Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp khảo cứu tài liệu để hệ thống lý thuyết, tổng hợp kết quả nghiên cứu từ các đề tài khoa học, tạp chí Quản lí ngân quỹ quốc gia, hệ thống văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8310110
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG VĂN LIÊM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bảng luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực
và có nguồn gốc rỏ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
Mỹ Tho, ngày 02 tháng 06 năm 2018
Trang 4Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban Lãnh đạo Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho đã tạo điều kiện, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp luôn đồng hành và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù tôi đã nỗ lực để thực hiện đề tài một cách tốt nhất nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy
Cô trong Hội đồng và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Trang 5TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: NGUYỄN NGỌC MINH THY
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8310110
Niên khóa: 2016-2019
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN LIÊM
Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho
Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng nhiều phương pháp như: khảo cứu tài liệu, thu thập dữ liệu, thống kê, tổng hợp, phân tích kinh tế, so sánh, đánh giá…
Qua việc tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Mỹ Tho từ đó đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại và nguyên nhân đưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Mỹ Tho
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG ix
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của Luận văn 4
PHẦN II NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở CƠ QUAN KHO BẠC NHÀ NƯỚC 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5
1.1.1 Khái niệm về Ngân sách Nhà nước 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN 6
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm chi thường xuyên NSNN 6
1.2.2 Nội dung, phương thức chi thường xuyên NSNN 7
1.3 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 10
1.3.1 Khái quát về Kho bạc Nhà nước Việt Nam 10
1.3.2 Kho bạc Nhà nước với công tác kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN 14
KINH
Ế
Trang 81.3.3 Nội dung, quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước 20 1.3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước 27
THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 30 1.4.1 Nhóm nhân tố bên trong 30 1.4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài 32 1.5 KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN
Ở MỘT SỐ HUYỆN TRONG TỈNH 34 1.5.1 Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên Kho bạc Nhà nước huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 34 1.5.2 Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên Kho bạc Nhà nước huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang 35
Chương 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO , TỈNH TIỀN GIANG GIAI ĐOẠN 2015-2017 36 2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG 36 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển: 36
KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO 42 2.2.1 Tình hình cấp phát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc nhà nước Mỹ Tho 42 2.2.2 Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở Kho bạc nhà nước Mỹ Tho 46
Trang 92.3 ĐÁNH GIÁ CÁC ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KBNN MỸ THO 60 2.3.1 Bảng tổng hợp thông tin về mẫu điều tra 60
xuyên tại KBNN Mỹ Tho 61
NSNN Ở KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO 64
nước Mỹ Tho 65
của Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho 68
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC MỸ THO713.1 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI NSNN QUA KBNN 52 3.1.1 Mục tiêu kiểm soát chi ngân sách nhà nước ở cơ quan Kho bạc Nhà nước 71
Nhà nước đến năm 2020 72 3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN
3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến quy trình và nghiệp vụ kiểm soát chi ngân sách nhà nước 74 3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác nhân sự và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho 77 3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của thanh tra Kho bạc Nhà nước 83 3.2.4 Phối hợp với các cơ quan nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN 84
Trang 10PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
3.1.KẾT LUẬN 86
3.2 KIẾN NGHỊ 87
3.2.1 Kiến nghị với Bộ Tài chính 87
3.2.2 Kiến nghị với Kho bạc nhà nước Trung ương 88
3.2.3 Kiến nghị với các Bộ, ngành, địa phương 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 1 94
PHỤ LỤC 2 96 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1+2
BẢN GIẢI TRÌNH
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
KINH
Ế
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả chi thường xuyên NSNN các cấp ở Kho bạc Nhà nước Mỹ
Tho, Tỉnh Tiền Giang giai đoạn từ năm 2015 - 2017 46 Bảng 2.2 Thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN ở Kho bạc Nhà nước
Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang giai đoạn từ năm 2015 - 2017 48 Bảng 2.3: Chi lương, phụ cấp lương ở Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, Tỉnh Tiền
Giang giai đoạn từ năm 2015 - 2017 51 Bảng 2.4: Từ chối thanh toán lương, phụ cấp lương ở Kho bạc Nhà nước Mỹ
Bảng 2.5: Chi sửa chữa và mua sắm tài sản ở Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, Tỉnh
