1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại việt nam

93 92 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thực tiễn, thông qua kết quả thực nghiệm nghiên cứu sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam cho thấy rằng rủi ro tín dụng có tác động đến lợi nhuận của các

Trang 1

ĐÀO THỊ HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG

ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THỊ HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Trang 3

TÓM TẮT

Tín dụng là một trong những hoạt động chính và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM Tuy nhiên, khi thực hiện nghiệp vụ cho vay thì ngân hàng thương mại phải đối mặt với một trong số những rủi ro chính là rủi ro tín dụng Bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 –

2017, thông qua mẫu khảo sát gồm 15 NHTM Việt Nam Nghiên cứu tiến hành ước lượng mô hình hồi quy thông qua 3 phương pháp POOL, FEM, REM Sau đó, tiếp tục tiến hành kiểm định F-test và kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp

Và ở tất cả các mô hình hồi quy, kết quả kiểm định đều cho thấy FEM là mô hình phù hợp nhất Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng hồi quy mô hình để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và/hoặc hiện tượng tự tương quan trong mô hình nhằm đảm bảo tính hiệu quả cho mô hình hồi quy

Kết quả hồi quy cho thấy rủi ro tín dụng là một trong những nhân tố chủ yếu tác động đến lợi nhuận ngân hàng Tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng là ngược chiều, mang tính tiêu cực Điều này đồng nghĩa với ngân hàng đối mặt với rủi ro tín dụng càng cao, lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy một số các yếu tố khác cũng có tác động đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam như: cấu trúc tài sản (LTA), thu nhập lãi cận biên (NIM), cấu trúc vốn của ngân hàng (ETA)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn

TP Hồ chí Minh, tháng 10 năm 2018

Học viên

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Phạm Anh Thủy đã hướng dẫn, chỉ dạy tận tình, truyền đạt những kiến thức quan trọng, hữu ích và cả những chia sẻ những kinh nghiệm giúp tôi có được những hiểu biết vô cùng quý báu để hoàn thành bài nghiên cứu này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đã tạo điều kiện để tôi học tập, trau dồi kiến thức, kỹ nằng và có một môi trường rộng mở tiếp xúc được nhiều bạn bè tốt Những hiểu biết này hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc nhìn nhận những sự kiện kinh tế đang diễn ra hàng ngày, cũng như có sự phân tích tốt hơn trong hoạt động thực tế tại đơn vị mình

Cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn và bản thân còn nhiều hạn chế, bài luận này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong Cô và hội đồng nhiệt tình đóng góp ý kiến để tôi có thể học hỏi và rút kinh nghiệm hơn nữa sau khi hoàn thành bài

Trân trọng cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

TÓM TẮT

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU………ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ………iii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Nội dung nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp của đề tài 3

1.6 Bố cục của bài nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU 6

2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 6

2.1.1 Khái niệm 6

2.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến RRTD 8

2.1.3 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng 9

2.2 Cơ sở lý luận về lợi nhuận ngân hàng 10

2.2.1 Khái niệm 10

2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận 10

2.3 Tác động của rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng 11

2.3.1 Tác động của rủi ro và lợi nhuận 11

2.3.2 Tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng 13

2.4 Lược khảo một số nghiên cứu có liên quan về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam 14

Trang 7

2.4.1 Một số nghiên cứu cho thấy sự tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận

ngân hàng 15

2.4.2 Một số nghiên cứu cho thấy sự tác động cùng chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng 19

2.4.3 Một số nghiên cứu không tìm thấy sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng 20

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG 23

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 23

3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu 23

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 23

3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 25

3.2 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình 27

3.2.1 Biến phụ thuộc 27

3.2.2 Biến đo lường rủi ro tín dụng 27

3.2.3 Các biến kiểm soát trong mô hình 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu 31

3.3.2 Lựa chọn mô hình 33

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 36

4.1 Thống kê mô tả và phân tích tương quan 36

4.1.1 Thống kê mô tả 36

4 1.2 Thực trạng tình hình tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng giai đoạn 2008 - 2017 39

4.1.3 Thực trạng tình hình nợ xấu của các ngân hàng giai đoạn 2008 – 2017 42

4.1.4 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng giai đoạn 2008 – 2017 46 4.1.5 Phân tích tương quan 49

4.2 Kết quả hồi quy mô hình 51

4.2.1 Hồi quy theo các mô hình Pooled – OLS, FEM, REM 51

4.2.2 Lựa chọn mô hình 52

4.2.3 Kiểm định và xử lý các khuyết tật mô hình 52

4.3 Thảo luận kết quả thực nghiệm 55

Trang 8

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 59

5.1 Kết luận chung đề tài nghiên cứu 59

5.2 Đề xuất một số chính sách 60

5.2.1 Kiểm soát rủi ro tín dụng 60

5.2.2 Chú trọng đến kiểm soát chất lượng tín dụng 62

5.2.3 Tăng cường khả năng quản lý và kiểm soát chi phí hoạt động 63

5.2.4 Một số đề xuất về chính sách, nhân sự 64

5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 66

5.3.1 Hạn chế của đề tài 66

5.3.2 Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ETA Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

2 FEM Mô hình tác động cố định

3 LLPR Tỷ lệ chi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ

4 LTA Dư nợ cho vay trên tổng tài sản

5 NHNN Ngân hàng Nhà nước

6 NHTM Ngân hàng thương mại

7 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

8 NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước

9 NIM Thu nhập lãi cận biên

10 NPLR Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

11 REM Mô hình tác động ngẫu nhiên

12 ROA Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

13 ROE Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

14 SIZE Quy mô ngân hàng

15 VAMC Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Trang 10

Bảng 4.4 Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế của 15 ngân hàng thương

Bảng 4.5 Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro/tổng dư nợ (LLPR) của 15 ngân

Bảng 4.6 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 50

Bảng 4.8 Kết quả hồi quy mô hình theo Pooled OLS, FEM, REM 51

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy theo mô hình FEM có hiệu chỉnh phương sai sai

số thay đổi và tự tương quan 53 Bảng 4.10 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy 55

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài

Nền kinh tế của mỗi quốc gia luôn xem thị trường tài chính là xương sống, trong đó hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng Ngân hàng vừa là nguồn cấp tín dụng cho nền kinh tế, vừa đóng vai trò là nhà đầu tư thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngân hàng thương mại cũng đóng vai trò là công cụ để ngân hàng nhà nước điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia Một hệ thống ngân hàng tốt, kinh doanh

có hiệu quả và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống quốc gia là mục tiêu quan trọng mà bất kỳ một quốc gia nào cũng muốn hướng tới

