1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao

88 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưvây ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt đông và ngược lại, mọi hoạt động tạođiều kiên cho ngôn ngữ trẻ phát triên Dạy trẻ nói mạch lạc cũng là một trong những nội dung của công tácphá

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Người hướng dẫn khoa học

Th.S VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm HàNội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trongquá trình học tập tại trường và tạo điều kiện tốt cho em thực hiện khóa luận tốtnghiệp đại học

Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TH.S Vũ Thị Tuyết, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình

học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡđộng viên em trong quá trình học tập và thực hiện khoá luận

Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các cô giáo trường mầm

non Xuân Hòa đã giúp đỡ em có những tư liệu tốt

Quá trình nghiên cứu và xử lí đề tài, em không thế tránh khỏi những hạnchế, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn

để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Trà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc khóa luận 6

PHẦN 2: NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA CÁC BÀI CA DAO, ĐỒNG DAO 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn 7

1.1.2 Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 1.1.3 Một số vấn đề về ca dao, đồng dao 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 34

1.2.1 Thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng các bài ca dao, đồng dao nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn 34

1.2.2 Vai trò của lời nói mạch lạc 36

1.2.3 Vai trò của việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao 36

Kết luận chương 1 38

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA CÁC BÀI CA DAO, ĐỒNG DAO 39

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 39

Trang 5

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 39

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ……… …….41

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh nghiệm của trẻ 43

2.2 Biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao 44

2.2.1 Biện pháp dạy trẻ đọc diễn cảm ca dao, đồng dao 44

2.2.2 Biện pháp dùng lời 47

2.2.3 Biện pháp dạy trẻ đọc đồng dao kết hợp chơi trò chơi dân gian 48

2.2.4 Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan mô phỏng lại sự vật hiện tượng 61

2.2.5 Biện pháp tổ chức ngoại khóa về ca dao, đồng dao cho trẻ 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 6

bị ở trường mầm non có thể sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cuộc đời.

Ngôn ngữ cũng chính là môt trong những phương tiên thúc đây trẻ trởthành môt thành viên của xã hôi loài người Ngôn ngữ là môt công cụ hữuhiêu để trẻ có thê bày tỏ những nguyên vọng của mình từ khi còn rất nhỏ đêngười lớn có thê chăm sóc, điều khiên, giáo dục trẻ là môt điều kiên quantrọng đê trẻ tham gia vào mọi hoạt đông và trong hoạt đông hình thành nhâncách của trẻ Ngôn ngữ là công cụ phát triên trí tuê, hiên thực của tư duy.Ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ để trẻ học tâp, vui chơi, ngôn ngữ được tíchhợp trong tất cả các loại hình hoạt đông giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi Nhưvây ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt đông và ngược lại, mọi hoạt động tạođiều kiên cho ngôn ngữ trẻ phát triên

Dạy trẻ nói mạch lạc cũng là một trong những nội dung của công tácphát triển ngôn ngữ, đó là phát triển ở trẻ khả năng nghe hiểu ngôn ngữ củangười khác, khả năng biết trình bày, thể hiện sự hiểu biết, suy nghĩ, ý muốn,nguyện vọng của mình cho người khác biết một cách có trình tự, có logic, cónội dung đúng, đúng và biểu cảm Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5-6tuổi góp phần phát triển tư duy trực quan hình tượng ở giai đoạn cao hơn,hình thành những cơ sở ban đầu cho sự xuất hiện kiểu tư duy logic ở giai đoạnphát triển tiếp theo

Trang 7

Ca dao, đồng dao là những câu hát, câu vè mộc mạc, gần gũi, dễ thuộc,

dễ nhớ bởi vần điệu vui tươi, rộn ràng Trong quá trình phát triển ngôn ngữcho trẻ mẫu giáo, ca dao, đồng dao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thông quacác bài ca dao, đồng dao giáo viên có thể tiến hành phát triển ngôn ngữ cho trẻmẫu giáo ở các nội dung như: giáo dục chuẩn mực ngữ âm; hình thành và pháttriển vốn từ; phát triển lời nói mạch lạc; phát triển ngôn ngữ nghệ thuật Nhưvậy, ca dao, đồng dao sẽ là một phương tiện hữu hiệu để giáo dục ngôn ngữcho trẻ