Tiền Giang giai đoạn từ năm 2015 - 2017 56
qua kiểm soát ở Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho 2015 - 2017 57 Bảng 2.7: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá của đơn vị sử dụng ngân sách về công
tác kiểm soát chi tại KBNN Mỹ Tho 60 Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá cán bộ kiểm soát chi thường xuyên tại
Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho 63
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang giai đoạn từ năm 2015 – 2017 47
Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam 6
Sơ đồ 2.2: Mô hình Cơ cấu tổ chức KBNN Mỹ Tho 40
Sơ đồ 2.3 Quy trình cấp phát các khoản chi thường xuyên NSNN theo hình thức rút
Trang 13PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là công cụ huy động nguồn lực tài chính để đảm
bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đồng thời là một trong những công cụ quan
trọng của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, định hướng
sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Để thực
hiện được vai trò đó, NSNN phải được quản lý chặt chẽ, khoa học phù hợp với thực
tiễn và xu hướng phát triển của đất nước Kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm
soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho nói riêng giữ vai trò
quan trọng trong công tác quản lý NSNN
Trong khuôn khổ chương trình tổng thể cải cách hành chính ngành tài chính,
phân cấp quản lý NSNN, quản lý thu, chi NSNN cũng như quản lý các quỹ công
khác của Nhà nước Hoạt động cải cách diễn ra đồng bộ trên mọi lĩnh vực, từ cải
cách cơ chế quản lý, hiện đại hóa công nghệ cũng như nâng cao hiện đại hóa nguồn
nhân lực của toàn ngành Tài chính Trong đó, cải cách quản lý chi NSNN là một
trong số các nội dung trọng tâm, có mức độ ảnh hưởng sâu rộng tới mọi thành phần
kinh tế, đóng vai trò quyết định tới kết quả của quá trình cải cách hành chính
Trong những năm qua kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước
được đánh giá là có chuyển biến tích cực trong cải cách quản lý tài chính, ngân sách,
song chưa thể khẳng định rằng đổi mới kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho
bạc Nhà nước Mỹ Tho là những cải cách có tính hệ thống và hiệu quả
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho thời gian
qua đã bộc lộ một số tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Trong đó, biểu hiện rõ
nhất là dự toán chi ngân sách được duyệt của một bộ phận đơn vị sử dụng ngân
sách lập không sát với thực tế do đó thường xuyên phải điều chỉnh; việc chấp hành
dự toán chưa thực sự tốt, chưa gắn với trách nhiệm của người thực hiện ngân sách
vào việc lập, chấp hành dự toán chi thường xuyên của đơn vị sử dụng ngân sách;
Trang 14việc chủ động chấp hành đúng các nguyên tắc chi, điều kiện chi NSNN còn diễn ra tại nhiều địa phương, đơn vị
Nhận thức được những bất cập trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát
chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang”, để đưa ra
những giải pháp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại, hạn chế trong công
Kho bạc Nhà nước nói chung hiện nay
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
NSNN qua Kho bạc Nhà nước
nước Mỹ Tho trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu kiểm soát chi thường xuyên NSNN
nước qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, gồm có: Chi thường xuyên, chi đầu tư và
Trang 15phát triển và chi trả nợ vay, chi công trái - trái phiếu… Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu sâu về công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN
nước Mỹ Tho
Thời gian nghiên cứu: Phần thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp khảo cứu tài liệu để hệ thống lý thuyết, tổng hợp kết quả nghiên cứu từ các đề tài khoa học, tạp chí Quản lí ngân quỹ quốc gia, hệ thống văn bản của
Bộ Tài Chính có liên quan đến công tác kiểm soát chi thường xuyên để làm rõ thêm
về cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc
Nhà nước Mỹ Tho
4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Số liệu thứ cấp: được lấy từ Báo cáo chi NSNN mẫu B3-03, mẫu B3- 01, báo cáo tình hình hoạt động năm, báo cáo tình hình sử dụng dự toán của các đơn vị sử dụng ngân sách năm 2015-2017 tại Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho, tổng quan về Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho
Số liệu sơ cấp: các dữ liệu sơ cấp được thu thập dựa trên phương pháp phỏng vấn có sử dụng bảng hỏi được thiết kế sẵn, đối tượng được phỏng vấn bao gồm 06 công chức làm nhiệm vụ kiểm soát chi thường xuyên tại tổ kế toán KBNN Mỹ Tho
tiếp giao dịch về chi thường xuyên với KBNN Mỹ Tho Kết quả khảo sát được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm excel
Trang 16phục vụ nghiên cứu và giải quyết từng vấn đề cụ thể của đề tài Việc nghiên cứu đề tài chủ yếu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trên
cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước dựa trên lý thuyết kinh tế - tài chính cũng như thừa kế kết quả các nghiên cứu trước đây
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở khoa học về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước
ở cơ quan Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho giai đoạn 2015-2017
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Mỹ Tho
Trang 17PHẦN II NỘI DUNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở CƠ QUAN KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm về Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình
như: duy trì sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, bình ổn giá cả thị trường, giảm chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền
Theo điều 1, Luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực
Theo điều 4, Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015 của Quốc hội thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND)
Trang 18Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam
(Ngu ồn: Quốc hội (2002), Luật NSNN)
Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực Tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động
sự nghiệp khác
tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý, giữa các năm trong kỳ kế hoạch
nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia
Trang 19- Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng Cũng như các khoản chi khác của NSNN, việc
sử dụng kinh phí chi thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả
nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật)
- Căn cứ vào tính chất kinh tế:
xã hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân
cộng; vật tư văn phòng; thông tin tuyên truyền; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê
nhỏ gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và công trình cơ sở
hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Trang 20XH và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi Mục đích hoạt động của đơn vị SN kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do
+ Chi sự nghiệp văn hoá-xã hội: Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo; Chi sự nghiệp y
tế; Sự nghiệp văn hóa- thể thao- du lịch; Sự nghiệp phát thanh- truyền hình; Sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường; Sự nghiệp xã hội; Sự nghiệp văn xã
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội: Bao gồm: Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam Đối với nước ta các tổ chức trên là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta, do vậy theo quy định của luật NSNN, NSNN có trách nhiệm bố trí chi ngân
+ Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước
+ Chi các chương trình quốc gia
+ Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội
+ Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật
+ Chi trả lãi tiền do Nhà nước vay
+ Chi viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Có bốn phương thức chi trả cụ thể như sau:
* Tạm ứng:
ngân sách nhà nước trong trường hợp khoản chi ngân sách nhà nước của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước chưa có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định do công việc chưa hoàn thành
Trang 21Nội dung tạm ứng:
ngân sách nhà nước, bao gồm các khoản chi của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước thuộc nội dung được phép chi bằng tiền mặt quy định tại Điều 5 Thông tư số
15/02/2017 của Bộ Tài chính quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Chi mua vật tư văn phòng
+ Chi hội nghị (trừ các khoản thanh toán cho cá nhân được phép tạm ứng bằng tiền mặt)
+ Chi thuê mướn (thuê nhà, thuê đất, thuê thiết bị )
+ Chi sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ nguồn kinh phí thường xuyên
+ Một số khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy của đơn
vị sử dụng ngân sách nhà nước
* Thanh toán trực tiếp:
Thanh toán trực tiếp là phương thức chi trả ngân sách trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước hoặc cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ khi công việc
đã hoàn thành, có đủ các hồ sơ chứng từ thanh toán trực tiếp và các khoản chi ngân sách đáp ứng đầy đủ các điều kiện chi ngân sách theo quy định
Nội dung chi thanh toán trực tiếp:
viên; chi trả dịch vụ công (tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền vệ sinh)
hồ sơ thanh toán trực tiếp
Trang 22* Tạm cấp kinh phí ngân sách:
Tạm cấp kinh phí thực hiện trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán
quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm cấp kinh phí ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ chi theo quy định tại điều 45 Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước và hướng dẫn cụ thể tại các Thông tư điều hành ngân sách hàng năm của
Bộ Tài chính
Sau khi dự toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, Kho bạc Nhà nước thực hiện giảm trừ khoản tạm cấp vào loại, khoản chi ngân sách được giao của đơn vị sử dụng ngân sách Trường hợp giao dự toán không đúng với loại, khoản đã được cấp, Kho bạc Nhà nước thông báo bằng văn bản cho cơ quan tài chính
Việc ứng trước dự toán ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi ứng trước cho đơn vị sử dụng ngân sách
Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi vốn ứng trước theo dự toán thu hồi của cơ quan phân bổ dự toán ngân sách nhà nước
Ngày 29/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 75 quy định tổ chức, bộ máy Bộ Tài chính Theo đó, Nha Ngân khố là một bộ phận tổ chức cấu thành trong bộ máy Bộ Tài chính
Giữa năm 1951, nhiệm vụ của Nha ngân khố được chuyển giao sang hệ thống ngân hàng cùng với việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sau đổi tên là Ngân hàng Nhà nước) Trong giai đoạn này, trên nền tảng của cơ chế kế hoạch hoá
Trang 23tập trung, Ngân hàng Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, thực hiện vai trò là 3 trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, vừa thực hiện nhiệm vụ của Nha Ngân khố bao gồm các công việc như: chấp hành quỹ NSNN, tập trung các nguồn thu của NSNN, tổ chức cấp phát chi trả các khoản chi NSNN theo lệnh của cơ quan Tài chính, làm nhiệm vụ kế toán thu, chi quỹ NSNN, in tiền, phát hành tiền, quản lý
dự trữ nhà nước về vàng, bạc, kim khí quý, đá quý…
