HOÀNG THỊ THANH HUYỀN TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI CÁC
QUỐC GIA ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI CÁC
QUỐC GIA ASEAN
Trang 3tế và là kênh dẫn vốn hiệu quả đối với những doanh nghiệp vi mô và các hộ gia đình nghèo Cũng như doanh nghiệp, các tổ chức tài chính vi mô cũng có cấu trúc
sở hữu khác nhau và hoạt động trong môi trường chịu sự điều tiết từ thể chế Do vậy, mục tiêu của bài nghiên cứu này là đầu tiên xem xét liệu cấu trúc sở hữu có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô tại các quốc gia ASEAN; Thứ hai là có hay không sự khác biệt
về hiệu quả hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức hoạt động theo hình thức phi chính phủ (NGOs) so với các tổ chức loại hình sở hữu khác, có xu hướng theo đuổi lợi nhuận như ngân hàng, quỹ tín dụng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khi thực hiện các hoạt động tiếp cận cộng đồng?
Nghiên cứu trên mẫu bao gồm 123 tổ chức tài chính vi mô từ chín quốc gia ở khu vực Đông Nam Á bao gồm Cambodia, Indonesia, Lào, Philippines, Thái Lan, Đông Timor, Malaysia, Myanmar và Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến 2016 Sử dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (Generalized Least Square Model), kết quả cho thấy rằng khả năng tiếp cận cộng đồng của NGOs là tốt nhất trong các loại hình sở hữu Bên cạnh đó, kết quả cũng chỉ ra rằng NGOs đạt được một số hiệu quả nhất định trong hoạt động kinh doanh của mình Cụ thể, NGOs có
tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản cao hơn các tổ chức tài chính vi mô có xu hướng theo đuổi lợi nhuận như ngân hàng, quỹ tín dụng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng nhưng lại có hiệu quả hoạt động thấp hơn các tổ chức này
Từ khóa: Tổ chức tài chính vi mô, NGOs, cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt
động, khả năng tiếp cận cộng đồng
Trang 4Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Người thực hiện đề tài
Hoàng Thị Thanh Huyền
Trang 5phố Hồ Chí Minh đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của gia đình, quý Thầy Cô và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý Thầy Cô giảng dạy lớp Sau đại học đã dùng hết tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn cô Hạ Thị Thiều Dao, người đã giúp tôi rất nhiều trong việc hoàn thành luận văn, sẵn sàng giải đáp những vướng mắc, góp ý để tôi hoàn thành tốt nhất
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn sát cánh giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận một cách suôn sẻ
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để thực hiện đề tài này song khó tránh phải những thiếu sót nhất định Do đó, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy
Cô để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô và kính chúc quý Thầy Cô sức khỏe và thành công!
Hoàng Thị Thanh Huyền
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 6
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5.2 Nguồn dữ liệu 6
1.6 Đóng góp mới của đề tài 7
1.7 Kết cấu đề tài 7
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG 9
2.1 Cơ sở lý thuyết 9
2.1.1 Khái niệm tài chính vi mô 9
2.1.2 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô 11
2.1.3 Khái niệm cấu trúc sở hữu 12
2.1.4 Hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô 14
2.1.4.1 Định nghĩa hiệu quả hoạt động 14
2.1.4.2 Đo lường tính hiệu quả động 15
2.1.5 Khả năng tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô 15
2.1.5.1 Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều rộng 16
2.1.5.2 Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu 16
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 17
CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 22
3.1.1 Mẫu quan sát 22
3.1.2 Mô tả biến 23
Trang 73.1.2.1 Các biến liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 23
3.1.2.2 Các biến liên quan đến khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM 23
3.1.2.3 Các biến liên quan đến cấu trúc sở hữu 24
3.1.2.4 Các biến kiểm soát 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 29
3.2.2 Phương pháp hồi quy – trình tự thực hiện 29
3.2.3 Các kiểm định 30
3.2.3.1 Kiểm định lựa chọn Pooled OLS, FEM 30
3.2.3.2 Kiểm định lựa chọn FEM và REM 30
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 32
4.1 Thống kê mô tả 32
4.2 Kết quả hồi quy 37
4.2.1 Tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các TCTCVM 39
4.2.2 Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM 42
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 48
5.2.1 Đối với nhân tố cấu trúc sở hữu 48
5.2.2 Đối với một số nhân tố nội tại của TCTCVM 49
5.3 Hạn chế của đề tài 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 57
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam
Á FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định
GLS Generalized Least Squares Phương pháp bình phương nhỏ
nhất tổng quát IMF The International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
MIX Microfinance Indicator eXchange Mạng lưới Chỉ số tài chính vi mô
Pooled OLS Pooled Ordinary Least Squares Mô hình hồi quy gộp
REM Random Effects Model Mô hình tác động ngẫu nhiên
Trang 9DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Hình 2.1: Tăng trưởng số lượng người vay 21
Bảng 3.1: Tóm tắt mô tả biến, định nghĩa của các biến 28
Bảng 4.1 Thống kê mô tả 35
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 37
Bảng 4.3: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 38
Bảng 4.4: Tóm tắt kết quả kiểm định Hausman và kiểm định F 39
Bảng 4.5: Tóm tắt kiểm định phương sai thay đổi 40
Bảng 4.6: Kiểm định Wooldridge 40
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy tác động của cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của TCTCVM 41
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy tác động của cấu trúc sở hữu lên khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM 46
Trang 10CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Vào những năm 1970, nhà kinh tế học Mohammad Yunus bắt đầu cung cấp tín dụng cho những người phụ nữ nghèo ở làng Jobra, Bangladesh với khoản vay nhỏ
từ 10 USD cho đến 500 USD (gọi là tín dụng vi mô) để họ có thể khởi động các dự
án đem lại thu nhập giúp đỡ bản thân và gia đình của họ Năm 2006, những thử nghiệm này đã giúp Yunus và ngân hàng tập trung vào tín dụng vi mô Grameen của ông đoạt giải Nobel Hòa bình, kể từ đó, nhiều dạng chương trình tài chính vi mô (TCVM) đã được giới thiệu đến nhiều quốc gia trên thế giới
Ban đầu, phần lớn tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) được sáng lập dưới hình thức tổ chức phi chính phủ bởi những nhà tài trợ khởi đầu với mục tiêu phục
vụ cộng đồng Dần dần theo đà phát triển và tăng dần tiếp cận cộng đồng, họ bắt đầu hướng đến mục tiêu tự chủ tài chính vì các khoản tiền tài trợ, trợ cấp có xu hướng giảm và không bắt kịp với tốc độ tăng trưởng của TCTCVM Kết quả là, hầu hết TCTCVM bắt đầu thu hút nguồn vốn dư thừa của các cá nhân, có thể kể đến như tiền gửi để mở rộng hoạt động Mặc dù hai sứ mệnh của TCTCVM có vẻ đối nghịch nhau nhưng kết quả hoạt động của một vài TCTCVM đã cho thấy nhiệm vụ phục vụ xã hội với mục tiêu lợi nhuận không hề loại trừ nhau Ví dụ, BRI ở Indonesia và ASA ở Bangladesh đã đạt được cả hai mục tiêu trên