Lứa tuổi 5 - 6 tuổi là lứa tuổi cuối cùng của tuổi mẫu giáo, là giai đoạnthen chốt để trẻ tới trường phổ thông, là bước ngoặt trong cuộc đời trẻ Vìthế cần chuẩn bị tốt các mặt tâm lí để trẻ sẵn sàng đi học trong đó ngôn ngữ làthành phần cốt yếu Khi sử dụng ngôn ngữ, khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ,khả năng trình bày có lô gíc, có trình tự, chính xác và có hình ảnh nội dung lànhững tiêu chí mà trẻ cần đạt được; hay nói chung, lời nói mạch lạc là điều vôcùng quan trọng mà trẻ cần rèn luyện

Xuất phát từ những lí do trên, nên chúng tôi đã chọn đề tài : “ Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao”

là đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trẻ em là đối tượng luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm từ gia đình,nhà trường và xã hội Những vấn đề về trẻ em đã được đã được các nhà khoahọc hết sức quan tâm Riêng về phát triển ngôn ngữ và lời nói mạch lạc chotrẻ đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học với những công trình nghiêncứu

được xã hội ghi nhận

Trong cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo,

NXBĐHSP, năm 2014, Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kỹ sự phát triểnngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm

Trang 8

sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này và dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữhọc và

Trang 9

những bộ môn khác ông đã đưa ra đưa ra được một số phương pháp phát triểnngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nóimạch lạc cho trẻ Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho cả giáo viên và sinh viênngành mầm non, cũng như các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.

Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, cuốn Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em của Đinh Hồng Thái, NXBĐHSP, năm 2007 đã viết rất chi tiết

về lời nói mạch lạc và các hình thức, phương pháp phát triển lời nói mạch lạccho trẻ mẫu giáo

Qua quá trình tìm hiểu về sự tác động của ca dao, đồng dao trong việclàm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo(5 - 6 tuổi) và xây dựng một

số biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các bài

ca dao, đồng dao, tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu trong cũngnhư ngoài

nước Ở những công trình này, theo những mục đích nghiên cứu khác nhau,chúng tôi nhận thấy các tác giả chủ yếu quan tâm đến những vấn đề khái quát

về ca dao,đồng dao hoặc vai trò của ca dao, đồng dao đối với đời sống tinhthần của trẻ em chứ chưa đi sâu nghiên cứu tác động đặc biệt của ca dao,đồng dao đối với việc phát triển lời nói mạch lạc ở trẻ lứa tuổi mầm non, từ đóđưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ thông quacác bài ca dao, đồng dao

Ngôn ngữ là tài sản quý báu của văn minh nhân loại Ngôn ngữ làđiểm mốc then chốt giúp cho nhiều công trình nghiên cứu được tỏa sáng.Không những vậy ngôn ngữ có sức hút mạnh mẽ, lôi cuốn sự tham gia nghiêncứu của rất nhiều nhà khoa học, từ những lĩnh vực khác nhau: Triết học, tâm líhọc, ngôn ngữ học, giáo dục học, xã hội học,…Vai trò phát triển ngôn ngữ chotrẻ từ lâu được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Có thể kể đến các tác giả như: Borodis.A.M với cuốn Phương pháp phát triển

Trang 10

tiếng cho trẻ em (NXBGD Matxcơva - 1974) Xôkhin với tác phẩm Phương pháp

Trang 11

phát triển lời nói trẻ em( NXBGD Matxcơva) Hay E.Ti.Khêiva với tác phẩm Phát triển ngôn ngữ trẻ em (NXBGD - 1997) Các tác giả: Phedorenco.L.P,

Phomitreva.G.A, Lomarep.V.K cũng có những cuốn sách tương tự Ngay từnhững năm 80 của thế kỉ trước, chúng ta đã có những cuốn giáo trình đầu tiên

về phương pháp phát triển lời nói trẻ em trong các trường đào tạo giáo viên

mầm non như: Phan Thiều với cuốn Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp 1

(NXBGD

- 1973) Nguyễn Xuân Khoa (1997) về Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (0 - 6 tuổi) Các tác phẩm trên đều đề cập đến nội dung và các

phương pháp nhằm hình thành và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ Đây chính là

cơ sở, là tiền đề cho các nhà khoa học sau này nghiên cứu, tìm tòi, khám phá

Các công trình này đều đi đến kết luận đồng dao có vai trò đặc biệt quan

trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em Trong bài Văn học thiếu nhi Việt Nam tác giả Trần Đức Ngôn- Dương Thu Hương đã khẳng định: “Ca dao là đại bộ phận dành cho người lớn tuy nhiên tác giả dân gian khi sáng tác ca dao vẫn không quên trách nhiệm đối với thế hệ trẻ nên đã dành trọn một phần ca dao cho các em được gọi là đồng dao”[16, tr.76].

