất nước thì việc quy định về đặc điểm, điều kiện trở thành đối tượng VPHCtrong lĩnh vực BVMT có vai trò quan trọng trong việc xác định các biện pháp xử
lý tương ứng với tính chất, mức độ VPHC về BVMT của đối tượng VPHC Theo
Trang 19hướng này, hiện nay có một số công trình tập trung vào nội dung đối tượng bịXLVPHC trong lĩnh vực BVMT như [15][133][140] [2], trong đó Báo cáo Tổngquan tham khảo Luật XLVPHC các nước trên thế giới đã khẳng định đối tượng bịXLVPHC các nước trên thế giới là cá nhân, pháp nhân Đối với hệ thống pháp luậtquy định về tội phạm nhỏ hoặc hệ thống pháp luật không có sự tách biệt giữa chếtài hình sự và hành chính như Thái Lan, bang New South Wales của Úc thì đốitượng bị xử phạt chỉ là cá nhân và độ tuổi cá nhân bị XPVPHC là từ 14 trở lên,trong đó, Luật về tội phạm nhỏ của Ba Lan áp dụng đối với đối tượng từ 17 tuổitrở lên Ngoài ra, một số công trình còn xác định, bên cạnh các chủ thể trực tiếpVPHC về BVMT phải bị XLVPHC thì các chủ thể liên quan cũng là đối tượng bịXLVPHC trong lĩnh vực BVMT Cụ thể, những người thực hiện hành vi trợ giúp,khuyên bảo, khuyến khích, xúi giục người khác thực hiện hành vi gây nguy hạicho môi trường [67], Đối với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, đã đề cậpđối tượng bị XLVPHC là cá nhân từ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hànhchính, tổ chức, hộ gia đình, Tuy nhiên, các công trình trong nước chưa phân tíchđặc điểm của tổ chức, cá nhân với tư cách là đối tượng bị XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT, vấn đề này sẽ được tác giả luận giải sâu sắc thêm.
Bốn là, những nghiên cứu về chủ thể có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT Vấn đề xác định thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT thuộc tráchnhiệm của hệ thống cơ quan tư pháp hay cơ quan hành chính, hay hệ thống cơquan nửa hành chính – tư pháp hoặc thuộc thẩm quyền của cả cơ quan hành chính
và cơ quan tư pháp đã được các công trình phân tích, luận giải, như [15][64] [2][102] [126] [85] [53], trong đó, các công trình đã xác định thẩm quyền XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT ở một số nước trên thế giới được quy định cụ thể, ngoài cơquan hành chính (Trung Quốc) còn có cơ quan tư pháp tham gia xử phạt đối vớiVPHC (Ba Lan, Thái Lan) Ngoài ra, còn có các cơ quan nửa hành chính – tư pháp
và các tổ chức công được ủy quyền đều có thể tiến hành XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT (Trung Quốc, Cộng Hòa Pháp, New South Wales); có nước XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT thuộc thẩm quyền xử lý của cả cơ quan hành chính và cơ
Trang 20quan tư pháp [14] Còn ở Việt Nam, các công trình đã đề cập đến thẩm quyềnXLVPHC trong lĩnh vực BVMT thuộc về hệ thống các cơ quan hành chính nhànước theo phân cấp từ Trung ương đến địa phương Trong đó, chủ yếu là Ủy bannhân dân các cấp, các cơ quan thanh tra môi trường, thanh tra chuyên ngành vàcảnh sát nhân dân [53] [102] [116] Tuy nhiên, do không nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT mà chủ yếu nghiên cứu vềthẩm quyền XLVPHC nói chung nên đa phần các công trình chưa đưa ra đượcluận giải về thẩm quyền và phân định thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT Do vậy, luận giải sẽ phát triển thêm lý luận về căn cứ phân định thẩmquyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT giữa các chủ thể có thẩm quyền XLVPHCnhằm thực hiện đúng nguyên tắc phòng ngừa, bảo đảm quyền con người trongXLVPHC về BVMT
Năm là, những nghiên cứu về các hình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Hình thức XLVPHC được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụngđối với cá nhân hoặc tổ chức thực hiện VPHC Việc áp dụng các hình thứcXLVPHC sẽ đặt ra trách nhiệm hành chính đối với đối tượng vi phạm [55] Hìnhthức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT có vai trò nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật môi trường vì tính linh hoạt, minh bạch, đảm bảo khắc phục, loại bỏ lợi ích
kinh tế của cá nhân, tổ chức từ việc không tuân thủ các quy định về môi trường[43] Các hình thức xử lý bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền được xác định là hình thức
xử phạt chính, trong đó, phạt tiền được thực hiện theo hướng, các nhân, tổ chức viphạm pháp luật BVMT sẽ bị xử lý ở mức thấp nhất, nếu không thành công, sẽ bịđiều chỉnh di chuyển lên mức cao hơn và mang tính trừng phạt nhiều hơn để phùhợp với đặc điểm của hành vi vi phạm pháp luật về BVMT như công trình số[112] [135] [97],…Trong công trình nghiên cứu của J Dara Lynott and Ray
Cullinane (Ireland) (2005), Administrative Sanctions (Xử phạt VPHC), Office of
Environmental Enforcement, Environmental Protection Agency in Ireland, p.10-17khi đề cập đến hình thức xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT tại Ireland Tácgiả so sánh hiện trạng xử phạt hành chính ở Anh, Mỹ, Đức và Úc và đưa ra nhận
Trang 21định về XPHC ở Ireland có đến 11 của 20 biện pháp trừng phạt không phải hình
sự như: thực thi cam kết; cảnh báo; phạt tiền cố định; phạt tùy ý; tên và xấu hổ,công khai đối tượng VPHC Trong công trình của Jean Piette (2014), La sanctiondroit de l’environnement pénalités administratives, Université Dalhousie, Canada
đã luận giải, phân tích cách tính tiền phạt biến đổi đối với những VPHC tăng nặng.Luận giải nguyên tắc xử lý cá nhân thấp hơn 5 lần so với tổ chức nếu tố chức đó viphạm nhằm mục đích kinh tế (cá nhân phạt $ 2,000, pháp nhân phạt $ 10,000)[141] Bên cạnh đó, biện pháp tịch thu tang vật, tước quyền sử dụng giấy phép môitrường; đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm hoạt động được khẳng định là hai biệnpháp bổ sung áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực BVMT [46] [118]