Tuy nhiên, hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, rủi ro có thể xuất phát từ bên ngoài hoặc bên trong ngân hàng, khách quan hoặc chủ quan Dù đến từ đâu thì rủi ro xảy ra đều ảnh hưởng đến chất lượng, khả năng hoạt động của ngân hàng, gây ra những tổn thất về nguồn lực cho ngân hàng từ đó gây ra tổn thất cho nền kinh tế Tín dụng là một trong những hoạt động chính và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM, cũng chính

là một hoạt động chứa rất nhiều rủi ro

Trong xu thế nền kinh tế phát triển, hệ thống ngân hàng đứng trước rất nhiều khó khăn, mà nợ xấu là một trong những vấn đề gây nhiều nhức nhối của hầu hết các ngân hàng thương mại Bằng chứng cho thấy có nhiều ngân hàng trên thế giới công bố những khoản nợ xấu và những khoản thua lỗ lớn, và cũng có rất nhiều ngân hàng trên thế giới đã dẫn đến phá sản Vấn đề được đặt ra đó là liệu rằng một trong những rủi ro tín dụng có phải là nguyên nhân làm lợi nhuận các ngân hàng suy giảm hay không?

Việc phân tích, đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng luôn được các ngân hàng quan tâm Rủi ro tín dụng có khả năng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, nếu như một ngân hàng có rủi ro tín dụng cao thì rất có khả năng ngân hàng đó phải đối mặt với nguy cơ giảm lợi nhuận do không thu hồi được vốn gốc và lãi vay từ khách hàng Và nếu không kiểm soát được rủi ro này thì về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất

Trang 13

lớn đến duy trì hoạt động ngân hàng nói riêng, từ đó tác động nghiêm trọng đến toàn hệ thống ngân hàng và nền kinh tế nói chung

Đã có một số bài viết nghiên cứu có liên quan đến sự tác động rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Việt Nam nhưng vẫn còn hạn chế trong những bài nghiên cứu đó về việc thu thập dữ liệu trong quá khứ và hạn chế về việc ứng dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm chứng tác động giữa rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng Đồng thời, việc đánh giá mức độ tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM là nghiên cứu rất quan trọng trong bất

kỳ giai đoạn nào của nền kinh tế

Do đó, xuất phát từ các vấn đề trên tác giả nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng và đã quyết định lựa chọn

đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” làm luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở các vấn đề nghiên cứu đã được xác định, tác giả xác định mục tiêu chính của đề tài: Xem xét sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam Mục tiêu cụ thể:

+ Xác định mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua bằng chứng thực nghiệm

+ Đề xuất một số biện pháp nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng, gia tăng quy mô tài sản của NHTM Việt Nam

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu được thực hiện sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi sau đây:

- Mức độ tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là như thế nào?

Trang 14

- Dựa trên kết quả nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm thì định hướng giải pháp kiểm soát, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao lợi nhuận cho các NHTM Việt Nam như thế nào?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: được đề cập trong bài nghiên cứu này là rủi ro tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Do sự giới hạn trong dữ liệu công bố của ngân hàng, và đặc biệt là số liệu về nợ xấu của nhiều ngân hàng bị khuyết ở nhiều năm và đồng thời trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu bảng cân bằng, do đó để đảm bảo sự đồng nhất số liệu về mặt thời gian, cũng như đảm bảo tính cỡ mẫu ở mức tương đối và dữ liệu bảng cân bằng để phục vụ cho bài nghiên cứu mẫu thu thập trên 15 ngân hàng thương mại Việt Nam có công khai tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh Dữ liệu thu tập báo cáo thường niên giai đoạn 2008 – 2017, truy cập tại websize của các NHTM và các trang báo tài chính uy tín: cafef, cophieu68

1.4 Nội dung nghiên cứu

Nhằm bám sát vào mục tiêu đề ra, bài nghiên cứu sẽ tiến hành mô tả, đánh giá tình hình tăng trưởng tín dụng, tình hình nợ xấu và lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam Trên cơ sở đó có thể đưa ra một cái nhìn trực quan về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam Nghiên cứu thu thập số liệu từ các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm

2017, sử dụng mô hình kinh tế lượng để kiểm định Trên cơ sở thực tế hoạt động của ngành trong giai đoạn nghiên cứu, làm cơ sở đưa ra những đề xuất và định hướng hoạt động của ngành trong tương lai

1.5 Đóng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng lý luận dựa trên nhiều quan điểm khác nhau về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng, đưa ra những quan điểm, cùng với những lý lẽ kèm theo để giải thích rằng vẫn có sự tồn tại sự tác

Trang 15

động ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Về thực tiễn, thông qua kết quả thực nghiệm nghiên cứu sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam cho thấy rằng rủi ro tín dụng có tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng và tác động ngược chiều Điều này giúp cho các nhà quản lý, các nhà chính sách, nhà đầu tư… thấy được ảnh hưởng thực sự rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng - đó là một sự tác động ngược chiều nghĩa là rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao thì lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm đi

1.6 Bố cục của bài nghiên cứu

Luận văn gồm có 5 chương:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GẢI PHÁP KIỂM SOÁT RỦI

RO TÍN DỤNG GIA TĂNG LỢI NHUẬN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Trang 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày mục tiêu tổng quát và mục tiêu chi tiết của đề tài nghiên cứu đồng thời đưa câu hỏi nghiên cứu cụ thể để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra Bên cạnh đó, tác giả trình bày đối tượng, phạm vi nghiên cứu và các đóng góp cũng như bố cục của đề tài trong bài luận này

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU

Trong chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết có liên quan đến tác động của rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Từ đó đưa ra tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng

2.1.1 Khái niệm

Hoạt động ngân hàng có vai trò sống còn đối với hoạt động kinh tế, bởi vì ngân hàng tái phân bổ tiền từ người tiết kiệm - những người có thặng dư tiền tạm thời, tới người đi vay - những người có thể sử dụng tiền một cách tốt hơn Ngân hàng thương mại là nơi chu chuyển vốn cho nền kinh tế, điều tiết hoạt động kinh doanh của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống, chủ yếu và

là hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận chính cho các NHTM Ngân hàng cho vay dựa chủ yếu từ nguồn tiền gửi nhàn rỗi huy động từ các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Do đó, nguyên tắc đầu tiên quan trọng của hoạt động này là vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi để ngân hàng sử dụng nguồn tiền này và hoàn trả lại tiền gửi và lãi cho người gửi tiền khi đến hạn Nếu người vay không thực hiện nghĩa

vụ trả nợ, ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn để có thể tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh của mình Cho nên có thể nói, đây là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro

Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện của các biến cố không bình thường xảy ra trong quan hệ tín dụng, rủi ro này xuất phát từ việc không thu hồi được nợ hoặc thu hồi nhưng không đầy đủ khi nợ đến hạn

Và cho đến nay, đã có nhiều cách tiếp cận về khái niệm rủi ro tín dụng

Theo Anthony Saunders và Helen Lange, 2015 thì: “Rủi ro tín dụng là khoản

lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về số lượng và thời hạn”

Trang 18

Còn với Timothy W.koch, 2002 cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”

“Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người đi vay không thanh toán hoặc thanh toán trễ hẹn (bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh), hay nói cách khác là không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, và

có thể dẫn đến thất thoát tài sản của ngân hàng” (Thông tư 02/2013/TT-NHNN)

Tuy có rất nhiều các khái niệm khác nhau, nhưng rủi ro tín dụng có thể được

tổng hợp định nghĩa như sau: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ Cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản

có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ cả về mặt thời hạn và giá trị”

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác Luôn là người cho vay phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng Mức độ rủi ro cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của mục đích vay vốn cũng như tình hình hoạt động của người vay vốn

Rủi ro tín dụng được chia thành các loại như sau:

- Rủi ro giao dịch: là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh

do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng

- Rủi ro danh mục nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo

Trang 19

- Rủi ro nội tại là loại rủi ro xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay, xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của mỗi khách hang

- Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hang tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hang, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề kinh tế

- Rủi ro lãi suất: là khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu

tố liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng

2.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến RRTD

- Nhóm nguyên nhân từ môi trường: Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh

tế khác, hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương…

- Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng: Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định.Trong giới hạn đó, ngân hàng có khả năng và sẵn sàng để hứng chịu, khắc phục và vượt qua các rủi ro Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến RRTD Thêm vào đó, việc mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng Cùng với sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng

là nguy cơ rất cao xảy ra RRTD

- Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng: Nhiều khoản vay của khách hàng với mục đích đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm với những biến động của thị trường; khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng Và một số nguyên nhân khác

Trang 20

2.1.3 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng

Bảng 2.1: Các hình thức của rủi ro tín dụng

Nguồn: Trần Huy Hoàng (2010)

Rủi ro tín dụng có thể xảy ra 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc: Đó là việc không thu hồi được lãi đúng hạn hoặc không thu hồi đủ lãi, không thu hồi được vốn đúng hạn hoặc không thu hồi đủ vốn

Trong trường hợp, ngân hàng không thu được lãi đúng hạn, ngân hàng đang đối mặt với nguy cơ rủi ro ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục lãi treo phát sinh Tuy nhiên, nếu ngân hàng không thể thu hồi đủ lãi thì lúc này ngân hàng sẽ phát sinh khoản mục lãi treo đóng băng, trừ trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó cho khách hàng (Trần Huy Hoàng, 2010)

Khi ngân hàng không thu hồi được vốn đúng hạn, lúc này ngân hàng sẽ phát sinh khoản nợ quá hạn Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chưa thể xem khoản nợ quá hạn này là khoản mất mát hoàn toàn bởi vì có thể vì lý do nào đó mà khách hàng chậm trả nợ gốc và sẽ trả nợ sau so với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng Nếu như trong trường hợp, ngân hàng vẫn không thể thu hồi được các khoản nợ này từ khách hàng thì lúc này ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hổi Và ngân hàng có thể xem xét để xóa nợ cho khách hàng nếu như khách hàng hội đủ các điều kiện để được xóa nợ theo quy định (Trần Huy Hoàng, 2010)

Không thu được đủ vốn

Trang 21

Rủi ro tín dụng biểu hiện dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến cho nhau, trong đó mức độ cuối cùng và cũng là mức độ rủi ro cao nhất là nợ không có khả năng thu hồi

2.2 Cơ sở lý luận về lợi nhuận ngân hàng

2.2.1 Khái niệm

Lợi nhuận ngân hàng là khoản chênh lệch được xác định bằng tổng doanh thu phát sinh trong kỳ trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý phát sinh trong kỳ (Trần Huy Hoàng, 2010)

Thực hiện tất cả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng chỉ hướng tới mục đích là đạt được mức lợi nhuận tối đa nhất Các khoản thu nhập của ngân hàng bao gồm:

+ Các khoản thu từ hoạt động tín dụng (thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo lãnh…)

+ Các khoản thu từ hoạt động từ dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (thu lãi tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ…)

+ Các khoản thu từ hoạt động khác:

Thu từ lãi góp vốn, mua cổ phần Thu từ mua bán chứng khoán

Thu từ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quí

Thu từ nghiệp vụ uỷ thác, đại lý Thu từ dịch vụ tư vấn

Thu từ các hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Thu từ dịch vụ ngân hàng khác (bảo quản cho thuê tủ két sắt…)

Các khoản thu bất thường khác

2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận

2.2.2.1 Chỉ tiêu tuyệt đối

Lợi nhuận tuyệt đối của ngân hàng có thể được đo lường thông qua hai chỉ tiêu: lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế

- Lợi nhuận của ngân hàng thương mại được tính theo công thức sau:

Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 22

2.2.2.2 Chỉ tiêu tương đối

Chỉ tiêu tương đối được thể hiện thông qua tỷ suất sinh lời Để đánh giá tỷ suất sinh lời của ngân hàng thông thường sử dụng các chỉ số sau đây (TS Lê Tấn Phước, 2016):

- ROA: Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản

ROA đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng

Về lý thuyết, ROA được định nghĩa chính là tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ

sở hữu ROE đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu

ROE tính đến sự tác động của đòn bẩy tài chính, còn ROA thì không xem xét đến sự tác động của đòn bẩy tài chính Cụ thể, trong điều kiện kinh doanh thuận lợi, thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm ROE tăng lên nhiều lần Tuy nhiên, khi tình hình kinh doanh gặp khó khăn, việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm ROE giảm đáng kể Điều này có nghĩa ROE không chỉ làm của lợi nhuận tăng lên, mà việc sử dụng đòn bẩy tài chính để tăng lợi nhuận cũng mang lại nhiều rủi ro hơn cho ngân hàng