Theo báo cáo về sự nghèo đói được thực hiện bởi World Bank, năm 2012 có khoảng 836 triệu người tương đương 12% dân số thế giới đang ở trong tình trạng nghèo cùng cực, sống dưới 1,9 USD/ngày Đến năm 2015, con số này đã giảm còn
736 triệu người Mặc dù có những bước tiến vượt bậc trong việc giảm tỷ lệ người nghèo cùng cực, nhưng tỷ lệ này vẫn còn cao ở các nước thu nhập thấp, bị ảnh hưởng bởi xung đột và biến động chính trị Do đó tình trạng nghèo cùng cực vẫn là một thách thức mang tính cấp bách Nó tiếp tục là ưu tiên trong những mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2030
Nghiên cứu trên B.E Journal of Economics đã sử dụng dữ liệu từ 106 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2013 để kiểm tra tính hiệu quả
Trang 11của mô hình tài chính vi mô như một công cụ giảm nghèo Kết quả cho thấy chỉ cần tăng 10% tổng danh mục cho vay cho mỗi khách hàng có thể cắt giảm 1,26% số lượng người ở tình trạng nghèo cùng cực Theo một báo cáo năm 2015 của tổ chức vận động chính sách Microcredit Summit Campaign, đến năm 2013, khoảng 3.098
tổ chức tài chính vi mô đã phục vụ trên 211 triệu khách hàng trên toàn thế giới Trong đó, số lượng khách hàng thuộc nhóm nghèo cùng cực đã giảm năm thứ 3 liên tiếp, sự tăng trưởng nằm trong nhóm khách hàng có mức sống trên 1,9 USD/ngày (Hình 2.1)
Nguồn: Microcredit Summit Campaign
Hình 2.1: Tăng trưởng số lượng người vay
Cũng theo báo cáo này, 10 TCTCVM lớn nhất tham gia báo cáo đều đặt ở Châu Á, trong đó tại khu vực Đông Nam Á có 3 tổ chức lớn đặt ở Thái Lan, Indonesia và Việt Nam
Như vậy có thể nói, TCVM có độ phủ rộng lớn ở khu vực Châu Á nói chung
và Đông Nam Á nói riêng Khu vực này có tỷ lệ người nghèo còn khá cao, đa số người nghèo hoạt động trong nền kinh tế phi chính thức với năng suất lao động thấp
và ít được tiếp cận với các dịch vụ và kiến thức về tài chính Trong khi đó, TCVM
có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội Mặc dù nguồn vốn vay của TCVM không lớn như các ngân hàng thương mại
0 50 100 150 200 250
Trang 12hay ngân hàng chính sách nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi những khoản vay này đến được với những người nghèo và nghèo cùng cực vào đúng thời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản, ổn định
chi tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói mặc dù việc này cần thời gian
Do đó, có thể nói TCVM như là một giải pháp cho người nghèo và hộ kinh doanh nhỏ bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong bối cảnh hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng về kinh tế gắn với công bằng xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, hạn chế sự phát triển của thị trường tín dụng đen, đặc biệt tại quốc gia đang phát triển trong đó có ASEAN Với ý nghĩa đặc biệt như vậy, việc phát triển TCVM nhận được sự quan tâm của Chính phủ, các tổ chức hoạt động xã hội, các nhà thực hành TCVM…và trở thành một trong những ưu tiên trong các chương trình nghị sự của họ
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, TCVM cũng còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận cộng đồng Cụ thể, theo cuộc khảo sát năm 2017 được thực hiện bởi StoxPlus, gần 47% dân số Việt Nam hiện đang vay tiêu dùng nhưng chỉ 18,5% trong số đó vay từ các tổ chức tài chính chính thức, điều đó có nghĩa là phần lớn người dân đang vay mượn từ các nguồn khác như từ gia đình, bạn bè hay các kênh không chính thức khác bao gồm cả “tín dụng đen” Cũng theo báo cáo nghiên cứu về thị trường tín dụng của doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ năm 2010 của Tổ chức Tài chính Quốc tế (trực thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới) và McKinsey cho thấy, trong số 11,9 triệu người làm kinh doanh nhỏ và phi chính thức tại Việt Nam có 5,7 triệu người hiện đang không tiếp cận được dịch vụ tín dụng chính thức hoặc nhu cầu chưa được đáp ứng đầy đủ thông qua tín dụng chính thức
do đó họ sẽ tìm đến thị trường phi chính thức, thị trường tín dụng đen Gần đây nhất, theo dữ liệu về toàn diện tài chính từ Global Findex 2017 cho thấy một nửa dân số trưởng thành trên thế giới đang đi vay Ở các nước phát triển đa số họ vay thông qua tín dụng chính thức trong khi đó ở các nước đang phát triển đa số lại phụ thuộc vào khoản vay từ gia đình, bạn bè, các khoản vay từ ngân hàng hoặc từ các tổ chức tài chính chính thức chỉ chiếm dưới 10% Chính vì vậy, vấn đề phát triển trên
Trang 13góc độ tài chính đồng thời phải hoàn thành tốt mục tiêu tiếp cận cộng đồng của TCTCVM là một bài toán khó cần các nhà thực hành tài chính vi mô, các nhà quản
lý, nhà tài trợ phải giải quyết để đem TCVM đến với cộng đồng
Vấn đề đặt ra là cần phải xác định được các yếu tố nào có thể tác động đến khả năng chịu đựng, sức chống chọi của các TCTCVM cả về mặt tài chính lẫn xã hội?
Xu hướng nghiên cứu gần đây cho thấy rằng hầu hết các bài nghiên cứu đều tập trung vào khai thác các yếu tố độc lập như cấu trúc sở hữu (Mersland và Strom, 2009), các quy định điều tiết bởi chính phủ (Hartarska và Nadolnyak, 2007), chất lượng quản lý, định hướng mục tiêu (CSFI, 2008, 2009, 2011, 2012) đến hiệu quả hoạt động của các TCTCVM Riêng tại khu vực Đông Nam Á, cấu trúc quản trị và chất lượng quản lý vẫn còn tồn tại nhiều mặt yếu kém (CSFI, 2008, 2009, 2011, 2012) Mặc dù có một số bài nghiên cứu thực nghiệm kiểm định sự khác biệt trong thành quả tài chính, tính hiệu quả, và mức độ tiếp cận cộng đồng giữa TCTCVM mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận hoặc giữa những TCTCVM chịu sự điều tiết và không chịu sự điều tiết lấy mẫu trên toàn thế giới hoặc ở một số khu vực nhưng ở khu vực Đông Nam Á thì số lượng các bài nghiên cứu vẫn còn rất ít Các nghiên cứu của các tổ chức như World Bank, CGAP hay IFAD cũng tiến hành phân tích tác động của cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu dựa vào phân tích thống kê, do
đó chưa thể giải thích sự khác biệt tạo ra do mức độ phát triển là khác nhau giữa các nước, các đặc trưng của mỗi TCTCVM
Xuất phát từ ý tưởng đó, bài nghiên cứu này đã tiến hành kiểm tra xem cấu trúc sở hữu của TCTCVM tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM tại các quốc gia ASEAN Cụ thể, bài nghiên cứu kiểm tra những TCTCVM có định hướng ưu tiên về lợi nhuận như ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng và quỹ tín dụng có hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng tốt hơn Tổ chức phi chính phủ (NGOs) hay không? Nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin về vai trò của cấu trúc sở hữu
Trang 14của TCTCVM trong mục tiêu tiếp cận cộng đồng đồng thời đạt được hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết hai câu hỏi quan trọng dưới đây:
- Liệu cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM tại các quốc gia ASEAN?