[126],
Ngoài ra, hình thức khắc phục hậu quả do VPHC gây ra cho môi trường cũng
là hình thức XLVPHC hiệu quả đối với việc đấu tranh phòng chống vi phạm phápluật trong lĩnh vực BVMT [133] [138, tr.149] [92] Các biện pháp khắc phục hậuquả như: khôi phục lại tình trạng môi trường đã bị ô nhiễm hoặc phục hồi môitrường bị ô nhiễm do vi phạm hành chính gây ra; buộc trồng lại, chăm sóc và bảo
vệ diện tích khu bảo tồn đã bị phá hủy, phục hồi sinh cảnh ban đầu cho các loàisinh vật; buộc tháo dỡ công trình gây hại cho MT; buộc thực hiện các biện phápkhắc phục tình trạng ÔNMT; buộc di dời ra khỏi khu vực cấm, [92]
Yêu cầu của hình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được luận giải dựatrên yêu cầu của hình thức XLVPHC nói chung, như: hình thức XLVPHC nóichung, trong lĩnh vực BVMT nói riêng phải bảo đảm phù hợp với mức độ nguyhiểm của hành vi VPHC về BVMT; phải đa dạng, phong phú phù hợp với sự phát
triển của xã hội; phải bảo đảm tính thống nhất đồng bộ [55] Tuy vậy, các công
trình chưa luận giải các biện pháp ngăn chặn VPHC và các biện pháp cưỡng chếthi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Trong quá trình nghiên cứuluận án, tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các côngtrình trên, đồng thời làm sáng tỏ thêm một số hình thức XLVPHC cần áp dụng
Trang 22Sáu là, những nghiên cứu về thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT và vai
trò, các yếu tố ảnh hưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT XLVPHC tronglĩnh vực BVMT là một lĩnh vực liên quan đến quyền con người nên cần có hệthống qui định chặt chẽ về thủ tục XLVPHC Thủ tục XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT được áp dụng theo qui định thủ tục hành chính Trong công trình nghiêncứu [15] đã khẳng định: thủ tục xử lý phải rõ ràng, công khai, có sự tham gia củađối tượng bị xử phạt Trường hợp đối tượng bị xử phạt không đồng ý với quyếtđịnh thì có thể thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo thủ tục hành chính.Thủ tục xử phạt VPHC được phân theo ba loại thủ tục đó là xử phạt tại chỗ và thủtục xử phạt chung và thủ tục xử phạt công khai (Trung Quốc) Theo đó, xử phạt tạichỗ được tiến hành đối với vụ việc hành chính do công dân thực hiện bị phạt tiềnđến 50 tệ, pháp nhân, tổ chức đến 1000 tệ hoặc áp dụng biện pháp phạt cảnh cáo.Thủ tục xét xử công khai áp dụng khi đình chỉ sản xuất, kinh doanh, thu hồi giấyphép, chứng chỉ hành nghề, phạt tiền với mức phạt lớn. Thủ tục thông thườngđược thực hiện đối với vi phạm không thuộc trường hợp tiến hành xử phạt tại chỗ
và thủ tục xét xử
Ở Việt Nam, thủ tục XLVPHC được thực hiện qua hai thủ tục: thủ tục khônglập biên bản và thủ tục có lập biên bản [117] [126] Tuy vậy, các công trình trênchủ yếu chỉ đề cập đến qui định về thủ tục trong luật thực định chứ không bàn sâu
về qui trình XLVPHC bắt đầu từ khi khi nào và kết thúc thời điểm nào Tác giả sẽ
kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, đồng thời luận giải thêm vấn đề thời điểm bắtđầu và kết thúc của hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực BVMT để làm sáng rõ yêucầu hoàn thiện thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay.Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT đượccác công trình nghiên cứu đề cập khá toàn diện Trong công trình nghiên cứu của
Alison Fanagan and L Goodbody (2006), A Study on the use of Administrative Sanctions for Environmental Offences in other comparable countries and assessment of their possible use in Ireland (Nghiên cứu về việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm về môi trường trong các nước khác tương đương và
Trang 23đánh giá việc có thể sử dụng ở Ireland), Office of Environmental Enforcement,
Environmental Protection Agency, Ireland, ISBN 978-1-84095-317-6 đã khẳngđịnh vai trò xử phạt hành chính đối với vi phạm về ô nhiễm môi trường của chínhquyền địa phương đã đưa lại hiệu quả trong BVMT Các công trình [115] [133][94] [49] [96] đã đề cập đến pháp luật về môi trường, mức độ hoàn thiện của hệthống cơ quan nhà nước, yếu tố trang thiết bị, vật chất với tư cách là những yếu tốảnh hưởng tích cực trong việc ngăn chặn hành vi vi phạm, bảo đảm pháp luậtXLVPHC trong lĩnh vực BVMT được thực thi có hiệu quả Tuy nhiên, yếu tố trình
độ năng lực của đội ngũ con người có thẩm quyền XLVPHC; yếu tố nhận thức củangười dân với tư cách là chủ thể tham gia BVMT chưa được các công trình luậngiải đầy đủ đang là khoảng trống mà luận án tiếp tục nghiên cứu, khẳng định
1.1.2 Các nghiên cứu về thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam là tổng thể các quyphạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành qui định về VPHC, hình thứcXLVPHC trong lĩnh vực BVMT Nghiên cứu thực trạng pháp luật XLVPHC tronglĩnh vực BVMT là căn cứ để đánh giá toàn diện ưu, hạn chế của hệ thống phápluật XLVPHC trong lĩnh vực BVMT hiện hành, từ đó làm cơ sở đưa ra các giảipháp hoàn thiện pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Các công trình, bàiviết nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu nghiên cứu thực trạng pháp luật XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT ở phạm vi hẹp là Luật XLVPHC năm 2012, Nghị định xửphạt VPHC trong lĩnh vực BVMT nói chung chứ không nghiên cứu các qui định
xử phạt VPHC đối với từng thành phần môi trường Trong công trình của Phan
