Tóm tắt AbstractBài nghiên cứu này nghiên cứu về độ truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam thôngqua kênh truyền dẫn lãi suất, và sự tác động của nó đến lãi suất huy động của Ngânhàng
Trang 1NGUYỄN THÙY LINH
SỰ TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2NGUYỄN THÙY LINH
SỰ TRUYỀN DẪN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 8 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH NGUYỄN NGỌC THẠCH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3Tóm tắt (Abstract)
Bài nghiên cứu này nghiên cứu về độ truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam thôngqua kênh truyền dẫn lãi suất, và sự tác động của nó đến lãi suất huy động của Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong điều kiện lạm phát, cụ thể
là lãi suất tại chi nhánh Đông Gia Lai Cũng giống với những nước có nền kinh tế trong
giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, Nhànước, các doanh nghiệp và ngân hàng tại Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc và
thị trường tài chính đang trên đà phát triển Dựa trên phương pháp hồi quy chuỗi dữliệu lãi suất huy động (các kì hạn: Không kì hạn, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trên 12tháng) và chuỗi lãi suất bài nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ trong dài hạn giữalạm phát và lãi suất huy động, tuy nhiên mối quan hệ này là khá yếu và tồn tại một độtrễ giữa lạm phát và lãi suất Trong ngắn hạn, khi lãi suất vượt ra khỏi mức cân bằngvới lạm phát, Ngân Hàng Nhà Nước thông qua kênh truyền dẫn sẽ tiến hành điều chỉnhmức lãi suất làm cho lãi suất huy động tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn Việt Nam chi nhánh Đông Gia Lai lên hoặc xuống tới mức cân bằng Tuy nhiên,bài nghiên cứu không tìm được những bằng chứng có ý nghĩa kinh tế về việc điềuchỉnh bất cân xứng trong lãi suất Mối quan hệ yếu trong dài hạn giữa lạm phát và lãisuất thể hiện sự thiếu hiệu quả trong chính sách tiền tệ tại Việt Nam, và việc điều chỉnhlãi suất huy động một cách cân xứng có thể được dẫn đến từ việc Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam chỉ đưa ra mức trần lãi suất huy động và mức lãi suất cơ bản, còn mức lãisuất thực tế là do Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh
Đông Gia Lai tự niêm yết theo như quy định, có thể mức độ cạnh tranh giữa các ngân
hàng đã khiến cho lãi suất huy động được điều chỉnh một cách cân xứng
Trang 4Lời cam đoan
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đạihọc nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu làtrung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội
dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong
luận văn
Tác giả
Nguyễn Thùy Linh
Trang 5Lời cảm ơn!
Hai năm học tập và bồi dưỡng kiến thức tại trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ
Chí Minh thực sự là khoảng thời gian rất quý báu với tôi Tại đây, tôi không chỉ đượctiếp thu rất nhiều kiến thức bổ ích mà còn nhận được sự quan tâm, chia sẻ của bạn bè,
sự dìu dắt tạo điều kiện hết sức của tất cả các thầy cô Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cảcác thầy cô và bạn bè đã chỉ bảo, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua Tôicũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ viên chức củaNgân hàng Nông nghiệp và Nông thôn chi nhánh huyện Ia Grai Đông Gia Lai đã luôn
hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành việc học và hoàn thiệnluận văn của mình
Luận văn của tôi mang tên “Sự truyền dẫn chính sách tiền tệ đến lãi suất bán lẻ tạiNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Để có thể hoàn thiện luận
văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thầy PGS TSKH Nguyễn Ngọc Thạch, đã
tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Vì vốn kiến thức còn có hạn và khả năng trình bày còn hạn chế nên trong luận vănkhông thể tránh khỏi những sai sót Mong Thầy (Cô) có thể châm chước đồng thời góp
ý đển bản than tôi có thể tiến bộ hơn sau này Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 7
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 8
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 9
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
1.6 Phương pháp nhgiên cứu 10
1.7 Đóng góp của đề tài 11
1.8 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG 2.1 Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ 13
2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất của chính sách tiền tệ 14
2.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Mô hình hồi quy 28
3.2 Dữ liệu và cách thức chọn mẫu 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐÔNG GIA LAI 32
4.1 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2008-2017 32
4.2 Thống kê mô tả 45
Trang 74.3 Hệ số tương quan .46
4.4 Kiểm định tính dừng, quan hệ nhân quả Granger và đồng liên kết 46
4.5 Mối quan hệ trong dài hạn giữa lạm phát và lãi suất .50
4.6 Động lực điều chỉnh ngắn hạn 52
4.7 Tốc độ điều chỉnh bất cân xứng .52
4.8 Thực trạng Chính sách tiền tệ tác động đến lãi suất huy động của Agribank Chi nhánh Đông Gia Lai 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA AGRIBANK VÀ AGRIBANK CHI NHÁNH ĐÔNG GIA LAI .58
5.1 Kết luận .58
5.2 Giải pháp tại Agribank và Agribank Chi nhánh Đông Gia Lai .60
5.3 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước về chính sách lãi suất trong thời gian tới .61
KẾT LUẬN .67
Tài liệu tham khảo……… 70
Phụ lục………75
Trang 8- Bảng 4.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng tại Việt Nam
- Bảng 4.2: Quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa của Ngân hàng Nhà nước
- Bảng 4.3: Thống kê mô tả
- Bảng 4.4: Hệ số tương quan
- Bảng 4.5: Tính xu thế của chuỗi dữ liệu
- Bảng 4.6: Kiểm định nghiệm đơn vị
- Bảng 4.7: Kiểm định nhân quả Granger 2 chiều
- Bảng 4.8: kiểm định đồng liên kết Johansen
- Bảng 4.9: Mối quan hệ trong dài hạn
- Bảng 4.10: Động lực ngắn hạn
- Bảng 4.11: Tốc độ điều chỉnh bất cân xứng
- Bảng 4.12: Độ trễ điều chỉnh trung bình
- Hình 2.1: Cơ chế truyền dẫn công cụ chính sách tiền tệ đến mức giá chung
- Hình 4.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Việt Nam
- Hình 4.2: Diễn biến lãi suất giai đoạn 2012 - 2017 (%)
- Hình 4.3: tốc độ tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam (2012-2017)
Trang 9CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại tất cả các nền kinh tế, chính sách tiền tệ là một công cụ thiết yếu để quản lí và điềuhành nền kinh tế, và lãi suất là một trong những công cụ chính để quản lí tổng cầu,kiểm soát lạm phát và đưa đến sự phát triển vững chắc của nền kinh tế Tuy nhiên, tạicác quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, các công cụ, mục tiêu và kênh truyền dẫn
có thể có sự khác biệt so với các quốc gia phát triển, do đó, sự tác động của chính sáchtiền tệ lên nền kinh tế vĩ mô là khác nhau
Không giống như các nước phát triển, mục tiêu chính trong chính sách tiền tệ tại ViệtNam không tập trung vào bất kì một mục tiêu nào cụ thể mà là điều hòa giữ ổn địnhnền kinh tế, tạo lập việc làm và đảm bảo cho sự phát triển bền vững (Thông cáo báo chí
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2008) Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây nền
kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ lạm phát lớn, cao hơn so với mục tiêu lạm
phát được đặt ra: năm 2010 lạm phát đạt 11.75% và năm 2011 đạt 18.582% trong khi
lạm phát mục tiêu là <7% (theo dữ liệu từ tổng cục thống kê năm 2011), đối mặt vớitình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã đ ổi mới chính sách tiền tệ, nhưng liệu nhữngchính sách ấy khi được thực hiện có mang lại những hiệu quả lâu dài cho nền kinh tế?Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tác động đến lạm phát thông qua kênh truyền dẫn lãisuất bằng cách thay đổi lãi suất cơ bản Vậy kênh dẫn truyền này có đạt được hiệu lực
như kỳ vọng? Bài nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ dẫn truyền lãi suất của chính sách
tiền tệ đến lãi suất bán lẻ trên thị trường
Bài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào thực tế chính sách tiền tệ tại Việt Nam thông quakênh truyền dẫn lãi suất và sự dẫn truyền từ các chính sách cụ thể trong từng thời kì