- Có hay không sự khác biệt về hiệu quả hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức hoạt động theo hình thức phi chính phủ (NGOs) so với các tổ chức loại hình khác (như ngân hàng, quỹ tín dụng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) khi thực hiện các hoạt động tiếp cận cộng đồng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM
Cụ thể hơn, cấu trúc sở hữu được xác định dựa trên tình trạng pháp lý của các TCTCVM, bao gồm bốn loại hình: Tổ chức phi chính phủ, Ngân hàng, Quỹ tín dụng và Tổ chức tài chính phi ngân hàng Thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh gồm hai nhóm chính Đầu tiên chỉ tiêu sinh lời: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Trang 15(ROA), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản điều chỉnh (ADJROA) Thứ hai, chỉ tiêu hiệu quả hoạt động: được đo bằng tổng chi phí trên tổng dư nợ Khả năng tiếp cận cộng đồng được biểu thị thông qua chiều rộng và chiều sâu; chiều rộng gồm các chỉ số: số lượng người vay và số lượng khách hàng; trong khi đó, để đo chiều sâu bài nghiên cứu sử dụng hai chỉ số là quy mô khoản vay, số lượng khách hàng là phụ nữ
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 123 TCTCVM tại chín quốc gia ASEAN là Cambodia, Indonesia, Lào, Philippines, Thái Lan, Đông Timor, Malaysia, Myanmar
và Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM tại các quốc gia ASEAN, bài nghiên cứu dựa trên mô hình của Barry & Tacneng (2014) đã xây dựng khi nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu và chất lượng thể chế lên hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM tại khu vực Châu Phi Hạ Sahara Với dữ liệu bảng thu thập được từ các TCTCVM tại chín quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2008-2016 và kiểm soát các biến theo cấp độ cá thể, bài nghiên cứu sẽ thực hiện lần lượt phương pháp hồi quy OLS gộp (Pooled OLS), hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), hồi quy tác động cố định (FEM) dựa trên kết quả các kiểm định sự vi phạm các giả thuyết OLS và kiểm định Hausman về sự phù hợp của hai mô hình FEM và REM Do phát hiện phương sai sai số thay đổi, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được lựa chọn để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi nhằm đưa ra kết quả cuối cùng để phân tích
Trang 16đều được mô tả, kiểm chứng, có chú thích nguồn trích dẫn một cách đầy đủ và rõ ràng
1.6 Đóng góp mới của đề tài
Như đã đề cập ở phần trên, TCVM ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đặc biệt ở các nước đang phát triển Xu hướng nghiên cứu về TCVM cũng phổ biến hơn trong những năm gần đây, tuy nhiên tại khu vực Đông Nam Á cũng như Việt Nam, các nghiên cứu tập trung nhiều về phân tích thống kê, định tính Do vậy có thể nói nghiên cứu này có những đóng góp cụ thể sau: thứ nhất, phân tích định lượng yếu tố cấu trúc sở hữu tác động lên hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM; Thứ hai, đây là một nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu các TCTCVM ở một số nước Đông Nam Á, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ nét hơn bức tranh về tình hình hoạt động TCVM ở khu vực này
1.7 Kết cấu đề tài
Bài nghiên cứu phân tích định lượng tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng từ mẫu 123 TCTCVM từ chín quốc gia ASEAN trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016 Bài nghiên cứu gồm 5 chương và được trình bày theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Phần mở đầu
Nội dung chương này trình bày một cách tổng quát nhất về đề tài bao gồm: lý
do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM
Nội dung chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ sở về TCVM, TCTCVM, cấu trúc sở hữu và quan điểm liên quan đến hiệu quả hoạt động cũng như khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM Ngoài ra, chương này sẽ trình bày các kết quả
Trang 17thực nghiệm của các bài nghiên cứu trước đây về tác động của cấu trúc sở đến hiệu
quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Ở chương này, bài nghiên cứu đưa vào dữ liệu nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như mô hình nghiên cứu để từ đó ứng dụng nghiên cứu thực nghiệm vào các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 2008 –
2016
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và bàn luận về kết quả đạt được
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trong chương này sẽ tóm tắt lại các kết quả chính của bài nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị và trình bày các hạn chế của nghiên cứu cũng như đưa ra hướng
nghiên cứu tiếp theo
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái niệm tài chính vi mô
Khái niệm tài chính vi mô (TCVM) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976, khi ông Muhammad Yunus thành lập nên Ngân hàng Grameen, như là một thử nghiệm
ở vùng ngoại ô của Bangladesh Kể từ khi đó, một vài TCTCVM đã ra đời và đạt được thành công khi tiếp cận với những người nghèo nhất trong xã hội Tuy nhiên, phải đến khi Ủy ban Nobel trao cho Ngân hàng Grameen Bank và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006 “Vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội”, TCVM mới thực sự thu hút được
sự chú ý của thế giới và niềm tin vào khả năng chống lại đói nghèo Kể từ đó, trong quá trình phát triển, người ta nhận thấy rằng có rất nhiều quan niệm khác nhau về TCVM
Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP), thì “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm ” Theo J.Ledgerwood, “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp ”
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng đưa ra quan điểm của họ như sau
“TCVM là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ”
Tại Việt Nam, Nhóm công tác tài chính vi mô (VMFWG) (2011) định nghĩa rằng TCVM là việc cấp cho các hộ gia đình rất nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc
Trang 19khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ khả năng dễ bị tổn thương của những người sống dưới ngưỡng nghèo trước những cú sốc như ốm đau, thiên tai, mất cắp và các
sự cố khác Nguồn tài chính hạn hẹp của các hộ gia đình chính là nguyên nhân gây
ra sự tổn thương trước các cú sốc này và do thiếu các dịch vụ tài chính hữu hiệu, các gia đình bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực hơn và phải mất nhiều năm để khắc phục Do đó, có thể thấy rằng người nghèo cũng như tất cả mọi người, cần có nhiều loại công cụ tài chính để tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng và tự bảo vệ mình trước rủi ro Chính vì thế, theo nghĩa rộng TCVM là việc tìm ra phương cách hiệu quả đáng tin cậy để cung cấp ngày càng nhiều hơn các sản phẩm TCVM như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm… cho người nghèo
Tổng hợp những nội dung trên có thể thấy TCVM dù mang những diễn đạt và
ý nghĩa khác nhau ở mỗi bối cảnh phát triển cũng như ở mỗi quốc gia, khu vực nhưng tựu chung lại TCVM vẫn có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính đặc biệt là cho vay và các dịch vụ khác; Thứ hai, đối tượng của TCVM là những người có thu nhập thấp trong xã hội, khó tiếp cận được các định chế tài chính chính thức, đặc biệt là phụ nữ Thứ ba, vai trò quan trọng của TCVM về mặt kinh tế và xã hội Đó là, dù hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay mục tiêu xã hội hay cân bằng giữa hai yếu tố, điều này phụ thuộc vào đặc trưng kinh tế