Thị Tố Uyên: Pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, tác giả đã phân
tích thực trạng pháp luật thực định trong lĩnh vực này dựa trên quy định của Pháplệnh XLVPHC năm 2002, sửa đổi năm 2008 và Nghị định 117/2009/NĐ-CP củaChính phủ ngày 31/12/2009 Theo đó, ngoài những ưu điểm thì pháp luật qui định
về hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT còn nhiều điểm hạn chế như: qui định vềhành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT còn chồng chéo, mâu thuẫn, trùng
Trang 24lặp nội dung; còn để lọt nhiều hành vi VPHC; nhiều qui định còn mang tính định tínhnên khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật Từ đó, đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sungNghị định 117 theo hướng qui định thêm hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT chưađược điều chỉnh như vi phạm về cấm khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loại động thựcvật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyđịnh,
Các công trình đã đánh giá những bất cập trong quy định về thẩm quyềnXLVPHC của pháp luật hiện hành như: thẩm quyền xử phạt của các cơ quan hànhchính trực tiếp thực thi công vụ còn thấp, sự phân định thẩm quyền còn nhiềuchồng chéo Đưa ra một số kiến nghị về tăng thẩm quyền xử phạt cho các cơ quancấp cơ sở và người trực tiếp thi hành công vụ; tăng mức phạt cho lực lượng thanhtra chuyên ngành và xác định thẩm quyền xử phạt của thanh tra trong các cục,tổng cục [108] [133] [64, tr.184] [8] [126, tr.44-71]
Thực trạng qui định của pháp luật về nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạtđược các công trình nghiên cứu đề cập như [111] [77] [8], các tác giả đã bàn luậnmột số hạn chế của qui định hiện hành về nguyên tắc, thời hiệu XLVPHC tronglĩnh vực BVMT theo Nghị định 81/2006/NĐ-CP, Nghị định 117/2009/NĐ-CP về
xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, đưa ra đề xuất cần điều chỉnh, bổ sung, thaythế các Nghị định 81, 117 theo hướng qui định cơ chế truy cứu trách nhiệm cánhân trong trường hợp xử lý tổ chức Đồng thời, xác định nguyên tắc việc xử phạthành chính đối với tổ chức phải được xây dựng trên nguyên tắc trách nhiệm từng cánhân và nguyên tắc mỗi hành vi VPHC chỉ bị xử phạt một lần Mọi nội dung sửa đổiliên quan đến XLVPHC trong lĩnh vực môi trường không thể tách rời những sửa đổicủa XLVPHC nói chung và sâu xa hơn nữa là hoàn thiện cả hệ thống pháp luật vềBVMT
Đánh giá về thực trạng hình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được đềcập đến trong các công trình nghiên cứu [44] [117] [118] Theo đó, hình thức cảnhcáo chưa phát huy được hiệu quả tác dụng vì không có biện pháp hỗ trợ kèm theo;mức phạt tiền không có sự thống nhất trong cùng một văn bản xử phạt VPHC
Trang 25chung hoặc mâu thuẫn giữa văn bản xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT chungvới văn bản xử phạt VPHC trong từng thành phần môi trường và đưa ra một số vấn
đề trao đổi nhằm hoàn thiện Luật XLVPHC 2012 theo hướng sửa đổi qui định vềmức xử phạt giữa các khu vực, mức phạt cá nhân, tổ chức
Tuy vậy, các công trình nghiên cứu đánh giá về thực trạng qui định pháp luậtXLVPHC trong lĩnh vực BVMT thường tập trung vào một hoặc hai văn bản quyphạm pháp luật chuyên sâu về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT theo thờiđiểm ban hành của văn bản đó như Nghị định 81, Nghị định 117, Nghị định179….Đánh giá thực trạng các qui định của pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT ở Việt Nam trước khi Luật XLVPHC năm 2012 ra đời nên những lập luận,đánh giá của các công trình trên cũng đã được khắc phục trong các văn bản ban hànhsau năm 2012, đặc biệt là Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vựcBVMT Mặc dù vậy, tác giả luận án sẽ kế thừa phương pháp tiếp cận của các côngtrình nghiên cứu trên khi đánh giá thực trạng pháp luật XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT hiện nay
1.1.3 Các nghiên cứu về thực tiễn thi hành pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Trong công trình của Nguyễn Văn Minh (2014), Phòng ngừa, phát hiện tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường khu vực Đồng bằng sông Hồng theo chức năng của lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Luận án
tiến sỹ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân đã đánh giá tình hình tội phạm vàVPPL về môi trường trong đó có tình hình VPHC trong lĩnh vực BVMT Tuycông trình này nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học nhưng những đánh giá tìnhhình vi phạm pháp luật trong đó có VPHC và giải pháp phòng chống có giá trịtham khảo khi tác giả đánh giá tình hình VPHC trong lĩnh vực BVMT Trong công
trình Nguyễn Văn Việt (2010), Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả phân tích khái quát thực trạng VPHC và truy cứu trách nhiệm hành chính
Trang 26trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay Đề xuất những giải pháp để nâng caohiệu lực, hiệu quả trong việc truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vựcBVMT Luận án có thể tiếp thu, phân tích làm rõ hơn thực tiễn XLVPHC tronglĩnh vực BVMT hiện nay
Trong công trình “Thực hiện pháp luật BVMT ở Việt Nam”, của Nguyễn Trần Điện (2012), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7, tr 56- 62 và 66 Tác giả đã
đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về BVMT và thực trạng hệ thống pháp luậtBVMT, phân tích những bất cập của chúng Các giải pháp đề xuất tập trung vàoyêu cầu khi sửa đổi và xây dựng pháp luật BVMT phải bảo đảm tính tổng thể củacác chính sách, định hướng quốc gia về phát triển đất nước; tăng cường hợp tácquốc tế Công trình có giá trị tham khảo khi đánh giá về tình hình VPHC vềBVMT và các yếu tố ảnh hưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