- ROE được đo bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu

2.3 Tác động của rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng

2.3.1 Tác động của rủi ro và lợi nhuận

Một điều tất cả chúng ta ai cũng thừa nhận rằng, rủi ro tồn tại ở khắp mọi nơi, và trong mọi lĩnh vực Đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh, rủi ro là điều không thể tránh khỏi Chính vì vậy, trong hoạt động kinh doanh, rủi ro và lợi nhuận

là hai yếu tố luôn song hành cùng nhau Về mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm, rủi ro luôn tác động đến lợi nhuận và cũng đã có nhiều quan điểm trái chiều nhau xoay quanh tác động của rủi ro đến lợi nhuận:

Trang 23

Có nhiều quan điểm cho rằng rủi ro và lợi nhuận có tác động cùng chiều Lý thuyết đánh đổi cho rằng giữa rủi ro và lợi nhuận luôn tồn tại sự đánh đổi, có nghĩa

là rủi ro cao thì đi kèm với đó là mức lợi nhuận cao tương ứng, và ngược lại rủi ro thấp thì mang lại lợi nhuận thấp Theo như lý thuyết này, hầu hết mọi người đều có tâm lý ngại rủi ro, cho nên khi nhà đầu tư chấp nhận mức rủi ro cao hơn thì cũng đồng thời đòi hỏi mức lợi nhuận nhận được cao tương ứng để bù đắp cho rủi ro tăng thêm mà nhà đầu tư có thể gánh chịu Chính vì vậy luôn tồn tại sự đánh đổi giữa rủi

ro và lợi nhuận, tức là rủi ro tác động cùng chiều đến lợi nhuận (Kouch, 2014) Và cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy sự tác động cùng chiều của rủi

ro đến lợi nhuận (Chuke Nwude, 2012)

Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm lại đưa ra nhận định cho rằng tác động của rủi ro đến lợi nhuận là ngược chiều nhau: Quan điểm này vẫn thừa nhận rằng rủi ro cao hơn cho chúng ta khả năng lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên điều này là không có gì để đảm bảo Có nghĩa là rủi ro cao hơn cũng đồng nghĩa với việc khả năng xảy ra tổn thất rất cao, và trong trường hợp này thì mức lợi nhuận cao không

đủ bù đắp phần tổn thất đã mất đi, làm lợi nhuận sụt giảm Và có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng, rủi ro tác động ngược chiều đến lợi nhuận: bằng chứng thực nghiệm tìm thấy rằng có những công ty có chính sách quản lý tốt có thể tăng lợi nhuận của họ và đồng thời giảm thiểu rủi ro; cũng có những công ty có rủi ro cao nhưng lợi nhuận thấp và một nhóm các công ty có rủi ro thấp nhưng lợi nhuận cao (Mukherji và cộng sự, 2008; Frantz Maurer, 2008)

Như vậy, dựa trên những quan điểm khác nhau về tác động của rủi ro đến lợi nhuận cho thấy rằng giữa rủi ro và lợi nhuận không chỉ đơn giản là tác động cùng chiều tức là không hẳn là tổ chức nào chấp nhập mức rủi ro hơn thì cũng sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn nhiều so với một tổ chức gặp ít rủi ro Mà thực tế, có những bằng chứng cho thấy có những tổ chức mặc dù chấp nhận rủi ro cao hơn nhưng cũng chỉ tạo ra một lợi nhuận trung bình hoặc dưới mức trung bình tức là việc chấp nhận mức rủi ro cao hơn thì không phải lúc nào cũng thu được lợi nhuận cao hơn từ việc

Trang 24

đánh đổi này; hay cũng có những tổ chức có rủi ro thấp hơn nhưng không phải luôn luôn mang về khoản lợi nhuận thấp hơn

2.3.2 Tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là một hoạt động chủ yếu

và thường xuyên của các ngân hàng thương mại, và là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại Đây là hoạt động mang lại thu nhập lớn và chủ yếu cho các ngân hàng, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro

và gây ra hậu quả nặng nề cho ngân hàng Quy mô và mức độ thiệt hại mà rủi ro tín dụng gây ra nghiêm trọng hơn cả và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng, cũng như hệ thống ngân hàng (Samuel Hymore Boahene và cộng sự, 2012)

Rủi ro và lợi nhuận là hai yếu tố luôn song hành cùng nhau Do vậy, khi xem xét tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng, chúng ta cần xem xét sự tác động đến cả 2 chiều: cùng chiều và ngược chiều nhau

Quan điểm thứ nhất cho rằng, rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng Khi rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao làm lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống và ngược lại Điều này có thể được giải thích: Khi ngân hàng cho những đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro kinh doanh cao, cho vay dự

án có độ rủi ro cao hoặc không kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, lúc này ngân hàng đối mặt xác suất ngân hàng không thu hồi vốn và lãi từ khách hàng vay càng cao, dẫn đến thất thoát về tài sản, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng (Achou và Tenguh, 2008; Alexiou và Sofoklis, 2009) Hơn nữa, rủi ro tín dụng càng tăng cao thì buộc ngân hàng trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng càng cao Chính những khoản chi phí dự phòng rủi ro này làm tăng chi phí của ngân hàng Do vậy, làm bào mòn lợi nhuận ngân hàng (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Trujillo-Ponce, 2013)

Quan điểm thứ hai lại cho rằng, rủi ro tín dụng và lợi nhuận có sự tác động cùng chiều với nhau: Theo thuyết đánh đổi rủi ro – lợi nhuận, ngân hàng nào chấp nhận mức rủi ro cao thì cùng với đó là mức lợi nhuận cao, ngược lại, rủi ro thấp thì lợi nhuận thấp Bởi vì những ngân hàng chấp nhận rủi ro cao thì họ cũng yêu cầu

Trang 25

một mức lãi suất cho vay cao hơn cho những rủi ro đó Hoạt động tín dụng mặc dù chứa đựng rất nhiều rủi ro như vậy nhưng xét ở một khía cạnh khác thì đây lại là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng Do vậy, hầu hết các ngân hàng chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó vì mong muốn có mức lợi nhuận cao tương ứng với rủi ro mà hoạt động tín dụng mang lại Và khi các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro tín dụng cao thì đồng thời cũng đưa ra mức lãi sưất cho vay cao hơn tương xứng để bù đắp cho những rủi ro mà ngân hàng có thể gánh chịu, vì thế

có thể dẫn đến gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng (Maudos và Fernández de Guevara, 2004; Samuel Hymore Boahene và cộng sự, 2012) Hơn nữa, mặc dù rủi

ro tín dụng cao nhưng nếu các ngân hàng có biện pháp quản lý rủi ro tín dụng tốt thì

có thể tìm thấy mức lợi nhuận cao nhưng đồng thời hạn cũng hạn chế những tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra Do vậy, các ngân hàng cũng có được nhiều cơ hội hơn