đến lãi suất bán lẻ thực tế trên thị trường, trường hợp cụ thể ở đây là lãi suất được áp
dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Đông Gia Lai
Trang 101.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Tại Việt Nam các nghiên cứu về sự dẫn truyền lãi suất hiện vẫn còn rất hạn chế.Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về sự dẫn truyền lãi suất từlãi suất thị trường (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng) sang lãi suất bán lẻ, kếtquả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn là không hoàn toàn từ lãi suất thị
trường và lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay và lãi suất huy động và các tác giả
cũng tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của các yếu tố minh bạch chính sách tiền tệ
đến truyền dẫn từ lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất chính sách đến lãi suất
bán lẻ Đinh Thị Thu Hồng và cộng sự (2013) đã phân tích về cơ chế truyền dẫn lãisuất từ lãi suất bán lẻ ở Việt Nam và một số nền kinh tế mới nổi khác nhau ở Châu Áthông qua kiểm định đối xứng và tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất, kiểm tra
tác động của độ bất ổn lãi suất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứngđòn bẩy lên truyền dẫn Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức độ truyền
dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn với cơ chế truyền dẫn
đối xứng hoặc bất đối xứng, trong một số trường hợp, độ biến động lãi suất làm tăngbiên độ truyền dẫn, nhưng cũng có một số trường hợp cho thấy kết quả ngược lại
Chính vì các nghiên cứu về sự truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam còn khá ít do đó tác giảchọn đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này dựa trên sự kế thừa các phương pháp nghiêncứu đã đư ợc đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trước đó và áp dụng cho nền kinh tế Việt
Nam để đo lường mối quan hệ giữa tỷ lệ làm phát và lãi suất bán lẻ trên thị trường cụ
thể tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Đông Gia Lai, liệu
sự thay đổi của lạm phát có phải là yếu tố dẫn đến sự thay đổi trong các chính sách
điều chỉnh lãi suất Để từ đó rút ra được mức độ hiệu quả của các chính sách tiền tệ tại
Việt Nam
Trang 111.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Xác định cơ chế và mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ đến lãi suất bán lẻ tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đông Gia Lai trong điềukiện lạm phát
Mục tiêu cụ thể:
Một là: Phân tích cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ theo kênh lãi suất đến lãi suấtbán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Đông
Gia Lai trong điều kiện lạm phát tại Việt Nam
Hai là: Đo lường mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn giữa tỷ lệ làm phát và lãi suấtbán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đông Gia Lai
Ba là: Kiểm định sự bất cân xứng trong việc điều chỉnh lãi suất và lạm phát khi lãi suất
ở trên và dưới mức lãi suất cân bằng
Bốn là: Đưa ra kết luận cụ thể dựa trên kết quả nghiên cứu được và các giải pháp, kiếnnghị đối với chính sách lãi suất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônViệt Nam chi nhánh Đông Gia Lai và Ngân hàng Nhà nước
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu nêu trên, bài luận văn xây dựng các câu hỏi nghiên cứu(Research question – RQ) sau:
- Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ theo kênh lãi suất được thực hiện như thế
nào?
- Có hay không mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát thực tế và lãi suất bán lẻ trên thịtrường? (trong ngắn hạn và dài hạn)
Trang 12- Có độ trễ giữa sự điều chỉnh lãi suất bán lẻ so với tỷ lệ làm phát khi lãi suất ởtrên và dưới mức cân bằng hay không?
- Cần có những giải pháp và kiến nghị gì để nâng cao hiệu quả của chính sách
tiền tệ?
1.5 Đối tượng và phạm vi n ghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài luận văn là cơ chế tác động của chính sách tiền tệ đến lãi
suất bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đông Gia
Lai trong điều kiện lạm phát tại Việt Nam
Bài nghiên cứu sẽ chọn các mẫu là lãi suất huy động tại Ngân hàng Nông Nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam trường hợp cụ thể là lãi suất huy động tại Ngân hàngNông Nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đông Gia Lai gồm lãi suất không kìhạn, kì hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng và tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam
trong giai đoạn 2008-2017 Số liệu được thu thập trong giai đoạn 2008-2017 nhằm tăng
tối đa số quan sát đảm bảo tin cậy tốt hơn cho kết quả phương pháp phân tích định
lượng Ngoài ra, đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu gia nhập WTO, nền kinh tế Việt
Nam nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng xảy ra nhiều biến động gắn liền vớinhững biến động của nền kinh tế thế giới
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Bài luận văn này sử dụng phương pháp nghiên cứu được đưa ra bởi nhóm tác giảMing-Hua Liu, Dimitri Margaritis và Alireza Tourani-Rad thuộc trường đại họcAuckland, New Zealand Lần lượt thực hiện các thông kê mô tả, kiểm định tính dừng,quan hệ nhân quả Granger và đồng liên kết Thực hiện phương pháp hồi quy mô-menttổng quát (GMM) kết hợp với biến giả và kiểm định Wald Công cụ được tác giả sửdụng để phân tích định lượng là Eviews 8.0
Trang 13Tác giả tiến hành đánh giá mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và các lãi suất huy động(thể hiện thông qua sự thay đổi của lãi suất huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn chi nhánh Đông Gia Lai , tác giả cũng xem xét đến mối quan hệgiữa lạm phát với các mức lãi suất huy động có các kì hạn tiền gửi khác nhau (không kìhạn, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng) Sau đó, tác giả tiến hành đo lường sự
điều chỉnh của lãi suất huy động để phản ứng đối với áp lực của lạm phát trong ngắn
hạn, và xem xét mức độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ
1.7 Đóng góp của đề tài
Bài luận văn sẽ giúp hệ thống hóa các chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn
2008-2017 Xác định cơ chế truyền dẫn Chính sách tiền tệ tại Việt Nam thông qua kênh dẫn
truyền lãi suất đến lãi suất bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chi nhánh Đông Gia Lai Đo lường mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất bán lẻ để
xem xét sự tác động của các chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Đưa ra các biện phápnhằm nâng cao tính hiệu quả của cơ chế dẫn truyền chính sách tiền tệ
Luận văn này vừa có đóng góp cho học thuật, vừa có đóng góp cho thực tiễn Về phíahọc thuật, luận văn đưa ra kết luận cụ thể và sâu sắc hơn về mức độ truyền dẫn củachính sách tiền tệ đến lãi suất huy động Về phía thực tiễn, luận văn đã gợi ý một số
chính sách đến Agribank cũng như Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao mức độ
truyền dẫn của chính sách tiền tệ
1.8 Kết cấu của luận văn
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn được trình bày thành 5chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về luận văn Nội dung chương này thể hiện khái quát
về đề tài bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi
Trang 14và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu trình bày của đề tài và tómlược các bước nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu trước đây về cơ chế truyền dẫn lãi suất tại
các nền kinh tế Đó là những nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương trình bày mô hình dự kiến và
giải thích các biến được sử dụng trong mô hình
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Nội dung chương trình bày thống kê mô tả
các biến, các kết quả định lượng, phân tích các kết quả nghiên cứu vừa tìm được vàthực tế hiện trạng chính sách tiền tệ tại Việt Nam hiện nay cũng như tác động của chínhsách tiền tệ đến lãi suất huy động tại Agribank Chi nhánh Đông Gia Lai
Chương 5: Kết luận, hạn chế, mở rộng Ngoài ra đưa ra giải pháp đối với chính sách
lãi suất của Agribank và Agribank Chi nhánh Đông Gia Lai
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN
LẺ CỦA NGÂN HÀNG.
