Trên cơ sở lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước về nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 biến độc lập được cho là có
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Mã ngành : 60340201
Người hướng dẫn khoa học : TS LÊ THANH NGỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 20…
Người hướng dẫn khoa học
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 20…
Chủ tịch Hội đồng xét duyệt
Trang 5TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận trong giai đọan 2013-2017 Từ đó gợi ý các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận
Trên cơ sở lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước về nhân
tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 biến độc lập được cho là có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận, đó là: Khả năng tài chính của người vay, Tài sản đảm bảo nợ vay, Kinh nghiệm kinh doanh của khách hàng vay, Sử dụng vốn vay, Lịch sử vay nợ, Lĩnh vực chính tạo ra thu nhập
để trả nợ và 1 yếu tố phụ thuộc là Rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng, có 4 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận, bao gồm: Kinh nghiệm của khách hàng vay (KNKHACHHANG), Khả năng tài chính của khách hàng vay (TCKHACHHANG), Lĩnh vực chính tạo ra thu nhập để trả nợ (LINHVUCTN) và Uy tín sử dụng vốn của khách hàng vay (UYTINSDV) Mô hình nghiên cứu có mức độ phù hợp đạt khá cao 79.3%, điều này chứng tỏ khả năng giải thích của các yếu tố độc lập giải thích được 79.3% sự biến thiên trong dữ liệu của biến phụ thuộc - Rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả cũng gợi ý các biện pháp giúp cho Ban giám đốc Ngân hàng có cơ sở trong việc đề ra các chính sách nhằm phòng ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong các năm tới cho Vietcombank Bình Thuận
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lê Thanh Ngọc
Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn rõ ràng, minh bạch Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tôi tự thực hiện, trung thực
và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2018
Học viên
Đặng Duy Hoài Vũ
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên từ gia đình, quý Thầy Cô và các bạn bè Vì vậy, tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
- TS Lê Thanh Ngọc, người đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình tìm kiếm tài liệu, thực hiện đề cương đến khi hoàn tất luận văn
- Quý Thầy Cô giáo đã truyền đạt cho tôi rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý giá trong thời gian theo học tại trường
- Gia đình, bạn bè, anh chị đồng nghiệp đã nhiệt tình hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình học tập cũng như giai đoạn thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2018
Học viên
Đặng Duy Hoài Vũ
Trang 8MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa của đề tài 5
1.7 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 7
2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 7
2.1.1 Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng 7
2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 8
2.1.3 Các dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro tín dụng 10
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 12
2.2.1 Nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng 13
2.2.2 Nhân tố xuất phát từ khách hàng 16
2.2.3 Nhân tố xuất phát từ môi trường bên ngoài 19
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 20
2.3.1 Nghiên cứu trong nước 20
Trang 92.3.2 Nghiên cứu nước ngoài 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Mô hình nghiên cứu và các biến 27
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 27
3.2.2 Cơ sở lựa chọn và đo lường các biến 29
3.2.2.1 Cơ sở lựa chọn các biến 29
3.2.2.2 Đo lường các biến 34
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 34
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Kết quả thống kê mô tả 36
4.1.1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo kinh nghiệm của khách hàng vay 37
4.1.2 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo khả năng tài chính của Khách hàng 38
4.1.3 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo tỷ lệ vốn vay/ TSBĐ 39
4.1.4 Cơ cấu mẫu nghiên cứu theo uy tín sử dụng vốn 40
4.2 Kết quả phân tích hồi quy 40
4.2.1 Kết quả ước lượng hồi quy Logistic 40
4.2.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 42
4.2.3 Kiểm định mức độ giải thích của mô hình 43
4.2.4 Kiểm định mức độ dự báo chính xác của mô hình 43
4.3 Thảo luận kết quả hồi quy 44
4.4 Dự báo xác suất khả năng xảy ra rủi ro tín dụng 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Gợi ý 51
Trang 105.2.1 Gợi ý liên quan đến khả năng tài chính của khách hàng 51
5.2.2 Gợi ý liên quan đến uy tín sử dụng vốn vay của khách hàng 52
5.2.3 Gợi ý liên quan đến kinh nghiệm của người vay 55
5.2.4 Gợi ý liên quan đến việc Lĩnh vực chính tạo ra thu nhập để trả nợ 56
5.3 Hạn chế của luận văn 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 12KNKHACHHANG Kinh nghiệm của khách hàng vay
TCKHACHHANG Khả năng tài chính của khách hàng vay
TLVAYTRENTSDB Tỷ lệ vay trên tài sản đảm bảo