để tăng năng suất tài sản, tăng lợi nhuận cho ngân hàng và đồng thời có thể kiểm soát rủi ro tín dụng (Cooper và cộng sự, 2003; Tandelilin và cộng sự 2007)

Như vậy cho đến nay đã có có nhiều quan điểm khác nhau về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng: có quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng tác động cùng chiều đến lợi nhuận ngân hàng, tức rủi ro tín dụng cao thì đồng thời mang đến cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao hơn; nhưng cũng đã có nhiều quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng Cho nên để có thể đưa ra bằng chứng xác thực rằng liệu trên thực tế rủi ro tín dụng tác động như thế nào đến lợi nhuận ngân hàng trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu

2.4 Lược khảo một số nghiên cứu có liên quan về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam

Sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại

đã được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu và dưới nhiều góc độ khác nhau Trên thế giới có nhiều nghiên cứu đưa ra bằng chứng chứng minh rằng rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại (Achou và Tenguh 2008; Hosna và cộng sự, 2009; Mekasha, 2011; Tefera,

Trang 26

2011; Samuel Hymore Boahene và cộng sự, 2012 ) Chẳng hạn như, khi thực hiện nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại tại Ethiopia, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng có tác động đáng

kể đến lợi nhuận ngân hàng và có ý nghĩa thống kê (Gizaw và cộng sự, 2015) Tương tự, một nghiên cứu thực nghiệm khác được tiến hành tại Kenya, bằng cách

sử dụng mô hình hồi quy để nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Kenya và kết quả cũng tìm thấy có tồn tại tác động rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng (Josiah Aduda và James Gitonga, 2011) Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở Việt Nam không nhiều, chưa được chuyên sâu và còn các khoảng trống cần được khai thác cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu không tìm thấy sự tác động rõ ràng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

2.4.1 Một số nghiên cứu cho thấy sự tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

Tại Hy Lạp, khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng của Hy Lạp trong giai đoạn 1985 – 2001 đã tìm thấy rằng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng Kết quả này được giải thích là bởi vì khi ngân hàng cho vay những khách hàng, hay những dự án có rủi ro tín dụng cao hơn, điều này cũng có nghĩa là ngân hàng đang tích tụ ngày càng nhiều những khoản vay có khả năng không thu hồi được, hay mức độ tổn thất đối với những khoản vay này là rất lớn và điều này dẫn đến làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng những người quản lý hệ thống ngân hàng Hy Lạp dường như đang cố gắng để tối đa hóa lợi nhuận, do vậy đã áp dụng một chiến lược phòng ngừa rủi ro, chủ yếu thông qua các chính sách cải thiện kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng (Athanasoglou và cộng sự, 2008)

Các nghiên cứu như Alexiou và Sofoklis (2009), Hosna và cộng sự (2009), Kargi (2011)… đã tìm thấy sự tác động ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Điển hình như Achou và Tenguch (2008), tác giả đã sử dụng dữ liệu của Ngân hàng Trung ương Quarta giai đoạn năm 2001 – 2005, cho kết quả về

Trang 27

sự tác động ngược chiều của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động Một nghiên cứu khác khi tiến hành xem xét các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Hy Lạp nhưng trong giai đoạn 2000 – 2007 cũng đã tìm thấy kết quả tương tự Nghiên cứu cho rằng việc các ngân hàng tiếp cận với những khoản vay có rủi ro tín dụng cao sẽ làm khả năng thất thoát vốn từ việc không thanh toán của khách hàng là rất cao và gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng Do vậy, các

hệ thống giám sát của các ngân hàng tại Hy lạp đã nâng cao các kỹ thuật quản lý rủi

ro, cùng với đưa ra chính sách cho vay nghiêm ngặt hơn để có thể kiểm soát rủi ro tín dụng và cải thiện lợi nhuận của ngân hàng (Alexiou và Sofoklis, 2009)

Tại Nigeria, khi đánh giá các tác động của rủi ro tín dụng vào lợi nhuận của các ngân hàng Nigeria giai đoạn 2004-2008 thì kết quả nghiên cứu cũng đã phát hiện rằng việc quản lý rủi ro tín dụng có tác động đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng Nigeria và cũng đưa ra kết luận rằng rủi ro tín dụng ảnh hưởng nghịch chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng Kargı (2011) Sau này, cũng có một số nghiên cứu khác cũng được thực hiện tại Nigeria trong giai đoạn 2000 - 2010, và kết quả cũng tương tự như kết quả đã tìm thấy trước đó, rằng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận (Kolapo và cộng sự, 2012)

Tại Nepal, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ở Nepal trong giai đoạn 2001-2012 cũng đã cho thấy sự tác động nghịch đáng kể của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng (Poudel, 2012) Cũng có rất nhiều nghiên cứu khác được thực hiện tại các nước đang phát triển Như một nghiên cứu tại Indonesia, khi điều tra các tác dụng chung của các rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản trên lợi nhuận của các ngân hàng lớn của Indonesia, kết quả cũng tìm thấy tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Indonesia (Ruziqa, 2013)

Tại Ethiopia, cũng đã từng có một số nghiên cứu tiến hành xem xét ảnh hưởng của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở nước này, thông qua sử dụng cả số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hàng năm của các ngân hàng thương mại và khảo sát các dữ liệu sơ cấp từ các nhà

Trang 28

quản lý ngân hàng và nhân viên của ngân hàng Kết quả tương tự, cũng cho thấy rằng có sự tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại ở Ethiopia (Tefera, 2011; Mekasha, 2011)

Còn tại Thụy Điển, khi nghiên cứu về ảnh hưởng quản lý rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng Thụy Điển trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2008 Kết quả cho thấy mặc dù mức độ tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ở các ngân hàng là khác nhau nhưng kết quả đều cho thấy rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận của ngân hàng (Hosna và cộng sự, 2009)