Chương 2 sẽ trình bày sơ lược cơ sở lý thuyết và các khái niệm về chính sách tiền tệ,
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn 2008-2017 và tổng quan
các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
2.1 Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ
Khái niệm
Chính sách tiền tệ (monetary policy) là quá trình quản lý cung tiền (money supply) của
cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi
suất mong muốn (targeting interest rate) để đạt được những mục đích ổn định và tăng
trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn
dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế (Nguồn: Giáo trình Kinh tế vĩ mô, Trần Thị Hòa(2006))
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường Theo nghĩarộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nềnkinh tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó
đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả
hàng hóa Theo nghĩa thông thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung
ứng tăng thêm trong thời kì tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh
tế dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá
cả hàng hóa (theo Đào Văn Na, 2013)
Theo điều 2 luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Chính sách tiền tệ quốc gia là một
bô phận của chính sách Kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng
Trang 16tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốcphòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Nhà nước quản lý thống nhất mọi hoạt động của Ngân hàng, có chính sách để động
viên các nguồn lực trong nước là chính, tranh thủ tối đa nguồn lực ngoài nước, pháthuy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, đảm bảo vai trò chủ đạo và chủ lựccủa các tổ chức tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, giữvững định hướng Xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhậpquốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước.”
Chính sách tiền tệ có vai trò cực kỳ quan trọng, thể hiện ở việc nó có nhiệm vụ tác
đông vào nhiều hướng tạo ra đầu tư, tiết kiệm và ổn định tiền tệ , giá cả Qua đó góp
phần quan trọng và sự thành công hay thất bại của cả nền kinh tế Chúng ta có thểkhẳng định rằng, nếu như chính sách tài khóa chỉ tập trung vào thành phần , kết cấu cácmức chi phí thuế khóa của nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gi a lại tập trung vàomức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứngkhối lượng cần cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tíndụng đáp ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trườngtiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định
Công cụ của chính sách tiền tệ
Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ, phù hợp với tình hình
thực tiền của nền kinh tế, đó là chính sách nới lỏng tiền tệ và chính sách thắt chặt tiền
tệ (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010)
Chính sách nới lỏng tiền tệ: Là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến
khích đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm
Trang 17Chính sách thắt chặt tiền tệ: Là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế
đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế là kiểm chế lạm phát
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này, ngân hàng trung ương có thể sử dụng hàng loạt
các công cụ tiền tệ nằm trong tầm tay của mình đó là c ác công cụ trực tiếp và công cụgián tiếp
Các công cụ trực tiếp: Gọi là các công cụ trực tiếp vì thông qua chúng NHTW có thể
tác động trực tiếp đến cung, cầu tiền tệ, mà không cần thông qua một công cụ khác
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010)
Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay , ấn định hạn mức tín dụng: NHTW có
thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các ngân hàng kinh phải thi hành
Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút được nhiều tiền gửi làm gia tăng nguồn vốn chovay Nếu lãi suất thấ p, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng kinh doanh tíndụng Xong biện pháp này sẽ làm cho các ngân hàng thương mại mất tính chủ động,linh hoạt trong kinh doanh Mặt khác nó đễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng,
nhưng lại thiếu vốn đầu tư, hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ vàng, ngoại
tệ bất động sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn chovay
Trong điều kiện không thể áp dụng các biện pháp khác, chính phủ có thể phát hành mộtlượng trái phiếu nhất đị nh để thu hút bớt lượng tiền trong lưu thông Việc phân bổ trái
phiếu thường mang tính chất bắt buộc
Các công cụ gián tiếp: là những công cụ mà tác dụng của nó có được là nhờ cơ chế thị
trường (Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010)
Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng thương mại phải
đưa và dự trữ theo luật định Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản chuyên dùng ở
Trang 18ngân hàng trung ương và để tại quỹ của mình, với mục đích góp phần bảo đảm khảnăng thanh toán của Ngân Hàng thương mại và dùng làm phương tiện kiểm soát khốilượng tín dụng của ngân hàng này Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng làm
giảm khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó giảm lượng tiền
trong lưu thông, góp phần làm giảm cầu tiền đ ể cân bằng với sự giảm cung xã hội.Trong trường hợp giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khả năng mở rộng cho vay của Ngân
Hàng thương mại sẽ tăng lên, dẫn đến sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp phần
tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền
Lãi suất: NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác
để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi Trong trường hợp thị trường tiền tệ có
diễn biến bất thường, NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệgiữa các TCTD với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác
Tái cấp vốn: tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHNN nhằm cung ứng vốn
ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho TCTD NHNN quy định và thực hiện việc táicấp vốn cho TCTD theo các hình thức như cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ cógiá; chiết khấu giấy tờ có giá; các hình thức tái cấp vốn khác
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung
cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước NHNN công bố tỷ giá hối
đoái, quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá
Nghiệp vụ thị trường mở: NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc
mua, bán giấy tờ có giá đối với TCTD; quy định loại giấy tờ có giá được phép giaodịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở
2.2 Cơ chế truyền dẫn lãi suất của chính sách tiền tệ
Trang 19Chúng ta thấy rằng khi NHTW quyết định mở rộng chính sách tiền tệ sẽ làm cho cungtiền tăng lên và do đó sẽ làm giảm mặt bằng lãi suất xuống (giả sử cầu tiền không đổi).Lãi suất giảm sẽ làm tăng nhu cầu chi tiêu (C), nhu cầu đầu tư (I) và kể cả xuất khẩuròng (NX) của nền kinh tế C, I, và NX tăng lên sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Trên đồ thị Tổng cung – Tổng cầu (AS-AD) sẽ cho thấy đường tổng cầu AD dịch
chuyển sang phải, làm tăng GDP thực và mức giá chung Ngược lại, khi NHTW thắtchặt chính sách tiền tệ sẽ làm cho cung tiền giảm, từ đó làm cho lãi suất cân bằng tănglên Lãi suất tăng sẽ làm giảm chi tiêu dùng (C), đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NX), và
do vậy làm giảm tổng cầu (AD) Tổng cầu giảm sẽ làm giảm GDP thực và mức giáchung
Hình 2.1 trình bày cơ chế truyền dẫn công cụ chính sách tiền tệ đến mức giá chung củanền kinh tế Như sơ đồ cho thấy, thông qua chính sách lãi suất, có một số kênh dẫntruyền đến mức giá chung, chẳng hạn như kênh tỷ giá, kênh giá tài sản và kênh tíndụng Ví dụ như qua kênh giá tài sản, khi lãi suất chính thức của ngân hàng trung ương
tăng lên sẽ làm tăng lãi suất thị trường cũng như lãi suất liên ngân hàng Lãi suất thịtrường tăng lên sẽ làm giảm giá các tài sản xuống chẳng hạn như giá tài sản tài chính
