Ki ểm soát chi ngân sách nhà nước Thực hiện Thông tư số 18/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 13 tháng 3 năm 2006 “hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các cơ quan nhà nước thực hiện c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HOC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn trung thực và khách quan Đề tài nghiên cứu là kết quả của riêng tôi và không sao chép
của bất kỳ đề tài nghiên cứu nào, các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Tiền Giang, ngày 10 tháng 8 năm 2018 Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi
ngân sách thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang”, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của Thầy, Cô
và các bạn đồng nghiệp tại Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông đã giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Lời đầu tiên trong luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh Tế Huế đã tạo điều kiện tốt nhất cho khóa học Cảm ơn toàn thể cán bộ, giáo viên của Trường Đại học Kinh Tế Huế, các giảng viên đã tận tình giảng
dạy, truyền đạt kiến thức, hỗ trợ, giúp đỡ, động viên và khuyến khích trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Phạm Xuân Hùng– Giảng viên trường Đại học Kinh Tế Huế, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông đã tạo điều kiện và thời gian để tôi thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên học viên : Nguyễn Ngọc Thúy
Chuyên ngành: QU ẢN LÝ KINH TẾ Niên khóa: 2016-2018
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Xuân Hùng
Tên đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG
XUYÊN QUA KBNN HUY ỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG”
1 M ục đích và đối tượng nghiên cứu:
1.1 M ục đích:
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng và những hạn chế của công tác kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN huyện Tân Phú Đông đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN bảo đảm cho việc quản lý, sử
dụng NSNN đúng quy định, đúng chế độ và có hiệu quả, góp phần thực hành tiết kiệm,
chống tham ô, lãng phí tài sản công Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở cơ quan KBNN Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở KBNN huyện Tân Phú Đông, chỉ ra được những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác kiểm soát chi Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở KBNN huyện Tân Phú Đông trong thời gian tới
1.2 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên liên quan đến quy trình và nội dung kiểm soát chi qua KBNN huyện Tân Phú Đông
2 Các ph ương pháp nghiên cứu đã sử dụng:
Sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích thống kê, so sánh, phân tích tình hình thực tế tại KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
3 K ết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, đề tài đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, giúp quản lý và điều hành hiệu quả ngân sách nhà nước, góp phần kiềm chế lạm phát và
ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ
Đề tài đã có những nghiên cứu kinh nghiệm quản lý ngân sách của các KBNN huyện khác từ đỏút ra những bài học kinh nghiệm cho quản lý chi thường xuyên trên địa bàn huyện Tân Phú Đông giúp kiểm soát chặt chẽ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, phát hiện kịp thời sai sót thông qua công tác kiểm tra, tự kiểm tra tài chính kế toán, hoàn thiện chế độ báo cáo, tiết kiệm thời gian, kinh phí
Với những kết quả nghiên cứu khiêm tốn của luận văn có thể giúp KBNN huyện Tân Phú Đông phần nào khắc phục được những tồn tại và hoàn thiện công tác kế toán tại đơn vị, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tuy nhiên với năng lực bản thân có hạn, thời gian nghiên cứu không dài nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của các Thầy, các nhà chuyên môn để tôi có thể tiếp tục hoàn thiện luận văn này
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ĐVDSNS: Đơn vị sử dụng ngân sách
KBNN: Kho Bạc Nhà Nước KSC: Kiểm soát chi
NSNN: Ngân sách Nhà Nước XDCB:
NSTX:
CBCC:
Xây dựng cơ bản Ngân sách thường xuyên Cán bộ công chức
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận văn: 3
CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHITHƯỜNG XUYÊN NSNN QUA CƠ QUAN KHO BẠC NHÀ NƯỚC 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN 4
1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước 4
1.1.2 Chi ngân sách nhà nước: 5
1.1.3 Chi ngân sách thường xuyên: 5
1.2 KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN QUA KBNN 6
1.2.1 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước 6
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN 7
1.2.3 Nội dung kiểm soát chi ngân sách thường xuyên 11
1.2.4 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên: 14
1.2.5 Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên 20
1.2.6 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước 24
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN 25
1.3.1 Các quy định pháp lý về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên 25
KINH
Ế
Trang 71.3.2 Tổ chức bộ máy kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua kho bạc nhà nước 26 1.3.3 Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức kiểm soát chi ngân sách
thường xuyên, người thực hiện ngân sách thường xuyên 26
1.3.4 Công tác kiểm tra quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán 27
1.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC KBNN HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG 30
1.4.1 Bài học kinh nghiệm của KBNN huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 30
1.4.2 Bài học kinh nghiệm của KBNN Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang 31
1.4.3.Bài học kinh nghiệm rút ra cho KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang 32 CHƯƠNG 2.CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊNNGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG 33
2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG 33
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 33
2.1.2 Vị trí và chức năng 34
2.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn 34
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 36
2.2.THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN QUA KBNN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG 38
2.2.1 Thực trạng chi ngân sách thường xuyên qua KBNN Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang 38
2.2.2 Thực trạng về quy trình và nội dung kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông 43
2.3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA ĐẾN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN 63
2.3.1 Kết quả đánh giá ý kiến của cán bộ công chức trong KBNN Tân Phú Đông đến cán bộ kiểm soát chi ngân sách thường xuyên 63
2.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hương đến công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang 66
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG 71
2.4.1 Kết quả đạt được 71
KINH
Ế
Trang 82.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG 73
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐẾN NĂM 2020 73
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 73
3.1.2 Nội dung Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 73
3.1.3 Định hướng hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước huyện 75
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NSTX QUA KBNN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG 77
3.2.1 Hoàn thiện quy trình KSC ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện 77
3.2.2 Nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, công chức kiểm soát chi ngân sách thường xuyên 78
3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Ban giám đốc KBNN Tân Phú Đông 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
2 KIẾN NGHỊ 82
2.1.Kiến nghị với Chính phủ 82
2.2.Kiến nghị với Bộ Tài chính 83
2.3.Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1+2
BẢN GIẢI TRÌNH
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
KINH
Ế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nướcTân Phú