Trong công trình “Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay”, của Bùi Kim Hiếu (2012), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 22(230)),
tr 52-60 đã đánh giá được thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vựcBVMT theo Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực này.Đánh giá thực trạng và nguyên nhân VPHC trong lĩnh vực BVMT Trên cơ sở mô
tả trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực BVMT của một số nước như Singapore,Canada, so sánh với hình thức thể hiện của các qui định về trách nhiệm hành chínhcủa các nước này với Việt Nam, tác giả lập luận cần quy định trách nhiệm hànhchính và chế tài xử lý hành chính ngay trong văn bản pháp luật chuyên ngành,điều này làm cho việc xác định trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền XLVPHC
có độ chính xác cao hơn là quy định riêng một văn bản xử lý Nội dung tài liệunày có giá trị tham khảo trong việc đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
Bên cạnh đó, để phục vụ cho luận án, nghiên cứu sinh còn nghiên cứu tổngquan các công trình nghiên cứu dưới góc độ khác nhau về các giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả XLVPHC trong từng thành phần môi trường như công trình
nghiên cứu của Bùi Đức Hiển (2016), Pháp luật kiểm soát ô nhiễm không khí ở
Trang 27Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Học viện khoa học xã hội; Nguyễn Quang Hùng
(2015), “Ô nhiễm môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông đáy và kiến nghị
hoàn thiện chế tài xử lý trong lĩnh vực môi trường”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
số 06(286), tr.54; Các công trình nghiên cứu này đã tiếp cận XLVPHC trong lĩnh
vực BVMT dưới góc độ kiểm soát ô nhiễm môi trường của các thành phần cụ thểnhư môi trường không khí hoặc địa bàn cụ thể là lưu vực sông, đồng thời luận giải
về hoạt động trong truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với VPHC nói chung sẽ đượcnghiên cứu sinh tiếp thu để luận giải về bản chất XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.Tuy nhiên, phương thức tính mức phạt tiền đối với hành vi VPHC nhằm mục đích lợinhuận trong lĩnh vực BVMT như thế nào để tăng thêm mức xử phạt tiền thì chưa đượccác công trình trên luận giải, vấn đề này luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, phát triển
1.1.4 Các nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trong công trình nghiên cứu “Pháp luật về BVMT: Kinh nghiệm một số
nước châu Á và bài học đối với Việt Nam” của tác giả Trương Thu Trang (2009),
Thông tin Khoa học pháp lý, số 3, tr.3- tr.9 Công trình đã khái quát pháp luậtBVMT ở Singapo, Trung quốc, đưa ra bốn bài học kinh nghiệm mà Việt Nam cầnvận dụng như: hệ thống pháp luật BVMT nói chung, XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT nói riêng cần được hoàn thiện theo hướng cụ thể hơn, rõ ràng hơn, nghiêmkhắc hơn trong các mức xử lý VPHC; cần tăng mức xử phạt VPHC trong lĩnh vựcBVMT đối với hành vi thu lợi bất chính từ hành vi gây ô nhiễm môi trường; nêntăng thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT cho chính quyền địa phươnggắn với phân cấp rõ ràng về nguồn nhân lực, vật lực để bảo đảm tính hiệu quảtrong XLVPHC về BVMT Đây là những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam cóthể tham khảo để hoàn thiện pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
Với công trình “Hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược của Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm luật pháp Trung Quốc” của Nguyễn Minh Đức, Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam (VCCI) Theo Bản tin Chính sách Tài nguyên-Môi trường-Phát triển
Trang 28bền vững số 12/ PanNature, đã trình bày ba nhóm ý kiến kiến nghị cho việc xâydựng pháp luật về ĐTM, ĐMC nhìn từ kinh nghiệm của Trung Quốc, trong đó cónhóm ý kiến cần nghiêm minh trong xử lý đối với người lập báo cáo ĐTM, ĐMCphải bị xử phạt tiền hành chính và tước thẻ hành nghề khi có sai sót về hình thứchoặc nội dung của báo cáo Người thẩm định báo cáo ĐTM, ĐMC sẽ bị phạt hànhchính, tước thẻ hành nghề và bị cấm tham gia vào hội đồng thẩm định nếu đã bỏphiếu thuận thông qua một báo cáo ĐTM, ĐMC mà báo cáo đó có sai sót về mặtchuyên môn Nếu một dự án được phê duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấpgiấy phép xây dựng hoặc cấp giấy phép hoạt động mà chưa được phê duyệt báocáo ĐTM thì người phê duyệt hoặc cấp các chứng từ trên phải chịu hình thức kỷluật Đây là kinh nghiệm mà luận án vận dụng khi đề cập đến giải pháp mở rộngphạm vi chủ thể bị XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam
Với công trình “Pháp luật về BVMT ở Singapore” của Lê Hồng Thương (2004), Tạp chí Pháp luật và kinh tế, số 8 (149), tr.37- tr 39 và tr 64 đã đề cập
đến các biện pháp hành chính trong BVMT bao gồm: kế hoạch sử dụng đất, cấpgiấy phép, giấy chứng nhận, thông báo và lệnh; phạt tiền đối với hành vi vi phạmtiếng ồn sau khi được giám sát sẽ bị phạt tiền mức tối đa là 2000USD, nếu táiphạm phải nộp 100USD cho mỗi ngày tái phạm tiếp theo; đồng thời, pháp luậtcũng trao cho Bộ Môi trường quyền được chỉ đạo thực hiện ngay lập tức bất kỳnhiệm vụ, hành động nào nếu nhiệm vụ đó là cấp bách đối với an toàn xã hội, sứckhỏe hay dịch vụ cộng đồng Từ đó, tác giả đã đề cập đến bài học kinh nghiệm màViệt Nam có thể vận dụng đó là tăng thẩm quyền áp dụng hình thức XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT cho các cơ quan chuyên ngành TN&MT