hay giá bất động sản Giá tài sản giảm cũng chính là hệ quả của việc giảm cầu hoặc
tăng cung tài sản do tác động của việc tăng lãi suất Giá tài sản giảm sẽ có tác động lên
mức giá chung của nền kinh tế Trong trường hợp này là làm giảm mức giá chung, tức
tác động kiềm chế lạm phát của chính sách tăng lãi suất của ngân hàng trung ương
Trang 20Hình 2.1: Cơ chế truyền dẫn công cụ chính sách tiền tệ đến mức giá chung
Nguồn: Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (2014)
Sự điều chỉnh của các loại lãi suất bán lẻ của ngân hàng phản ứng lại với sự thay đổicủa các loại lãi suất bán buôn là một yếu tố cơ bản của cơ chế dẫn truyền lãi suất Cáclãi suất bán buôn không do các ngân hàng thương mại quyết định Lãi suất thị trườngtiền tệ có thể được xem xét như là một biến chính sách độc lập mà nhà điều hành ngân
hàng trung ương có thể tác động và kiểm soát nó thông qua chính sách lãi suất ngắn
hạn Đối với một chính sách tiền tệ hiệu quả thì bất kì một thay đổi nào trong lãi suấtchính sách của ngân hàng trung ương sẽ được truyền tải tới các lãi suất bán lẻ, trước
tiên là tác động tới lãi suất cho vay tiêu dùng và thương mại, và vì thế tác động tới tổng
cầu nội địa và sản lượng Trong tác động này, nếu sự truyền dẫn lãi suất là không hiệuquả thì những biện pháp chính sách của các nhà điều hành chính sách tiền tệ sẽ trở nênmạnh mẽ hơn để đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất
Trang 21Cụ thể, nếu lãi suất tiền gửi tăng đều đặn, thì chính sách tiền tệ mở rộng sẽ có nhiều tác
động hơn là chính sách tiền tệ thắt chặt, ví dụ: lãi suất tiền gửi điều chỉnh nhanh khi lãi
suất thị trường đang giảm, nhưng lại điều chỉnh chậm khi lãi suất thị trường đang tăng
Hơn thế nữa, sự điều chỉnh của ngân hàng trung ương và lãi suất thị trường tiền tệ có
thể làm cho các hãng có tỉ lệ nợ cao trở nên dễ bị tác động bởi sự thay đổi thất thườngcủa chu kì kinh tế, hơn là các hãng có tỉ lệ vốn cổ phần cao Vì tất cả các lí do trên,việc kiểm tra thường xuyên và đánh giá sự dẫn truyền sẽ có tính quyết định đối vớingười làm chính sách, việc thực hiện và đánh giá của chính sách tiền tệ
Tốc độ điều chỉnh có thể được định nghĩa là một khoảng thời gian từ khi có một sự
thay đổi đầu tiên trong các biến kinh tế vĩ mô (biến độc lập), đến khi các biến phụ
thuộc đạt được giá trị mục tiêu Ví dụ cho dễ hiểu hơn đó là, tỉ lệ lạm phát đang làX0%, và phải tốn một khoảng thời gian t để đạt được tỉ lệ lạm phát mục tiêu là Xt, nhưvậy thì tốc độ điều chỉnh chính là khoảng thời gian để đi từ X0 đến X1 (theo Tài liệuhoạt động của IMF, tháng 8 2002)
2.3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Trước đây cũng đã có rất nhiều bài nghiên cứu về chính sách tiền tệ tại các nước có
nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi cũng như về mức độ truyền dẫn của chính sáchtiền tệ đến lãi suất huy động và sự điều chỉnh bất đối xứng giữa việc tăng và giảm cácmức lãi suất Dưới đây là một số bài nghiên cứu tiêu biểu
McKinnon 1973, Shaw 1973, và Fry 1988 trong những nghiên cứu của mình đã tìmthấy rằng tại các nước có nền kinh tế đang phát triển, sự hạn chế tài chính là khá phổbiến Lãi suất được điều khiển bởi chính phủ và được giữ ở mức thận trọng, do đó
thường đưa đến một mối tương quan âm với lãi suất thực Trong hoàn cảnh lãi suấtđược giữ ở mức thấp hơn mức cân bằng của thị trường, làm cho lợi tức từ các dự ánđầu tư trở nên siêu lợi nhuận, dẫn đến sự tiêu dùng không hiệu quả của hệ thống tín
dụng những bằng chứng này dường như là đúng cho nền kinh tế tại Việt Nam
Trang 22Tatiana Papiashvili và Faruk Gürsoy (2008) đã nghiên cứu về chính sách tiền tệ tại cácnền kinh tế chuyển đổi và thấy rằng ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi tác động củachính sách tiền tệ là hoàn toàn khác nhau trong sự phát triển nền kinh tế.
Ali M Kutan và Josef C Brada (2000) đã nghiên cứu trên ba nền kinh tế chuyển đổi
đạt được nhiều thành công là Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan Là những nước Đông
Âu đầu tiên gia nhập Liên Minh Châu Âu EU Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan đãđạt được những tiến bộ đáng kể trong việc ổn định việc làm và phát triển nền kinh tế
của họ.Chính sách tiền tệ đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển ổn định của các
tổ chức tài chính tại các nước này, tuy nhiên vấn đề lạm phát cũng đang là gánh nặng
được đặt lên vai của các cơ quan quản lí tiền tệ
Rodrigo Fuentes năm 2003 cho rằng các tác động của chính sách tiền tệ phụ thuộcđáng kể vào khả năng của Ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
bằng cách quản lý tính thanh khoản do đó, đây là một vấn đề quan trọng để xác địnhmức độ linh hoạt giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động đối với những thay đổitrong chính sách tỷ giá Có một số lượng lớn các bài nghiên cứu đã phát hiện ra sựchậm trễ về lãi suất ngân hàng, sự cứng nhắc của lãi suất huy động có một sự liên quanchặt chẽ đến mức độ tập trung vào ngành công nghiệp ngân hàng, mức độ tập trung cao
hơn sẽ đưa đến một sự cứng nhắc lớn hơn Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng
thanh toán và rủi ro khi cho vay của ngân hàng cũng sẽ tạo ra sự khác biệt trong tốc độ
điều chỉnh Trong ngắn hạn tại Chile các ngân hàng lớn có xu hướng thiết lập một lãi
suất huy động linh hoạt hơn và các ngân hàng có khả năng thanh khoản cao và độ tincậy lớn hơn sẽ có lãi suất huy động thấp hơn và tốc độ điều chỉnh chập hơn, điều này làphù hợp với lý thuyết kỷ luật thị trường
Sophia Mueller-Spahn (10/2008) tìm hiểu sự truyền dẫn từ lãi suất thị trường vào lãisuất ngân hàng ở Đức cho thấy sự truyền dẫn trong dài hạn là không hoàn toàn nhưng
sự truyền dẫn trong ngắn hạn thì ở mức độ nhiều hơn đặc biệt là đối với lãi suất huy
Trang 23động Các ngân hàng lớn thể hiện một sự truyền dẫn tốt hơn trong ngắn và dài hạn.
Tính thanh khoản cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định sự điều chỉnh
không đồng nhất Đối với các ngân hàng có tính thanh khoản kém thì nhanh chóng
truyền tải các điều kiện thị trường vào lãi suất bán lẻ và thể hiện mức độ truyền dẫn cao
hơn Ngoài ra, sự truyền dẫn cao hơn đối với các ngân hàng cho vay nhiều hơn do đó
phụ thuộc nhiều vào các điều kiện thị trường cho vay
Leonardo Gambacorta và S.Iannotti (2011) đã tiến hành xem xét mức độ và sự bất đốixứng trong phản ứng của lãi suất ngân hàng với những cú sốc tiền tệ tại Italia bàinghiên cứu đã tìm thấy có sự bất đối xứng trong việc điều chỉnh tốc độ tăng và giảmcủa lãi suất, tuy nhiên sự bất đối xứng này đã biến mất từ những năm 1990 Bên cạnh
đó các tác giả còn tìm thấy mức độ truyền dẫn từ chính sách tiền tệ đến lãi suất ngânhàng đã tăng lên đáng kể sau năm 1993- khi bộ luật về Ngân hàng được ra đời khi đối
mặt với những cú sốc trong nền kinh tế, các tác giả cũng tìm th ấy sự điều chỉnh lãi suấtbất đối xứng trong ngắn hạn chứ không phải là trong dài hạn
Beng Soon Chong (11/2009) đã xem xét tác đ ộng của quy định lãi suất, việc bãi bỏ cácquy định, hiệu quả của chính sách tiền tệ cà độ cứng của lãi suất huy động tại các ngân
hàng ở thị trường Hongkong Ông đã tìm thấy rằng việc bãi bỏ các quy định lãi suất
làm tăng sự hiệu quả của chính sách tiền tệ, và gia tăng mức độ pass-through trong dài
hạn của lãi suất huy động bài nghiên cứu cũng cho thấy việc điều chỉnh bất đối xứng
và cứng nhắc trong khỏng thời gian áp dụng các quy định lãi suất, mức độ dẫn truyền
từ lãi suất thị trường sang lãi suất huy động được thắt chặt hơn sau khi bãi bỏ các quy
định và lãi suất
Richard J Rosen đã nghiên cứu và tìm thấy mối quan hệ giữa sự hiện diện của khách
hàng đối với các quyết định lãi suất của các ngân hàng Bằng việc sử dụng dữ liệu về
lãi suất huy động của các ngân hàng trong khoảng mẫu từ 1987-2001, tác giả đã giải
thích được lí do vì sao lãi suất ngân hàng phản ứng một cách chậm chạp với một số
Trang 24phong trào mở rộng lãi suất thị trường hành vi của các khách hàng cũng đóng một vaitrò rất lớn trong việc thiết lập lãi suất của các ngân hàng.