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu tác dụng của đồng dao đối với trẻ

em trong cuốn Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn Tác giả cho rằng: "Đồng dao có tác động giáo dục mạnh mẽ đối với trẻ em, trước hết

Trang 12

là nó giáo dục thái độ văn hóa đối với hai mối quan hệ chủ yếu của con người đó là con

Trang 13

người với thiên nhiên và con người với xã hội”[12, tr.18] Đây là những vấn

đề hết sức quan trọng đối với sự hình thành, phát triển nhân cách con người.Qua khảo cứu các bài viết, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàichúng tôi đã nhận thấy như sau: Các công trình nghiên cứu đã đánh giá cănbản về vai trò của ca dao, đồng dao đối với trẻ em Những đánh giá này chothấy sự cần thiết đưa các bài ca dao, đồng dao có giá trị vào chương trình giáodục trẻ ngay từ bậc học mầm non Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu riêng về phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua cácbài ca dao, đồng dao Nhận ra khoảng trống đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm đề xuất các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ

5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu một số cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận liên quan đến vấn đềphát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua ca dao, đồng dao

- Đề xuất một số phương pháp dạy trẻ 5-6 tuổi đọc ca dao, đồng daonhằm phát triển lời nói mạch lạc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6

tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao

4.1 Phạm vi nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi

5 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp so sánh,tổng hợp

- Phương pháp thống kê

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 14

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp tra cứu, đánh giá

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm 2chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của phát triển lời nói mạchlạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài ca dao, đồng dao

- Chương 2 : Biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi thôngqua các bài ca dao, đồng dao

Trang 15

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

THÔNG QUA CÁC BÀI CA DAO, ĐỒNG DAO 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lý

Nhân cách hình thành trong suốt thời kỳ ấu thơ và niên thiếu của conngười Trong đó, với điều kiện phát triển bình thường thì bước vào năm tuổithứ ba ý thức bản ngã bắt đầu nảy sinh và đến đầu tuổi thanh niên thì nhâncách của con người cơ bản được hình thành Giai đoạn đầu tiên của quá trìnhhình thành nhân cách con người là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻmẫu giáo Ở độ tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), nhân cách của trẻ tiếp tục hìnhthành và phát triển mạnh mẽ với những đặc điểm nổi bật sau: Ý thức bản ngãđược xác định rõ ràng để giúp trẻ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợpvới chuẩn mực của qui tắc xã hội Đồng thời, ý thức bản ngã còn cho phép trẻthực hiện các hoạt động một cách chủ quan Nhờ đó, quá trình tâm lý mangtính chủ động rõ rệt Cuối tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ pháttriển nhanh về số

lượng và chất lượng Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự giác hướng sự chú ýcủa mình vào đối tượng nhất định Cho nên, mỗi một đối tượng được tiếpnhận trong thời kỳ này đều có tác động sâu sắc đối với sự phát triển nhân cách

Trang 16

phương diện hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí), để hình thành việcxây dựng cơ sở nhân cách ban đầu của con người.

Trẻ ở giai đoạn này, có nhu cầu nói mạch lạc, nhu cầu nghe, hiểu ngônngữ, nhu cầu trình bày có lô gíc, có trình tự, chính xác và có hình ảnh nộidung; trẻ rất thích nghe ca nhạc, thích nghe những bài thơ có vần nhịp rõ ràng

và có nội dung gắn liền với cuộc sống của trẻ như những bài vè, ca dao, đồngdao

Tóm lại, lứa tuổi mầm non, nhất là độ tuổi 5-6 là lứa tuổi rất nhạy cảmvới cái đẹp và luôn khao khát được tiếp xúc, khám phá cái đẹp phong phú, đadạng trong cuộc sống Ca dao, đồng dao là một thể loại văn học dân gian cókhả năng đáp ứng nhu cầu này của trẻ Tuy nhiên, trẻ lứa tuổi mầm nonthường hát xướng lên các bài đồng dao trong những lúc vui chơi đơn thuần chỉ