Trong công trình “Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân VPPL môi trường ở một số nước” của Trần Thắng Lợi (2004), Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3,
tr.66-tr.71, tác giả đề cập đến XPVPHC trong lĩnh vực BVMT của Canada đượcqui định trong Luật chất lượng môi trường với mức xử phạt tiền từ 300 CAD đến
5000 CAD và để bảo đảm cho hình thức xử phạt tiền có hiệu quả, đạt mục đíchtrừng phạt, Luật còn có qui định cho phép áp dụng thế nợ bằng bất động sản hoặc
Trang 29động sản Từ đó, gợi mở kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng để đa dạnghình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Có thể nhận thấy, nhóm công trình nghiên cứu trên đã nêu lên được một sốkinh nghiệm của nước ngoài về mở rộng các hình thức XLVPHC; tăng thẩmquyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT cho cơ quan chuyên ngành BVMT Đây lànhững nội dung mà luận án sẽ kế thừa Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cậpđến kinh nghiệm XLVPHC đối với pháp nhân thương mại khi coi thường lệnh củacác cơ quan quản lý nhà nước về BVMT và kinh nghiệm trong công tác tuyêntruyền, phát huy vai trò cộng đồng tham gia XLVPHC trong lĩnh vực BVMT củacác nước trên thế giới nên luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, phát triển
1.2 Nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn
đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Những thành tựu trong các công trình nghiên cứu mà luận án kế thừa, tiếp tục phát triển
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trên sáu phương diện lớn, các côngtrình nghiên cứu đã làm được những vấn đề sau:
Thứ nhất, các công trình, bài viết, luận văn, luận án, giáo trình đã đưa ra
được khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trường Ở góc độ nhất định đã nêu được khái niệm XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã phần nào đề cập đến lý luận về
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT, đề cập đến cơ sở XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT là VPHC, đặc điểm của VPHC trong lĩnh vực BVMT; thẩm quyềnXLVPHC trong lĩnh vực BVMT được luận giải theo hướng trao cho cơ quan hànhchính nhà nước; đối tượng bị XLVPHC chủ yếu là cá nhân, tổ chức trực tiếp cóhành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT; các hình thức xử lý cơ bản đã được làm rõ
từ hình thức xử phạt chính, bổ sung đến khắc phục hậu quả; thủ tục XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT gồm thủ tục lập biên bản và thủ tục không lập biên bản, thủtục giải trình bắt buộc thực hiện đối với một số trường hợp cụ thể; vai trò và các
Trang 30yếu tố tác động đã được đề cập tập trung khẳng định vai trò góp phần đưa phápluật vào thực tiễn, ngăn ngừa, hạn chế VPHC về BVMT nói chung; bảo đảmquyền được sống trong môi trường lành mạnh và phát triển bền vững Các yếu tốthể chế, tổ chức bộ máy ảnh hưởng rất lớn đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về thực trạng pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực
BVMT thường tập trung vào một, hai văn bản quy phạm pháp luật chuyên sâu về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT theo thời điểm ban hành của vănbản đó như Nghị định 81, Nghị định 117, Nghị định 179….Đánh giá thực trạng thihành pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam chủ yếu trước năm 2015
Thứ tư, phần lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến XLVPHC trong
lĩnh vực BVMT đã đưa ra các giải về hoàn thiện pháp luật như thẩm quyền, hìnhthức XLVPHC theo hướng tăng thẩm quyền cho các chủ thể trực tiếp thi hànhcông vụ, tăng mức phạt tiền và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho XLVPHC vềBVMT
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tác giả sẽ có sự tiếp thu, kế thừanhững thành quả, các giá trị mà các nghiên cứu đã chỉ ra làm nền tảng cho việctiếp tục nghiên cứu đề tài của mình về cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
1.2.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Qua các công trình nghiên cứu đã công bố và được tác giả tổng quan chothấy việc nghiên cứu về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam vẫn cònnhững hạn chế, thiếu sót, bất cập sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu chưa đưa ra một khái niệm đầy đủ về
VPHC, XLVPHC trong lĩnh vực BVMT, đặc biệt chưa tiếp cận XLVPHC tronglĩnh vực BVMT trên cơ sở nội hàm của thuật ngữ này
Thứ hai, các công trình tuy có đưa ra đặc điểm của VPHC trong lĩnh vực BVMT,
đặc điểm của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nhưng lại đồng nhất đặc điểm XLVPHCvới đặc điểm XPVPHC trong lĩnh vực BVMT, chưa có công trình nào phân định rạchròi sự khác biệt của XLVPHC với xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT
Thứ ba, các công trình mặc dù có liệt kê các hình thức XLVPHC trong lĩnh
Trang 31vực BVMT, trong đó tập trung vào các hình thức phạt chính, bổ sung, khắc phụchậu quả nhưng hầu như chưa có công trình nào luận giải đầy đủ tính chất của từnghình thức XLVPHC, đặc biệt chưa có công trình nào bàn về các hình thức ngănchặn hành chính, hình thức bảo đảm thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT trong trường hợp đối tượng VPHC cố tình hoặc không có điều kiện nộpphạt tiền và hình thức cưỡng chế thi hành quyết định XLVPHC trong lĩnh vực này,đây là khoảng trống mà luận án cần phải tiếp tục giải quyết.