Valeriya Dinger (2011) đã xem xét tác động của các ngân hàng và đặc điểm thị trường
lên sự cứng nhắc của lãi suất huy động tại các ngân hàng, tác giả đã tìm thấy rằng việcsáp nhập của các ngân hàng có tác động đáng kể tới tần số thay đổi của lãi suất huy
động đặc biệt, khả năng điều chỉnh lãi suất huy động đề đáp ứng với các cú sốc lãi suất
thị trường đã giảm đáng kể sau khi tiến hành sáp nhập các ngân hàng lớn
Các lý thuyết giá năng động đươc đưa ra bởi Sheshinski và Weiss (1977), Rotemberg
và Saloner (1987) đã lập luận rằng quyết định của một ngân hàng để thay đổi mức lãi
suất của mình là việc xem xét giữa chi phí của việc điều chỉnh lãi suất và các chi phísai lệch từ một mức lải suất tối ưu Trong khuôn khổ hệ thống ngân hàng và đặc điểmcấu trúc thị trường như kích thước ngân hàng, phạm vi địa lí có thể ảnh hưởng đáng
kế đến khả năng thay đổi mức lãi suất bán lẻ đã có những nghiên cứu thực nghiệm đểchứng minh cho lý thuyết này bằng cách tìm được một số biến kinh tế có tác động đáng
kể như sự tập trung của thị trường, kích thước ngân hàng cũng như khả năng thay
đổi mức lãi suất của ngân hàng (Hannan và Berger 1991, Mester và Sounders năm
1995, Craig và Dinger 2010) Mặc dù các nghiên cứu thực nghiệm là có tồn tại songcác nghiên cứu này chỉ tập trung vào bề mặt tĩnh của hệ thống ngân hàng và cơ cấu thị
trường mà bỏ qua các thông tin động bên trong ngân hàng
Những tài liệu trước đây của Hannan và Prager (1998); Focarelli và Panetta (2003);Craig và Dinger (2009) cũng đã nghiên cứu về tác động của việc sáp nhập của các ngânhàng dẫn đến sự thiết lập sự độc quyền về mức độ của lãi suất bán lẻ Có bằng chứngcho thấy rằng việc sáp nhập không chỉ ảnh hưởng đến mức lãi suất dài hạn, và sự khácbiệt trong lãi suất huy động của ngân hàng có diễn ra sáp nhập và ngân hàng khôngdiễn ra sáp nhập có thể được giải thích bởi sự khác biệt trong lãi suất huy động tối hưu
và khoảng thời gian điều chỉnh trong dài hạn
Trang 25Theo nghiên cứu của Hannan và Berger, năm 1991, lãi suất bán lẻ của ngân hàng thay
đổi không thường xuyên và có một sự chậm trễ đáng kể để phản ứng với chính sách
tiền tệ
Nikoloz Gigineishvili (7/2011) tìm hiểu yếu tố quyết định đến sự truyền dẫn Hai yếu
tố được nghiên cứu là điều kiện kinh tế vĩ mô và cấu trúc trị trường tài chính Sau khithử nghiệm một loạt các biến có thể giải thích, họ đã tìm thấy GDP bình quân, lạmphát, lãi suất, chất lượng tín dụng, chi phí hoạt động và sự cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng đã tạo điều kiện cho quá trình truyền dẫn, nhưng sự biến động thị trường, dư
thừa thanh khoản trong hệ thống ngân hàng lại cản trở quá trình này Các quốc gia có
tỷ giá cố định thì có xu hướng truyền dẫn yếu hơn như các nước Trung Đông, Trung Á
và các quốc đảo nhỏ Mối tương quan thuận giữa lạm phát và sự truyền dẫn mạnh mẽcho thấy sự thành công quan trọng trong nhiệm vụ hạn chế lạm phát thì ngân hàng
trương ương đã làm suy yếu sự truyền tải của chính sách tiền tệ Hạn chế chi phí hoạtđộng cũng có thể làm suy yếu sự truyền dẫn
Theo nghiên cứu của Hofmann và Mizen (2004), Kleimeier và Sander (2005) tại hầuhết các nền kinh tế kể cả những nền kinh tế phát triển sự truyền dẫn lập trường của cácchính sách tiền tệ đến nền kinh tế là chậm chạp và không hoàn toàn
Bên cạnh việc nghiên cứu sự truyền dẫn, các nhà kinh tế học cũng đồng thời nghiêncứu về sự truyền dẫn là cân xứng hay không Liệu có sự khác nhau giữa các loại lãisuất và khi nó ở trên hay dưới mức cân bằng
Hannan và Berger(1991) cùng với Neuman và Sharpe (1992) là những người đầu tiênnghiên cứu về sự cứng nhắc của lãi suất huy động Với giả định rằng có sự truyền dẫn
đầy đủ và ngay lập tức vào trong lãi suất cho vay bán lẻ, họ đã kiểm tra xem sự tácđộng của quyền lực ảnh hưởng thị trường (độc quyền) lên thị trường huy động trong sự
cứng nhắc của lãi suất huy động ở Mỹ Họ đã tìm ra sự điều chỉnh không cân xứng
Trang 26trong lãi suất huy động, nghĩa là các ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động tăng chậm
hơn khi họ điều chỉnh lãi suất huy động giảm và họ quy kết cho quyền ảnh hưởng thịtrường (độc quyền) của các ngân hàng trên thị trường tiền gửi
Mojon (2000) đã kiểm tra sự truyền dẫn trong ngắn hạn vào lãi suất huy động và cho
vay tại 5 nước khu vực EU ( Bỉ, Đức, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha ) giả định rằng có sựtruyền dẫn đầy đủ trong dài hạn Mojon đã chỉ ra rằng lãi suất bán lẻ phản ứng chậmchạp đối với sự thay đổi của lãi suất thị trường; lãi suất dài hạn phản ứng chậm hơn lãisuất ngắn hạn, và đây là một sự bất cân xứng về mức độ truyền dẫn Sự truyền dẫn vàolãi suất cho vay sẽ nhiều hơn khi lãi suất thị trường tăng so với khi lãi suất thị trườnggiảm, nhưng điều ngược lại lại đúng đối với lãi suất huy động
Những nghiên cứu mới nhất gần đây như Pih Nee Tai, Siok Kun Sek, Wai Mun Har(1/2012) về sự minh bạch và sự truyền dẫn ở các nước ASIA Kết quả cho thấy tỷ lệtruyền dẫn vào trong lãi suất cho vay và lãi suất huy động không cho thấy sự khác biệtlớn Trong hầu hết các trường hợp, tỷ lệ truyền dẫn vào trong lãi suất cho vay là hơinhỏ hơn so với lãi suất huy động Sự truyền dẫn vào trong lãi suất cho vay và lãi suất
huy động là rất chậm và không đáng kể, ngoại trừ Malaysia, Hong Kong và Singapore
Sự truyền dẫn vào lãi suất cho vay và lãi suất huy động có sự khác nhau giữa các nềnkinh tế Sự truyền dẫn vào lãi suất huy động đã giảm ở tất cả các nền kinh tế, ngoại trừ
Malaysia Tương tự như vậy, sự truyền dẫn vào lãi suất cho vay cũng giảm ở các nền
kinh tế chính ngoại trừ trường hợp của Malaysia, Hàn Quốc và Hong Kong Nhìnchung, kết quả cho thấy sự truyền dẫn của chính sách lãi suất vào lãi suất bán lẻ ở các
nước ASEAN là khó khăn Từ quan điểm của chính sách tiền tệ, các tác giả hầu như
không tìm thấy bằng chứng cho thấy sự hiệu quả của chính sách tiền tệ ở các nước
ASIA như sự truyền dẫn vào lãi suất huy động và cho vay vẫn ở mức thấp ở rất nhiều
quốc gia và một vài nền kinh tế thậm chí còn sụt giảm sau thời kỳ khủng hoảng Ởnhững nền kinh tế này, chính sách lãi suất ảnh hưởng ít đến lãi suất huy động và cho
Trang 27vay, trường hợp này cho thấy chính phủ các nước không có khả năng kiểm soát lãi suất
thị trường một cách hiệu quả thông qua chính sách lãi suất để đưa nền kinh tế đạt đượccác mục tiêu Thị trường tài chính là không hiệu quả và thiếu sự hội nhập
Chong và cộng sự (2005) đã kiểm tra lãi suất huy động có kỳ hạn khác nhau và lãi suấtcho vay của cả ngân hàng thương mại và công ty tài chính ở Singapore và đã nhận rarằng các tổ chức tài chính điều chỉnh lãi suất của họ lên chậm hơn xuống Họ cũng chỉ
ra rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các sản phẩm tài chính và giữa ngân hàng với