xã hội và pháp lý của mỗi quốc gia, thì TCVM vẫn có thể giúp người nghèo tăng thu nhập, tạo lập hoạt động kinh doanh bền vững và giảm khả năng dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài TCVM là công cụ mạnh mẽ giúp người nghèo, đặc biệt phụ nữ, tăng cường quyền lực kinh tế và trở thành các chủ thể kinh tế
Trang 202.1.2 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô
TCTCVM là những tổ chức có hoạt động kinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ TCVM (ADB, 2000)
Theo Ledgerwood (2013), TCTCVM là những tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính cho phụ nữ và nam giới nghèo, bao gồm các tổ chức phi Chính phủ, các hợp tác xã tài chính, ngân hàng TCVM chính thức…Những tổ chức này khác nhau
về cơ cấu tổ chức, các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp, hình thức pháp lý…nhưng tất cả đều hướng đến cung cấp các dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng là phụ nữ và nam giới nghèo
Một TCTCVM có thể hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, ví dụ như các
tổ chức phi chính phủ, hợp tác xã tín dụng; hoặc cũng có thể được đầu tư bởi các ngân hàng hoạt động vì lợi nhuận như các ngân hàng thương mại Có thể tổ chức này phục vụ cho vài ngàn khách hàng ngay tại những khu vực cận kề, trong khi đó, nhiều tổ chức khác lại cung cấp dịch vụ cho hàng trăm ngàn thành viên, thậm chí là hàng triệu khách hàng thuộc những nơi xa xôi, thông qua những chi nhánh của tổ chức đó Có rất nhiều tổ chức tài chính vi mô còn cung cấp các dịch vụ khác ngoài cho vay và tiết kiệm, bao gồm có đào tạo về kinh doanh, về các vấn đề tài chính hay những dịch vụ xã hội liên quan tới sức khỏe và trẻ em Như vậy, TCTCVM có thể
là bất kỳ tổ chức với hình thức pháp lý nào Tùy theo thực tiễn hoạt động của mỗi quốc gia, TCTCVM có thể được nhìn nhận khác nhau
Ở các nước, TCTCVM được phân loại thành ba nhóm: (i) TCTCVM chính thức là các tổ chức được chính quyền sở tại công nhận là trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, ngân hàng nông thôn, quỹ tín dụng ; (ii) TCTCVM bán chính thức là các tổ chức được chính quyền sở tại công nhận là các pháp nhân hoạt động như một trung gian tài chính; (iii) TCTCVM phi chính thức là các hội, nhóm hoạt động tự nguyện và tự chịu trách nhiệm giữa các thành viên, ít chịu sự chi phối
về mặt luật pháp của chính quyền sở tại một cách rõ ràng (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2011)
Trang 21Có ba quan điểm khác nhau về TCTCVM: Quan điểm thứ nhất cho rằng, TCTCVM bao gồm tất cả các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM, kể cả ngân hàng, tổ chức tín dụng là Hợp tác xã (OPDND), tổ chức tài chính quy mô nhỏ bán chính thức và chính thức; Quan điểm thứ hai chỉ tập trung vào các tổ chức tài chính quy
mô nhỏ, kể cả chính thức và bán chính thức; Quan điểm thứ ba cho rằng TCTCVM
“là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (theo Luật TCTCD, 2010, điều 4 khoản 5) Trong nghiên cứu này, quan điểm thứ hai được sử dụng để phân tích, vì quan điểm này phù hợp với thông lệ quốc tế
2.1.3 Khái niệm cấu trúc sở hữu
Trong các tài liệu quản trị doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu được xem là một yếu
tố quan trọng quyết định cách thức hoạt động của tổ chức, đặc biệt là TCTCVM (Campion (1998), Mersland & StrØm (2007)) Các TCTCVM với các cấu trúc sở hữu khác nhau được kỳ vọng sẽ có kết quả hoạt động khác nhau bởi chúng khác nhau về hình thức pháp lý, cấu trúc vốn, các quy định, mục tiêu hoạt động và kết quả là cách thức điều hành quản trị cũng khác nhau
Khái niệm cấu trúc sở hữu thường được tiếp cận theo hai khía cạnh, đó là sự tập trung quyền sở hữu và thành phần quyền sở hữu Sự tập trung của quyền sở hữu biểu thị sự phân chia quyền lực giữa chủ sở hữu và người quản lý Thành phần quyền sở hữu cho biết ai là cổ đông, ai là người điều hành hoạt động của tổ chức đó, các đặc điểm của người điều hành sẽ được quyết định bởi đặc điểm của chủ sở hữu của tổ chức Trong trường hợp của TCTCVM, thành phần quyền sở hữu thể hiện thông qua hình thức sở hữu hay hình thức pháp lý của TCTCVM, bao gồm tổ chức phi chính phủ, ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng hoặc quỹ tín dụng (Mersland, 2007; Barth và cộng sự, 2012) Sở dĩ hình thức pháp lý của TCTCVM
có thể là một yếu tố đại diện cho cấu trúc sở hữu vì dựa vào đó có thể biết được đặc điểm của chủ sở hữu và của người điều hành tổ chức
Bài nghiên cứu tập trung vào hai nhóm cấu trúc sở hữu: nhóm các tổ chức phi chính phủ (NGOs) với đặc trưng không có chủ sở hữu và thường hướng đến mục
Trang 22tiêu phi lợi nhuận; nhóm thứ hai bao gồm ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng và quỹ tín dụng với điểm chung có ít nhất một chủ sở hữu và thường hướng đến mục tiêu lợi nhuận, nhóm này gọi chung là Non-NGOs
Tổ chức phi chính phủ (NGOs) là loại hình lâu đời nhất và chiếm phần đại đa
số trong các hình thức sở hữu TCTCVM hiện nay Hầu hết NGOs bị giới hạn các dịch vụ cung cấp vì nó không thể huy động tiền gửi Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi mà chưa có một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động của TCTCVM thì
nó vẫn có thể huy động tiền gửi Bởi vì bản thân NGOs không có sự tham gia của nguồn vốn chủ sở hữu nên nó thường dựa vào nguồn vốn từ bên ngoài, chẳng hạn như vốn vay từ ngân hàng, nhưng phần lớn vẫn dựa vào các khoản trợ cấp và tài trợ
So với vốn chủ sở hữu, các nguồn trợ cấp thường ít khi đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của người nghèo (Hansmann, 1996)
Quỹ tín dụng thường được định nghĩa như là một tổ chức thuộc sở hữu của chính các thành viên của nó đồng thời các thành viên cũng chính là người hưởng lợi
từ các hoạt động tiết kiệm hoặc tín dụng do quỹ tín dụng cung cấp Thành viên tham gia quỹ tín dụng quản lý mọi tài sản và hoạt động của quỹ theo tỷ lệ vốn góp Mỗi thành viên đều có quyền bình đẳng như nhau, bất kể họ đầu tư bao nhiêu vào quỹ trên nguyên tắc, một người một phiếu biểu quyết Thế mạnh của quỹ tín dụng là bám sát khách hàng, cung cấp các dịch vụ của quỹ một cách nhanh chóng và có hiệu quả Tuy nhiên, phạm vi hoạt động của quỹ tín dụng tương đối hẹp, nó bị hạn chế trong việc tiếp nhận đầu tư
Không giống như NGOs và quỹ tín dụng, các ngân hàng có cấu trúc vốn linh hoạt, phụ thuộc vào sự góp vốn của các cổ đông Ngân hàng là một tổ chức theo định hướng thương mại hơn và nó được tài trợ bởi cả những nhà đầu tư với mục đích xã hội lẫn lợi nhuận Barry & Tacneng (2014) Hoạt động của ngân hàng được giám sát bởi ngân hàng trung ương
Tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng là một tổ chức hoạt động theo định hướng lợi nhuận nhưng có cấu trúc tài chính tương đối khác so với ngân hàng vì phụ thuộc nhiều vào vốn vay, tài trợ và bị hạn chế trong việc nhận tiền gửi tiết
Trang 23kiệm Giống như ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng có cổ đông sở hữu, những tổ chức này được quyền phân phối lợi nhuận trở lại cho các nhà đầu tư, điều này là không thể đối với NGOs (Mersland, 2009)
2.1.4 Hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô
2.1.4.1 Định nghĩa hiệu quả hoạt động