Thứ tư, về thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT đã được đề cập
nhưng chưa làm sáng tỏ thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT của hệ thống
cơ quan QLHCNN về BVMT và lực lượng cảnh sát môi trường Về thủ tục XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT, đa phần các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung bàn về thủtục XLVPHC theo Luật XLVPHC năm 2012 với hai loại thủ tục lập biên bản hoặckhông lập biên bản, mà chưa làm rõ nội dung của XLVPHC là một quá trình bao gồmcác bước bắt đầu từ khi phát hiện ra vi phạm đến khi khắc phục xong hậu quả vi phạm,đây là khoảng trống còn bỏ ngỏ mà luận án tiếp tục khái quát hóa, nghiên cứu chuyênsâu
Thứ năm, đa số các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật XLVPHC
về BVMT và thực tiễn XLVPHC về BVMT mới chỉ dừng ở mức độ nêu ra màchưa có sự luận giải sâu sắc Hơn nữa, những đánh giá này dựa trên pháp luật thựcđịnh và thực tiễn thực thi trong phạm vi thời gian giai đoạn trước năm 2012 nên có rấtnhiều nội dung không còn phù hợp với qui định pháp luật hiện nay Do đó, phần nàytác giả tập trung đánh giá chất lượng pháp luật thực định về XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT trên các phương diện như: thực trạng qui định của pháp luật về VPHC tronglĩnh vực BVMT; thẩm quyền XLVPHC; hình thức XLVPHC và thủ tục XLVPHC.Đồng thời, luận án sẽ đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT trong giai đoạn từ 2012-2018 Trong đó, việc phân tích, đánh giá thực trạngpháp luật XLVPHC về BVMT và thực tiễn thi hành, nguyên nhân của vấn đề là hoàntoàn mới, chưa có công trình nghiên cứu nào trước đây thực hiện hoặc hệ thống hóa
Thứ sáu, chưa có nhiều công trình nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia
Trang 32trên thế giới về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT một cách bài bản, từ đó so sánhvới Việt Nam giúp chúng ta có nhìn nhận khách quan toàn diện và khoa học đểhoàn thiện khung pháp lý XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam thời giantới Luận án sẽ nghiên cứu hệ thống hơn các công trình nước ngoài về vấn đề này,rút ra kinh nghiệm áp dụng đối với Việt Nam
Thứ bảy, qua các công trình nghiên cứu được tác giả tổng quan cho thấy chưa
có công trình nghiên cứu nào đưa ra được hệ thống các giải pháp mang tính đồng
bộ, toàn diện về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT Trên cơ sở những vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh sẽ dự kiến
đề xuất các giải hoàn thiện qui định về hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT; hoànthiện qui định về hình thức XLVPHC; thủ tục và thẩm quyền XLVPHC trong lĩnhvực BVMT và các giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động XLVPHC về BVMT
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Một hệ thống pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực BVMT hoàn chỉnh và nângcao hiệu quả XLVPHC trong lĩnh vực BVMT trên thực tiễn góp phần tăng cườngpháp chế trong lĩnh vực BVMT là mục tiêu mà các quốc gia luôn hướng đến Luận
án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
(1) Bản chất của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT và các bộ phận hợp thànhXLVPHC trong lĩnh vực BVMT được hiểu như thế nào?
(2) Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT thểhiện ra sao?
(3) Đánh giá như thế nào về thực trạng pháp luật XLVPHC trong lĩnh vựcBVMT và thực trạng hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam?(4) Những giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạtđộng XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về XLVPHC
Trang 33trong lĩnh vực BVMT, để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, tác giả xác định luận
án cần chứng minh tính đúng đắn của một số giả thuyết sau đây:
- Bản chất của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT là quá trình áp dụng các hìnhthức xử lý đối với cá nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực BVMT, bắt đầu từ khiphát hiện ra hành vi VPHC và kết thúc sau khi khắc phục xong hậu quả VPHCtrong lĩnh vực BVMT
- Có 4 bộ phận tạo thành XLVPHC trong lĩnh vực BVMT bao gồm: Cơ sởcủa XLVPHC; chủ thể có thẩm quyền XLVPHC; hình thức và thủ tục XLVPHCtrong lĩnh vực BVMT Cụ thể: cơ sở của XLVPHC trong lĩnh vực BVMT làVPHC trong lĩnh vực BVMT đã xảy ra trên thực tế nhưng đã được pháp luật hànhchính dự liệu từ trước; thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT sẽ dựa trênnguyên tắc trao quyền cho hệ thống cơ quan QLHCNN trong lĩnh vực này; hìnhthức XLVPHC về BVMT bao gồm các hình thức xử phạt, khắc phục hậu quả,ngăn chặn hành chính, bảo đảm thi hành quyết định XLVPHC; cưỡng chế thi hànhquyết định XLVPHC trong lĩnh vực BVMT; hình thức xử lý cần bảo đảm sựtương xứng với tính chất, mức độ của VPHC và bảo đảm sự công bằng giữa cácđối tượng VPHC; thủ tục XLVPHC được thực hiện qua các giai đoạn khác nhau,tương ứng với trình tự áp dụng hình thức XLVPHC cụ thể
- XLVPHC trong lĩnh vực BVMT có vai trò đối với hoạt động QLHCNNtrong lĩnh vực BVMT; góp phần hoàn thiện pháp luật về BVMT; nâng cao ý thứctrách nhiệm BVMT của người dân; góp phần nâng cao chất lượng thực thi công
vụ
- XLVPHC trong lĩnh vực BVMT chịu sự tác động của chất lượng của hệ
thống pháp luật; trình độ, ý thức pháp luật về BVMT; mức độ hoàn thiện của bộ
máy và cơ chế phối hợp trong QLNN và xử lý VPHC về BVMT; chất lượng độingũ nhân sự có thẩm quyền XLVPHC; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị,phương tiện kỹ thuật
- Pháp luật hiện hành về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT vẫn còn nhữngđiểm bất cập, thiếu sót về hành vi VPHC, thẩm quyền, hình thức, thủ tục