Trang 13DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, dịch vụ ngân hàng triển khai nhiều sản phẩm mới nhằm đa dạng hóa các hoạt động sinh lời của chính ngân hàng, tuy nhiên cốt lõi trong các mảng hoạt động vẫn là hoạt động tín dụng Bởi hoạt động tín dụng mang lại thu nhập cao nhất trong tổng các nguồn thu nhập của ngân hàng thương mại, thông thường lợi nhuận từ nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ lệ từ 60% - 70% tổng thu của mỗi ngân hàng Kết quả này cho thấy vai trò hết sức quan trọng của hoạt động tín dụng, hoạt động tạo nguồn thu chủ lực, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Theo nguyên tắc “high risk, high return”, lợi nhuận đem lại cao đồng nghĩa rằng hoạt động tín dụng là hoạt động hết sức phức tạp, và hàm chứa rất nhiều rủi ro Trong nền kinh tế mở, hoạt động tín dụng luôn đối diện với tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại để vừa chiếm lĩnh thị phần, vừa tăng trưởng quy mô mà vẫn đảm bảo chất lượng Do vậy, việc các ngân hàng tạo dựng được một khung quản lý rủi ro tín dụng vững chắc, cân bằng được giữa lợi nhuận dự kiến và rủi ro có thể chấp nhận được là điều hết sức cần thiết
Để làm được điều đó, vấn đề cơ bản cần giải quyết trước tiên là hiểu được các nhân tố nào đang có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng
Cho đến nay đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu khoa học về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trên các tạp chí kinh tế nổi tiếng như Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Kinh tế và Phát triển Tuy nhiên thực tế hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục đặt ra các yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu sâu thêm về các nhân
tố ảnh hưởng mới, và thiết lập hệ thống kiểm soát hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng Bởi trong điều kiện hội nhập, tính cạnh tranh trên thị trường vốn - tín dụng trở nên gay gắt hơn, để giữ chân khách hàng và đảm bảo lợi nhuận hoạt động, ngân hàng thương mại thường đáp ứng nhu cầu tín dụng cho khách hàng ở mức
độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức cho phép Song song với điều đó, vì đề cao khía cạnh chăm sóc và phục vụ khách hàng, ngân hàng thương mại bỏ qua hoặc hạ chuẩn một
Trang 16vài điều kiện tín dụng, làm suy giảm chất lượng dẫn đến các rủi ro tín dụng Thực tế cho thấy, để đi đến mỗi quyết định cấp tín dụng được ban hành ra, là hàng loạt các tác động thẩm tra của con người được tiến hành theo từng hệ quy chiếu riêng, phù hợp với khẩu
vị rủi ro khác nhau của từng ngân hàng thương mại Mục tiêu cuối cùng mà hệ thống ngân hàng mong muốn vẫn là hiệu quả tín dụng, là phải đảm bảo quản trị được rủi ro, đảm bảo sự cân bằng giữa lợi nhuận dự kiến mà khoản tín dụng đem lại so với rủi ro có thể chấp nhận được của hoạt động tín dụng ấy Qua các báo cáo truyền thông hiện nay
về ảnh hưởng của các khoản tín dụng không có khả năng thu hồi gây ra đối với nền kinh
tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, ta thấy rằng việc quản trị rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thương mại là thực sự cần thiết nhằm hạn chế những tác động to lớn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế và vì chính sự phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại
Thực tiễn hoạt động kinh doanh, Vietcombank Bình Thuận được cấp trên giao chỉ tiêu hàng năm gồm kế hoạch dư nợ, chất lượng tín dụng, huy động vốn và lợi nhuận trên
cơ sở năm sau cao hơn năm trước Trong trường hợp chi nhánh không đảm bảo được chất lượng hoạt động tín dụng, tức để xảy ra rủi ro tín dụng thường xuyên thì một mặt lãi dự thu sẽ bị đưa ra ngoại bảng khiến lợi nhuận của ngân hàng giảm, mặt khác phải trích chi phí lập dự phòng rủi ro nhiều hơn vì tỷ lệ nợ xấu cao dẫn đến chi phí tăng, bản thân CBTD và lãnh đạo tốn nhiều thời gian và công sức trong việc xử lý rủi ro tín dụng khiến năng suất làm việc kém đi Kết quả là chi nhánh ngân hàng hoạt động không hiệu quả so với chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh Khi rủi ro tín dụng xảy ra với số tiền lớn, trong nội bộ gây ra nhiều hệ lụy như trên, bên ngoài khi so sánh với các chi nhánh khác tương đồng về quy mô, chi nhánh có rủi ro tín dụng còn bị đánh giá yếu kém so với các chi nhánh, điều này ảnh hưởng trực tiếp về mặt thu nhập của toàn bộ cán bộ ngân hàng chi nhánh đó chứ không riêng cán bộ tín dụng hay người quản lý, kiểm soát mảng hoạt động tín dụng Trong khi đó, rủi ro tín dụng phát sinh ở hầu hết các CBTD, tùy theo năng lực
và kinh nghiệm của mỗi người mà nợ xấu phát sinh nhiều hay ít, và có một thực tế là đã
Trang 17làm CBTD thì ai cũng đã từng đối mặt với rủi ro tín dụng, cũng đã tốn khá nhiều thời gian và công sức làm việc thương thảo với khách hàng, khởi kiện ra Tòa án, gửi hồ sơ ra Thi hành án, tham gia phối hợp phát mãi tài sản thế chấp, tìm kiếm người mua tài sản thế chấp…
Từ thực tế trên, với cương vị là một cán bộ tín dụng, tác giả mong muốn thực hiện nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank Bình Thuận” để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng cho chi nhánh Vấn đề đặt