Đông giai đoạn 2012 - 2017 39
Bảng 2.2 Chi thường xuyên theo nhóm mục chi giai đoạn 2012-2017 40
Bảng 2.3 Chi thường xuyên theo lĩnh vực hoạt động giai đoạn 2012-2017 42
Bảng 2.4 Thanh toán cá nhân từ ngân sách thường xuyên giai đoạn 2012-2017 54
Bảng 2.5: Chi hàng hóa dịch vụ phục vụ chuyên môn từ ngân sách thường xuyên
giai đoạn 2012-2017 56
Bảng 2.6 Các khoản chi mua sắm từ ngân sách thường xuyên giai đoạn
2012-2017 58
Bảng 2.7 Chi khác từ ngân sách thường xuyên giai đoạn 2012-2017 59
Bảng 2.8 Kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
KBNN huyện Tân Phú Đông năm 2012 – năm 2017 62
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát đánh giá của CBCC trong KBNN Tân Phú Đông về
công chức kiểm soát chi thường xuyên năm 2017 63
Trang 102017 42Hình 2.4 Quy trình cấp phát các khoản chi thường xuyên theo hình thức dự
toán 44Hình 2.5 Quy trình giao dịch một cửa 47Hình 2.6 Thanh toán cá nhân từ ngân sách thường xuyên giai đoạn 2012-201755Hình 2.7 Biểu đồ chi hàng hóa dịch vụ phục vụ chuyên môn từ ngân sách
thường xuyên 56 Hình 2.8 Biểu đồ các khoản chi mua sắm 58 Hình 2.9 Biểu đồ chi khác 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, lĩnh vực tài chính - ngân sách nói chung và quản lý quỹ ngân sách qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) nói riêng đã có sự đổi mới căn bản, nhờ đó đã mang lại những kết
quả đáng khích lệ
Chi ngân sách Nhà nước (NSNN) là công cụ chủ yếu của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội Việc tiết kiệm chi tiêu ngân sách nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế Do đó, nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng các khoản chi là một nhu cầu có tính nguyên tắc đối với các cấp, các ngành, các đơn vị sử dụng NSNN
Với vai trò là cơ quan quản lý quỹ ngân sách nhà nước, Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm quản lý chi NSNN Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu cải cách hành chính thì việc kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phú Đông vẫn còn những tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng sử
dụng ngân sách như: Trong quy trình tiếp nhận hồ sơ, chứng từ, còn chưa tách bạch người nhận hồ sơ và người giải quyết hồ sơ; cán bộ kiểm soát chi giải quyết công việc lúng túng, bị động còn sai sót; hồ sơ, thủ tục vẫn còn rườm rà chưa thực sự tạo sự thuận
tiện cho các đơn vị sử dụng ngân sách
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát
chi ngân sách thường xuyên qua kho bạc nhà nước huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ, với mong muốn có một sự đóng góp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN
2 M ục tiêu nghiên cứu
2.1 M ục tiêu chung:
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng và những hạn chế của công tác kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN huyện Tân Phú Đông đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN bảo đảm cho việc quản lý, sử
dụng NSNN đúng quy định, đúng chế độ và có hiệu quả, góp phần thực hành tiết kiệm,
chống tham ô, lãng phí tài sản công
Trang 12 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở KBNN huyện Tân Phú Đông trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên liên quan đến quy trình và nội dung kiểm soát chi qua KBNN huyện Tân Phú Đông
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu:
Kiểm soát chi NSNN được tiếp cận nghiên cứu trong luận văn là hoạt động của KBNN về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh
Tiền Giang
Để đảm bảo tính thống nhất về mặt thời gian trong nghiên cứu, luận văn giới hạn
phạm vi về thời gian để thu thập và nghiên cứu, đánh giá kiểm soát chi ngân sách thường xuyên từ năm ngân sách 2012 đến năm 2017 tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Thu th ập số liệu:
(a) Số liệu thứ cấp: được thu thập, tính toán từ các báo cáo nghiệp vụ của KBNN huyện Tân Phú Đông từ năm 2012 đến năm 2017
(b) Số liệu sơ cấp:
- Phỏng vấn sâu: sẽ được thực hiện đối với một số cán bộ chịu trách nhiệm về
quản lý chi NSNN tại Kho bạc huyện Tân Phú Đông để xác định những điểm mạnh và điểm yếu của công tác quản lý chi NSNN, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi
Tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát cán bộ công chức trong đơn vị KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (Gồm 11 CBCC)
Trang 13 Tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh
Tiền Giang
Trên địa bàn huyện Tân Phú Đông có 70 đơn vị có quan hệ với ngân sách, do đó
số lượng phiếu dự kiến là 70 phiếu
Khảo sát các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước về mức độ hoàn thiện công tác
kiểm soát chi NSNN (nội dung, quy trình, thực hiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước) và khảo sát CBCC trong đơn vị KBNN huyện Tân Phú Đông để thấy rõ những mặt đạt được, chưa được và từ đó phát hiện những tồn
tại, hạn chế để đề xuất giải pháp hoàn thiện
4.2 Phân tích s ố liệu:
Sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích thống kê, so sánh, phân tích tình hình thực tế tại KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
5 K ết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chi và kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
Trang 14CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI
T HƯỜNG XUYÊN NSNN QUA CƠ QUAN KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 T ỔNG QUAN VỀ CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN
1.1.1 Khái ni ệm về ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiện chức năng của nhà nước
Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước
Tuy đã tồn tại khá lâu, nhưng đến nay, NSNN vẫn được nhìn nhận dưới nhiều
gốc độ khác nhau và khái niệm NSNN cũng chưa thống nhất Nếu xem xét bề ngoài hay
chỉ quan tâm về mặt lượng thì ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền
của nhà nước trong một giai đoạn nhất định Có ý kiến cho rằng, ngân sách là văn kiện được nghị viện thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính của nhà nước được dự kiến và cho phép Một số ý kiến lại cho rằng, NSNN là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định
Theo Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [ 20 ]
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khái quát hơn và sâu xa hơn thì NSNN phản ánh các quan hệ phân phối cơ bản của nền tài chính quốc gia Về mặt kinh tế, NSNN thể hiện trong mối quan hệ kinh tế - tài chính giữa nhà nước với các chủ thể của nền kinh tế trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng NSNN, quá trình phân phối và phân
phối lại thu nhập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước
NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm Ở nước
ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng
12 năm dương lịch NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Trong đó, Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN
Trang 15NSNN có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc.Chức năng phân phối của NSNN bao gồm phân phối thu nhập và các yếu tố đầu vào
của sản xuất, đặc biệt là các nguồn lực tài chính Chức năng giám đốc thể hiện ở việc giám sát, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra bằng đồng tiền gắn với quá trình thu, chi NSNN NSNN có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại Vai trò đó thể hiện trên các mặt như: vừa là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ
và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ môi trường
1.1.2 Chi ng ân sách nhà nước:
Thực hiện Thông tư số 161/2012/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 02 tháng 10 năm 2012 “quy định chế độ, kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN”[9]
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo
thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính, chi đầu tư kinh tế, chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi cho phúc lợi xã hội, chi cho an ninh quốc phòng; theo
mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích lũy, chi tiêu dùng; theo thời hạn tác động
của các khoản chi, chi NSNN bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác (như chi cho vay, trả nợ, viện trợ )