Trang 34XLVPHC Thực trạng thi hành pháp luật XLVPHC về BVMT chưa đáp ứng đượcđòi hỏi của thực tế với những hạn chế trong tổ chức bộ máy, năng lực thực thicông vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực BVMT
- Giải pháp nâng cao hiệu quả XLVPHC là hoàn thiện các quy định pháp luậttheo hướng bổ sung thêm các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT; tăng thẩmquyền cho chủ thể trực tiếp xử lý vi phạm; tăng mức phạt tiền đối với những hành
vi VPHC có mục đích kinh tế; bổ sung thêm hình thức xử lý đối với đối tượngVPHC không có khả năng hoặc cố tình không thực hiện quyết định XLVPHC đã
có hiệu lực; hoàn thiện qui định về thủ tục XLVPHC; nâng cao năng lực XLVPHCcho đội ngũ chủ thể có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu về khái niệm môi trường, BVMT cho
thấy các công trình đã chỉ ra khái niệm môi trường, BVMT Khẳng định xử lý vi phạmpháp luật nói chung, XLVPHC trong lĩnh vực BVMT nói riêng là biện pháp pháp lý có
vai trò quan trọng trong BVMT Thứ hai, các công trình nghiên cứu về lý luận XLVPHC
trong lĩnh vực BVMT đã khái quát đưa ra khái niệm VPHC, XLVPHC; thẩm quyền; cáchình thức XLVPHC trong lĩnh vực BVMT gồm cảnh cáo, phạt tiền, phạt bổ sung và cácbiện pháp khắc phục hậu quả; khẳng định thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT gồmhai loại thủ tục có lập biên bản và thủ tục không lập biên bản Vai trò và các yếu tố ảnhhưởng đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT cũng đã được đề cập Tuy vậy, các côngtrình chưa luận giải toàn diện về đặc điểm của VPHC, XLVPHC trong lĩnh vực BVMT;chưa đề cập đầy đủ hình thức; thẩm quyền; thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT làmột quá trình bắt đầu từ khi phát hiện ra vi phạm đến khi khắc phục xong hậu quả viphạm
Thứ ba, tổng quan các công trình nghiên cứu thực trạng các qui định pháp luật về
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT đã khẳng định pháp luật có một số hạn chế: thiếu một
Trang 35số hành vi VPHC; hình thức XLVPHC; thẩm quyền XLVPHC còn bất cập Về thực tiễnhoạt động XLVPHC trong lĩnh vực này đã đánh giá tình hình VPHC trong lĩnh vựcBVMT, rút ra một số kết quả và hạn chế của hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực BVMT.Tuy nhiên, đa số những đánh giá trên dựa trên pháp luật thực định và thực thi pháp luậttrong thời gian trước năm 2015 nên có rất nhiều nội dung không còn phù hợp với thực tếqui định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay.
Thứ năm, các công trình đã đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật như tăng thẩm
quyền cho các chủ thể trực tiếp thi hành công vụ, tăng mức phạt tiền đối với tổ chức vànâng cao nhận thức và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho XLVPHC về BVMT,nhưng chưa có hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện về vấn đề này
Thứ sáu, luận án đã chỉ ra những thành tựu trong các công trình nghiên cứu mà
luận án có thể kế thừa hoặc những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ bảy, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu từ lý luận đến thực trạng pháp luật và thực
trạng hoạt động XLVPHC trong lĩnh vực BVMT; đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đểgiải quyết có hiệu quả các câu hỏi nghiên cứu
Trang 36CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
2.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
2.1.1 Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam có nhiều cách hiểu khác nhau về môitrường Theo nghĩa thông thường, “môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và
xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng đến con người và tác động qua lại vớicác hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài
người, ”[111, tr.618] Trong khoa học pháp lý, môi trường được tiếp cận theo
cách hiểu như mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, trong đó môi trường đượchiểu là hệ thống các yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người.Theo quan điểm được ghi nhận trong Luật Bảo vệ Môi trường 2014 giải thích
thuật ngữ môi trường như sau “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [87, Khoản 1, Điều 3] Như vậy, để hiểu khái niệm môi trường dưới góc
độ pháp lý, có ba vấn đề cần làm rõ: Một là, môi trường bao gồm các yếu tố tự
nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo Các yếu tố tự nhiên là yếu tố được hìnhthành và phát triển theo qui luật vốn có của tự nhiên như đất, nước, không khí, âmthanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác Các yếu tố vật chất nhântạo do con người tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của mình như: đường
xá, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà ga, bao quanh con người Hai là, các yếu tố
của môi trường nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành hệ thốngthống nhất và tác động qua lại với nhau, cho nên sự tác động của con người vàomột yếu tố môi trường có thể tạo ra những tác động tới các yếu tố khác của môi
trường Ba là, có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Tuy nhiên, định nghĩa môi trường nói trên cũng chưa thể hiện được mối quan hệbiện chứng giữa con người và môi trường, quan điểm này chỉ thấy sự tác động một chiều
Trang 37từ môi trường đến con người mà không thấy con người cũng có thể tác động trở lại môitrường Trong mối quan hệ tương tác, các yếu tố này tác động đến sự tồn tại và phát triểncủa con người và sinh vật và ngược lại con người cũng tác động trở lại nó theo chiềuhướng tốt lên hoặc xấu đi Các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo làm nền tảng chocuộc sống của con người nếu con người biết giới hạn để vừa sử dụng vừa bảo vệ chúngthì mối quan hệ ngày càng bền chặt và tồn tại lâu dài Ngược lại, nếu môi trường bị xâmhại từ con người thì sẽ dẫn đến suy giảm chất lượng của các yếu tố vật lý, hóa học tựnhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo như kinh tế, xã hội bao xung quanh con người gâyảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của con người và sinh vật Do vậy, khi xácđịnh nội hàm của môi trường cần đặt nó trong mối quan hệ với biện chứng với con người