để giải trí, mà chưa phát huy hết được vai trò to lớn của chúng trong việcphát triển ngôn ngữ đặc biệt là việc làm giàu vốn từ Có nhiều trẻ hát, đọccác bài đồng dao thuộc lòng mà không hiểu nội dung ý nghĩa của các từ ngữtrong các bài đồng dao đó Chính vì vậy, các cô giáo mầm non đều cần phảihiểu những đặc

điểm tâm lý rất cơ bản của trẻ, có như thế thì mới có thể phát huy được sứcmạnh của văn học nói chung, đồng dao nói riêng trong việc giáo dục trẻ thơ

- Về hệ thần kinh: Trẻ 5 -6 tu ổi cường độ và tính linh hoạt của các quátrình thần kinh tăng lên rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượngnhất định trong thời gian 25-30 phút Đồng thời ở lứa tuổi này, vai trò của hệ

Trang 17

thống tín hiệu thứ hai ngày càng tăng, tư duy bằng từ n g ày cà ng tăng, ngônngữ bên trong xuất hiện Ngoài ra, do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lầnngủ trong ng ày v à thời gian ngủ của trẻ cũng giảm xuống còn kh o ả n g 1 1h trênngày.

- Về hệ vận động: Trẻ 5-6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm

cơ lớn Việc tiếp thu những thói quen và vận động hàng ngày của trẻ phụthuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập phù hợp

- Về hệ tuần hoàn: Thành phần trong máu của trẻ cũng tăng lên và có sựbiến đổi về chất: Huyết sắc tố 80 - 90%; hồng cầu 4,5 – 5 triệu đơn vị; bạchcầu

7 – 10 nghìn; tiểu cầu 200-300 nghìn

Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ 80 – 110 lần trên mộtphút Về hệ hô hấp: Nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũngphất triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển

1.1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thànhcon người phát triển toàn diện Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnhhưởng lớn đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là trẻ 5 – 6 tuổi Cho nên cần phảixác định rõ các đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ như : phát âm, vốn từ,ngữ pháp… để đề ra nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức phát triểnngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp

a Đặc điểm phát âm (ngữ âm, ngữ điệu)

- Trẻ 5 – 6 tuổi đã dần hoàn thiện về mặt ngữ âm Các phụ âm đầu, âmcuối,

âm đệm, thanh điệu dần được định vị Trẻ 5-6 tuổi phát triển khả năng tri giác

âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo, tự nhiên Trẻ phát âmđúng hầu hết các hình thức của âm thanh ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ và phát

Trang 18

âm đúng ngay cả những âm và vần khó, khả năng sử dụng giọng nói biểu cảmhơn.

Ví dụ: Khúc khuỷu, thuyền buồm, nghênh ngang, loanh quanh…

Trang 19

- Trẻ học và bắt chước ngữ điệu của người lớn rất tốt, bước đầu đã biếtsử

dụng các phát triển đơn giản của giọng như cao độ, cường độ, trường độ

Ví dụ: Khi kể chuyện diễn cảm trẻ biết lên giọng, xuống giọng, biết ngắt,

tạo

- Về từ loại: Đối với trẻ 5-6 tuổi, tỷ lệ từ loại (động từ, tính từ, danhtừ ) tăng lên, ý nghĩa của từ phong phú hơn, khả năng nắm bắt nghĩa của từphát triển hơn Những đặc điểm này phản ánh mức độ phát triển của trẻ mẫugiáo lớn ( vốn hiểu biết của trẻ tăng nhanh, các quá trình tâm lý, nhận thứccủa trẻ phát triển, đặc biệt là tư duy )

Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: Cao thấp, dài - ngắn, rộng - hẹp; các từ chỉ tốc độ như: Nhanh - chậm; các từ chỉmàu sắc: Xanh, đỏ, vàng, đen, trắng Ngoài ra các từ có khái niệm tượng đốinhư: hôm qua, hôm nay, ngày mai trẻ dùng còn chưa chính xác

-Ví dụ: Hôm qua con được đi chơi công viên với bố.

Thời điểm trẻ đi chơi công viên với bố diễn ra cách thời điểm trẻ nói 1tuần Trẻ đã dùng từ chưa chính xác do không biết phân biệt thời gian trongquá khứ

Trang 20

Một số trẻ còn biết sử dụng các từ chỉ màu sắc khó hơn như: xanh lá cây, da cam, tím, xám Tuy nhiên trẻ sử dụng một số từ còn chưa chính xác.