ra là: làm thế nào để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng cho chi nhánh, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng ngừa Việc phòng ngừa để không phát sinh rủi ro tín dụng tốt hơn là khi đã phát sinh rủi ro rồi mới đi xử lý Bởi tác giả đã từng có thời gian làm trực tiếp khâu xử lý nợ
và nhận thấy đa phần việc khởi kiện - phát mãi tài sản thu hồi nợ mất thời gian trên 2 năm, trong khi kế hoạch nợ xấu hàng năm bằng 0, tức không để xảy ra nợ xấu với bất kỳ khoản tín dụng nào Do vậy, theo quan điểm của tác giả thì việc phòng ngừa rủi ro tín dụng là điều rất quan trọng
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận để làm đề tài nghiên cứu Từ các kết luận của nghiên cứu, tác giả đề xuất một số giải pháp cho Ban lãnh đạo Vietcombank Bình Thuận để thực thi các chiến lược quản trị giảm thiểu rủi ro tín dụng một cách hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, mang lại lợi ích thiết thực cho Vietcombank Bình Thuận
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nhận diện các nhân
tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận trong giai đọan
2013-2017 Từ đó gợi ý các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận
Trang 181.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận trong giai đoạn 2013 – 2017, từ phía khách hàng hay từ phía Ngân hàng?
(2) Các nhân tố đó có xu hướng và mức độ tác động như thế nào?
(3) Giải pháp nào giúp hạn chế rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận trong thời gian tới
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận
Trang 191.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp chính:
➢ Nghiên cứu định tính: được tiến hành nhằm xác định các khái niệm dùng trong
thang đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank Bình Thuận Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia, qua đó giúp điều chỉnh, phát triển thang đo các thành phần và là cơ sở để tiến hành nghiên cứu chính thức
➢ Nghiên cứu định lượng: Phần mềm SPSS được sử dụng để xử lý, phân tích các
dữ liệu nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại, và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, các mô hình đo lường rủi ro tín dụng hiện đại Qua đó, tác giả có đề cập một số dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro tín dụng
Về mặt thực tiễn: việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Vietcombank Bình Thuận sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho Ban lãnh đạo xác định được các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng tại đây Từ đó xác định đúng phương hướng, mục tiêu trong công tác tín dụng, hoạch định chính sách cải tiến phù hợp góp phần giảm thiểu và ngăn ngừa rủi ro trong quá trình cho vay khách hàng, quản lý chặt chẽ khoản tín dụng trước trong và sau khi cho vay
1.7 Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trang 20Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và Gợi ý
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng
2.1.1 Khái niệm và bản chất của rủi ro tín dụng
Rủi ro hàm nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất và có thể diễn ra đối với tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tài chính Theo Bùi Diệu Anh (2013), rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ không được dự báo trước và gây tổn thất lớn tới
sự an toàn nhân lực, vật lực và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận hoạt động của ngân hàng
Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác vay vốn không thực hiện một nghĩa vụ tài chính của mình và/hoặc nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng đối với ngân hàng bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn Hiểu một cách khác thì rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay
đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc có hoàn trả khi đáo hạn Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, có hai cấp độ:
+ Khách hàng có khả năng trả nợ nhưng tiến độ trả không đúng hạn
+ Khách hàng không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng
Theo khoản 1, Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì khái niệm rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ trong
đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng vay nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả
Trang 22năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn quy định Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán… của ngân hàng và kể cả ngân hàng mua các loại trái phiếu của doanh nghiệp (Nguyễn Minh Kiều, 2007)
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo
ra tỷ lệ lớn thu nhập cho ngân hàng (Bhattacharya & Roy, 2008) Rủi ro tín dụng cũng
là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra
2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau:
Rủi ro giao dịch: là những rủi ro phát sinh do những hạn chế, sơ sót trong quá
trình xét duyệt giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có
ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng,
khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay (Có hai sai lầm thường gặp đó là quyết định cho vay đối với dự án không tốt và quyết định không cho vay đối với dự án tốt)
+Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm tiền vay như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, hợp đồng bảo đảm tài sản, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Trang 23Rủi ro danh mục: là những rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh
mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục được chia làm hai loại: rủi ro nội tại và rủi
ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt bên trong của mỗi
chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc các đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc Đó là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn (Trần Huy Hoàng, 2011)
Hình 2.1: Các hình thức rủi ro tín dụng
Nguồn: Quản trị ngân hàng thương mại (Trần Huy Hoàng, 2011)
Rủi ro tín dụng
Không thu đủ vốn
Không thu đủ lãi
Không thu được vốn đúng hạn
-Lãi treo đóng băng
-Miễn giảm lãi
-Nợ không có khả năng thu hồi
-Xóa nợ
Trang 24Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức, các hình thức đó luôn chuyển biến
cho nhau mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi Khi nghiên cứu rủi ro
tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơ xảy ra rủi ro, còn lãi treo đóng băng
và nợ không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro để giải quyết hậu quả
và rút ra bài học
2.1.3 Các dấu hiệu cảnh báo sớm rủi ro tín dụng
Nhận diện đúng rủi ro tín dụng để từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm phòng ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro, là động tác quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Theo các báo cáo kiểm soát nội bộ Ngân hàng, CBTD luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:
Bảng 2.1: Các dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng
2
Mức độ vay gia tăng, yêu cầu cấp tín dụng vượt quá nhu cầu dự kiến, tìm kiếm thêm nhiều nguồn tài trợ vốn lưu động từ nhiều kênh khác như vay nặng lãi hoặc từ các TCTD khác, đề nghị cơ cấu nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan
Trang 253
Có sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản thanh toán/doanh số ghi có tại Ngân hàng, dùng nguồn thu nhập khác không phải từ hoạt động sản xuất chính để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán nợ
hay trao đổi hoặc không còn tồn tại
2
Nãng lực quản trị yếu kém: nội bộ mâu thuẫn, thay đổi thường xuyên nhân sự chủ chốt, phương án kinh doanh không hiệu quả, không kiểm soát được hoạt động, tiến độ thực hiện, chi phí
3
Nãng lực tài chính yếu kém: vốn chủ sở hữu thấp, dư nợ cao, hạch toán khống các khoản mục (hàng tồn kho, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, rút vốn ra khỏi doanh nghiệp bằng cách mua lại vốn góp của cổ đông với giá cao )
4 Ðầu tư dàn trải ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của
doanh nghiệp
5
Yếu tố chuyển giá: giao dịch với công ty con hoặc công
ty của người có liên quan điều chỉnh giá nhằm đẩy chi phí tăng cao chuyển lợi nhuận cho cá nhân, công ty con
6
Các tác động có ảnh hưởng tiêu cực khác từ môi trường bên ngoài: thị hiếu tiêu dùng của khách hàng thay đổi; thay đổi chính sách về thuế quan, trợ cấp, chống bán phá
Trang 26giá của nhà nhập khẩu; nguồn nguyên liệu không chủ động được khiến giá cả đầu vào tăng; chiến lược của đối thủ cạnh tranh
khách hàng, cấp tín dụng vượt quá nhu cầu thực tế
2
Không xác định đúng lọai hình kinh doanh chủ yếu đem lại dòng tiền chính cho khách hàng nên áp dụng một cách cho vay máy móc, không phù hợp với khả năng thanh toánn thực tế
lợi dụng
hành của cấp phê duyệt tín dụng
5 Tập trung danh mục tín dụng vào một đơn vị hay một
nhóm các đơn vị liên kết nhau
gian đến hạn hoặc cùng một loại ngoại tệ với số lượng lớn
7
Ngừng cấp vốn đột ngột (khi nghe tin tức không tốt về sản xuất kinh doanh của khách hàng) làm khách hàng thiếu vốn trong ngắn hạn
Nguồn: Tác giả thu thập từ tài liệu Kiểm soát nội bộ
Trên cơ sở các dấu hiệu để nhận diện sớm rủi ro tín dụng nêu trên, cán bộ Khách hàng tiến hành đánh giá, phân loại khoản vay/khách hàng để xác định mức độ rủi ro
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Về cơ bản, tín dụng luôn hàm chứa trong nó sự bất cân xứng về thông tin Rủi ro tín dụng là hiện tượng phổ biến xảy ra trước và sau khi khoản vay được giải ngân do thất
Trang 27bại trong sự phối hợp thị trường Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng vì thế có thể đến từ nhiều phía
2.2.1 Nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng
Chính sách, quy trình tín dụng chưa phù hợp và sự vận dụng chưa nghiêm túc:
chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng và vì thế trong nó đã tiềm ẩn RRTD Một chính sách tín dụng chưa đầy đủ, đúng đắn và nhất quán sẽ tạo kẽ hở gây ảnh hưởng đến hoạt động cấp tín dụng của một ngân hàng Chính sách tín dụng hiện nay chưa thuận theo nguyên tắc thị trường, còn bị chi phối bởi những định hướng vĩ mô, áp lực hoàn thành chỉ tiêu Hầu hết các NHTM chưa xây dựng hoàn chỉnh chính sách tín dụng theo hướng quản trị danh mục khách hàng phù hợp với đặc thù, lĩnh vực sở trường của mình Đồng thời, chưa xây dựng mô hình thích hợp cho việc lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng để từ đó đo lường đầy đủ rủi ro đối với một khách hàng
Quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ, biểu hiện như chưa phân định rõ cán bộ phụ trách khâu gặp gỡ tiếp xúc khách hàng và khâu thẩm định và đề xuất cho vay là 2 bộ phận khác nhau, bởi các kết luận đề xuất cho vay có nhiều khả năng bị chi phối bởi sự đánh giá cảm tính và chủ quan của cán bộ trực tiếp thẩm định Trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các NHTM đối mặt với áp lực tăng trưởng quy mô và thị phần tín dụng, nên không ít NHTM đã bỏ qua hoặc lỏng lẽo trong thực hiện các bước của quy trình, hạ chuẩn yêu cầu đối với khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay Từ đó xảy
ra nhiều sai phạm như về điều kiện vay vốn, về việc lập hồ sơ vay vốn, về việc kiểm tra,
về cơ cấu khoản nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ)
Phẩm chất, năng lực của cán bộ tín dụng trong việc thẩm định các dự án, thẩm định khách hàng: cán bộ thiếu đạo đức và/hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém hoặc
non kinh nghiệm Đạo đức cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Đối với ngân hàng thì nhân tố con người là nhân tố quyết
Trang 28định nghề nghiệp Là người làm việc trực tiếp với khách hàng, cán bộ ngân hàng có thể cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản đảm bảo, lập chứng từ khống, ký thay khách hàng… Nếu trình độ cán bộ kém cũng có thể gây ra những sai sót chết người mà khách hàng có thể lợi dụng để chiếm dụng vốn ngân hàng để sử dụng sai mục đích hay trì hoãn trả nợ
Kiểm soát nội bộ: Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những chính
sách và quy định nên việc phát hiện kịp thời các sai sót sẽ hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng Thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ giúp cho các nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được thực trạng hoạt động, các tồn tại, sai sót đang diễn ra; từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một số ngân hàng, bộ phận này hoạt động chưa hiệu quả, nhất là tình trạng thiếu nhân sự, cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinh nghiệm nên khó phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo hoặc tham mưu kịp thời, từ đó ngân hàng có thể chấn chỉnh và khắc phục những thiếu sót nhằm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra của ngân hàng trung ương ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra, do việc kiểm tra được thực hiện song song với hoạt động kinh doanh Nếu kiểm tra nội bộ được tiến hành thường xuyên, trong mọi vấn đề, mọi bộ phận, lãnh đạo ngân hàng có thể sớm phát hiện được rủi ro, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục phù hợp Ngược lại, sẽ không nhận biết được sớm những sai sót của cán
bộ quản lý tín dụng tại các cấp do lợi ích cá nhân hay trình độ non kém, khiến ngân hàng phải chịu những tổn thất lớn, thậm chí khó vượt qua
Hệ thống thông tin phục vụ công tác ra quyết định tín dụng: hiện hệ thống ngân
hàng không sẵn có những thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định tín dụng: lịch
sử hình thành, quá trình phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, nhân sự điều hành, đặc biệt là các thông tin về giá cả, thị trường, đầu vào, đầu ra, các chỉ tiêu kinh doanh trung bình ngành là cơ sở quan trọng giúp cho việc thẩm định, xếp loại, lựa
Trang 29chọn khách hàng của các ngân hàng Chất lượng của thông tin có tác động trực tiếp đến tính chính xác của những quyết định tín dụng được đưa ra Cơ sở dữ liệu nghèo nàn trong
và ngoài ngân hàng về khách hàng và môi trường kinh doanh của khách hàng có thể đưa ngân hàng đến những quyết định sai lầm, tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng trả nợ kém, chậm phát hiện rủi ro, biện pháp xử lý rủi ro không phù hợp với nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Nếu hệ thống thông tin này không không phát huy hiệu quả sẽ tác động rất lớn đến việc đánh giá, thẩm định khách hàng của các ngân hàng Các NHTM không chỉ quan tâm đến việc nắm bắt thông tin nhằm đánh giá khách hàng đang có quan hệ tín dụng mà còn sử dụng thông tin vào những mục đích khác như gia tăng quan hệ với khách hàng hiện hữu, phát triển thêm khách hàng mới nhằm mở rộng thị phần, mở rộng đối tượng vay… Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ, hệ thống thông tin của các hệ thống ngân hàng hiện nay còn khá nhiều bất cập Cụ thể:
- Hệ thống thông tin phục vụ đánh giá, xếp loại khách hàng: Trong thời gian qua, Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) thuộc NHNN Việt Nam cung cấp thông tin về tình hình tín dụng của các khách hàng đã và đang có quan hệ tín dụng với các NHTM nhưng trên thực tế các thông tin hiện có của CIC có độ cập nhật không cao và các chỉ tiêu còn chung chung Những thông tin về lịch sử, mức độ tín nhiệm của nhân sự Ban điều hành doanh nghiệp hầu như không có Nhìn chung, CIC chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp hoạt động một cách độc lập và hiệu quả
- Hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án/phương án kinh doanh của khách hàng: Khi thẩm định các TCTD cần phải có thông tin nhằm xác định, kiểm tra các thông số đầu vào và đầu ra của dự án/phương án, nhất là các thông số về thị trường các nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra của sản phẩm,… Những biến số quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của dự án/phương án như giá nguyên vật liệu, giá bán, khả năng tiêu thụ,…lại rất ít thông tin hoặc thông tin không xác định được mức