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều nghiên cứu khác được thực hiện tại các nước đang phát triển Như một nghiên cứu tại Indonesia, khi điều tra các tác dụng chung của các rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản trên lợi nhuận của các ngân hàng lớn của Indonesia, kết quả cũng tìm thấy tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các ngân hàng ở Indonesia (Ruziqa, 2013) Hay nghiên cứu khác được thực hiện tại Philippin trong khoảng thời gian 1990 – 2005, kết quả cho thấy ngân hàng Philippin đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn có xu hướng nhận được mức lợi nhuận thấp hơn Kết quả thực nghiệm hàm ý rằng ngân hàng ở Philippin nên tập trung nhiều hơn vào quản lý rủi ro tín dụng đồng thời phải cải thiện tính minh bạch của hệ thống tài chính, từ đó sẽ giúp các tổ chức tài chính đánh giá rủi ro tín dụng có hiệu quả hơn, và tránh được một số trường hợp có nguy cơ rủi ro tín dụng cao xảy ra (Fadzlan Sufian và Royfaizal Razali Chong, 2008)

Tại Việt Nam cũng đã có nghiên cứu thực nghiệm đề cập đến ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng được thực hiện, và các kết quả cho thấy giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng có sự tác động ngược chiều nhau Cụ thể, khi nghiên cứu tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 dựa trên bộ dữ liệu gồm số liệu được thu thập từ 34 NHTM Việt Nam, thông qua sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Kết quả cho thấy nợ xấu tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi ngân hàng (Phạm Hữu Hồng Thái (2013) Kết quả tương tự khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng trong giai đoạn

Trang 29

2006 – 2012, thông qua sử dụng dữ liệu hàng năm của 22 ngân hàng, được lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu BVD Bankscope và một số dữ liệu được bổ sung từ báo cáo thường niên của các ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng là một trong những nhân tố có tác động đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng và tác động này

là ngược chiều Hơn nữa, nghiên cứu cho rằng, rủi ro tín dụng càng cao thì buộc các ngân hàng tốn nhiều chi phí dự phòng tổn thất từ rủi ro tín dụng tăng cao này, do đó làm sụt giảm lợi nhuận của các ngân hàng (Trần Việt Dũng, 2014)

Gần đây hơn, nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Thu Hiền về “Các yếu tố đặc trưng xác định khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, nghiên cứu dùng mô hình ước lượng thích hợp với dữ liệu bảng để đưa ra kết quả trên cơ sở tìm hiểu tác động của các yếu tố đặc trưng cho mỗi ngân hàng đến khả năng sinh lời của NHTM ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015 Kết quả cho thấy dự phòng rủi

ro tín dụng trên cho vay làm tăng ROA, ỷ số này phụ thuộc vào việc xét đoán, lựa chọn chính sách kế toán về lập dự phòng rủi ro tín dụng trong NHTM

Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) tập trung vào yếu tố đa dạng hóa thu nhập kết hợp các biến đặc trưng ngân hàng như cấu trúc tài sản, quy mô, chất lượng tài sản, an toàn vốn, cấu trúc nợ, hiệu quả hoạt độn và biến

vĩ mô là GDP khi phân tích khả năng sinh lời các NHTM Việt Nam với phương pháp GMM Kết quả của nghiên cứu cho thấy các biến đa dạng hóa thu nhập, cho vay trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, lạm phát đều có tương quan thuận, trong khi đó nợ xấu, vốn chủ sở hữu trên tài sản và chi phi hoạt động trên thu nhập có tương quan nghịch đến khả năng sinh lời Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng

về tác động của quy mô tài sản và tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016) đã sử dụng mô hình OLS với phương sai chuẩn mạnh (robust standard errors) để kiểm soát ảnh hưởng của phương sai thay đổi (heteroskedasticity) cho kết quả không hoàn toàn thống nhất với nghiên cứu về NHTM Việt Nam nói trên Theo nghiên cứu này, quy mô và chi phí hoạt động trên

Trang 30

tài sản ảnh hưởng cùng chiều, trong khi đó hệ số an toàn vốn ảnh hưởng ngược chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng

2.4.2 Một số nghiên cứu cho thấy sự tác động cùng chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

Cũng có một vài nghiên cứu thực nghiệm đưa ra bằng chứng cho rằng có mối tương quan cùng chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Đầu tiên phải

kể đến là nghiên cứu được tiến hành tại một số ngân hàng ở Ghana trong giai đoạn

từ 2005 – 2009 Kết quả tìm thấy một sự tác động cùng chiều và ý nghĩa thống kê của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng cho thấy rằng các ngân hàng thương mại Ghana được hưởng lợi nhuận cao trong thời gian khi mà rủi ro tín dụng ở mức cao Cũng chính vì trong thời gian này ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ vỡ nợ từ những khách hàng vay tăng lên, tức đối mặt với rủi ro tín dụng tăng cao cho nên các ngân hàng Ghana đã tính toán và đưa ra mức lãi suất cho vay, lệ phí và hoa hồng cao hơn để bù đắp rủi ro mà các ngân hàng phải gánh chịu Và kết quả cuối cùng, nhờ vào chính sách lãi suất cao hơn này mà các ngân hàng tại Ghana đã có nhiều cơ hội hơn để tăng lợi nhuận cho ngân hàng, mặc

dù rủi ro tín dụng cao Nói cách khác, sự hiện diện của rủi ro tín dụng cao hơn cho phép các ngân hàng tính lãi suất cao hơn và giúp cho các ngân hàng tại Ghana hưởng được khoản lợi nhuận cao hơn (Samuel Hymore Boahene và cộng sự, 2012) Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện tại Ghana thông qua mẫu quan sát gồm các ngân hàng nông thôn được lựa chọn ở Ghana Nghiên cứu cũng ủng hộ cho cho kết quả là tồn tại sự tác động cùng chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng Kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng các ngân hàng cho vay trong điều kiện rủi ro tín dụng cao hơn vẫn có thể tìm thấy lợi nhuận, điều này được lý giải là

do có chính sách phù hợp để quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng và một trong những chính sách được đưa ra để đối phó với việc khách hàng có rủi ro tín dụng cao

là áp dụng mức lãi suất cao hơn trên các khoản cho vay này (Afriyie và Akotey, 2013)