Ví dụ: Hoa có thít ăn kem không? (thích)

Ví dụ: Vân đi chơi, Vân không làm bài tập.

- Trẻ ít sử dụng câu cụt hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ dùng

từ

không chính xác

Ví dụ: Mẹ ơi, con muốn cái váy kia!

Chủ yếu trẻ vẫn sử dụng câu đơn mở rộng

d Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc

Trẻ ở độ tuổi này, ngôn ngữ mạch lạc phát triển và đạt được trình độkhá cao Trẻ biết sử dụng các câu tương đối ngắn gọn, chính xác, đầy đủ đểtrả lời câu hỏi Ở trẻ phát triển kỹ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của cácbạn, bổ sung hoặc sửa chữa các câu trả lời đó Tre đã dần cải thiện lời nóimạch lạc, không bị va vấp, lắp, ngọng như các lứa tuổi trước

1.1.1.4 Đặc điểm tư duy

Sự phát triển tư duy ở độ tuổi 5 – 6 tuổi mạnh mẽ về kiểu loại, các thaotácvà thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng;thông tin giữa mới và cũ, gần và xa…

Trang 21

Tư duy trực quan – hành động và tư duy trực quan – hình ảnh vẫn tiếptụcphát triển, nghĩa là trẻ em giải quyết nhiệm vụ vẫn phải dựa vào các thaotácbằng tay và các hình ảnh trực quan.

Đặc điểm nổi trội của trẻ ở giai đoạn này là xuất hiện một loại tư duytrực quan mới: tư duy trực quan – sơ đồ Đây là trình độ phát triển cao nhấtcủa tư duy trực quan – hình ảnh, đây cũng là cơ sở để trẻ em phát triển tư duytưởng tượng

Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên

hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủquan của bản thân đứa trẻ

Có nhiều dạng tri thức nếu chỉ giải thích bằng lời hay tổ chức hành độngvới đồ vật trẻ vẫn không thể lĩnh hội được Nhưng nếu tổ chức cho trẻ hànhđộng với sơ đồ trực quan thì trẻ sẽ lĩnh hội được một cách dễ dàng

1.1.2 Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

1.1.2.1 Khái niệm lời nói mạch lạc

Phát triển lời nói mạch lạc là nhiệm vụ quan trọng nhất trong các nhiệm

vụ phát triển lời nói của trẻ em Tuy nhiên, hiểu lời nói mạch lạc là gì thì cónhiều ý kiến còn chưa chính xác xuất hiện trong các nghiên cứu gần đây Lờinói mạch lạc là một khái niệm công cụ quan trọng nhất trong các nghiên cứuphát triển lời nói mạch lạc cho trẻ nhỏ Làm sáng tỏ khái niệm này sẽ giúp chocác nhà sư phạm có định hướng đúng đắn trong các nghiên cứu về lĩnh vựcnày.Có rất nhiều các nhà giáo dục học, tâm lý học đã nghiên cứu về lời nóimạch lạc và đã nêu ra định nghĩa về lời nói mạch lạc của trẻ em và chúng có

những điểm giống và khác nhau Trong cuốn “Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của PGS.TS Đinh Hồng Thái đã nêu ra định nghĩa của tiến sĩ

ngôn ngữ học Xôkhin người Nga – tác giả của nhiều cuốn sách giáo khoa,phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em Ông đã định nghĩa như sau:

Trang 22

“Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định, được thực hiện một cách logic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm” Chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm này làm cơ sở lý luận xuyên suốt

trong khóa luận của mình

1 1 2 2 C ác kiểu lời nói mạch lạc

Các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu và cho rằng có 2 kiểu lời nói mạchlạc đó là hội thoại và độc thoại

- Lời nói hội thoại là câu chuyện giữa hai hay nhiều chủ thể nói năng,bao gồm những phản ứng tương hỗ của các cá nhân giao tiếp với nhau, cácphản ứng tự phát một cách bình thường được xác định bởi hoàn cảnh hoặc lờinói của những người tham gia đối thoại Có 2 hình thức hội thoại đó là nóichuyện và đàm thoại

+ Nói chuyện là câu chuyện giữa hai hay nhiều người không nhất thiếtphải theo một chủ đề nhất định, được phát triển nhưng không được chuẩn bị kĩ

từ trước Đây là hình thức đơn giản nhất của ngôn ngữ nói Nó mang tính hoàncảnh và những người nói chuyện hiểu được nhau Cần nhờ các hình thức diễnđạt khác như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói…

Ví dụ: Cuộc hội thoại giữa 2 bạn nhỏ vừa đến lớp học:

Minh: Hôm nay bố tớ đưa tớ đi học đấy Lan.