Kipesha (2013) định nghĩa hiệu quả hoạt động là sử dụng tốt hơn các nguồn lực để tối đa hóa việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của công ty Nó liên quan đến mối quan hệ giữa các nguồn lực đầu vào như chi phí nhân công, vốn, thiết bị và sản lượng đầu ra (Farrell, 1957) Hiệu quả hoạt động cho biết tổ chức sử dụng tài nguyên của họ tốt như thế nào để sản xuất hàng hóa và dịch vụ và tỷ lệ tài nguyên đầu vào được sử dụng để sản xuất hoặc phân phối kết quả đầu ra Một tổ chức hoạt động có hiệu quả khi họ có khả năng cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng với chi phí hợp lý nhất trong khi vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ cao Chi phí nội bộ giảm là kết quả của hiệu quả hoạt động được cải thiện Điều này
có thể giúp một tổ chức tăng cường vị thế thị trường và giúp mở rộng các dịch vụ của mình tới các nhóm mục tiêu và các vùng mục tiêu mà không cần có lợi nhuận
để tăng khả năng tiếp cận cộng đồng và/hoặc đạt được mức lợi nhuận cao hơn hoặc giá thấp hơn
Trong trường hợp của các TCTCVM, hiệu quả hoạt động đề cập đến cách thức các TCTCVM phân bổ các nguồn lực đầu vào như tài sản, trợ cấp và nhân sự để sản xuất sản phẩm đầu ra mà được đo lường ở đây chính là danh mục cho vay và khả năng tiếp cận người nghèo (Bassem, 2008) Nói cách khác, hiệu quả của các TCTCVM đề cập đến việc các tổ chức này sử dụng các yếu tố đầu vào của họ tốt đến mức nào để tạo ra kết quả tối ưu Đo lường hiệu quả trong các TCTCVM cũng rất quan trọng vì nó cung cấp thông tin về hiệu suất của tổ chức đặc biệt là về việc
sử dụng tài nguyên và giảm thiểu sự lãng phí Nó giúp các tổ chức đặt ra mục tiêu của họ cho các hoạt động giám sát thông qua đó quản lý, đo lường, giám sát tốt hơn
Từ đó cải thiện kết quả dẫn đến tăng hiệu suất và lợi nhuận của tổ chức
Trang 242.1.4.2 Đo lường tính hiệu quả động
Tính hiệu quả trong ngành tài chính vi mô thường được đo lường bởi các chỉ
số sau:
- Tổng chi phí hoạt động / Tổng dư nợ cho vay
- Tổng chi phí/ Tổng thu nhập
- Số khách hàng vay trên mỗi cán bộ tín dụng
- Số khách hàng vay trên mỗi chi nhánh
- Chi phí trên mỗi khoản vay
Trong bài nghiên cứu này, để đo lường hiệu quả hoạt động, tỷ số Tổng chi phí hoạt động/tổng dư nợ cho vay được sử dụng
Ngoài chỉ tiêu Hiệu quả hoạt động, bài nghiên cứu cũng sử dụng các chỉ tiêu Lợi nhuận gồm tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có điều chỉnh (ADJROA) để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của TCTCVM
2.1.5 Khả năng tiếp cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô
Các TCTCVM thường có quy mô nhỏ hơn các tổ chức tài chính khác, thị trường của các tổ chức TCVM nói chung bao gồm những người nghèo và mục đích của các TCTCVM không chỉ là tạo ra lợi nhuận mà còn là cung cấp các dịch vụ cho người nghèo Trên cơ sở những đặc điểm này của TCTCVM, việc đánh giá kết quả hoạt động không thể tiến hành chỉ bằng cách đo lường khả năng sinh lời Việc
đo lường kết quả hoạt động phải được kết hợp với phạm vi tiếp cận, tức là mức độ/ khả năng mà các TCTCVM tiếp cận với người nghèo (Cull và cộng sự, 2007 và Thrikawala, Locke và Reddy, 2013)
Khả năng tiếp cận cộng đồng được định nghĩa là mức độ mà các TCTCVM cung cấp các khoản vay và dịch vụ khác đến người nghèo cũng như khả năng tiếp cận đến điểm thấp nhất của sự nghèo đói và được chia thành hai loại bao gồm khả năng tiếp cận theo chiều rộng và khả năng tiếp cận theo chiều sâu (Schreiner, 2002)
Trang 252.1.5.1 Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều rộng
Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều rộng bao gồm nhiều chỉ tiêu như số lượng chi nhánh/phòng giao dịch, số lượng khách hàng, dư nợ tiết kiệm, dư nợ cho vay, của các TCTCVM Theo Navajas và cộng sự (2000), khả năng tiếp cận theo chiều rộng thể hiện bởi số lượng người vay hiện hữu trong một thời gian nhất định
Ở các nước đang phát triển, chương trình tài chính toàn diện cho người nghèo có thể được mở rộng bằng cách tăng phạm vi tiếp cận cộng đồng Hơn nữa, phát triển theo chiều rộng có thể cải thiện vị thế tài chính của các TCTCVM nhờ vào tính kinh tế quy mô (Gonzalez-Vega, 1998)
2.1.5.2 Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu
Khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu đo lường mức độ mà các dịch vụ tài chính của các TCTCVM đến với những khách hàng nghèo nhất Hay nói cách khác nó xác định mức độ mà các TCTCVM phục vụ cho những hộ gia đình nghèo nhất Schreiner (2002) nói rằng chiều sâu của khả năng tiếp cận là giá trị xã hội gắn liền với lợi ích ròng của một người đi vay Theo Quayes (2012), việc tiếp cận các khách hàng nghèo nhất đòi hỏi chiều sâu tiếp cận lớn hơn
Chiều sâu của khả năng tiếp cận cộng đồng xác định chất lượng của tín dụng
vi mô, việc tìm kiếm một chỉ số đo lường hợp lý cho nó luôn luôn khó khăn vì khó
có thể đo lường mức nghèo do không thể truy cập thông tin về khách hàng cá nhân (Quay, 2012; Rhyne, 1998) Do đó, quy mô của khoản vay trung bình được sử dụng như một đại diện hợp lý cho chiều sâu của khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM (Morduch, 2000; Rhyne, 1998)
Ngoài ra, khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu của một TCTCVM còn dựa trên một trong những điểm khác biệt của TCVM so với các tổ chức tín dụng khác là ở khách hàng Khách hàng vay vốn của các TCTCVM đa phần là phụ nữ với tỷ lệ phụ nữ vay vốn so với số khách hàng vay rất cao Do đó khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu còn thể hiện ở khả năng cung ứng dịch vụ TCVM đến bao nhiêu phụ nữ đặc biệt là những phụ nữ thuộc nhóm người nghèo nhất
Trang 262.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại đưa ra những kết quả khác nhau, một số nghiên cứu có kết quả chưa rõ ràng do đó còn để lại rất nhiều khoảng trống cho những nghiên cứu xa hơn
Mang’unyi (2011) cho rằng loại hình sở hữu sẽ tác động lên cấu trúc quản trị của một công ty từ đó tác động lên hiệu quả hoạt động Mersland và Strom (2007) cũng khẳng định rằng cấu trúc sở hữu là một yếu tố quan trọng nhất của quản trị công ty và xác định mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hoạt động công ty
Cấu trúc sở hữu khác nhau của các TCTCVM được kỳ vọng sẽ có cách thức hoạt động khác nhau bởi vì chúng khác biệt về tư cách pháp lý, cấu trúc vốn, mức
độ điều tiết, mục tiêu hoạt động và do đó là cách thức quản lý cũng khác nhau Những nhà đầu tư khác nhau sẽ có mục tiêu khác nhau Ví dụ, nhà tài trợ, tổ chức phi lợi nhuận sẽ chú trọng đến mục tiêu xã hội hơn, trong khi đó những nhà đầu tư
cá nhân và nhân viên thì có thể mong muốn tạo ra nhiều lợi nhuận hơn
Các hình thức sở hữu TCTCVM có bản chất rất khác nhau Không giống như các hình thức sở hữu khác, NGOs không có chủ sở hữu và thường dựa vào sự đóng góp và tài trợ hoặc vay từ các định chế tài chính (CERISE & IRAM, 2006) Việc thực hiện các nhiệm vụ xã hội của NGOs phần lớn thường dựa vào cam kết của người quản lý vì nó không có chủ sở hữu và hội đồng quản trị, do đó hoạt động giám sát và quản lý có thể chưa hiệu quả Thêm vào đó, những nhà bảo trợ và tổ chức tiếp nhận NGOs thường có một khoảng cách địa lý với nơi đặt trụ sở hoạt động của NGOs nên viêc giám sát hoạt động của TCTCVM từ những nhà bảo trợ bị hạn chế Bởi vì điều này mà các nhà bảo trợ có thể chấm dứt hoạt động tài trợ xuất phát từ việc quản lý quá lỏng lẻo (Bhutt & Tang, 2001) Do đó, cấu trúc quản trị của NGOs thường rất yếu (Jansson, Rosales, & Westley, 2004), điều này có thể dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của nó có thể không cao hơn các hình thức sở hữu TCTCVM khác Theo đó, Ledgerwood và White (2006) cho rằng, ngoài giải pháp