độ tin cậy Điều này làm cho các NHTM Việt Nam gặp không ít khó khăn trong việc
Trang 30mở rộng và kiểm soát hoạt động tín dụng Các NHTM mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu
2.2.2 Nhân tố xuất phát từ khách hàng
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía khách hàng gây ra tổn thất trong hoạt động tín dụng cho ngân hàng, có thể do khách hàng cố ý lừa đảo hay do họ gặp khó khăn khách quan trong quá trình sử dụng vốn vay
Đạo đức, thiện chí của khách hàng: trong quan hệ tín dụng, khoản tín dụng có
hiệu quả đòi hỏi phải có sự hợp tác từ hai phía Sự thiếu đạo đức của khách hàng trong quá trình vay vốn tại ngân hàng được biểu hiện như cố tình sử dụng vốn sai mục đích, tìm cách lừa đảo ngân hàng, hoặc cũng có thể là các hành vi kinh doanh trái pháp luật, lừa đảo chiếm dụng vốn lẫn nhau Tất cả các hành vi đó đều mang lại rủi ro cho ngân hàng Trong thực tế cho thấy nhiều trường hợp khách hàng lập phương án kinh doanh rất có hiệu quả, ký kết hợp đồng kinh tế chứng minh đầu vào, đầu ra rất hợp lý nhưng khi vay được vốn ngân hàng lại không sử dụng đúng như phương án ban đầu đề ra Đây
là vấn đề liên quan đến đạo đức của người đi vay Việc thẩm định một khách hàng cố tình lừa đảo sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với một khách hàng tìm đến ngân hàng với nhu cầu sử dụng tiền vay thật sự, vì khách hàng đã chủ đích lừa đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng, họ sẽ rất tinh vi che đậy các chứng cứ và dấu hiệu lừa đảo, những trường hợp này thường sẽ dễ tạo được niềm tin nhiều nhất với ngân hàng Để có thể nhận biết được
âm mưu cố tình lừa đảo của khách hàng không chỉ đòi hỏi sự nhạy bén của cán bộ tín dụng mà còn cần một quy trình tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ, đồng thời với việc tuân thủ chặt chẽ các quy trình này của cán bộ tín dụng Trong trường hợp khách hàng vay không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo yếu, khách hàng càng không
có động lực trả nợ
Uy tín, năng lực tài chính của khách hàng: đối với khách hàng cá nhân, năng lực
tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua tiền lương hàng tháng hay thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình Đối với khách hàng là doanh nghiệp,
Trang 31năng lực tài chính thể hiện ở tình hình cân đối tài chính và xem xét nguồn vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào phương án vay Tỷ trọng vốn của doanh nghiệp tham gia vào phương án càng lớn càng nâng cao trách nhiệm của họ trong việc thực hiện phương án nhằm tránh những rủi ro cho chính họ cũng như cho ngân hàng Tuy nhiên nhiều khách hàng hoạt động với quy mô vốn nhỏ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao Độ rủi ro gia tăng
do một số khách hàng ghi chép sổ sách kế toán không đầy đủ, chính xác, rõ ràng, khiến
số liệu kế toán được cung cấp nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức Phân tích tín dụng của ngân hàng khi đó cũng thiếu tính thực tế và xác thực Để đối phó với tình trạng này, nhiều ngân hàng chỉ coi tài sản thế chấp như chỗ dựa cơ bản để phòng chống rủi ro tín dụng, tuy nhiên điều này là một sai lầm cơ bản
Việc sử dụng vốn: ngân hàng cấp tín dụng dựa vào việc thẩm định phương án vay
vốn của khách hàng Đa số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương
án sử dụng vốn cụ thể với mục đích nhất định Cán bộ ngân hàng sẽ xem xét tính khả thi của các phương án đó và quyết định có cho khách hàng vay hay không, vay với số lượng bao nhiêu, thời hạn bao lâu Tuy nhiên có những khách hàng cố ý sử dụng vốn vay được
từ ngân hàng sai mục đích, không nằm trong phương án mà ngân hàng đã xét duyệt Do
đó, nguồn trả nợ của khách hàng không đến từ phương án đó mà được sinh ra từ dòng tiền khác Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể kiểm soát được dòng tiền theo phương án vay và dòng tiền thực của khách hàng, vì thế xác suất xảy ra rủi ro tín dụng tăng cao, gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng, mất uy tín của cán bộ tín dụng
Tài sản đảm bảo: TSBĐ là một trong những yêu cầu trong công tác quản lý
RRTD, và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thu hồi nợ vay, xử lý các khoản nợ có vấn đề Việc xác định giá trị TSBĐ ch o k h oản vay do các bên thỏa thuận, hoặc thuê
tổ chức có chức năng tư vấn, định giá độc lập xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá như giá quy định của Nhà nước, giá chuyển nhượng thành công, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và các yếu tố khác về giá Tuy nhiên, trên thực tế, trừ những tài sản có giá trị lớn hàng chục tỷ đồng, các NHTM
Trang 32mới thuê hoặc yêu cầu khách hàng thuê tổ chức có chức năng tư vấn, định giá độc lập thực hiện định giá, còn lại đa số việc định giá đều do các bên thỏa thuận, thông thường
là do cán bộ ngân hàng tự định giá và như vậy cho thấy giá trị định giá TSBĐ còn mang tính chủ quan và thiếu tính khoa học Ngoài ra, về phương pháp định giá được bộ phận
đề xuất tín dụng lựa chọn trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng, dẫn đến việc nếu TSBĐ được định giá thấp, khách hàng không hài lòng, nhưng nếu định giá cao, NHTM