Chi thường xuyên là nhóm chi NSNN đặc biệt quan trọng, gồm rất nhiều khoản chi và bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.3 Chi ngân sách thường xuyên:
Chi ngân sách thường xuyên bao gồm các khoản chi hàng năm để chính phủ của từng quốc gia thực hiện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của chính phủ Những chi phí này thường được gọi là chi ngân sách thường xuyên, bởi vì chúng được thực hiện năm này qua năm khác, nó trái ngược với chi ngân sách đầu tư, phát triển, các
Trang 16khoản chi ngân sách đầu tư, phát triển kết thúc khi một cây cầu hoặc một công trình hoàn thành, quyết toán và được giao cho cơ quan quản lý
Chi ngân sách thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động
sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác
Có thể khái quát lại, chi ngân sách thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng
vốn từ quỹ NSNN, để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác
mà nhà nước vẫn phải cung ứng
1.2 KI ỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH THƯỜNG XUYÊN QUA KBNN
1.2.1 Ki ểm soát chi ngân sách nhà nước
Thực hiện Thông tư số 18/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 13 tháng 3 năm
2006 “hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính”[10]
Thực hiện Thông tư số 81/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 06 tháng 9 năm
2006 “hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính” [11]
Thực hiện Thông tư số 84/2007/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 17 tháng 07 năm 2007 “sửa đổi một số điểm của Thông tư số 18/2006/TT-BTC ngày 13 tháng 3 năm
2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các cơ quan nhà nước
thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính” [12]
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 17- Làm cho hoạt động chi NSNN đạt được hiệu quả cao nhất, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán ngân sách năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ quan, ĐVSDNS chuẩn chi và phù hợp với chính sách,
chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước
- Công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp từ lập dự toán, phân bổ dự toán tới cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên quan tới tất cả các Bộ, ngành, địa phương Do đó yêu cầu công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành một cách chặt chẽ, thận trọng tuy nhiên không được máy móc gây phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp
- Tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính Đồng
thời cũng cần phân định rõ ràng vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản
lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình
thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra giám sát lẫn nhau
giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN
- Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán NSNN Đồng thời phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách ổn định phát triển kinh tế,…
1.2.2 Khái ni ệm, đặc điểm, vai trò và nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN
1.2.2.1 Khái ni ệm và đặc điểm của chi thường xuyên NSNN
Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên
của nhà nước với các nội dung chủ yếu: chi tiền lương, tiền công; chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ; chi chuyển giao thường xuyên
Thực hiện Thông tư số 08/2013/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 10 tháng 01 năm 2013 “hướng dẫn thực hiện kế toán Nhà nước áp dụng cho hệ thống thông tin quản
lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS)” [18]
Trang 18Về thực chất, chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối lại nguồn vốn từ
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đảm nhiệm
Chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm cơ bản như sau:
M ột là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính ổn định
và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm
Hai là, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính,
hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã
hội khác do Nhà nước tổ chức Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải
vật chất Tuy nhiên, những khoản chi thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra một môi trường kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng lao động thông qua các khoản chi cho giáo dục - đào tạo
Ba là, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức
bộ máy nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì bảo đảm hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN
1.2.2.2 Vai trò của chi thường xuyên
Chi thường xuyên NSNN có vai trò rất quan trọng Vai trò đó thể hiện trên các
mặt cụ thể như sau:
Th ứ nhất, chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức
năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước
Th ứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và
điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách
xã hội góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
Th ứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị
trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước Nói cách khác, chi thường xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 19Th ứ tư, chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an
ninh Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo
ổn định, an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng
1.2.2.3 N ội dung chi thường xuyên NSNN
Nội dung chi thường xuyên NSNN được phân biệt theo lĩnh vực chi, đối tượng chi và tính chất chi tiêu Cụ thể như sau:
Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm 12 nội dung chi theo
luật định, cụ thể như sau:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn
học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;
- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
Theo đối tượng chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính - sự nghiệp như: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh, học bổng cho học sinh và sinh viên v.v
- Các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan nhà nước như: văn phòng phẩm, sách, báo, dịch vụ viễn thông và thông tin, điện, nước, công tác phí, chi phí hội nghị v.v
Trang 20- Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội hay thực
hiện điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước
- Các khoản chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước
- Các khoản chi khác
Theo tính ch ất của từng khoản chi, nội dung chi thường xuyên NSNN bao gồm
các khoản như sau:
- Chi thanh toán cá nhân: là các khoản chi liên quan trực tiếp đến con người như: chi tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, chi học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên, chi đóng bảo hiểm xã hội cho người hưởng lương từ NSNN, chi tiền thưởng, phúc
lợi tập thể
- Chi nghiệp vụ chuyên môn: là các khoản chi đảm bảo hoạt động thường xuyên
của đơn vị thụ hưởng NSNN như: chi mua văn phòng phẩm, chi trả dịch vụ công cộng, chi mua hàng hoá vật tư, công cụ dụng cụ dùng trong công tác chuyên môn của từng ngành, chi bảo hộ lao động, trang phục, đồng phục và các khoản khác
- Chi mua sắm, sửa chữa: chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm
việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác
- Chi khác: là các khoản chi ngoài các khoản chi nêu trên chẳng hạn như: chi hoàn thuế giá trị gia tăng, chi xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước và các khoản khác
1.2.2.4 Ch ức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KBNN:
Theo Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08 tháng 7 năm 2015 “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính” [8], thì: “KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính,
thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật”
Với chức năng trên, hệ thống KBNN có một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức
và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước; thực hiện hạch toán số thu ngân sách
Trang 21nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
- Kiểm soát, thanh toán, kế toán, quyết toán vốn đầu tư, vốn sự nghiệp có tính