Trang 27đưa ra thêm nhiều sản phẩm và dịch vụ thì việc chuyển đổi hình thức pháp lý của NGOs cũng có thể làm tăng hiệu quả hoạt động của TCTCVM, nói chung hình thức
sở hữu TCTCVM có thể cải thiện việc quản trị, điều hành một tổ chức
Tuy nhiên, mặc dù có khoảng cách rất lớn giữa nhà tài trợ và người ra quyết định nhưng NGOs có thể nhận được những lợi ích đền bù từ việc giảm thiểu sự lựa chọn bất lợi của khách hàng và tránh được rủi ro đạo đức (Desrochers & Fisher, 2002; Hansmann, 1996a; Mersland, 2009) Điều này là do NGOs có thể dễ dàng thâm nhập và tham gia vào mạng lưới thông tin ở địa phương nhờ vào các mối quan
hệ và hiểu biết khu vực đó Hansmann (1996b), Glaeser và Shleifer (2001) cho rằng, do NGOs không có chính sách khuyến khích các nhà quản lý tạo ra nhiều lợi nhuận nên họ có thể hướng đến các lợi ích không bằng tiền như tạo ra danh tiếng cho tổ chức để thúc đẩy sự sống còn, thịnh vượng và tăng trưởng của tổ chức, thậm chí là tạo ra danh tiếng cho chính bản thân họ
Hơn thế nữa, cạnh tranh trong việc tìm nguồn tài trợ và khách hàng cũng như
sự tồn tại của TCTCVM theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cũng có thể ảnh hưởng lên hành vi của NGOs Họ có thể thay đổi chiến lược và quan điểm của họ để cạnh tranh với các tổ chức khác nếu điều này giúp họ tìm kiếm thêm nhiều nhà tài trợ (Rose-Ackerman, 1986) Điều này phát tín hiệu cho các nhà tài trợ rằng tổ chức không chỉ phục vụ người nghèo mà còn có thể kiếm lợi nhuận, cũng đồng nghĩa với việc họ có thể nâng cao phúc lợi cho người nghèo trong một khoảng thời gian dài hơn Barr, Fafchamps và Owens (2005) đã tiến hành một cuộc khảo sát các NGOs ở Ugandan, kết quả cho thấy tổ chức nhận trợ cấp - NGOs phải chịu sự kiểm tra và giám sát gắt gao của những nhà tài trợ, trung bình năm lần mỗi năm
Các TCTCVM theo hình thức có cổ đông sở hữu cũng có thể phát sinh các vấn
đề đại diện - vấn đề về sự tách biệt của quyền sở hữu và quyền kiểm soát (Fama & Jensen, 1983) Không giống như NGOs, các thành viên của ban quản lý ở ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng thường đồng thời chủ sở hữu vốn đầu
tư hoặc là người đại diện cho phần vốn góp này do đó họ sẽ có động lực để giám sát việc quản lý (Labie, 2001) Cổ đông sở hữu TCTCVM hướng đến cả hai mục tiêu:
Trang 28xã hội và tài chính, bản chất của nguồn vốn và hình thức sở hữu là các yếu tố để xem xét trong việc quyết định cách thức quản lý TCTCVM (Rock, Otero, & Saltzman, 1998) Những nhà đầu tư chỉ đơn thuần tài trợ vốn cho các TCTCVM tư nhân thì chỉ quan tâm đến việc tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá sự giàu có, trong khi đó, những nhà cấp vốn cho xã hội như NGOs, nhà hảo tâm cá nhân và đặc biệt là các quỹ góp vốn lại có những mối quan tâm khác (Labie, 2001) Ví dụ, những nhà đầu
tư với mục tiêu xã hội sẽ đầu tư vào các quỹ cổ phần như MIVs, nơi mà vừa có động lực phục vụ xã hội, hướng đến lợi ích của khách hàng, lại vừa cam kết hoạt động tài chính tạo ra lợi nhuận Ngoài ra, MIVs có một cách thức quản trị năng động và hỗ trợ quản lý bao gồm cả cung cấp CEO biệt phái sang (McKee, 2012) Sự pha trộn trong sở hữu rất quan trọng và có thể có tác động lớn lên quyết định đầu tư của MIVs cũng như là thành quả của TCTCVM được tài trợ Theo kết quả khảo sát được tiến hành bởi MicroRate trên các nhà quản lý quỹ của các MIVs thì những nhà đầu tư cá nhân có vẻ coi trọng lợi ích xã hội hơn những nhà đầu tư tổ chức
Trong số các TCTCVM có cổ đông sở hữu thì tại các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng hay các tổ chức tài chính phi ngân hàng, trách nhiệm của ban quản lý thường được đề cao hơn Bởi vì họ phải tuân theo những luật lệ, quy định, ràng buộc để duy trì khả năng thanh toán, tuân theo cơ cấu để tạo ra lợi nhuận đầu
tư, điều này chính lại là thách thức lớn đối với mục tiêu xã hội (CMEF, 2005) Bởi
vì các ngân hàng phải tuân theo quy định hiện hành, chịu sự giám sát và sự điều tiết (Rock & Otero, 1997) nên họ thường giải quyết các vấn đề bất cân xứng thông tin khi cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và hộ gia đình bằng cách xem xét tài sản đảm bảo và sử dụng điểm tín dụng trong việc mở rộng quy mô các khoản vay cá nhân và liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản vay nhóm Tuy nhiên, điều này đặt ra vấn đề là để các hộ nghèo đáp ứng đủ điểu kiện cho các khoản vay cá nhân họ phải có đủ tài sản “đủ điều kiện” làm tài sản thế chấp (Ghosh, Mookherjee, & Ray, 2000) Điều này khá phổ biến ở các nước đang phát triển Do đó, mặc dù lãi suất cho vay ở các ngân hàng thường thấp hơn nhưng những người nghèo thường tìm đến NGOs và các quỹ tín dụng Đây như là một thách thức mà các TCTCVM có cổ
Trang 29đông sở hữu hướng đến các cam kết thực hiện mục tiêu xã hội của ngành TCVM Mặc dù theo quan điểm liên quan đến chi phí đại diện thì TCTCVM theo đuổi mục tiêu lợi nhuận sẽ có thành quả tài chính tốt hơn NGOs vì cấu trúc quản lý của các TCTCVM theo đuổi mục tiêu lợi nhuận ít chịu sự chi phối của nhà quản lý, tuy nhiên bằng chứng thực nghiệm gần đây lại cho thấy NGOs thậm chí kiếm được lợi nhuận cao hơn cả các TCTCVM theo đuổi mục tiêu lợi nhuận Mersland và Strom (2008, 2009) chứng minh rằng TCTCVM do các cổ đông sở hữu và các tổ chức phi lợi nhuận có thành quả tài chính và xã hội không khác biệt nhau Cull và cộng sự (2009) lập luận rằng, để bù đắp chi phí tương đối cao liên quan đến các khoản vay nhỏ, NGOs thường phải áp lãi suất cao hoặc chấp nhận nhận trợ cấp Và họ thấy rằng tổ chức với mục tiêu phi lợi nhuận thường nhắm tới phục vụ hộ gia đình nghèo hơn là các tổ chức theo đuổi mục tiêu lợi nhuận và đã bù đắp đủ các chi phí cho hoạt động của họ Hơn nữa, trái với quan điểm phổ biến là những tổ chức theo đuổi mục đích lợi nhuận đưa ra mức lãi suất thấp và kiếm lợi nhuận cao hơn, Roberts (2013) cho thấy rằng một số TCTCVM với mục tiêu lợi nhuận áp mức lãi cao hơn nhưng không làm lợi nhuận tăng lên Điều này là bởi vì họ phải chịu chi phí hoạt động cao, chủ yếu là tiền lương nhân viên Trong khi đó, Gutie´rrez-Nieto và cộng
sự (2007) cho rằng NGOs lại dựa vào đội ngũ nhân viên có tay nghề và chuyên môn cao để tạo ra danh mục cho vay có lợi nhuận, NGOs cố gắng hoạt động với chi phí càng rẻ càng tốt và có thể cung cấp nhiều khoản vay hơn nữa
Pe´rilleux và cộng sự (2012) cho thấy rằng, giống như các quỹ tín dụng và các TCTCVM do cổ đông sở hữu, NGOs vẫn tạo ra thặng dư Nhưng không giống như các quỹ tín dụng, NGOs và các TCTCVM do cổ đông sở hữu muốn giữ phần lớn lợi nhuận để đầu tư lại vào hoạt động kinh doanh, với NGOs thì đây là khoản để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xã hội của mình Ngoài ra, Hudon và Traca (2011) cũng đã đưa ra bằng chứng cho thấy vai trò tích cực của sự trợ cấp lên hiệu quả hoạt động của TCTCVM nhưng chỉ đạt đến một ngưỡng nhất định
Quỹ tín dụng phải đối mặt với những thách thức xuất phát từ rủi ro liên quan đến bản chất của nó, đó là chủ sở hữu chính cũng là khách hàng Hơn nữa, tại các
Trang 30quỹ tín dụng luôn tồn tại quyền dân chủ trong cấu trúc quản trị “ một thành viên - một quyền bỏ phiếu” (Shaw, 2006) Cấu trúc sở hữu pha loãng của các quỹ tín dụng
sẽ gia tăng quyền quyết định của người quản lý từ đó làm tăng chi phí đại diện Bởi