Những năm cuối của thập kỷ 90, công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đất nước diễn ra một cách sâu sắc và toàn diện Để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ đã có sự thay đổi, đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của Tài chính và Ngân hàng Hệ thống Ngân hàng được
tổ chức lại thành hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, các Ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ - tín dụng Nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước được chuyển giao từ Ngân hàng Nhà nước cho Bộ tài chính để hệ thống tài chính thực hiện chức năng quản lý và điều hành NSNN tài chính quốc gia
Quan điểm thành lập hệ thống Kho bạc trực thuộc Bộ Tài chính để quản lý quỹ NSNN và tài sản quốc gia đã được Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định tại Nghị định số 155/HĐBT ngày 15/10/1998 về chức năng nhiệm và tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính.Thực hiện Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng, từ năm 1988 - 1989, Bộ Tài chính đã có đề án thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước và tiến hành thử nghiệm tại hai tỉnh Kiên Giang (từ tháng 10/1988) và An Giang (từ tháng 7/1989) Kết quả cho thấy việc quản lý quỹ NSNN tại địa bàn hai tỉnh trên thực hiện tốt, tập trung nhanh các nguồn thu, đáp ứng đầy đủ kịp thời các nhu cầu chi NSNN, trợ giúp đắc lực cho cơ quan Tài chính và chính quyền địa phương trong việc quản lý và điều hành NSNN, mặt khác đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại trên địa bàn sắp xếp tổ chức lại hoạt động theo hướng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng có hiệu quả Ngày 01/04/1990 Chính phủ ban hành quyết định 07/HĐBT thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính
Trang 241.3.1.2 Chức năng của Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính Hiện nay chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước được quy định tại quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ
khác của nhà nước được giao quản lý
Thực hiện và cụ thể hoá các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn theo
chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành
Kho bạc Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
quy định của pháp luật:
+ Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật NSNN + Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của NSNN và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật
+ Quản lý quỹ ngoại tệ tập trung của NSNN, định kỳ công bố tỷ giá hạch toán phục vụ cho việc hạch toán các khoản thu chi NSNN bằng ngoại tệ
+ Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác do Kho bạc Nhà nước quản lý; Quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu,
ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 25+ Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước
+ Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
thực hiện công tác thống kê, báo cáo tài chính:
+ Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, các quỹ và tài sản của nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật
+ Báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSNN cơ quan Tài chính cùng cấp và
cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
+ Tổ chức thực hiện công tác thống kê Kho bạc Nhà nước và chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
hành trái phiếu Chính phủ và công trái xây dựng Tổ quốc
kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của Kho bạc Nhà nước; phòng
Trang 26chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản Nhà nước, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật
phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quản lý tài chính của nhà nước
cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định
theo quy định của pháp luật
thường xuyên NSNN
Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước là việc Kho bạc Nhà nước tiến hành thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với các khoản chi thường xuyên NSNN của các đối tượng sử dụng ngân sách phù hợp với chính sách,chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nước có thẩm quyền quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình chi trả và thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN
Đối với nước ta hiện nay, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới, trong quá trình đổi mới cơ chế
quản lý tài chính và cơ chế quản lý NSNN đòi hỏi mọi khoản chi thường xuyên của NSNN phải bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả
Điều này là một tất yếu khách quan, bởi vì nguồn lực của NSNN bao giờ cũng
Trang 27có hạn, trong đó chủ yếu là tiền của và công sức lao động do nhân dân đóng góp do
đó không thể chi tiêu một cách lãng phí Vì vậy, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thường xuyên NSNN thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Thực hiện tốt công tác này sẽ có ý nghĩa rất to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát Đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm và phát huy được vai trò của các ngành, các cấp, các
cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và sử dụng NSNN Đặc biệt theo Luật NSNN quy định, hệ thống Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm soát các khoản thanh toán, chi trả trực tiếp từng khoản chi thường xuyên NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã đươc Nhà nước giao, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài chính
Thứ hai, do hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi thường xuyên NSNN