sẽ khó đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay và lãi vay trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán, buộc NHTM phải xử lý tài sản bảo đảm
Tâm lý có TSBĐ để xử lý khi khách hàng không còn khả năng trả nợ ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định khoản vay nên sẽ không đánh giá chính xác được hiệu quả và sự an toàn của khoản vay, dễ dẫn đến việc chấp thuận cho vay những dự án / phương án nhiều rủi ro Kinh tế tăng trưởng nóng trong vài năm trước làm cho giá bất động sản bị đẩy lên cao do đầu cơ và vượt xa giá trị thực đã làm nảy sinh tư tưởng lạm dụng vào TSBĐ Sẽ rất rủi ro nếu cán bộ tín dụng quên rằng khoản vay cần phải được trả bằng chính dòng tiền tạo ra bởi dự án / phương án sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng tiền bán TSBĐ Xử lý TSBĐ chỉ là giải pháp sau cùng và bất khả kháng trong việc thu hồi nợ khi phương án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro ngoài dự kiến
Vấn đề bảo hiểm tài sản cũng có ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ, các TSBĐ
có được khách hàng mua bảo hiểm hay không và mua kịp thời hay không để đến khi phương tiện gặp sự cố như bị tai nạn, hỏa hoạn,…việc khắc phục, sửa chữa, trục vớt phải mất rất nhiều thời gian, tiền của gây thêm nhiều khó khăn cho khách hàng làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ vay cho ngân hàng
Ngoài ra, thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng và ngân hàng cũng là vấn đề cần được quan tâm Khi thế chấp, cầm cố tài sản chỉ có khách hàng biết rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, hoặc tài sản tọa lạc ở vị trí rất khó bán do một số đặc điểm đặc biệt hoặc phản phong thủy Trong khi đó, trình độ của cán bộ khách hàng thường không đáp
Trang 33ứng đầy đủ chuyên môn trong tất cả các lĩnh vực và nếu có cũng khó có thể loại trừ những hạn chế do không thể nào hiểu rõ hết về tài sản nên không thể đánh giá được chính xác hiện trạng và giá trị còn lại của TSBĐ đấy Điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị mua bán xử lý của tài sản Vì vậy, khi xảy ra rủi ro, việc xử lý phát mãi tài sản để thu hồi nợ gặp không ít khó khăn do giá phát mãi thấp hơn nhiều so với giá trị định giá tài sản khi chấp thuận cho vay
2.2.3 Nhân tố xuất phát từ môi trường bên ngoài
Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng: các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây
ta như hạn hán, bão lụt, xâm nhập mặn, xói lở đất, nước biển dâng và dịch bệnh gây tổn thất cho khách hàng vay vốn làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến khả năng trả nợ cho ngân hàng Từ đó, có thể làm cho ngân hàng không thu hồi được một phần hoặc toàn bộ vốn.Mặc dù những rủi ro này là khó lường trước được nhưng bù lại
nó chiếm tỷ lệ không lớn.Mặt khác, khi gặp rủi ro này ngân hàng có thể sẽ được nhà nước hỗ trợ.Hoặc để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng nên tư vấn cho khách hàng các sản phẩm bảo hiểm tín dụng vì nếu rủi ro xảy ra sẽ được chia sẻ với các công ty bảo hiểm
Môi trường kinh tế và Chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia: sự ổn định của nền
kinh tế ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Ví dụ như một sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ, gây tổn thất cho ngân hàng Hiện nay, thị trường thế giới biến động quá nhanh và khó dự đoán chính xác được, là hậu quả tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế Do vậy, chủ trương, chính sách của Nhà nước đúng đắn, hợp lý thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả cho các khoản tín dụng ngân hàng Vì vậy, hệ thống ngân hàng cần nghiên cứu kỹ càng thông tin kinh tế vĩ mô dựa trên chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách tài khóa trước khi ra quyết định tín dụng Bên cạnh đó, hoạt động cấp tín dụng phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền
Trang 34thống, tập quán của ngươi dân Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế mở rộng hoạt động tín dụng của các ngân hàng Tất cả những nguyên nhân khách quan đến
từ môi trường kinh tế kể trên nếu không được dự báo chính xác và có biện pháp kịp thời
sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng thu hồi các khoản cho vay của ngân hàng
Môi trường pháp lý- xã hội-chính trị: chính sách, quy định, luật lệ là những công
cụ không thể thiếu để điều hành nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển công bằng, hiệu quả
và bền vững Hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển thường được xây dựng dựa trên nhu cầu điều chỉnh của thực tế, nhưng đôi khi lại đi sau và kìm hãm sự phát triển Thực trạng hành lang pháp lý tại Việt Nam chưa đầy đủ và chồng chéo nhau, tách rời một cách thiếu khoa học của nhiều cơ quan quản lý khiến hệ thống các quy định nhiều khi mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình vận dụng Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi Ngược lại, nếu môi trường pháp lý thiếu đồng
bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ngân hàng gặp rủi