vì nhà quản lý có thể chịu ít kiểm soát, thặng dư hay lợi nhuận có thể không được phân phối cho các chủ sở hữu thông qua tăng vào chi phí quản lý (hành vi ưu tiên chi phí) (Cuevas & Fischer, 2006) Pe´rilleux và cộng sự (2012) tìm ra rằng phần lớn thặng dư của quỹ tín dụng được phân bổ cho nhân viên và nhà tạo quỹ Hơn nữa, xung đột lợi ích giữa những người chỉ đơn thuần đi vay và những người gửi tiết kiệm cũng có thể xảy ra Điều này xảy ra khi hội đồng quản trị trở thành người
đi vay và bị kiểm soát làm cho quỹ tín dụng càng nhạy cảm với rủi ro tín dụng (Westley & Shaffer, 1999, 2000) Tuy nhiên, quỹ tín dụng vẫn có một lợi thế tạo ra
do các thành viên cũng đồng thời là khách hàng vay (Gurtner, Jaeger, & Ory, 2002; Ory, Jaeger,& Gurtner, 2006; Valnek, 1999), cụ thể là Quỹ tín dụng có thể bỏ qua vấn đề về các điều kiện trong việc cấp tín dụng, trong khi các TCTCVM do cổ đông
sở hữu như ngân hàng xem đó như là một trong những cơ chế được dùng để đối phó với bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính Do đó, họ có thể có một lượng khách hàng rộng lớn, điều đó có nghĩa là khả năng tiếp cận cộng đồng của quỹ tín dụng lớn hơn các TCTCVM do cổ đông sở hữu như ngân hàng
Trang 31CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
3.1.1 Mẫu quan sát
Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu được lấy từ báo cáo của các TCTCVM tại
9 quốc gia ASEAN là Cambodia, Indonesia, Lào, Philippines, Thái Lan, Đông Timor, Malaysia, Myanmar và Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến 2016 được công
bố trên trang điện tử Mixmarket
Tuy số lượng TCTCVM, chương trình, dự án của tài chính vi mô (trong đề tài này gọi tắt là tổ chức tài chính vi mô - TCTCVM) tại các nước thuộc ASEAN chưa thể thống kê toàn bộ, nhưng chỉ có 269 TCTCVM cung cấp báo cáo tài chính lên Mixmarket trong giai đoạn 2008-2016, trong số đó chỉ có 123 TCTCVM từ 9 quốc gia thuộc ASEAN là Cambodia, Indonesia, Lào, Philippines, Thái Lan, Đông Timor, Malaysia, Myanmar và Việt Nam cung cấp báo cáo tài chính 3 năm trở lên
Do đó, đề tài nghiên cứu tập trung vào 123 TCTCVM nêu trên có thông tin trên MIX
Do bộ dữ liệu trên Mixmarket có được là do các TCTCVM tự báo cáo nên có một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng bộ dữ liệu Đầu tiên, để một TCTCVM có khả năng báo cáo một bộ các chỉ số tài chính thì tổ chức này phải có sẵn hệ thống thông tin được dùng để giám sát các hoạt động hàng ngày Do đó, các TCTCVM không có khả năng báo cáo lên Mix market có thể không có công cụ tốt nhất trong việc theo dõi danh mục đầu tư của họ Thứ hai, do việc tham gia báo cáo của các TCTCVM là hoàn toàn tự nguyện nên bộ dữ liệu có thể bị bóp méo vì mục tiêu tiếp cận các nhà đầu tư và các nhà tài trợ Hơn nữa, hầu hết báo cáo của TCTCVM trên Mix market đều cho thấy hiệu quả hoạt động rất hiệu quả và chú trọng đến chất lượng danh mục đầu tư và lợi nhuận hoạt động Do đó, các TCTCVM trong mẫu được kỳ vọng sẽ là một mẫu ngẫu nhiên tốt nhất ở Đông Nam Á, nhưng chắc chắn không phải là đại diện đầy đủ tất cả các TCTCVM
Trang 323.1.2 Mô tả biến
Các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu chủ yếu thuộc bốn nhóm biến chính sau: hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM, cấu trúc sở hữu và nhóm biến kiểm soát
3.1.2.1 Các biến liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả hoạt động kinh doanh được giải thích thông qua hai khía cạnh chính là: khả năng sinh lợi và hiệu quả hoạt động
* Khả năng sinh lời
Chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản, ROA cho biết TCTCVM có tạo ra lợi nhuận hay không
ROA = Lãi ròng/ Tổng tài sản Ngoài ra, trong bài nghiên cứu cũng có sử dụng biến ROA điều chỉnh, ADJROA, chỉ số này đã được điều chỉnh rủi ro Biến ADJROA được tính bằng cách lấy ROA chia cho độ lệch chuẩn của nó trong suốt kỳ nghiên cứu
ADJROA = ROA/ Độ lệch chuẩn
* Hiệu quả hoạt động
Để hiểu rõ cách thức tạo ra lợi nhuận của TCTCVM, bài nghiên cứu tập trung vào hiệu quả hoạt động của nó và cho biết liệu một TCTCVM có được tổ chức hiệu quả hay không Về tổng quát, hiệu quả hoạt động được xác định bằng chi phí đầu vào chia cho giá sản phẩm đầu ra Những chỉ số này có ưu điểm là khó bị ngụy tạo
và nó có thể được dùng để so sánh giữa các TCTCVM
Hiệu quả hoạt động = Tổng chi phí hoạt động/Tổng dư nợ
3.1.2.2 Các biến liên quan đến khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM
Nhiệm vụ xã hội của TCTCVM là cải thiện phúc lợi xã hội của người nghèo Khả năng tiếp cận cộng đồng đo những lợi ích xã hội mà TCTCVM mang lại Trong bài nghiên cứu này sẽ xem xét hai khía cạnh chính: khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều rộng và theo chiều sâu
Trang 33* Theo chiều sâu
Mức độ tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu cho thấy những lợi ích xã hội mà khách hàng nhận được từ TCTCVM Theo lý thuyết về phúc lợi xã hội, chiều sâu được biểu thị là trọng số của một khách hàng trong hàm tổng phúc lợi xã hội Do phương pháp tính trực tiếp khả năng tiếp cận cộng đồng theo chiều sâu thông qua thu nhập hay tài sản thường không sẵn có nên nó thường được xác định một cách gián tiếp, chẳng hạn như giới tính (phụ nữ được ưa thích hơn), địa điểm (nông thôn được ưa thích hơn), giáo dục (càng ít càng được ưa chuộng) và các dịch vụ, phương tiện công cộng (ít phương tiện thì được yêu thích hơn) Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hai biến chính để đo lường chiều sâu của khả năng tiếp cận cộng đồng là quy mô khoản vay và tỷ trọng khách hàng vay là phụ nữ
GNI bình quân đầu người
Số lượng khách hàng vay = ln (số lượng khách hàng đi vay)
Số lượng khách hàng = ln (số lượng khách hàng đi vay và gửi tiết kiệm)
3.1.2.3 Các biến liên quan đến cấu trúc sở hữu
Cấu trúc sở hữu của TCTCVM sẽ xác định chiến lược và cơ chế quản trị Trong bài nghiên cứu này chúng tôi xây dựng biến cấu trúc sở hữu dựa trên tình trạng pháp lý của TCTCVM bao gồm tổ chức phi lợi nhuận (NGO), quỹ tín dụng (COOP), ngân hàng (BANK) và tổ chức tài chính phi ngân hàng (NONBANK)
Trang 34Những biến này là biến giả; COOP, BANK, NONBANK nhận giá trị là 1 nếu TCTCVM đó lần lượt là quỹ tín dụng, ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng, ngược lại thì nhận giá trị bằng 0
3.1.2.4 Các biến kiểm soát
Biến kiểm soát là những biến chỉ đặc điểm riêng có được đưa vào mô hình nhằm làm giảm bất cứ tác động nào có thể gây nhiễu cho các nhân tố khác hoặc cho việc diễn giải kết quả của nghiên cứu Biến kiểm soát cũng có một ảnh hưởng tiềm năng vào biến phụ thuộc như biến độc lập, nhưng sự tác động đó không phải là điều
mà ta đang quan tâm Bên cạnh đó, việc đưa biến kiểm soát vào mô hình phân tích
vì ta không thể bỏ qua sự tác động của nó khi xem xét các tác động của biến độc lập Chính vì vậy, trong các mô hình hồi quy tác động của biến cấu trúc sở hữu lên biến đo hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM, các biến kiểm soát sau được thêm vào:
Đầu tiên là quy mô, biến Quy mô được tính bằng cách lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản Một TCTCVM với quy mô lớn hơn được kỳ vọng sẽ hoạt động tốt hơn
vì nó có thu hút được nhiều quỹ đầu tư vào công nghệ giúp sàng lọc thẩm định người cho vay tốt hơn Tuy nhiên, TCTCVM với quy mô nhỏ có thể có lợi thế về cho vay dựa trên mối quan hệ và có thể đưa ra một mức lãi suất cao hơn cho các dịch vụ cung ứng cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ Do đây chỉ là vấn
đề thực nghiệm nên chúng tôi kỳ vọng dấu của hệ số có thể âm hoặc dương
Tiếp theo, tuổi (số năm thành lập) của tổ chức cũng được kỳ vọng có tác động đến thành quả hoạt động của TCTCVM Biến này là một biến giả, bằng 1 nếu