chất đầu tư và xây dựng thuộc nguồn vốn NSNN các cấp
- Kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ dự trữ tài chính nhà nước; tiền, tài
sản tạm thu, tạm giữ và các khoản tịch thu đưa vào tài sản nhà nước theo quyết định của
cấp có thẩm quyền
- Tổ chức huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ thông qua thị trường vốn trong nước và ngoài nước
- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền
mặt, bằng chuyển khoản đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN KBNN được mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Ngân hàng Thương mại Nhà nước để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ
- Tổ chức công tác kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán quỹ NSNN, quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền và tài sản tạm thu, tạm giữ,…
1.2.3 N ội dung kiểm soát chi ngân sách thường xuyên
1.2.3.1 N ội dung kiểm soát, thanh toán đối với một số khoản chi chủ yếu:
Kiểm soát chi NSNN qua KBNN là việc KBNN tiến hành thẩm định, kiểm tra,
kiểm soát các khoản chi NSNN phù hợp với các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu
do nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và thanh toán các khoản chi của NSNN
1.2.3.2 N ội dung và quy trình kiểm soát chi NSNN của KBNN bao gồm:
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi thường xuyên NSNN;
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp về con dấu và chữ ký của Thủ trưởng và Kế toán ĐVSDNS;
- Kiểm tra, kiểm soát các điều kiện chi theo chế độ quy định, bao gồm:
Trang 22+ Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao Dự toán chi NSNN của các đơn vị phải phản ảnh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do ĐVSDNS lập và cơ quan có thẩm quyền duyệt Các khoản chi phải theo nhóm mục của
mục lục NSNN Cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra kết quả lập và giao
dự toán ngân sách cho các đơn vị Nếu có sự sai lệch so với nội dung dự toán được cấp
có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là căn cứ quan trọng để KBNN kiểm soát chi khi cấp phát thanh toán cho ĐVSDNS Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, KBNN căn cứ vào dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm căn
loại hồ sơ, chứng từ theo mẫu chứng từ quy định KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính
hợp pháp, hợp lệ trước khi cấp phát, thanh toán kinh phí NSNN cho ĐVSDNS cụ thể
1.2.3.2.1 Ki ểm soát các khoản chi cho con người:
- Đối với các khoản chi tiền lương, học bổng, sinh hoạt phí, các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức: danh sách những người hưởng lương, học
bổng, sinh hoạt phí; danh sách những người hưởng tiền công lao động thường xuyên theo hợp đồng; danh sách cán bộ xã, thôn bản đương chức (gửi lần đầu và gửi khi có bổ sung, điều chỉnh)
- Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan hành chính thực hiện khoán chi: theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị nhưng không vượt quá 01 lần lương
- Các khoản thanh toán khác cho cá nhân: danh sách theo từng lần thanh toán
- Đối với thanh toán cá nhân thuê ngoài: hợp đồng thuê khoán, thanh lý hợp đồng (nếu có);
Trang 231.2.3.2.2 Ki ểm soát các khoản chi hàng hóa dịch vụ:
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng; thông tin, tuyên truyền liên lạc: Bảng kê
chứng từ thanh toán
- Chi mua vật tư văn phòng: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
- Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc khoán phương tiện theo
chế độ, khoán văn phòng phẩm, khoán điện thoại: văn bản quy định về mức chi, danh sách những người hưởng chế độ khoán (gửi một lần vào đầu năm và gửi khi có phát sinh thay đổi)
- Chi hội nghị: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
- Chi công tác phí: Bảng kê chứng từ thanh toán
- Chi phí thuê mướn: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có
hợp đồng)
- Chi đoàn ra, đoàn vào: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi không có hợp đồng), hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có
hợp đồng)
1.2.3.2.3 Ki ểm soát các khoản chi mua sắm, sửa chữa:
Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng) đơn vị gửi KBNN các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), tùy theo hình thức lựa chọn nhà
thầu, đơn vị gửi Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Quyết định chỉ định thầu, Quyết định phê duyệt kết quả chào hàng cạnh tranh của cấp có thẩm quyền; Hợp đồng mua bán, sửa chữa, xây dựng
1.2.3.2.4 Ki ểm soát các khoản chi khác:
Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
Trang 241.2.4 Quy trình ki ểm soát chi thường xuyên:
1.2.4.1 Trách nhi ệm của từng cán bộ
Cán bộ kế toán quản lý tài khoản chi ngân sách của khách hàng (gọi chung là cán bộ
kiểm soát chi):
- Hướng dẫn khách hàng nộp hồ sơ kiểm soát chi;
- Xem xét hồ sơ của khách hàng, kiểm tra sơ bộ về sự đầy đủ, tính hợp pháp, hợp
lệ của hồ sơ Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ để đơn vị bổ sung, hoàn chỉnh; việc hướng dẫn có thể qua trao đổi trực tiếp với khách hàng, nhưng cán bộ kiểm soát chi phải ghi đầy đủ tên các loại tài liệu cần bổ sung, hoàn chỉnh, nội dung vắn tắt cần bổ sung, hoàn chỉnh vào phiếu nhận hồ sơ để trả lại khách hàng làm căn cứ hoàn thiện hồ sơ;
- Thực hiện việc kiểm soát hồ sơ, đảm bảo việc kiểm soát chi thường xuyên đúng pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước Trong quá trình kiểm soát hồ sơ, nếu phát
hiện các khoản chi ngân sách không đủ điều kiện chi NSNN theo chế độ quy định; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi; chi không đúng đối tượng, mục đích theo dự toán được duyệt hoặc số dư tài khoản của khách hàng không đủ thì cán bộ kiểm soát chi dự
thảo công văn thông báo từ chối tạm ứng, thanh toán, báo cáo lãnh đạo phòng (bộ phận nghiệp vụ) trình lãnh đạo KBNN ký gửi khách hàng;
- Thực hiện luân chuyển hồ sơ cho các bộ phận nghiệp vụ có liên quan theo đúng quy trình này và quy định cụ thể của lãnh đạo KBNN;
- Sau khi hồ sơ đã có kết quả xử lý, cán bộ kiểm soát chi thông báo kết quả và trả
lại hồ sơ, chứng từ cho khách hàng
1.2.4.2 Trách nhi ệm của Giám đốc các đơn vị KBNN thực hiện giao dịch một cửa:
Thực hiện theo Quyết định số 1116/QĐ-KBNN của Kho bạc Nhà nước ngày
24 tháng 11 năm 2009 “Về việc ban hành Quy trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước” [19]
- Chịu trách nhiệm toàn diện trước Tổng Giám đốc KBNN về việc triển khai
thực hiện giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN
- Quy định cụ thể việc luân chuyển, giao nhận hồ sơ trong nội bộ đơn vị,
thời gian giải quyết công việc của các bộ phận nghiệp vụ bảo đảm kiểm soát chặt
Trang 25chẽ các khoản chi NSNN, đúng thời hạn quy định, không gây phiền hà cho khách giao dịch
1.2.4.3 Các bước kiểm soát:
- Căn cứ vào phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền giao và yêu cầu nhiệm vụ chi, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách thường xuyên của chính quyền địa phương các cấp lập
giấy rút dự toán ngân sách địa phương kèm theo hồ sơ thanh toán theo quy định (tại phụ lục 01/CTX ban hành kèm theo quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009), đến KBNN nơi giao dịch làm thủ tục thanh toán chi ngân sách thường xuyên
- Kế toán viên làm công tác kiểm soát chi tiếp nhận hồ sơ, chứng từ của đơn vị giao
dịch chuyển đến, lập phiếu giao nhận hồ sơ (mẫu số 02/PHS-CTX ban hành kèm theo quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009); thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách thường xuyên theo đúng quy định đối với từng khoản chi, thời gian kiểm soát chi theo quy định
- Kế toán viên làm công tác kiểm soát chi ký kiểm soát (kế toán), định khoản kế toán, nhập chứng từ chi ngân sách thường xuyên (giấy rút dự toán) vào chương trình Kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN (TABMIS), trình Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) hồ sơ, chứng từ được kiểm soát đủ điều kiện chi (tạm ứng/ thanh toán) kinh phí ngân sách thường xuyên
- Kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) kiểm tra đủ điều kiện chi (tạm ứng/ thanh toán) sẽ ký kiểm soát (kế toán trưởng) đồng thời trên chứng từ giấy, trên chương trình TABMIS, chuyển hồ sơ cho kế toán viên để trình Thủ trưởng KBNN (hoặc người được ủy quyền) quyết định