các công ty tài chính Nhưng họ không thấy sự truyền dẫn hoàn toàn vào lãi suất
Paula Antão (5/2009) nghiên cứu các đặc tính và yếu tố quyết định đến sự truyền dẫntrong hệ thống ngân hàng Bồ Đào Nha Kết quả chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn đối vớilãi suất cho vay là hoàn toàn còn đối với lãi suất huy động thì ít hơn Về tốc độ điềuchỉnh, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực doanh nghiệp thì điều chỉnh nhanh hơn khi có
sự thay đổi trong lãi suất thị trường Ngoài ra bài này cũng tìm thấy mối quan hệ tiêucựu giữa kỳ hạn huy động và tốc độ điều chỉnh nhưng đối với kỳ hạn cho vay thìkhông
Theo Harald Sander và Stefanie Kleimeiner (2004), trong thị trường tiền gửi, biến độngnhiều hơn, cạnh tranh hơn, làm tăng sự dẫn truyền cả trong ngắn hạn và dài hạn TheoBenoit Bojon( 2000), cạnh tranh có tác động đáng kể đến sự dẫn truyền của lãi suất
huy động Lãi suất ngân hàng trong thị trường cạnh tranh hơn, phản ứng mạnh vànhanh hơn với sự thay đổi lãi suất thị trường Do vậy tăng tính cạnh tranh để sự dẫn
truyền của chính sách tiền tệ hiệu quả hơn Thị trường ngân hàng cạnh tranh hơn dẫntới kỳ vọng lãi suất cho vay ngân hàng giảm, điều này làm tăng phúc lợi cho cá nhân
và doanh nghiệp Áp lực cạnh tranh là cao hơn ở thị trường cho vay hơn là thị trườngtiền gởi ở khu vực Euro, tuy nhiên ở nước ta, do hệ thống ngân hàng còn phụ thuộcnhiều vào hệ thống ngân hàng có vốn góp cao của nhà nước nên lãi suất cho vay chưa
Trang 28được linh hoạt nhiều do nhà nước áp trần lãi suất cho vay không quá cao để cứu doanh
nghiệp
Ming Hua Liu và các cộng sự (2005) đã nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc và đưa
ra các kết luận rằng có một mối quan hệ yếu trong dài hạn giữa lãi suất huy động vàlạm phát tại đây, bên cạnh đó, trong ngắn hạn ngân hàng trung ương trung quốc cũngtiến hành điều chỉnh lãi suất huy động giảm xuống nhanh hơn là điều chỉnh nó tăng lên.Thể hiện sự không hiệu quả trong chính sách tiền tệ tại Trung quốc đồng thời nêu lênmục tiêu của chính phủ nước này là duy trì nền kinh tế phát triển và tính ổn định của hệthống tài chính
Mỗi bài nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau ứng với đặc điểm mỗi nước ởtừng giai đoạn, dẫn đến kết quả nghiên cứu cũng không đ ồng nhất Vì vậy, tác giả thựchiện bài nghiên cứu này để cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về mức độtruyền dẫn của chính sách tiền tệ tại Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2, bài luận văn đã giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, đưa ra cơ sở lý thuyết về Chính sách tiền tệ, bao gồm khái niệm về chínhsách tiền tệ, các công cụ của chính sách tiền tệ và cơ chế truyền dẫn lãi suất của chínhsách tiền tệ
Thứ hai, lược khảo những công trình nghiên cứu trước đây về mức độ truyền dẫn chínhsách tiền tệ
Nội dung các phần đã cho thấy, chính sách tiền tệ và việc kiểm tra, đo lường mức độtruyền dẫn chính sách tiền tệ là vấn đề rất quan trọng trong nền kinh tế, tuy nhiên cácnghiên cứu trước đây về sự truyền dẫn chính sách tiền tệ còn khá ít Vì vậy, không chỉdừng ở việc nghiên cứu định tính về vấn đề này, bài luận văn tiếp tục đi đến phân tích
Trang 29định lượng để đưa ra được những bằng chứng xác thực, làm cơ sở cho các kiến nghị và
đề xuất
Trang 30CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tại Việt Nam hiện nay những nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất còn khá ít vì thế tác giảchọn sử dụng phương pháp nghiên cứu được đưa ra bởi nhóm tác giả Ming-Hua Liu,Dimitri Margaritis và Alireza Tourani-Rad thuộc trường đại học Auckland, NewZealand Nhóm tác giả này đã nghiên cứu độ truyền dẫn lãi suất tại nền kinh tế TrungQuốc vào giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị
trường và có nhiều điểm tương đồng với nền kinh tế Việt Nam
3.1 Mô hình hồi quy
Tác giả tiến hành đo lường cả mối quan hệ trong dài hạn và những động lực ngắn hạngiữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất huy động, có hai bước thuật toán sẽ được sử dụng trongbài
Mối quan hệ trong dài hạn giữa lạm phát và lãi suất huy động được biểu diễn như sau:
yt = α0 + α1xt + εt (3.1)Với : ytlà lãi suất huy động – biến phụ thuộc
xttương ứng với tỷ lệ lạm phát- biến độc lập
Εtlà sai số kỳ hạn
α0 và α1là tham số dài hạn
Phương trình (3.1) chỉ ước tính được trong dài hạn Khi lạm phát thay đổi, Ngân hàng
Trung ương sẽ không điều chỉnh mức lãi suất huy động ngay lập tức Để ước tính các
động lực làm thay đổi lãi suất huy động trong ngắn hạn đại diện cho sự thay đổi của
lạm phát, tác giả sử dụng phương pháp hiệu chỉnh sai số chuẩn (standard correction methodology) được sử dụng bởi Chong và cộng sự (2005) và Scholnick(1996) Sai số hiệu chỉnh được thể hiện bằng:
Trang 31error-yt= β1 t+ β2(yt-1– α0– α1xt-1) + νt (3.2)Hầu hết các chuỗi thời gian về kinh tế là không dừng vì chúng thường có một xu
hướng tuyến tính hoặc mũ theo thời gian Tuy nhiên, có thể biến đổi chúng về chuỗi
dừng thông qua quá trình sai phân, Ví dụ, bằng cách tính hiệu số xt– xt-1 Nếu chuỗi saiphân có tính dừng, chúng ta nói chuỗi ban đầu là tích hợp bậc nhất, nghĩa là , I(1) Mộtchuỗi tuân theo bước ngẫu nhiên rõ ràng là I(1)
sự mất cân bằng trong thời gian (t-1) và nó là phần dư của mối quan hệ dài hạn được
với sự thay đổi của lạm phát (vd: thời kì 1 tháng); β2 nắm bắt mức độ hiệu chỉnh sai
số khi lãi suất xa khỏi mức cân bằng
Theo Hendry (1995), độ trễ điều chỉnh trung bình (MAL) của sự truyền dẫn hoàn toàn
có thể được tính toán như sau:
MAL= (1- β1)/ β2 (3.3)
Độ trễ điều chỉnh trung bình MAL là tiêu chuẩn đo lường khoảng thời gian (trongtrường hợp này là số tháng) để tỷ lệ lãi su ất hoàn toàn được điều chỉnh về với mối
quan hệ cân bằng trong dài hạn
Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng việc điều chỉnh trong ngắn hạn là không cân xứ ng.Nói cách khác, tốc độ điều chỉnh là khác nhau giữa lãi suất khi cao hơn và thấp hơnmức cân bằng (Scholnick, 1996, Kleimeier and Sander, 2006, và Chong và cộng sự,
2006) Để kiểm tra sự tồn tại của sự điều chỉnh không cân xứng, tác giả sử dụng thêm
một biến giả, λ , thêm vào trong phương trình (2) λ bằng một nếu số dư, t-1, là
dương và bằng không nếu âm Phương trình bất cân xứng ngắn hạn như sau:
Trang 32yt= t+ 2λ t-1+ 3(1- λ) t-1 + t(3.4)
Trong đó: 2 nắm bắt tốc độ điều chỉnh sửa lỗi khi lãi suất ở trên giá trị cân bằng và
3 nắm bắt tốc độ điều chỉnh sủa lỗi khi lãi suất ở dưới mức cân bằng Để kiểm tra sựtồn tại của sự điều chỉnh không cân xứng, tác giả sử dụng kiểm định Wald để xác địnhliệu 2 có khác đáng kể so với 3
Giống như trong trường hợp có sự điều chỉnh cân xứng, tác giả có thể tính toán được