và gắn với quan điểm phát triển bền vững hiện nay Từ phân tích trên, trong luận án này
tác giả hiểu môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, có tác động qua lại biện chứng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Môi trường hiện nay đang có những thay đổi bất lợi cho con người nên BVMTđang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia Theo quan điểm của Luật
BVMT năm 2014, BVMT được hiểu “là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [87, Khoản 2, Điều 3] Do đề tài luận án là “XLVPHC trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay” nên tác giả sử dụng quan điểm BVMT của Luật
BVMT năm 2014 Mục đích của BVMT là nhằm ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ônhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tựnhiên gây ra; sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học; khắcphục ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường, bảo đảm pháttriển bền vững BVMT được thực hiện ở nhiều cấp độ từ cấp độ cá nhân, cộng đồng,vùng, quốc gia và quốc tế BVMT là trách nhiệm của toàn dân, trong đó Nhà nước bảo
vệ lợi ích quốc gia về TN&MT, thống nhất quản lý BVMT trong cả nước. Tổ chức, cánhân phải có trách nhiệm BVMT, thi hành pháp luật về BVMT, có quyền và có trách
Trang 38nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi VPPL về BVMT [87, Điều 4]
Trang 39BVMT được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng cơ bản vẫn làcác biện pháp tổ chức – chính trị, giáo dục, công nghệ, kinh tế, pháp lý Trong đó,BVMT bằng các biện pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng Biện pháp pháp lý trongBVMT chính là sử dụng pháp luật để BVMT Thực tế đã chứng minh, pháp luậtBVMT là công cụ để thực hiện phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường, gópphần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người [113, tr.26] Pháp luật qui định hình thức, cách thức, các nghĩa vụ pháp lý các cá nhân, tổchức và các biện pháp xử lý mang tính cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức VPPL vềBVMT Pháp luật ban hành các tiêu chuẩn môi trường như tiêu chuẩn về độ ồn, tiêuchuẩn về nước sạch, tiêu chuẩn về không khí,…để buộc cá nhân, tổ chức trong xã hộiphải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường và làm cơ sở
để XLVPPL về BVMT Bên cạnh việc xây dựng một hệ thống văn bản pháp luậtBVMT hoàn thiện, đồng bộ thì Nhà nước còn bảo đảm thi hành pháp luật BVMTthường xuyên, liên tục, nghiêm minh để bảo đảm hoạt động BVMT đạt hiệu quả trênthực tế Trong hệ thống các biện pháp pháp lý về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMTthì XLVPHC trong lĩnh vực BVMT là biện pháp có vị trí quan trọng trong nâng caohiệu quả BVMT
2.1.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Khi đề cập đến XLVPHC trong lĩnh vực BVMT thì một trong những vấn đề cầnđược quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc XLVPHC Cơ sở của XLVPHC là có VPHCđược pháp luật quy định Việc nghiên cứu về khái niệm VPHC trong lĩnh vực BVMTvừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi địnhnghĩa được đúng về VPHC mới có thể xác định được từng hành vi VPHC cụ thể tronglĩnh vực BVMT Xác định được đúng VPHC, tức là xác định đúng cơ sở xử lý, thì việcthực hiện XLVPHC mới bảo đảm chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp phápcủa Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việcXLVPHC, tránh được sự tuỳ tiện khi XLVPHC trong lĩnh vực BVMT
Khái niệm VPHC trong lĩnh vực BVMT đã được nhiều công trình đề cập Ởmột số nước trên thế giới, VPHC thường được hiểu chung là các hành vi VPPL mà
Trang 40không phải là tội phạm, bị xử phạt bằng các chế tài hành chính Ví dụ Pháp lệnh củaHội đồng bang Milaca, Minnesota[15, Bang Minesota, Hoa Kỳ] định nghĩa VPHC
là hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…”. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa VPHC là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục
do Luật này quy định”. Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật XPVPHC của Cộng hòa liên bang Nga [Điều 2.1 37] thì VPHC được định nghĩa là“hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”.
Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, khái niệm VPHC trong lĩnh vựcBVMT được đề cập dưới cấp độ văn bản dưới luật Cụ thể, khái niệm VPHC tronglĩnh vực BVMT được quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 117/ 2009/NĐ-CPngày 31/12/2009 quy định về XPVPHC trong lĩnh vực BVMT đã khẳng định:VPHC trong lĩnh vực BVMT là những hành vi vi phạm quy định quản lý nhà nướctrong lĩnh vực BVMT do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý màkhông phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định phải bị XPHC,
Nhằm đáp ứng yêu cầu xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT hướng đến hoànthiện hệ thống pháp luật BVMT nói chung, Chính phủ đã ban hành Nghị định155/2016/NĐ-CP về XPHC trong lĩnh vực BVMT Tuy không trực tiếp đưa ra kháiniệm VPHC trong lĩnh vực BVMT nhưng Nghị định đã liệt kê những nhóm hành viVPHC trong lĩnh vực BVMT và thừa nhận khái niệm VPHC được quy định tại LuậtXLVPHC năm 2012 Theo đó, định nghĩa VPHC trong lĩnh vực BVMT sẽ được
hiểu theo Khoản 1 Điều 1 Luật XLVPHC 2012 và gắn với lĩnh vực BVMT: “VPHC trong lĩnh vực BVMT là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT mà không phải là tội