- Thủ trưởng KBNN (hoặc người được ủy quyền) xem xét, quyết định việc cấp phát, thanh toán hoặc từ chối cấp phát, thanh toán theo nguyên tắc:
+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên đủ điều kiện chi trả, thanh toán, tùy theo tính chất của từng khoản chi, KBNN duyệt cấp tạm ứng hoặc cấp thanh toán cho đơn vị
+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên chưa đủ điều kiện thanh toán do hồ
sơ, chứng từ chưa đầy đủ; viết sai các yếu tố trên chứng từ KBNN trả lại hồ sơ, chứng từ
và hướng dẫn các đơn vị hoàn chỉnh theo quy định
Trang 26+ Nếu các khoản chi ngân sách thường xuyên không đúng chế độ quy định như: sai tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi KBNN từ chối thanh toán, thông báo và trả lại hồ sơ,
chứng cho đơn vị theo quy định
1.2.4.4 Hình th ức cấp phát NSNN
a) Hình th ức cấp phát theo dự toán từ KBNN:
Đây là hình thức để cấp phát kinh phí thường xuyên cho các đơn vị dự toán NSNN-vốn là những đối tượng thường xuyên sử dụng kinh phí từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ đuợc giao Các đối tượng này bao gồm: các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới hình thức thu đủ, chi đủ hoặc gán thu bù chi, các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được nhà nước đảm bảo kinh phí Như vậy, cấp phát theo dự toán kinh phí là hình thức áp dụng đối với các khoản chi
mà cơ quan tài chính không trực tiếp cấp phát Trong đó, dự toán kinh phí được hiểu là
khả năng tối đa mà đơn vị thụ hưởng có thể nhận từ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của mình Kinh phí sử dụng thực tế của những đối tượng thụ hưởng không được phép vượt quá giới hạn đã được phân bổ
Quyết định chi của ĐVSDNS có hình thức là “Giấy rút dự toán ngân sách nhà nước” Khi có nhu cầu thực tế, đại diện hợp pháp của ĐVSDNS phát hành “Giấy rút dự toán ngân sách nhà nước” cùng các chứng từ hợp pháp yêu cầu Kho bạc quản lý tài khoản thanh toán Kho bạc sẽ thực hiện chi trả theo đúng mục chi thực tế sau khi đã
kiểm tra điều kiện theo quy định
Hình thức này được áp dụng rộng rãi cho các đơn vị dự toán NSNN sử dụng kinh phí từ NSNN để đáp ứng các yêu cầu thường xuyên của đơn vị mình Hình thức này cũng tạo điều kiện cho KBNN chủ động kiểm soát chi NSNN, chủ động sử dụng nguồn kinh phí với hiệu suất cao Đồng thời, KBNN cũng chịu trách nhiệm rất lớn khi thực
hiện cấp phát kinh phí theo dự toán Cơ quan tài chính chỉ có trách nhiệm đôn đốc, thông báo chính thức dự toán kinh phí trong kỳ áp dụng cho đơn vị sử dụng NSNN Ngoài ra, các đơn vị sử dụng kinh phí theo hình thức cấp phát theo dự toán sẽ bị chi
phối về tính chủ động trong quá trình sử dụng kinh phí Bên cạnh đó, những đơn vị này còn có thể phát sinh hành vi tiêu cực như tận hưởng tối đa dự toán đã được phân bổ, không tuân thủ nguyên tắc tăng cường thu, tiết kiệm chi
Trang 27b) Hình th ức cấp phát bằng lệnh chi tiền:
Đây là hình thức được áp dụng đối với những khoản chi do cơ quan tài chính cấp phát trực tiếp cho ĐVSDNS Hình thức này chỉ được áp dụng đối với những chủ thể không có quan hệ thường xuyên với NSNN chẳng hạn như các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội…Ngoài ra những khoản chi mang tính chất đặc thù phát sinh từng lần
chẳng hạn như các khoản giao dịch của Chính phủ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong mối quan hệ vay nợ, viện trợ, các khoản bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới cũng được cấp phát theo hình thức thông qua lệnh chi tiền
Lệnh chi tiền là quyết định do cơ quan tài chính phát hành đến KBNN yêu cầu Kho bạc chi trả, thanh toán một số tiền cho đơn vị sử dụng NSNN theo đúng nội dung
của lệnh chi Nhận được lệnh chi tiền hợp lệ, căn cứ vào yêu cầu của cơ quan tài chính
thể hiện trong lệnh chi tiền, Kho bạc sẽ tiến hành xuất quỹ thanh toán cho ĐVSDNS
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo hình thức: cấp tạm ứng hoặc cấp thanh toán Khi
nhận được kinh phí, cho dù dưới hình thức tạm ứng hay thanh toán, đơn vị thụ hưởng ngân sách có toàn quyền sử dụng nguồn kinh phí đã được chuyển giao một cách chủ động
Ngoài hai hình thức cấp phát chủ yếu là cấp phát kinh phí theo dự toán và theo
lệnh chi tiền, NSNN còn có thể được cấp phát theo một số hình thức khác như:
- Hình thức cấp phát ghi thu, ghi chi: Đây là hình thức thu, chi tại chỗ, tại một
thời điểm nhất định và giao cho đơn vị trực tiếp thực hiện, sau đó sẽ có báo cáo quyết toán với NSNN
- Hình thức cấp phát kinh phí ủy quyền: hình thức này áp dụng chủ yếu khi cơ quan quản lý cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc
chức năng của mình Do vậy, kinh phí phải được chuyển từ ngân sách cấp trên xuống cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chi thay cho ngân sách cấp trên Sau khi thực
hiện xong, ngân sách cấp dưới có trách nhiệm quyết toán lại với ngân sách cấp trên
- Hình thức gán thu bù chi: hình thức này được áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
nhằm khuyến khích cơ chế hạch toán kinh tế, giảm bớt gánh nặng cho NSNN Các đơn vị
phải tự tạo nguồn thu để đảm bảo chi tiêu, NSNN chỉ cấp phần chênh lệch thiếu Trường
hợp hạch toán phát sinh nguồn chênh lệch thừa, đơn vị phải nộp phần này vào NSNN
Trang 281.2.4.5 Phương thức cấp phát NSNN
a Đối tượng cấp tạm ứng:
- Chi hành chính;
- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa, xây dựng nhỏ, sửa chữa lớn tài sản cố định chưa
đủ điều kiện cấp phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng
- KBNN kiểm tra, kiểm soát các nội dung hồ sơ, tài liệu, nếu đủ điều kiện theo quy định thì cấp tạm ứng cho đơn vị
Thanh toán tạm ứng:
- Khi thanh toán, ĐVSDNS Nhà nước có trách nhiệm gửi đến KBNN giấy đề nghị thanh toán tạm ứng kèm theo các hồ sơ, chứng từ có liên có liên quan để KBNN kiểm soát, thanh toán
- Trường hợp đủ điều kiện quy định, thì KBNN thực hiện thanh toán tạm ứng cho ĐVSDNSNhà nước:
+ Nếu số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng: căn cứ vào giấy đề nghị thanh toán của đơn vị, KBNN làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (số
đã tạm ứng) và yêu cầu đơn vị lập giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước để cấp thanh toán bổ sung cho đơn vị (số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng)
+ Nếu số đề nghị thanh toán nhỏ hơn số đã cấp tạm ứng: căn cứ giấy đề nghị thanh toán tạm ứng của đơn vị, KBNN làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (bằng số đề nghị thanh toán tạm ứng)
- Trường hợp số tạm ứng chưa đủ điều kiện thanh toán, các ĐVSDNS Nhà nước có thể thanh toán trong tháng sau, quí sau Tất cả các khoản đã tạm ứng để chi theo dự toán NSNN đến hết ngày 31 tháng 12 chưa đủ thủ tục thanh toán, được tiếp tục thanh toán
Trang 29trong thời gian chỉnh lý quyết toán và quyết toán vào niên độ ngân sách năm trước Trường hợp hết thời gian chỉnh lý quyết toán mà vẫn chưa đủ thủ tục thanh toán, đơn vị phải đề nghị Cơ quan Tài chính đồng cấp xem xét cho chuyển tạm ứng sang năm sau Nếu không đề nghị hoặc đề nghị không được chấp thuận, thì KBNN thu hồi tạm ứng bằng cách trừ vào mục chi tương ứng thuộc dự toán chi ngân sách năm sau của đơn vị Nếu dự toán chi NSNN năm sau không bố trí mục chi tương ứng hoặc có bố trí, nhưng thấp hơn số phải thu hồi tạm ứng, KBNN thông báo cho Cơ quan Tài chính biết và xử lý theo quyết định của Cơ quan Tài chính
- Riêng khoản tạm ứng bằng tiền mặt đến cuối ngày 31 tháng 12 chưa chi hết phải nộp trả NSNN và hạch toán giảm chi ngân sách năm hiện hành, trừ các khoản phải chi theo chế độ, nhưng chưa chi như: tiền lương, phụ cấp lương, các khoản trợ cấp cho các đối tượng theo chế độ và học bổng học sinh, sinh viên Để đảm bảo đơn vị sử dụng NSNN có tiền mặt chi trong những ngày đầu năm, ĐVSDNS Nhà nước phải làm thủ tục với KBNN xin tạm ứng tiền mặt thuộc nguồn kinh phí NSNN năm sau
b Kiểm soát thanh toán trực tiếp chi NSNN đối với các đơn vị sử dụng NSNN:
- Các khoản cấp thanh toán bao gồm:
+ Lương, phụ cấp lương;
+ Học bổng, sinh hoạt phí;
+ Các khoản chi đủ điều kiện cấp thanh toán trực tiếp;