độ trễ điều chỉnh bất cân xứng trung bình (MAL) của trường hợp truyền dẫn hoàn toànnhư sau (Hendry, 1995):
MAL+= ( )/ 2, (3.5)MAL-= ( )/ 3, (3.6)Với MAL+ đại diện độ trễ điều chỉnh trung bình khi lãi suất nằm trên mức cân bằng và
Trong bài nghiên cứu gốc, các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy Bình phương
bé nhất OLS để ước lượng các mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát trong dài hạn, vàngắn hạn cũng như là sự điều chỉnh bất cân xứng Tuy nhiên, phương pháp hồi quyOLS bản thân nó là phương pháp chỉ đưa đến các ý nghĩa thống kê chứ không có ýnghĩa về kinh tế Phương pháp OLS được xây dựng dựa trên 2 giả định chính đó là
phương sai không đổi và các sai số là ngẫu nhiên, nhưng trên thực tế , đối với các dữ
liệu chuỗi thời gian 2 giả định trên sẽ bị vi phạm nghiêm trọng , do đó phương phápOLS sẽ đưa đến những kết quả không chính xác Do đó, trong bài nghiên cứu này , tácgiả sẽ sử dụng phương pháp ước lượng moment tổng quát GMM (Generalized Method
of Moments) để thay thế phương pháp OLS Phương pháp GMM có thể khắc phục
được hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi trong dữ liệu chuỗi thời gian do
Trang 33đó sẽ đưa đến một kết quả có ý nghĩa kinh tế cao hơn Phương pháp GMM được Lars
Peter Hansen trình bày lần đầu tiên vào năm 1982 Một cách tổng quan, GMM là
phương pháp tổng quát của rất nhiều phương pháp ước lượng phổ biến như OLS,
GLS, MLE Ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương pháp GMMcho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả
3.2 Dữ liệu và cách thức chọn mẫu
Bài nghiên cứu này thu thập dữ liệu theo tháng trong giai đoạn 2008-2017, kích thướccủa mẫu là 120 Dữ liệu về lạm phát của từng tháng được đo lường bởi chỉ số CPI đượcthu thập từ International Financial Statistics (IFS) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Cácmức lãi suất huy động được sử dụng trong bài bao gồm lãi suất huy động không kì hạn,
kì hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng được niêm yết theo quy định củaAgribank Tất cả những dữ liệu được sử dụng trong bài đều có đơn vị là %/ tháng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương 3 bài luận văn đã trình bày về mô hình hồi quy được sử dụng, các thuậttoán và cách thức chọn mẫu của bài nghiên cứu, tiếp theo chương 4 sẽ trình bày về kếtquả nghiên cứu đã thu được sau khi chạy hồi quy bằng phần mềm Eviews 8
Trang 34CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ ĐẾN LÃI SUẤT BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐÔNG GIA LAI
Chương 4 sẽ trình bày sơ lược về các chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn
2008-2017 và kết quả thu được sau khi chạy hồi quy các chuỗi dữ liệu để xác định xem liệu
có sự tồn tại mối quan hệ trong dài hạn và ngắn hạn giữa lạm phát và các mức lãi suất
huy động vào giai đoạn 2008-2017 hay không? Và mức độ điều chỉnh của Ngân hàngnhà nước đưa ra liệu có sự mất cân xứng khi lãi suất nằm ở trên và dưới mức cân bằng?Trước khi tiến hành hồi quy tác giả cũng sẽ thực hiện các thống lê mô tả, kiểm định
tính dừng của chuỗi dữ liệu và xác định mối quan hệ đồng liên kết
4.1 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2008-2017
Tại Việt Nam cơ chế truyền dẫn lãi suất được thực hiện qua hai giai đoạn: giai đoạnmột từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường, cụ thể là từ lãi suất tái chiết khấu vàtái cấp vốn đến lãi suất liên ngân hàng, giai đoạn hai từ lãi suất thị trường đến lãi suấtbán lẻ Với mục tiêu là ổn định kinh tế và kiềm chế lạm phát khi có sự thay đổi trong tỷ
lệ lạm phát thực hiện chênh lệch với mức lạm phát mục tiêu đề ra NHNN sẽ có những
động thái thay đổi mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn Động thái
này sẽ làm thay đổi mức lãi suất bán lẻ cụ thể là lãi suất huy động tại từng NHTM.Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 có thể chia thành 2 giai đoạn nhỏ hơn vớicác chính sách tiền tệ đưa ra dựa trên sự phát triển của nền kinh tế có sự khác biệt khá
rõ đó là giai đoạn 2008 – 2012 và giai đoạn 2012 – 2017
Trong giai đoạn 2008 – 2012:
Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi, hội nhập với nền kinh tếthế giới Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức Thương mại thếgiới WTO đánh dấu bước phát triển mới cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Trang 35Bên cạnh những thuận lợi mà việc toàn cầu hóa nền kinh tế mang lại thì việc đưa nềnkinh tế Việt Nam vươn ra tầm khu vực và thế giới cũng mang lại những thách thức choviệc điều hành nền kinh tế của chính phủ.
Giai đoạn 2008-2012 là giai đoạn thách thức đối với những nhà điều hành chính sách
tại Việt Nam, sau khi nền kinh tế trở nên phát triển quá nóng vào năm 2007, sang năm
2008 lại phải đối mặt với sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà dư
âm của nó vẫn còn kéo dài cho đến nay Năm 2008 khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn
ra bắt nguồn tại Mỹ và nhanh chóng lan rộng ra các nước khác, chính phủ đã đưa ramục tiêu cho ngành Ngân hàng phải điều hành chính sách tiền tệ một cách khoa học,
đúng quy luật, theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với nền kinh tế Việt Nam nhằm đạt
mục tiêu phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát thấp hơn tốc độ phát triển kinh tế đồngthời phải tăng cường công tác thanh tra kiểm tra đối với các ngân hàng và các tổ chứctín dụng Một nền kinh tế khỏe mạnh cần phải có sự bền vững của hệ thống ngân hàng
do đó việc thanh tra, kiểm tra giám sát và tăng cường công tác quản lí tại các ngân
hàng và tổ chức tín dụng được đặc biệt chú trọng (thông cáo báo chí tổng kết năm 2008
– Ngân hàng nhà nước Việt Nam) Ngày 10/4/2008, Thống đốc Ngân hàng nhà nước
Việt Nam đã ký Quyết định số 860/QĐ-NHNN về việc thành lập Tổ giám sát thị
trường tiền tệ, với nhiệm vụ chính là giám sát thị trường tiền tệ, cập nhật thông tinthường xuyên, đưa ra phân tích đánh giá diễn biến thị trường tạo cơ sở để tham mưuđưa ra những biện pháp xử lý
Tại Việt Nam, việc điều hành và thực hiện chính sách tiền tệ được Chính phủ giao cho
Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đứng đầu là thống đốc Ngân hàng nhà nước Việc áp
dụng mức trần lãi suất huy động từ ngày 02/04/2008 đã giúp cho ngân hàng nhà nư ớc
tăng cường mức độ quản lí đối với các mức lãi suất tại các ngân hàng thương mại ngăncác trường hợp tự ý đẩy mức lãi suất huy động lên quá cao Khi đối mặt với tình trạng
lạm phát tăng cao, Ngân hàng nhà nước áp dụng những chính sách như tăng mức lãi
Trang 36suất cơ bản ( cao nhất vào giai đoạn tháng 06-10/2008 với mức 14%), đồng thời điềuchỉnh mức tăng lãi suất tín phiếu Ngân hàng nhà nước.