Cơ chế quản lý cấp phát, chi trả NSNN tuy đã được thường xuyên sửa đổi và hoàn thiện, nhưng vẫn chỉ quy định được những vấn đề chung nhất mang tính nguyên tắc và vì vậy không thể bao quát hết tất cả các trường hợp nảy sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN Điều này cũng làm cho cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với sự biến động của hoạt động chi NSNN Chẳng hạn như hệ thống tiêu chuẩn, định mức chi tiêu còn xa rời với thực tế, thiếu đồng bộ, chưa có một cơ chế quản lý chi phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực, đã tạo ra những kẻ hở trong công tác quản lý Từ thực tế trên đòi hỏi phải có những cơ quan có thẩm quyền, thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực; đồng thời, phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những kiến nghị chỉnh sửa, bổ sung kịp thời, làm cho cơ chế quản
Thứ ba, do ý thức của các đơn vị sử dung kinh phí NSNN cấp
Một thực tế khá phổ biến là các đơn vị thụ hưởng kinh phí được NSNN cấp thường có chung một tư tưởng là tìm mọi cách sử dụng hết số kinh phí được cấp,
Trang 28không quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được duyệt Các đơn vị này thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ quy định như không có trong dự toán chi NSNN đã được phê duyệt, không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu; thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý có liên quan…Vì vậy, vấn đề đặt
ra là cần thiết phải có một bên thứ ba - cơ quan chức năng có thẩm quyền, độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có vị trí pháp lý và uy tín cao để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra ý kiến nhận xét, kết luận chính xác đối với khoản chi của đơn vị có nằm trong dự toán được duyệt hay không; việc sử dung các khoản chi này có đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn được duyệt hay không; có đủ hồ sơ, chứng
từ thanh toán theo đúng quy định hay chưa… qua đó có giải pháp chấn chỉnh và xử lý kịp thời các gian lận, sai sót, ngăn chặn các sai phạm và lãng phí có thể xảy ra trong việc sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm mọi khoản chi của NSNN được kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm có hiệu quả
Thứ tư, do tính đặc thù của các khoản chi thường xuyên NSNN đều mang tính
chất không hoàn trả trực tiếp
Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi thường xuyên NSNN là một ưu thế cực kỳ to lớn đối với các đơn vị thụ hưởng NSNN Trách nhiệm của họ là phải chứng minh được việc sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã được Nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác và gặp không ít khó khăn Vì vậy, cần phải có một cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN, bảo đảm tương xứng giữa khoản tiền Nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN thực hiện
Thứ năm, do yêu mở cửa, hội nhập với nền tài chính khu vực và thế giới
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt là mô hình của Cộng hoà Pháp và khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thì việc kiểm tra, kiểm soát, thực hiện chi trả trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước các khoản chi NSNN đến từng đối tượng sử dụng là rất cần thiết, để đảm bảo yêu cầu, kỷ cương quản lý tài chính nhà nước và sử dụng vốn NSNN đúng mục đích, có hiệu quả
Trang 291.3 2.3 Vai trò của các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý các khoản chi thường xuyên NSNN
* Bộ Tài chính, Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Tài chính - Kế hoạch quận, Thành phố, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan Tài chính)
Cơ quan Tài chính tham gia kiểm soát chi thường xuyên NSNN trong suốt chu trình chi thường xuyên NSNN
- Tại giai đoạn lập dự toán
Sau khi dự toán NSNN đã được Quốc hội quyết định, cơ quan Tài chính có trách nhiệm thẩm tra việc phân bổ dự toán NSNN của các cơ quan phân bổ dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách Trường hợp việc phân bổ không phù hợp với nội dung trong dự toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, không đúng chính sách, chế độ thì yêu cầu cơ quan phân bổ ngân sách điều chỉnh lại
- Tại giai đoạn chấp hành dự toán
+ Chịu trách nhiệm nhập dự toán chi ngân sách vào hệ thống Tabmis theo quy định về hướng dẫn quản lý điều hành NSNN trong điều kiện áp dụng hệ thống Tabmis
+ Đảm bảo tồn quỹ NSNN các cấp để đáp ứng các nhu cầu chi của NSNN theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật Trường hợp tồn quỹ ngân sách các cấp không đáp ứng đủ nhu cầu chi, cơ quan Tài chính được quyền yêu cầu (bằng văn bản) Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán một số khoản chi về mua sắm, sửa chữa theo từng nhiệm vụ cụ thể để đảm bảo cân đối quỹ NSNN, nhưng
quan Tài chính thực hiện giám sát và có thể tổ chức kiểm tra việc thực hiện chi tiêu và
sử dụng ngân sách ở các đơn vị sử dụng ngân sách Trường hợp phát hiện các khoản chi vượt nguồn cho phép, không đúng chế độ quy định hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo, thì có quyền yêu cầu Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán
Trang 30+ Đối với những khoản chi do cơ quan Tài chính quyết định chi bằng hình thức “Lệnh chi tiền”: Cơ quan Tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát đối tượng, nội dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm khoản chi đảm bảo đúng đối tượng và đủ các điều kiện chi ngân sách theo quy định
- Tại giai đoạn quyết toán chi thường xuyên NSNN
Cơ quan Tài chính có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm tra công tác kế toán và quyết toán NSNN; lập quyết toán chi ngân sách; tổng hợp báo cáo quyết toán chi ngân sách thuộc cấp mình quản lý