+ Các khoản tạm ứng đủ điều kiện chuyển từ cấp tạm ứng sang thanh toán tạm ứng
- Mức cấp thanh toán:
Mức cấp thanh toán căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chi NSNN theo đề nghị của ĐVSDNS Nhà nước Mức cấp thanh toán tối đa trong quí, năm không được vượt quá nhu cầu chi quý và dự toán NSNN năm được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân bổ (bao gồm cả chi tạm ứng chưa được thu hồi)
- Trình tự, thủ tục cấp thanh toán:
+ Khi có nhu cầu cấp phát thanh toán, các ĐVSDNS Nhà nước gửi KBNN các
hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan theo chế độ quy định
+ KBNN kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, chứng từ; đối chiếu với dự toán NSNN được duyệt Trường hợp đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán
Trang 30trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc chi trả qua đơn vị sử dụng ngân sách
1.2.5 Nguyên t ắc kiểm soát chi thường xuyên
1.2.5.1 Nguyên t ắc chi theo dự toán
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính Nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN Từ đó làm nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán Việc đòi hỏi quản lý chi thường xuyên của NSNN phải theo
dự toán là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
Th ứ nhất, hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của NSNN phụ thuộc
vào sự phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước, Điều 3, Luật NSNN quy định:
“Qu ốc hội quyết định dự toán NSNN , phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán NSNN ”, đồng thời luôn phải chiu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực Nhà nước đó Do vậy mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và thông qua
Th ứ hai, phạm vi chi của NSNN rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị
thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh
vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau
Th ứ ba, có sự quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của
NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành ngân sách, hạn chế được tính tuỳ tiện
về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởng ngân sách
Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi ngành, mỗi cấp,
mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng cho các khoản, mục chi và phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định Sự linh hoạt
Trang 31trong quá trình sử dụng kinh phí chi thường xuyên dẫn đến sai lệch về mức chi cho từng
mục so với dự toán chỉ có thể được các cơ quan chức năng về quản lý tài chính nhà nước
chấp nhận khi đó là các khoản chi thuộc kinh phí mà đơn vị đã được giao tự chủ
Định kỳ, theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định các ngành, các cấp các đơn
vị khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh Muốn vậy, dự toán chi đã được xác lập theo các chỉ tiêu nào, theo khoản, mục nào thì quyết toán chi phí cũng phải được lập như vậy
1.2.5.2 Nguyên t ắc tiết kiệm, hiệu quả
Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính bởi vì:
Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào Do
vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng đạt kết quả cao nhất Mặt khác do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng
với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả chỉ có thể được tôn trọng khi quá trình quản lý chi NSNN làm tốt và làm đồng bộ một số nội dung sau:
- Th ứ nhất: Phải xây dựng được chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu
phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Chỉ có như vậy các chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới
trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi
- Th ứ hai: Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức
cấp phát thích hợp áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị một cách phù hợp với yêu cầu quản
lý của từng nhóm mục chi
- Th ứ ba: Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc theo các nhóm
mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có được các phương án phân
phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và quá trình sử dụng kinh phí
Trang 32Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau Vì vậy khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi thường xuyên NSNN phải đặt trong sự ràng buộc của tính hiệu quả và ngược lại
- Mặt khác, khi đánh giá tính hiệu quả của chi NSNN phải có quan điểm toàn
diện Phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và phải tính đến thời gian phát huy tác dụng của
nó Vì vậy, khi nói đến hiệu quả của chi thường xuyên từ NSNN người ta hiểu đó là
những lợi ích về kinh tế xã hội mà toàn xã hội được thụ hưởng
1.2.5.3 Nguyên t ắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước
Một trong những nguyên tắc quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN Vì
vậy KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN; đặc biệt là các khoản chi thường xuyên Để tăng cường vai trò của KBNN trong
kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai thực
hiện “Chi trực tiếp qua KBNN” và coi đó như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này
Chi trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chi trả có sự tham gia của ba bên: Đơn vị sử dụng NSNN, KBNN, tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng NSNN thanh toán chi trả (gọi chung là người được hưởng) bằng hình
thức thanh toán không dùng tiền mặt Cách thức tiến hành cụ thể là: Đơn vị sử dụng NSNN ủy quyền cho KBNN trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một trung gian tài chính nào đó, nơi người được hưởng
mở tài khoản giao dịch
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốt
một số vấn đề cơ bản sau:
Th ứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát một cách
chặt chẽ trong quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán
NSNN được duyệt; tuân thủ đúng cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi; và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi
Th ứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí NSNN (gọi
chung là đơn vị sử dụng kinh phí NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN chịu sự kiểm tra,
Trang 33kiểm soát của cơ quan Tài chính và KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán,
cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN
Th ứ ba, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán ngân sách của
các cơ quan, đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và giao dự toán của các đơn
vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp dưới nếu không đúng dự toán ngân sách được giao, không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi thì yêu cầu điều chỉnh lại Định kỳ, sau khi nhận được báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp 1 trực thuộc, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định các báo cáo quyết toán đó để tổng hợp số liệu vào quyết toán chi NSNN
Th ứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và
thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị
Thủ trưởng cơ quan KBNN có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện sau:
Không có trong dự toán NSNN được giao
Không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính mà đơn vị được phép áp dụng đối
với mỗi khoản chi
Chưa được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy quyền quyết định chi
Không đủ các điều kiện chi theo quy định hiện hành chi trả trực tiếp qua KBNN (các điều kiện này sẽ có thay đổi theo thời gian cùng với việc hoàn thiện công tác quản
lý chi NSNN qua KBNN)
Th ứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi
thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại Cụ thể:Phương thức
cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi trả tiền lương và có tính chất như tiền lương
sẽ khác với phương thức cấp phát, thanh toán đối với các khoản mua sắm đồ dùng trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa và xây dựng nhỏ,
Trang 341.2.6 S ự cần thiết phải hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua Kho b ạc Nhà nước
Một là, hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên nhằm phù hợp