Trước tình hình phát triển mới của nền kinh tế, Ngân hàng nhà nước vẫn giữ mục tiêu
hoạt động của mình đó là điều hành lãi suất, tỷ giá vừa thắt chặt, vừa linh hoạt, đảmbảo cho tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, nhưng vẫn đảm bảo vốn cho nềnkinh tế, nhất là vốn cho nông nghiệp nông thôn, nông dân và xuất khẩu ( thông cáo báo
chí tháng 8/2009) Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư (số
15/2009/TT-NHNN ngày 10/8/2009) qui định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn
được sử dụng để cho vay trung và dài hạn với mục tiêu đảm bảo an toàn hoạt động, đặcbiệt là khả năng thanh khoản của các tổ chức tín dụng Đồng thời cũng ban hành nhữngthông tư để quy định chi tiết về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
trung và dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh mới như Thông tư 05/2009/TT-NHNN
ngày 7/4/2009 và Thông tư số 21/2009/TT-NHNN
Ngân hàng nhà nước cũng tăng cư ờng can thiệp và ổn định thị trường ngoại hối, năm
2010 Ngân hàng nhà nước đã tiến hành tăng mức tỷ giá VND/USD 2 lần và vào ngày
11/02/2011 mức tăng cao nhất là 9.3% đạt mức 20.693VND/USD đồng thời cũng tiếnhành thu hẹp biên độ giao dịch từ 3% xuống còn 1% Động thái này của Ngân hàng
nhà nước đã kích thích được sự phát triển của nền kinh tế thông qua nguồn ngoại tệ dồi
dào, các khoản vốn đầu tư trực tiếp….đồng thời thu hẹp mức chênh lệch giữa tỉ giágiao dịch trên thị trường và mức tỉ giá niêm yết
Trong năm 2012, Ngân hàng nhà nước tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, tái cơ cấu
lại các tổ chức tín dụng, do đó , 03 ngân hàng đã tiến hành hợp nhất với nhau, 01 ngân
hàng đã sáp nhập vào ngân hàng khác, 3 ngân hàng đang tiến hành tự cơ cấu lại và 01
ngân hàng sẽ hợp nhất vào tổ chức tín dụng khác Đồng thời có những biện pháp để xử
lí các khoản nợ xấu, nợ không có khả năng thanh toán, tích cực chỉ đạo các tổ chức tíndụng triển khai các giải pháp kiềm chế nợ xấu gia tăng, thu hồi nợ đến hạn và chủ động
Trang 37xử lý nợ xấu phù hợp với quy định của pháp luật Trong năm 2012, nợ xấu được các tổchức tín dụng xử lý ước đạt 45 nghìn tỷ đồng; các biện pháp cơ cấu lại nợ đã góp phầnkiềm chế nợ xấu tăng nhanh và hỗ trợ khách hàng vay vốn Nhiều tổ chức tín dụng đãchấp nhận giảm lợi nhuận, tiết giảm chi phí, kể cả tiền lương, tiền thưởng của người
lao động để tập trung trích lập dự phòng rủi ro cho xử lý nợ xấu (thông cáo báo chínăm 2012 – Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ được ban hành dường như vẫn chưa phát huy được hếtkhả năng của nó, hiệu quả mà nó mang lại cho nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là rất ít.Việc áp dụng mức lãi suất cơ bản và trần lãi suất huy động vẫn chưa thực sự mang lạihiệu quả khi các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn thường xuyên tiến hành chạy
đua lãi suất thông qua các hình thức khuyến mãi, quà tặng cho khách hàng Do đó,
ngày 7/9/2011, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 02/CT -NHNNchấn chỉnh việc thực hiện các quy định về mức lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam
và bằng đôla Mỹ của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Chỉ thịyêu cầu các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện đúng
các quy định tại Thông tư số 02/2011/TT -NHNN và Thông tư số 14/TT-NHNN về
mức lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam và đôla Mỹ Chỉ thị nêu rõ, nếu vi phạm
các quy định trên, người quản lý, điều hành của tổ chức tín dụng sẽ bị đình chỉ, miễn
nhiệm chức vụ trong thời hạn 3 năm; Các tổ chức tín dụng vi phạm sẽ bị hạn chế mởrộng phạm vi, quy mô, địa bàn hoạt động trong thời hạn 1 năm kể từ ngày bị xử lý,hoạt động huy động và cho vay của đơn vị vi phạm cũng bị hạn chế hoặc tạm đình chỉ
Động thái quyết liệt này của Ngân hàng nhà nước cũng đã mang lại một số thành quả
Trang 38(khoảng 25%) Tuy nhiên xét trên tổng thể toàn mức tiết kiệm ròng của Việt Nam thìlại thể hiện khoảng âm khá lớn Tiết kiệm ròng nội địa bao gồm tiết kiệm ròng khu vựcChính phủ và tiết kiệm ròng khu vực tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp - baogồm cả DNNN) Thâm hụt ngân sách (tiết kiệm ròng của Chính phủ mang dấu âm) ởmức cao và dai dẳng trong thời gian dài để phục vụ cho mô hình tăng trưởng đã đónggóp lớn vào tỉ lệ tiết kiệm nội địa thấp Bên cạnh đó các chính sách kích thích tăng
trưởng thông qua nới lỏng tiền tệ và tài khóa trong thời gian dài làm nền kinh tế phát
triển quá nóng gây ra tỷ lệ lạm phát cao, bong bóng bất động sản, và sự hoạt động thiếuhiệu quả của hệ thống ngân hàng cũng đã góp phần làm giảm tỷ lệ tiết kiệm ròng củaViệt Nam ( báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 - Ủy ban kinh tế Quốc Hội)
Giai đoạn 2012 - 2017
Từ năm 2012 đến năm 2017, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn mục tiêu kiềm chế,kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, chủ đạo cho điềuhành chính sách tiền tệ quốc gia Mục tiêu này được nhấn mạnh tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và được thực hiện nhấtquán trong toàn ngành Ngân hàng suốt năm 2017 Mục tiêu mà ngành Ngân hàng tiếptục đặt ra trong thời gian tới là bám sát các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội củaChính phủ, tập trung vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức
hợp lý
Hiện nay định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ng ân hàng là:“Điềuhành chủ động và linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát,không chủ quan với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ởmức hợp lý, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD Điều hành lãi suất và tỷ giáphù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát, bảo
đảm giá trị đồng Việt Nam, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền
Trang 39kinh tế Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tí n dụng đi
đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp
trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh; tiếp tụctriển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngàn h kinh tế,chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưutiên theo chủ trương của Chính phủ Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại
các TCTD Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác” Trên cơ sở bám sát
mục tiêu của Quốc hội tại Nghị quyết số 77/2014/QH13 ngày 10/11/2014 (websie
Ngân hàng nhà nước)
Khác với tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trước, từ năm 2012 đế n
năm 2017, Ngân hàng Nhà nước luôn thể hiện rõ cam kết duy trì lạm phát thấp không
chỉ trong ngắn hạn mà cả mục tiêu duy trì lạm phát ổn định trong trung và dài hạn
Trước những khó khăn mà nền kinh tế Việt Nam phải đối diện, Ngân hàng Nhà nước
đã triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, hỗ trợ thị trường Bảng 4.1 cho thấy mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát và
tăng trưởng tại Việt Nam giai đoạn từ 2005 đến năm 2017
Bảng 4.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng tại Việt Nam
Trang 40Nguồn: Tổng cục thống kê 2018
Và Hình 4.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn
2001 – 2017