TCTCVM được phân loại là mature- trưởng thành (có nghĩa là đã hoạt động trên 8
năm dựa theo cách phân loại của MIX), bằng 0 cho các trường hợp còn lại TCTCVM được thành lập càng lâu thì có thể có thành quả hoạt động tốt hơn bởi vì nhân viên sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn TCTCVM mới thành lập Tuy nhiên có giả thiết lại cho rằng có thể TCTCVM có thời gian hoạt động lâu hơn thì phải mất một thời gian để thực hành theo phương pháp thử và sai, nhưng các TCTCVM mới thành lập lại có lợi thế của người đi sau, đúc kết kinh nghiệm từ người đi trước và
Trang 35có thể có thành quả hoạt động tốt hơn Do vậy, kỳ vọng dấu của biến Tuổi có thể
âm hoặc dương
Tỷ trọng dư nợ vay trên tổng tài sản, cũng là một biến kiểm soát Biến dư nợ trên tổng tài sản cho thấy chiến lược sản phẩm của cũng như các thành phần trong tổng tài sản của TCTCVM
Biến tốc độ tăng trưởng kinh tế cho biết tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội Biến này kiểm soát những thay đổi trong hoạt động do ảnh hưởng của tốc
độ tăng trưởng kinh tế
Cuối cùng, biến GDP bình quân đầu người được tính bằng cách lấy logarit tự nhiên của thu nhập bình quân đầu người Cũng giống như các biến trên, hệ số của
nó được kỳ vọng có thể âm hoặc dương
Bảng 3.1 trình bày tóm tắt mô tả biến, định nghĩa của các biến được sử dụng trong phân tích thực nghiệm kèm theo kỳ vọng dấu của các biến độc lập tác động lên hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng
Trang 36Bảng 3.1: Tóm tắt mô tả biến, định nghĩa của các biến
dữ liệu
Giả thuyết Hiệu quả
hoạt động kinh doanh
Mức độ tiếp cận cộng đồng
Hiệu quả hoạt
động kinh
doanh
2 ROA điều chỉnh ROA trên độ lệch chuẩn của ROA MIX
3 Hiệu quả hoạt động Chi phí hoạt động trên tổng dư nợ MIX
Tiếp cận cộng
đồng theo
chiều sâu
4 Quy mô khoản vay Trung bình dư nợ của một khàch hàng vay trên GNI
5 Khách hàng vay là phụ nữ Tỷ trọng khách hàng đi vay là phụ nữ trên tổng số
Tiếp cận cộng
đồng theo
chiều rộng
6 Số lượng khách hàng vay Logarit tự nhiên số lượng khách hàng đi vay MIX
7 Tổng số khách hàng Logarit tự nhiên của tổng số lượng khách hàng bao
gồm cả người đi vay và gửi tiết kiệm MIX
Tình trạng
pháp lý
8 Ngân hàng (Bank) Biến giả, bằng 1 nếu TCTCVM là ngân hàng, bằng
9 Quỹ tín dụng (Cooperative) Biến giả, bằng 1 nếu TCTCVM là Quỹ tín dụng,
10 Tổ chức tài chính phi NH (Non-bank)
Biến giả, bằng 1 nếu TCTCVM là Định chế tài chính phi ngân hàng, bằng 0 cho các trường hợp còn lại
Trang 37Bảng 3.1: Tóm tắt mô tả biến, định nghĩa của các biến
dữ liệu
Giả thuyết Hiệu quả
hoạt động kinh doanh
Mức độ tiếp cận cộng đồng
Biến kiểm
soát
12 Tuổi Trưởng thành bằng 1, bằng 0 cho các trường hợp
13 Dư nợ trên tổng tài sản Tổng dư nợ trên tổng tài sản MIX +/- +/-
14 Tốc độ tăng trưởng kinh
15 GDP bình quân đầu người Logarit tự nhiên của GDP bình quân đầu người WB/IMF +/- +/-
Trang 383.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi liệu các loại hình sở hữu TCTCVM khác như ngân hàng, quỹ tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng có hiệu quả hoạt động kinh doanh
và khả năng tiếp cận cộng đồng có khác biệt so với NGOs hay không? Có phải tổ chức theo đuổi mục tiêu lợi nhuận tạo ra nhiểu lợi nhuận và hoạt động hiệu quả hơn các tổ chức phi lợi nhuận? Bài nghiên cứu khai thác mô hình hồi quy dữ liệu bảng
và kiểm soát các biến theo cấp độ TCTCVM và môi trường vĩ mô
Dựa trên mô hình được xây dựng bởi Barry & Tacneng (2014) khi nghiên cứu
về tác động của cấu trúc sở hữu và chất lượng thể chế lên hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của các TCTCVM tại khu vực Châu Phi Hạ Sahara Bài nghiên cứu đề xuất mô hình tác động của cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM tai các quốc gia ASEAN như sau:
(3.1)
Trong đó:
là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh hay khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM thứ i tại thời điểm t
thứ i, bằng 1 nếu lần lượt là ngân hàng, quỹ tín dụng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng, và bằng 0 cho các trường hợp còn lại
Zc là các biến kiểm soát được thêm vào mô hình để giải thích những đặc điểm riêng có của mỗi TCTCVM và của từng quốc gia Những đặc điểm này kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận cộng đồng của TCTCVM tại thời điểm t
3.2.2 Phương pháp hồi quy – trình tự thực hiện
Hồi quy dữ liệu bảng có thể được tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau như Pooled OLS, FEM hay REM Tuy nhiên, đối với dạng dữ liệu bảng hỗn
Trang 39hợp (panel data) thì Pooled OLS không phải là một lựa chọn hợp lý vì phương pháp này là phương pháp ước lượng đơn giản nhất và trong trường hợp này Pooled OLS
có thể làm cho các hệ số ước lượng không đồng nhất và thiếu hiệu quả, tức là ước lượng không nhất quán (bị chệch) và khả năng mức ý nghĩa thống kê không còn chính xác Để tìm ra phương pháp phù hợp nhất, tác giả tiến hành hồi quy theo ba
mô hình Pooled OLS, FEM, REM lần lượt theo các bước:
Bước 1: Tác giả tiến hành hồi quy dữ liệu theo mô hình Pooled OLS, FEM, REM
Bước 2: Tác giả tiến hành kiểm định so sánh sự phù hợp giữa Pooled OLS và FEM; giữa FEM và REM Từ đó chọn ra mô hình tốt nhất trong ba mô hình Pooled OLS, FEM, REM Sau đó thực hiện kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan bậc nhất của mô hình vừa chọn được
Bước 3: Khi có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tác giả thực hiện hồi quy mô hình theo phương pháp GLS nhằm khắc phục vi phạm giả thuyết về phương sai sai số không đổi
3.2.3 Các kiểm định
3.2.3.1 Kiểm định lựa chọn Pooled OLS, FEM
Sự phù hợp của mô hình FEM được kiểm chứng bằng kiểm định F Giả sử, xét một mô hình tác động cố định với N đối tượng và 2 biến giải thích:
Giả thuyết H0 cho rằng tất cả các hệ số ai đều bằng 0 (nghĩa là không có sự khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác nhau) Bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa cho trước (mức ý nghĩa 5% chẳng hạn) sẽ cho thấy mô hình tác động
cố định là phù hợp
3.2.3.2 Kiểm định lựa chọn FEM và REM
Xét một mô hình tác động ngẫu nhiên được viết dưới dạng:
với i= 1, 2, …, N; t = 1, 2, …, T Trong đó sai số cổ điển được chia làm hai phần đại diện cho tất cả các yếu tố không quan sát được mà thay đổi giữa các đối tượng nhưng không thay đổi
Trang 40theo thời gian đại diện cho tất cả các yếu tố không quan sát được thay đổi giữa các đối tượng và thời gian Trong nhiều trường hợp, chúng ta không chắc chắn có hay không có việc các tác động không quan sát được phụ thuộc đối tượng là có tương quan với một hay nhiều biến giải thích, và vì vậy, chúng ta cũng không chắc
về việc lựa chọn mô hình FEM hay REM là phù hợp Trong những trường hợp như vậy, chúng ta có thể sử dụng kiểm định Hausman để kiểm định vấn đề các tác động không quan sát được phụ thuộc đối tượng có tương quan với một hoặc một số biến giải thích (Baltagi, 2008 trang 320; Gujarati, 2004 trang 652) Đối với kiểm định Hausman, giả thuyết H0 cho rằng không có tương quan với (mô hình REM là phù hợp) Trong trường hợp giả thuyết H0 bị bác bỏ thì ước lượng tác động
cố định là phù hợp hơn so với ước lượng tác động ngẫu nhiên Ngược lại, chưa có
đủ bằng chứng để bác bỏ H0 nghĩa là không bác bỏ được sự tương quan giữa sai số
và các biến giải thích thì ước lượng tác động cố định không còn phù hợp và ước lượng ngẫu nhiên sẽ ưu tiên được sử dụng