với các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật NSNN sửa đổi và các văn bản quy phạm pháp luật sau đó đã có những điều chỉnh, sửa đổi rất căn bản đối với hoạt động NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng Vì vậy, KBNN cũng phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi ngân sách thường xuyên nói riêng cho phù hợp với luật NSNN sửa đổi và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Hai là, yêu cầu đặt ra là các khoản chi ngân sách thường xuyên phải đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả Hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách thường xuyên
sẽ góp phần trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống lại các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hóa nền tài chính nói chung
Ba là, việc hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN nhằm phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những tiêu cực của các đơn vị sử dụng ngân sách; đồng thời phát hiện những kẻ hở trong quản lý để kiến nghị, sửa đổi, bổ sung kịp thời, làm cho cơ chế quản lý, kiểm soát chi ngân sách ngày càng được hoàn thiện và chặt chẽ hơn
B ốn là, tình trạng lãng phí và vi phạm chế độ chi tiêu NSNN còn phổ biến Phần lơn
các đơn vị hưởng kinh phí NSNN luôn có xu hướng xây dựng dự toán chi cao hơn nhu
cầu thực tế và trong quá trình chấp hành dự toán thì luôn tìm cách sử dụng hết nguồn kinh phí đã được cấp mà không chú trọng đến tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng NSNN, từ
đó dẫn đến chi sai chế độ, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức… Thậm chí,
một số đơn vị ngụy tạo chứng từ để hợp thức hóa các khoản chi sai chế độ Vì vậy, KBNN cần phải có giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát các khoản chi ngân sách thường xuyên qua KBNN đảm bảo phát hiện và ngăn chặn kịp thời các khoản chi sai chế
độ của đơn vị sử dụng ngân sách Đồng thời, cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm
của các ngành, các đơn vị có liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN
Trang 351.3 CÁC Y ẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN
1.3.1 Các quy định pháp lý về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên
Các quy định pháp lý về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN là hệ
thống các cơ chế, chính sách của Nhà nước về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên Các quy định pháp lý về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên là một nhân tố rất quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kiểm soát chi của KBNN, sự ảnh hưởng đó thể
hiện trong cả ba khâu ban hành, tổ chức thực hiên, đánh giá kết quả thực hiện cơ chế, chính sách về kiểm soát chi ngân sách thường xuyên Trong đó, Luật NSNN được coi là
yếu tố rất quan trọng, là một trong những căn cứ chủ yếu để kiểm soát NSNN nói chung
và kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói riêng
Luật NSNN qui định vai trò và trách nhiệm của KBNN trong quản lý quỹ NSNN,
kiểm soát và kế toán các khoản chi NSNN Luật NSNN sửa đổi năm 2002 có những điều khoản liên quan đến KBNN trong công tác chi NSNN Chẳng hạn, Điều 7 quy định: KBNN là cơ quan quản lý quỹ NSNN; Điều 56 quy định: căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, thủ trưởng ĐVSDNS quyết định chi
gửi KBNN KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định; trách nhiệm của KBNN được quy định tại điều 58 như sau: thủ trưởng cơ quan KBNN có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đủ các điều kiện quy định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Về kế toán ngân sách, Điều 61 tại Khoản 2 quy định: KBNN tổ chức thực hiện hạch toán kế toán NSNN; định kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước hữu quan;
số liệu quyết toán chi của đơn vị sử dụng NSNN phải được đối chiếu và được KBNN nơi giao dịch xác nhận
Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng để xây
dựng dự toán và là cơ sở không thể thiếu để KBNN kiểm soát các khoản chi tiêu từ NSNN Để công tác kiểm soát chi có chất lượng cao thì hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi phải đảm bảo tính chất sau: tính đầy đủ, nghĩa là nó phải bao quát hết tất
cả các nội dung chi phát sinh trong thực tế thuộc tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực;
Trang 36tính chính xác, nghĩa là phải phù hợp với tình hình thực tế; tính thống nhất, nghĩa là
phải thống nhất giữa các ngành, các địa phương và các đơn vị sử dung NSNN
Dự toán NSNN là một trong những căn cứ quan trọng để KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN Chất lượng dự toán chi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm soát chi thường xuyên Vì vậy để nâng cao chất lượng kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN thì dự toán chi NSNN phải đảm bảo tính kịp thời, chính xác, đầy đủ và chi tiết
để làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu của đơn vị
1.3.2 T ổ chức bộ máy kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua kho bạc nhà nước
Tổ chức bộ máy kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN tại đơn vị KBNN là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN Tổ chức bộ máy kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý kiểm soát chi ngân sách thường xuyên,
hạn chế những nhầm lẫn, sai sót trong quản lý kiểm soát chi ngân sách thường xuyên Quy trình quản lý khoa học, rõ ràng sẽ góp phần quan trọng làm nâng cao công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên qua KBNN trên địa bàn
1.3.3 Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức kiểm soát chi ngân sách thường xuyên, người thực hiện ngân sách thường xuyên
1.3.3.1 Năng lực quản lý của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kiểm soát chi ngân sách thường xuyên
Năng lực quản lý của người lãnh đạo và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ
kiểm soát chi ngân sách thường xuyên tại KBNN bao gồm các nội dụng sau: đề ra chiến lược hoạt động; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác của đơn vị, tổ chức triển khai thực hiện các công việc khoa học, hợp lý… từ đó xây dựng lên một cơ cấu tổ chức khoa học, hợp lý, làm việc hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa các khâu, các bộ phận và từng cá nhân trong tổ chức đó Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác kiểm soát chi ngân sách thường xuyên tại các đơn vị KBNN từ trung ương đến địa phương
Nếu năng lực lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù
hợp với thực tế thì việc kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN sẽ không đạt được các
Trang 37Trình độ và năng lực cán bộ kiểm soát chi là nhân tố quyết định chất lượng công tác
kiểm soát chi Vì vậy, cán bộ kiểm soát chi phải có trình độ chuyên sâu về quản lý tài chính, am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành mình quản lý, có khả năng phân tích, xử lý thông tin được cung cấp và giám sát đối chiếu với các quy định hiện hành của Nhà nước, có
phẩm chất đạo đức tốt để có thể vừa làm tốt công tác kiểm soát chi vừa đảm bảo tính trung
thực, khách quan, không lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm được giao để vụ lợi hay có thái
độ hách dịch, sách nhiễu đối với đơn vị trong quá trình kiểm soát chi
1.3.3.2 Năng lực, trình độ của người thực hiện ngân sách
Để thực hiện tốt nhiệm vụ thanh toán chi ngân sách thường xuyên qua KBNN,
chủ tài khoản, kế toán trưởng của các đơn vị sử dụng NSNN cần thường xuyên cập nhật các cơ chế, chính sách có liên quan đến quản lý chi tiêu ngân sách; nắm vững các nguyên tắc, điều kiện chi ngân sách thường xuyên qua KBNN, nguyên tắc lập, luân chuyển và sử dụng chứng từ, biểu mẫu trong thanh toán chi ngân sách thường xuyên, các quy định về quản lý hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ
Nếu thủ trưởng các đơn vị sử dụng NSNN có tính tự giác cao trong việc chấp hành chế độ chi tiêu NSNN thì các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định
mức, đảm bảo có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ từ đó giúp cho việc kiểm soát chi của KBNN được thuận lợi, nhanh chóng, tránh tình trạng phải trả lại hồ sơ,
chứng từ, thông báo từ chối cấp phát gây lãng phí thời giờ và công sức