ro trong việc thu hồi nợ Hơn hết thảy, tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả Nếu xảy ra các diễn biến bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, bạo động, biểu tình…sẽ làm cho hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa bị ngừng trệ…Và như vậy, những món tiền khách hàng vay sẽ khó được hoàn trả đầy đủ cho ngân hàng
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
2.3.1 Nghiên cứu trong nước
➢ Nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2010)
Nghiên cứu của tác giả về “Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM nhà nước ở khu vực ĐB SCL” được đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển này
đã sử dụng mô hình Logit chứng minh được rằng các yếu tố: khả năng tài chính của
Trang 35người vay, đảm bảo nợ vay, lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ, việc kiểm tra giám sát vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kinh nghiệm của người đi vay ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng mà cụ thể là nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5), điều mà Trương Đông Lộc đã chỉ rõ trong bài nghiên cứu đối với khách hàng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Trong đó biến số lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập
để trả nợ là biến giả, bằng 1 nếu nguồn thu nhập chính để trả nợ từ sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản Điều này phù hợp với đặc thù ngành nghề tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vì ngành nghề chính của khu vực này là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Kết quả nghiên cứu là các nhân tố: khả năng tài chính của người vay, đảm bảo nợ vay, lĩnh vực ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ, việc kiểm tra giám sát vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kinh nghiệm của người đi vay ảnh hưởng
ngược chiều đến rủi ro tín dụng
➢ Nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011)
Đây là một nghiên cứu được thực hiện tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng này Với mục tiêu tìm ra nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, bài nghiên cứu đã sử dụng mô hình Probit với cỡ mẫu 438 khách hàng của Ngân hàng Kết quả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm: Khả năng tài chính của khách hàng đi vay, việc sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, số lần kiểm tra, giám sát khoản vay của cán bộ tín dụng và việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của khách hàng vay
➢ Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012)
Nghiên cứu được thực hiện tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Nội dung của nghiên cứu là nhằm xác định được các yếu tố nào ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cho vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Bằng việc ứng dụng
mô hình Binary Logistic để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, kết quả phân tích cho thấy có các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến rủi ro tín dụng tại các chi nhánh
Trang 36của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam bao gồm: Quy mô, Nợ phải trả, Tỷ số ROA, Xếp hạng khách hàng, Lịch sử nợ vay, Kinh nghiệm cán bộ tín dụng và Cạnh tranh
2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài
➢ Nghiên cứu của John M Chapman and associates (1940)
Đây là bài nghiên cứu được viết trong quyển sách Commercial Banks and Consumer Instalment Credit Nghiên cứu đã đưa ra nhiều nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro
tín dụng thể nhân trong đó có bốn nhóm nhân tố lớn đó là:
Nhóm nhân tố thuộc về bản thân người đi vay như: độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, thời gian đã sống tại nơi cư trú Kết quả cho thấy nhóm tuổi từ 21-40 có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với nhóm tuổi từ 41 – hơn 50 Một điều ngạc nhiên là cho dù đã kết hôn hay chưa thì tỷ lệ nợ xấu cao đều rơi vào nam giới Tỷ lệ nợ xấu cao cũng rơi vào cá nhân có nhiều người phụ thuộc.Mức độ ổn định tại nơi cư trú cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu, cá nhân nào gắn bó lâu dài đối với nơi mình sinh sống
thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn những người hay di chuyển và có chỗ ở không ổn định
Nhóm nhân tố tính chất đặc trưng về công việc của người đi vay như: nghề nghiệp, lĩnh vực nghề nghiệp thuộc nhóm ngành nào và mức độ gắn bó với công việc của người
đi vay Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng nhóm người làm các công việc nghiên cứu, văn phòng thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn nhóm người làm công việc như bán hàng, tự doanh… Mức độ gắn bó với công việc cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người
đi vay Theo đó, những người gắn bó với công việc lâu năm thường có tỷ lệ nợ xấu thấp
hơn những người thường xuyên nhảy việc, ít gắn bó với công việc đang làm
Nhóm nhân tố về tình hình tài chính của người đi vay Kết quả cho thấy đối với những người có thu nhập cao thường có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn những người có thu nhập
thấp
Nhóm nhân tố về bản thân của hồ sơ vay đó như: hồ sơ vay lớn hay nhỏ, thời hạn của khoản vay và mục đích của từng khoản vay là gì Kết quả nghiên cứu cho thấy không