hiện các khoản chi không đúng chế độ quy định của pháp luật sẽ thu hồi ngay cho NSNN và hạch toán giảm chi NSNN Trường hợp quyết toán ngân sách được Quốc hội, Hội đồng nhân dân phê chuẩn, thì hạch toán chi ngân sách (đối với khoản phải hoàn trả) hoặc thu ngân sách (đối với khoản phải thu hồi)
Trường hợp các đơn vị dự toán và các cấp ngân sách không thực hiện nghiêm túc những quy định về công tác kế toán và quyết toán NSNN không đúng thời gian quy định thì cơ quan Tài chính tạm đình chỉ hoặc yêu cầu Kho bạc Nhà nước đồng cấp tạm đình chỉ cấp kinh phí cho đến khi đơn vị nộp báo cáo quyết toán năm, trừ một số khoản chi cấp thiết như lương, phụ cấp lương, trợ cấp, học bổng học sinh, sinh viên…
* Cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp I
Có trách nhiệm giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc đảm bảo đúng đối tượng, đúng nội dung thẩm tra của cơ quan Tài chính và đúng thời gian quy định Chịu trách nhiệm nhập dự toán chi ngân sách vào Tabmis theo quy định về hướng dẫn quản lý điều hành NSNN trong điều kiện áp dụng hệ thống Tabmis
* Đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước
phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan
và quyết toán ngân sách theo đúng chế độ quy định Lập chứng từ thanh toán theo
Trang 31đúng mẫu do Bộ Tài chính quy định; chịu trách nhiệm về tính chính xác của các nội dung chi đã kê trên bảng kê chứng từ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước
+ Quyết định chi theo chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN chịu trách nhiệm về quyết định chi và tính chính xác của các nội dung chi trên bảng kê chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước
+ Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; đúng định mức mua sắm, trang bị tài sản; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả Trường hợp vi phạm, tùy theo tính chất và mức độ, sẽ
bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
* Kho bạc Nhà nước
chấp hành dự toán NSNN:
hiện thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quy định + Tham gia với cơ quan Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách; xác nhận số thực chi, số tạm ứng,
số dư kinh phí cuối năm ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách tại Kho bạc Nhà nước
bằng văn bản cho đơn vị sử dụng ngân sách biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp các khoản chi NSNN không đủ các điều kiện chi theo quy định
quy định không phải gửi đến Kho bạc Nhà nước để kiểm soát
chính được phép yêu cầu
Trang 32+ Công chức Kho bạc Nhà nước không tuân thủ thời gian quy định về kiểm
chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
* Cơ quan Kiểm toán Nhà nước
trách nhiệm kiểm toán quyết toán năm của các đơn vị dự toán và ngân sách các cấp theo quy định Khi nhận được kiến nghị của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xử lý đúng theo quy định của pháp luật trước khi Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN, Hội đồng Nhân dân phê chuẩn quyết toán
Như vậy, kiểm soát chi thường xuyên NSNN được thực hiện ở cả ba giai đoạn của chu trình chi thường xuyên NSNN: Kiểm soát lập dự toán chi NSNN; kiểm soát chấp hành dự toán chi NSNN và kiểm soát quyết toán chi NSNN Trong đó kiểm soát lập dự toán chi NSNN và quyết toán chi NSNN thuộc về trách nhiệm kiểm soát của cơ quan Tài chính và các cơ quan khác Kho bạc Nhà nước tham gia kiểm soát
Nhà nước
Chi NSNN chỉ được thực hiện sau khi kiểm tra có đủ những điều kiện cơ bản sau: Đã có trong dự toán chi NSNN được giao; Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định; Đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người ủy quyển quyết định chi; có
đủ hồ sơ chứng từ thanh toán Đặc biệt, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN
* Kiểm soát trước khi chi
Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát trước hồ sơ gửi đến cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước khi đơn vị sử dụng ngân sách xin được cấp phát Mục đích của
Trang 33hoạt động này là để kiểm soát việc chấp hành các điều kiện thanh toán, đảm bảo đơn vị thụ hưởng NSNN phải lập dự toán kinh phí hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu NSNN do chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định Đồng thời, kiểm soát lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị thụ hưởng NSNN
Việc kiểm soát này được tiến hành trong suốt quá trình từ khi đơn vị sử dụng
quan tài chính xem xét, thông báo chi, được đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi gửi tới Kho bạc Nhà nước để thanh toán, chi trả Kho bạc Nhà nước có thể ra quyết định xuất quỹ hoặc từ chối thanh toán tùy theo kết quả hoạt động kiểm tra
* Kiểm soát trong khi chi
Kiểm soát trong khi chi nhằm đảm bảo các khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và phải đủ điều kiện theo quy định về tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ thanh toán chi trả thõa mãn các điều kiện chi NSNN theo qui định trước khi xuất
chủ yếu của chu trình kiểm soát chi và cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất của Kho bạc Nhà nước trong việc quản lý chi quỹ NSNN
* Kiểm soát sau khi chi
Kiểm soát sau khi chi là thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sử dụng NSNN Ở đây, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát cách thức các đơn vị sử dụng NSNN chấp hành các qui định về thanh toán, quyết toán Loại kiểm soát này tại Kho bạc Nhà nước thể hiện rõ nhất trong quá trình sử dụng phướng thức cấp tạm ứng Sau khi đã thực hiện chi, đơn vị có trách nhiệm gửi hồ sơ thanh toán tạm ứng đến Kho bạc Nhà nước nếu đủ điều kiện thanh toán và thu hồi tạm tứng
* Nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước
+ Thứ nhất: Tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra, kiểm
soát trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán ngân
Trang 34sách nhà nước được giao (quy định tại điểm 1 Điều 3 thông tư số BTC về Quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước), đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi
161/2012/TT-Thứ hai: Mọi khoản chi ngân sách nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt
Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà nước Các khoản chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Thứ ba: Việc thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
Thứ tư: Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi ngân sách nhà nước
các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách Căn cứ vào quyết định của
cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho ngân sách nhà nước theo đúng trình tự quy định
* Hồ sơ kiểm soát chi thường xuyên NSNN ở Kho bạc Nhà nước
Đối với các khoản chi theo hình thức rút dự toán tại Kho bạc Nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước gửi đến Kho bạc Nhà nước các tài liệu, chứng từ dưới đây:
Hồ sơ gửi lần đầu bao gồm:
25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập gửi Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; Quyết định giao quyền tự chủ của cấp có thẩm quyền
Trang 35- Cơ quan nhà nước thực hiện theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước gửi Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Trường hợp tạm ứng: hồ sơ tạm ứng gửi từng lần tạm ứng bao gồm:
đó ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ kiểm soát và theo dõi khi thanh toán Các khoản chi tạm ứng tiền mặt phải đúng nội dung được phép chi bằng tiền mặt quy định tại Điều 5 Thông tư số 164/2011/TT-BTC; Điều 6 Thông tư
số 13/2017/TT-BTC
+ Chi mua hàng hóa, dịch vụ (trừ trường hợp tạm ứng tiền mặt nêu trên): đơn
vị gửi Kho bạc Nhà nước các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), trong đó ghi
rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ kiểm soát và bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi nhỏ lẻ không có hợp đồng) hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ (đối với trường hợp khoản chi phải có hợp đồng)
+ Chi mua sắm, sửa chữa tài sản, xây dựng nhỏ: đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước các chứng từ sau: Giấy rút dự toán (tạm ứng), tùy theo hình thức lựa chọn nhà thầu, đơn vị gửi Quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Quyết định chỉ định thầu, Quyết định phê duyệt kết quả chào hàng cạnh tranh của cấp có thẩm quyền; Hợp đồng mua bán, sửa chữa, xây dựng
Hồ sơ thanh toán tạm ứng gửi từng lần thanh toán tạm ứng bao gồm:
Khi thanh toán tạm ứng, đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng Tùy theo từng nội dung chi, gửi kèm theo các tài liệu, chứng từ sau:
+ Đối với các khoản chi có giá trị nhỏ không vượt quá 5 triệu đồng đối với một khoản chi quy định tại khoản 6 Điều 5 Thông tư số 164/2011/TT-BTC thì đơn
vị lập Bảng kê chứng từ thanh toán do Thủ trưởng đơn vị ký duyệt để gửi Kho bạc Nhà nước
Trang 36+ Thanh toán tạm ứng đối với các khoản chi tiền mặt còn lại: các tài liệu, chứng từ thanh toán đơn vị gửi Kho bạc Nhà nước thực hiện tương tự như thanh toán tạm ứng các khoản chi chuyển khoản
Các tài liệu, chứng từ kèm theo đối với từng nội dung chi như trường hợp thanh toán trực tiếp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 của 161/2012/TT-BTC về Quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Hồ sơ thanh toán trực tiếp bao gồm:
từ sau:
+ Đối với khoản chi thanh toán cá nhân:
• Đối với các khoản chi tiền lương, học bổng, sinh hoạt phí, các khoản đóng góp, chi cho cán bộ xã thôn, bản đương chức: danh sách những người hưởng lương, học bổng, sinh hoạt phí; danh sách những người hưởng tiền công lao động thường xuyên theo hợp đồng; danh sách cán bộ xã, thôn bản đương chức (gửi lần đầu và gửi khi có bổ sung, điều chỉnh)
• Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan hành chính thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ: thực hiện theo Thông tư số
chi đối với cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06/09/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
• Các khoản thanh toán khác cho cá nhân: danh sách theo từng lần thanh toán
• Đối với thanh toán cá nhân thuê ngoài: hợp đồng thuê khoán, thanh lý hợp đồng (nếu có);
Trang 37+ Chi mua hàng hóa, dịch vụ:
• Chi thanh toán dịch vụ công cộng; thông tin, tuyên truyền liên lạc: Bảng kê chứng từ thanh toán
• Chi mua vật tư văn phòng: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
• Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện việc khoán phương tiện theo chế độ, khoán văn phòng phẩm, khoán điện thoại: văn bản quy định về mức chi, danh sách những người hưởng chế độ khoán (gửi một lần vào đầu năm và gửi khi có phát sinh thay đổi)
+ Chi hội nghị: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không
có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi công tác phí: Bảng kê chứng từ thanh toán
+ Chi phí thuê mướn: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi đoàn ra, đoàn vào: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi không có hợp đồng), hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản
+ Chi mua sắm tài sản: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi
có hợp đồng) Để cải cách thủ tục hành chính, tăng trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị
và tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng giảm thiểu hồ sơ thanh toán đối với một số khoản chi mua sắm sau:
• Trường hợp mua sắm chi thường xuyên hoặc gói thầu mua sắm chi thường xuyên có giá trị dưới 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng): đơn vị lập và gửi Kho bạc Nhà nước bảng kê chứng từ thanh toán (không phải gửi hợp đồng, hóa đơn, chứng từ liên quan đến khoản mua sắm cho Kho bạc Nhà nước) Kho bạc Nhà nước
Trang 38thực hiện chi theo đề nghị của đơn vị sử dụng NSNN; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị
sử dụng NSNN chịu trách nhiệm về quyết định chi và tính chính xác của các nội dung chi trên bảng kê chứng từ gửi Kho bạc Nhà nước
• Đối với các khoản mua sắm Thanh toán bằng hình thức thẻ “tín dụng mua
của Bộ Tài chính quy định quản lý thu chi tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước: đơn vị lập 2 liên bảng kê chứng từ thanh toán (theo Mẫu số 01 đính kèm Thông tư này) kèm theo giấy rút dự toán ngân sách nhà nước gửi tới Kho bạc Nhà nước để làm thủ tục kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính Đơn
vị giao dịch không phải gửi các hóa đơn mua hàng được in tại các điểm POS đến Kho bạc Nhà nước; đồng thời, đơn vị giao dịch phải tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung các khoản chi ghi trên bảng kê chứng từ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước
+ Chi sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành: hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn Đối với các khoản chi phải lựa chọn nhà thầu, đơn vị phải gửi Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của cấp có thẩm quyền + Các khoản chi khác: Bảng kê chứng từ thanh toán (đối với những khoản chi không có hợp đồng); hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn (đối với những khoản chi có hợp đồng)
+ Chi mua, đầu tư tài sản vô hình; chi mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn: Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hóa đơn Trường hợp phải lựa chọn nhà thầu, đơn vị phải gửi Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của cấp có thẩm quyền
Đối với hình thức chi theo Lệnh chi tiền của cơ quan tài chính: hồ sơ thanh toán là Lệnh chi tiền của cơ quan tài chính Đối với hồ sơ liên quan đến từng khoản chi bằng lệnh chi tiền, đơn vị gửi hồ sơ cho cơ quan tài chính, cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm soát và lưu giữ hồ sơ chứng từ chi bằng hình thức lệnh chi tiền
Trang 391.3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN
quản lý nhà nước Kết quả đầu ra của công tác này là giải ngân được một khoản chi NSNN Kết quả này mang nhiều tính chất định tính Do đó cần lựa chọn các tiêu chí
có thể xác định được Từ đó kết hợp các tiêu chí để phân tích, tổng hợp để đánh giá được đầy đủ hơn công tác kiểm soát chi Những tiêu chí thường được quan tâm nhằm đánh giá kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước như sau:
Doanh số chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước cho thấy được quy
mô hoạt động của công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của Kho bạc Nhà nước Cơ cấu của chi thường xuyên thường được chia ra theo cấp ngân sách hoặc
mục chi cần được chú trọng để nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi
Kho bạc Nhà nước đóng vai trò là người gác cổng cuối cùng trước khi thanh toán các khoản chi NSNN Do vậy, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc Nhà nước đòi hỏi phải đảm bảo chính xác về mặt số liệu, chứng từ; an toàn trong chi trả, thanh toán, tránh để xảy ra tình trạng lợi dụng, chiếm đoạt tiền, tài sản của Nhà nước Tuy nhiên Kho bạc Nhà nước phải có biện pháp bố trí, sắp xếp giải quyết thanh
sơ giải quyết bị quá hạn cao, Kho bạc Nhà nước cần phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến thời gian xử lý kiểm soát chi để tìm biện pháp khắc phục
Trang 40trước khi xuất quỹ ngân sách để thanh toán, chi trả Đồng thời phản ảnh được ý thức
phí NSNN Ngoài ra tiêu chí này còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Sự đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán của các văn bản qui định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi của Nhà nước; trình độ, năng lực của cán bộ kiểm soát chi; chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực chi NSNN
Vì vậy, khi xem xét, đánh giá kết quả của tiêu chí này cần xem xét toàn diện các yếu tố trên, không nên máy móc chỉ dựa vào kết quả từ chối, thanh toán để đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước
Số món bị Kho bạc Nhà nước từ chối cấp phát, thanh toán được thống kê theo các nội dung kiểm soát chi như: chi vượt dự toán; vi phạm qui định về chế độ chứng từ; chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức
hằng tháng:
Tiêu chí này góp phần đánh giá đầy đủ hơn chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN Trong các khoản chi thường xuyên NSNN được Kho bạc Nhà nước giải ngân, có những khoản chi chưa có đủ hồ sơ chứng từ, Kho bạc Nhà nước được phép giải ngân cho đơn vị bằng hình thức tạm ứng Ngoài ra, đơn vị được phép tạm ứng tiền mặt về để thanh toán cho các khoản chi nhỏ, lẻ tại đơn vị Tuy nhiên, có những đơn vị sử dụng ngân sách không chú trọng đến việc thanh toán tạm ứng với Kho bạc Nhà nước hằng tháng theo quy định mà để đến cuối năm mới thực hiện thanh toán Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước trong quá trình kiểm soát chi cũng không lưu ý nhắc nhở đơn vị thanh toán tạm ứng Làm cho số dư tạm ứng chi NSNN hằng tháng quá cao Đây là tình trạng chiếm dụng vốn NSNN cần phải được chú ý khắc phục trong công tác kiểm soát chi, đặc biệt là trong tình hình thu NSNN khó khăn, không kịp tiến độ trong những năm gần đây