Từ việc nắm vững các chế độ, chính sách, các đơn vị sử dụng NSNN thường xuyên chủ động chấp hành đúng các quy định về quản lý tài chính, ngân sách trong thanh toán chi ngân sách thường xuyên qua KBNN
1.3.4 Công tác ki ểm tra quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán
Trong kiểm tra quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán của các đơn vị sử dụng kinh phí thường xuyên từ NSNN, cơ quan tài chính địa phương cần kiểm tra, đối chiếu
số đề nghị quyết toán của đơn vị sử dụng kinh phí thường xuyên từ NSNN với phân bổ
dự toán chi ngân sách thường xuyên được duyệt, số đã thanh toán chi ngân sách thường xuyên qua KBNN; kiểm tra, đối chiếu hồ sơ, chứng từ chi ngân sách thường xuyên tại đơn vị sử dụng NSNN với chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi và các quy định cụ thể và
hồ sơ, chứng từ đối với từng khoản chi… Khi phát hiện có sai sót như: chi không đúng theo phân bổ dự toán được duyệt, đề nghị quyết toán không đúng với số đã thanh toán
Trang 38chi ngân sách qua KBNN, hồ sơ chứng từ chưa đầy đủ theo quy định đối với từng khoản chi, chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi… cần kiên quyết yêu cầu rút kinh nhiệm và
bổ sung hoàn thiện đầy đủ các hồ sơ, chứng từ than toán, hoặc kiên quyết yêu cầu xuất toán đối với những khoản không có trong phân bổ dự toán chi ngân sách thường xuyên được duyệt, chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi
1.3.5 Cơ chế chính sách liên quan đến quản lý Ngân sách nhà nước
Hiện nay cơ chế quản lý ngân sách là thanh toán theo dự toán, đây là một phương thức kiểm soát thanh toán tiên tiến, khắc phục được những nhược điểm cơ bản của phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí trước đây Thực chất của phương thức này
là từ bỏ việc điều hành ngân sách theo hạn mức quý, tháng để thực hiện điều hành ngân sách theo dự toán năm được duyệt Phương thức này góp phần quan trọng trong cải cách quy trình chi bởi vì dự toán NSNN, dù ở mức độ tổng hợp hay chi tiết cũng đều nhằm tạo
ra khuôn khổ tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phát triển kinh tế xã hội trong năm kế hoạch đồng thời tạo căn cứ cho việc điều hành thu, chi ngân sách một cách khoa học và hợp lý Dự toán NSNN đã được phê duyệt phải là căn cứ pháp lý quan trọng
để KBNN tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành và quyết toán NSNN của các đơn vị thụ hưởng phải đảm bảo tính kịp thời, chính xác Nếu việc lập, duyệt và phân bổ
dự toán chi NSNN hằng năm được kịp thời, chính xác, đầy đủ, chi tiết, cân đối với nguồn thu thì công tác KSC thường xuyên NSNN của KBNN có nhiều thuận lợi, công tác kế toán và quyết toán đảm bảo chất lượng và đúng thời gian Ngược lại, nếu công tác này thiếu chính xác thì công tác KSC gặp nhiều khó khăn
Bên cạnh phương thức thanh toán bằng dự toán thì vẫn còn tồn tại một số phương thức cấp phát như: Cấp bằng lệnh chi tiền từ cơ quan Tài chính, ghi thu- ghi chi theo lệnh CQTC, cấp phát kinh phí ủy quyền Vì vậy, quy trình chuyển kinh phí, kiểm soát hạch toán chưa được quy định thống nhất giữa CQTC và KBNN dẫn đến quy tŕnh, nội dung kiểm soát các khoản chi từ NSNN có thể không thống nhất do các cơ quan KSC khác nhau; đồng thời cũng gây khó khăn cho công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo
Để hoạt động KSC thường xuyên NSNN của KBNN đạt hiệu quả thì nhân tố khách quan, ảnh hưởng lớn nhất là hệ thống văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn đối với công tác KSC thường xuyên NSNN
Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện, cùng các văn bản pháp quy khác vừa là nhân tố quan trọng, vừa là điều kiện quyết định đến chất lượng công tác
Trang 39KSC Bởi vì, trên cơ sở pháp lý KBNN mới có thể xây dựng được quy trình nghiệp vụ
để thực hiện nhiệm vụ của mình, bảo đảm cho mọi khoản chi NSNN phải được kiểm soát chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích
Một môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ, thống nhất, đầy đủ và những quy định
rõ ràng, cụ thể sẽ tạo điều kiện để KBNN kiểm soát chặt chẽ, minh bạch qua đó nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi NSNN Ngược lại, chính sách chồng chéo, không
cụ thể, chậm đổi mới sẽ cản trở hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN
1.3.6 Cơ chế quản lý tài chính và ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng NSNN
Đối tượng của kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, về cơ bản thể hiện là các khoản chi của NSNN hàng năm được Quốc hội thông qua Do đó, cơ chế về Tài chính đối với đơn vị sử dụng NSNN có tác động không nhỏ đến hoạt động KSC thường xuyên NSNN của KBNN Để chủ động sử dụng kinh phí được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, các đơn vị sử dụng NSNN có trách nhiệm xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và KBNN có căn cứ thực hiện kiểm soát chi Kiểm soát chi tiêu của các cấp Chính quyền, các đơn vị do NSNN cấp toàn bộ chi phí thì đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành luật của các đơn vị sử dụng NSNN có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chi tiêu tiết kiệm, chống lãng phí nguồn lực của Nhà nước Do vậy, cần làm cho họ thấy rõ kiểm soát chi là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp và các đơn vị cá nhân đều có liên quan đến quản lý quỹ NSNN mà đơn
vị sử dụng NSNN là đối tượng chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước về phần kinh phí được cấp chứ không phải là công việc riêng của ngành tài chính, KBNN các ngành, các
cấp cần thấy rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, chấp hành dự toán, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN
1.3.7 Dự toán và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước
Dự toán NSNN: Dự toán NSNN là một trong những căn cứ quan trọng nhất để KBNN thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN Vì vậy, dự toán NSNN phải đảm bảo kịp thời, chính xác về nội dung chi, mức chi phải phù hợp thực tế; phải đầy đủ, bao quát
Trang 40hết các nhu cầu chi tiêu của đơn vị trong năm ngân sách và phải chi tiết, dự toán NSNN càng chi tiết thì việc kiểm soát chi của KBNN càng thuận lợi và chặt chẽ Dự toán NSNN làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu của đơn vị
Các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN: Các chính sách, chế độ tài chính – kế toán liên quan đến KSC NSNN như: Kế toán nhà nước, mục lục NSNN, định mức phân bổ NSNN, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN, hợp đồng mua sắm tài sản công, công cụ thanh toán, kế toán NSNN
Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng, phân bổ và kiểm soát chi NSNN Vì vậy, nó phải đảm bảo tính chính xác, phù hợp với tình hình thực tế; tính thống nhất giữa các ngành, các địa phương, đơn
vị thụ hưởng NSNN và tính đầy đủ, bao quát tất cả các nội dung chi phát sinh trong thực tế
1.4 BÀI H ỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC KBNN HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
T ỈNH TIỀN GIANG
1.4.1 Bài h ọc kinh nghiệm của KBNN huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Ngay từ khi Luật NSNN có hiệu lực và các chế độ về quản lý chi được ban hành, KBNN huyện Châu Thành đã tổ chức triển khai đến toàn thể cán bộ công chức thuộc KBNN huyện Châu Thành Đồng thời, Kho bạc phối hợp với cơ quan tài chính tham mưu cho UBND, HĐND tỉnh ban hành các chế độ về chi ngân sách địa phương, tổ chức triển khai Luật NSNN và các văn bản liên quan cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn
Công tác tin học được KBNN huyện Châu Thành phát triển rất sớm và đã hỗ trợ đắc lực cho công tác chi ngân sách và kiểm soát chi thường xuyên NSNN Các chương trình ứng dụng phục vụ cho công tác chi và kiểm soát chi được triển khai, đặc biệt, chương trình thanh toán điện tử đã giúp cải thiện công tác thanh toán trong hệ thống KBNN Những khoản thanh toán trước đây khi thực hiện bằng phương pháp thủ công
phải mất nhiều thời gian thì hiện nay chỉ mất vài phút với sự hỗ trợ của chương trình thanh toán điện tử
KBNN huyện Châu Thành xem cán bộ là nhân tố quyết định trong việc mang lại
những thành quả to lớn của đơn vị Đơn vị đã chọn lọc, sắp xếp quy hoạch đội ngũ cán