Trang 31

Một nghiên cứu khác có liên quan khi đánh giá tác động của các yếu tố rủi ro

cụ thể của ngân hàng, và môi trường ngân hàng nói chung đến hiệu quả hoạt động của 43 ngân hàng thương mại hoạt động ở 6 trong số các nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) trong giai đoạn 1998-2008 Thông qua việc sử dụng phân tích hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM), kết quả cũng ủng hộ trường phái cho rằng tồn tại mối tương quan dương giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Và

để giải thích cho kết quả này thì nghiên cứu cũng kết luận rằng mối tương quan dương này là hoàn toàn có thể theo đúng như thuyết đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, tức là khi ngân hàng chấp nhận rủi ro tín dụng cao thì cũng đồng thời nhận được mức lợi nhuận cao hơn để bù đắp cho phần rủi ro phải gánh chịu và ngược lại (Al-Khouri, 2011)

2.4.3 Một số nghiên cứu không tìm thấy sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

Kết luận về sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng trở nên phức tạp hơn nữa trong một nghiên cứu khác khi tiến hành điều tra các tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận các ngân hàng thương mại Kenya trong giai đoạn từ

2004 - 2008 nhưng kết quả lại cho thấy rằng không tìm thấy tác động rõ ràng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng (Kithinji, 2010)

Hay trong một nghiên cứu khác, cũng được tiến hành tại Kenya, kết quả cũng cho thấy rằng không tìm có sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của ngân hàng ở Kenya Kết quả còn cho thấy lợi nhuận thấp của các ngân hàng đã được tìm thấy ngay cả trong thời kỳ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng cũng rất thấp.Kết quả cho rằng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại không bị ảnh hưởng như là kết quả của số lượng và cho vay không hiệu quả, nhưng các biến khác trong các báo cáo tài chính có thể gây ra lợi nhuận thấp cho các ngân hàng ở Kenya (Angeela, 2010)

Sau khi lược khảo các nghiên cứu có liên quan ở nhiều quốc gia trên thế giới

về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng dường như trùng khớp với

Trang 32

quan điểm có sự tác động ngược chiều của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

ở các nước phát triển Chính vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào xem xét về sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận của các NHTM Việt Nam, tác giả kỳ vọng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng, điều này cũng có nghĩa rằng rủi ro càng tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của các NHTM Việt Nam

Trong điều kiện nền kinh tế luôn vận động, việc nghiên cứu này đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, và đề tài này mang tính thời sự cấp bách góp phần bổ sung cho lý thuyết, hoàn thiện các luận cứ khoa học cũng như đưa ra các bằng chứng từ thực tiễn với số liệu mới nhất Bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 (10 năm gần nhất) tại nền kinh tế của quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thông qua mẫu khảo sát gồm 15 NHTM Việt Nam có tính đại diện cao Nghiên cứu tiến hành ước lượng mô hình hồi quy thông qua kiểm định

mô hình FEM là mô hình phù hợp nhất Ngoài rủi ro tín dụng thì bài nghiên cứu còn đưa vào các yếu tố kiểm soát khác như: cấu trúc tài sản của ngân hàng, thu nhập lãi cận biên, và cấu trúc vốn ngân hàng, quy mô ngân hàng để đánh giá sâu hơn ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Sau khi tìm hiểu về các lý thuyết có liên quan đến rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng cho thấy có rất nhiều quan điểm và những bằng chứng thực nghiệm khác nhau về sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu kể cả lý thuyết lẫn thực nghiệm đều ủng hộ quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng Tác giả lược khảo những nghiên cứu trước đây có liên quan, từ đó làm cơ sở để đưa ra giả thuyết nghiên cứu cụ thể khi nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng

Trang 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO

TÍN DỤNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong bài nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng Đồng thời, sẽ

mô tả cụ thể các biến được sử dụng để đo lường lợi nhuận ngân hàng, rủi ro tín dụng và một số biến kiểm soát khác được sử dụng trong mô hình Tiếp sau đó, sẽ trình bày một cách chi tiết phương pháp nghiên cứu của bài luận

3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu

3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm đã được đề cập trong nghiên cứu của Idowu Abiola và Awoyemi Samuel Olausi (2014)

PROF it = β 0 + β 1 NPL it + β 2 CAR it + ε it Trong đó:

PROF it là biến phụ thuộc, đại diện khả năng sinh lợi của ngân hàng, và được đo lường bởi chỉ số tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Biến độc lập NPL là tỷ lệ nợ xấu cho thấy chất lượng và rủi ro xảy ra đối với các khoản cho vay CAR là tỷ lệ an toàn vốn, phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại

Từ đó, để kiểm định giả thuyết H0 đưa ra, mô hình nghiên cứu sự tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng tác giả đã xây dựng mô hình có dạng như sau:

Mô hình:

PROF it = β 0 + β 1 CR it + β 2 LTA it + β 3 ETA it + β 4 NIM it + β 5 SIZE it + ε it (1)

Trang 35

Trong đó:

PROF it là biến phụ thuộc, đại diện khả năng sinh lợi của ngân hàng, và được

đo lường bởi chỉ số tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này tác giả chọn phân tích theo chi số tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), bỏ qua phân tích đòn bẩy tài chính và không đi sâu phân tích lợi nhuận từ vốn chủ sở hữu hay vốn vay, tập trung phân tích chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản

CR it là biến độc lập, đại diện rủi ro tín dụng của ngân hàng, và được đo lường bởi chỉ số tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (NPLR) và tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ (LLPR)

Do đó, mô hình nghiên cứu cụ thể có thể được viết như sau:

ROA it = β 0 +β 1 NPLR it +β 2 LLPR it +β 3 LTA it +β 4 ETA it +β 5 NIM it + β 6 SIZE it + ε it (2)

Trang 36

Cấu trúc vốn

(ETA)

Tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài

sản (LTA)

Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận

biên

(NIM)

Quy mô ngân hàng

Ghi chú: Dấu kỳ vọng của các biến được giải thích cụ thể trong phần 3.2

3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu

Do sự giới hạn trong dữ liệu công bố của ngân hàng, và đặc biệt là số liệu về

nợ xấu của nhiều ngân hàng bị khuyết ở nhiều năm, đồng thời trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu bảng cân bằng, do đó để đảm bảo sự đồng nhất số liệu

về mặt thời gian, cũng như đảm bảo tính cỡ mẫu ở mức tương đối và dữ liệu bảng cân bằng để phục vụ cho bài nghiên cứu mẫu thu thập trên 15 ngân hàng thương mại Việt Nam có công khai tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh, dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 – 2017 Tổng tài sản của 15 ngân hàng thương mại này là hơn 5,77 triệu tỷ đồng (chiếm tỷ lệ gần 60%), dư nợ đạt 3, 68 triệu tỷ đồng (năm 2017), trong đó có ba ngân hàng thương mại nhà nước có tổng tài sản vượt mốc 1 triệu tỷ từ năm 2016 là BIDV và năm 2017 có thêm VietinBank

và Vietcombank (chiếm tỷ lệ 75% NHTM có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng) có thể được xem là mang tính đại diện cho tổng thể khối NHTM Việt Nam Danh sách

15 ngân hàng thương mại được liệt kê trong bảng (3.2)

Trang 37

Bảng 3.2: Danh sách các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu

1 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam CTG

2 Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam VCB

3 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BID

4 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín STB

5 Ngân Hàng TMCP Quân Đội MBB

6 Ngân Hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội SHB

8 Ngân Hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng VPBank

9 Ngân Hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam Techcombank

10 Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt EIB

11 Ngân Hàng TMCP An Bình ABBank

12 Ngân Hàng TMCP Quốc Dân NCB

13 Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương SGB

14 Ngân Hàng TMCP Phát Triển TPHCM HDBank

15 Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam VIB

Để đảm bảo được dữ liệu nghiên cứu thu thập được có độ tin cậy cao, đề tài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ website của các ngân hàng, các trang thông tin điện tử như vietstock.vn, cophieu68.vn Dữ liệu được xử lý qua phần mềm Excel và sau đó được hồi quy bằng phần mềm Stata 13

Trang 38

3.2 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình

3.2.1 Biến phụ thuộc

Lợi nhuận ngân hàng có thể được đo lường thông qua nhiều chỉ tiêu, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này lợi nhuận của ngân hàng được đo lường thông qua chỉ tiêu ROA

Biến ROA

Về lý thuyết, ROA được định nghĩa là tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản ROA đo lường mức sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng Nó phản ánh khả năng quản lý của một ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ tài sản của các ngân hàng Hay có thể nói, ROA cho thấy tài sản của ngân hàng được quản lý hiệu quả như thế nào để tạo ra lợi nhuận (Dietrich và Wanzenried, 2011)

ROA là chỉ tiêu phổ biến đo lường lợi nhuận ngân hàng được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu (Golin, 2001) và ROA được đo bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trên tổng tài sản

Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng cao cho thấy chất lượng tín dụng giảm, mức

độ rủi rủi ro tín dụng cao, cho thấy xác xuất mà ngân hàng đối mặt với những khoản cho vay không thu hồi được là rất lớn Chính vì vậy tỷ lệ nợ xấu tăng cao làm giảm

Trang 39

lợi nhuận ngân hàng, hay nói cách khác tỷ lệ nợ xấu tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng Có nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã tìm thấy sự tác động ngược chiều của tỷ lệ nợ xấu đến lợi nhuận ngân hàng như: Felix và Claudine (2008), Mileris (2012)

Từ những lập luận trên, tác giả kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa NPLR và lợi nhuận là ngược chiều nhau

Tỷ lệ nợ xấu (NPLR) được đo lường thông qua công thức sau:

3.2.2.2 Biến Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ (LLPR)

Ngoài tỷ lệ nợ xấu, biến tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cũng được các nghiên cứu trước đây sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Kosmidou, 2008; Trujillo-Ponce, 2013) Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng cao cho thấy khả năng xảy ra tổn thất đối với các khoản cho vay là rất lớn, mang đến tín hiệu rủi ro cao hơn đối với các ngân hàng do sự tích tụ của các khoản vay có khả năng không thu hồi được và xác suất các khoản vay trở thành nợ xấu là rất cao, điều

đó có nghĩa lợi nhuận ngân hàng thấp hơn (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Kosmidou, 2008)

Bởi vì chi phí rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng, do đó tỷ

lệ LLPR tác động ngược chiều đến lợi nhuận được mong đợi (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Trujillo-Ponce, 2013)

Biến LLPR được đo lường bởi công thức:

3.2.3 Các biến kiểm soát trong mô hình

3.2.3.1 Biến tỷ lệ dư nợ cho vay/Tổng tài sản (LTA)

Biến LTA được đo lường bằng:

Trang 40

Biến LTA phản ánh cấu trúc tài sản của ngân hàng, và là chỉ số phản ánh hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Hoạt động cho vay là hoạt động tìm ẩn nhiều rủi ro, do đó mức lãi suất cho vay thường cao hơn so với việc việc ngân hàng đầu tư vào những tài sản khác với mức độ an toàn cao hơn Chính vì vậy, thông thường cho vay càng nhiều thì càng đem lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng (Alkassim, 2005; Sehrish Gul và cộng sự, 2011; Syafri, 2012)

Tuy nhiên, nếu mở rộng hoạt động cho vay mà không chú trọng đến kiểm soát chất lượng tín dụng thì có thể dẫn đến nguy cơ gia tăng nợ xấu, từ đó làm lợi nhuận ngân hàng giảm đi Nghiên cứu Alper và Anbar (2011) cũng đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa LTA và lợi nhuận ngân hàng

Với tình hình của Việt Nam trong thời gian qua, khi các ngân hàng đua nhau

ồ ạt cho vay trong khi đó lại thiếu kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng dẫn dến tỷ lệ

nợ xấu của các ngân hàng trong những năm gần đây tăng lên đáng báo động Từ những lập luận trên, tác giả kỳ vọng LTA có tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng

3.2.3.2 Biến cấu trúc vốn (ETA)

Biến ETA được đo lường bằng:

Chỉ số ETA phản ánh khả năng trang trải với với các vấn đề phát sinh từ những tổn thất và rủi ro bất ngờ có thể xảy ra Tỷ số ETA càng cao cho thấy mức độ

an toàn vốn của ngân hàng cao, rủi ro phá sản thấp, do đó các nhà đầu tư yêu cầu phần bù rủi ro thấp hơn từ đó làm giảm chi phí sử dụng vốn Đồng thời với tỷ lệ nắm giữ vốn chủ sở hữu cao cũng tạo điều kiện ngân hàng có khả năng tiếp cận với nguồn vốn giá rẻ hơn, và ngân hàng cũng sẽ chủ động hơn trong việc nắm bắt các

cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng (Bourke, 1989) Có rất nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn (ETA) với lợi nhuận ngân hàng như: Alkassim (2005); Pasiouras và

Ngày đăng: 24/09/2019, 10:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w