Lan: Vậy à, còn tớ thì được mẹ chở đi vì bố tớ bận đi làm sớm.

Ở ví dụ này chúng ta thấy, cuộc nói chuyện giữa Minh và Lan được nảysinh khi vừa đến lớp, không có sự chuẩn bị trước

+ Đàm thoại là câu chuyện về một chủ đề nào đó được chuẩn bị kĩ càngvới một hệ thống câu hỏi được sắp xếp, tổ chức theo kế hoạch Nó sử dụngnhiều hình thức ngôn ngữ tỉnh lược, những phương tiện biểu cảm phi ngônngữ, các đặc tính biểu cảm của lời nói đóng vai trò quan trọng Lời nói hộithoại trẻ nắm tượng đối dễ vì chúng được nghe nhiều trong đời sống hàngngày

Trang 23

Ví dụ: Trong một tiết hoạt động góc, cuộc hội thoại diễn ra giữa trẻ đóngvai bác sĩ ở góc phân vai và trẻ đóng vai bác thợ xây ở góc xây dựng:

Hoa: Cho hỏi bác thợ xây bị thương ở đâu?

Nam: Thưa bác sĩ, tôi bị thương ở chân

Hoa: Vì sao bác bị thương?

Nam: Vì tôi xây chuồng gà nhưng trượt ngã trên cao xuống.

Hoa: Mời bác mang chân lại gần để tôi khám.

Nam: Được ạ!

Hoa: Bác đau lắm không?

Nam: Tôi rất đau!

Hoa: Bác vào đây để tôi băng bó nhé!

Nam: Vâng ạ!

Hoa: Bác đã bị gãy chân, mời bác uống thuốc và nghỉ ngơi nhé!

Ở ví dụ này, ta thấy được cuộc đàm thoại diễn ra với chủ đề động vậtvới hoạt động góc Trẻ đóng vai bác sĩ đã chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi đượcsắp xếp, có kế hoạch với bệnh nhân Bác sĩ hỏi bệnh nhân đau ở đâu? Vì saođau? Đề nghị bệnh nhân cho mình khám, chẩn đoán bệnh và cho bệnh nhânuống

thuốc

- Lời nói độc thoại là câu chuyện của một chủ thể nói năng trước nhiềuđối tượng giao tiếp Đây là hình thức ngôn ngữ phức tạp nhất về tư duy vàhình thức Người nói phải có vốn kiến thức rộng, chuẩn bị bài nói cẩn thận vềnội dung, kỹ năng ngôn ngữ tốt Biết trình bày một cách sáng tỏ, biết kiểm tra,kiểm soát các hình thức ngôn từ Trẻ học độc thoại khó vì ít nghe trong đờisống hàng

ngày

Ví dụ: Trong buổi ngoại khóa về chủ đề thực vật, cô cho trẻ ra thămvườn rau, cô mời bạn Hùng nói trước cả lớp về vườn rau nhà mình, cách mẹ

Trang 24

bạn Hùng tưới rau, có những loại rau gì, bạn Hùng đã giúp mẹ mình chăm sócrau

Trang 25

như thế nào? Lúc này, cả lớp sẽ im lặng để nghe bạn Hùng nói, hình thức đọcthoại của Hùng sẽ giúp Hùng tự tin hơn trong giao tiếp.

1 1 2 3 Đ ặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

Ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt trình độ cao hơn so với trẻ ởcác lứa tuổi trước là mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ Chẳng hạn:

Trẻ mẫu giáo bé phù hợp với hình thức đơn giản của lời nói đối thoại (trả lờicâu hỏi) những đứa trẻ thường xa rời với nội dung câu hỏi Chúng mới chỉ bắtđầu nắm được kỹ năng bày tỏ một cách mạch lạc những ý nghĩ của mình, mắcnhiều lỗi trong xây dựng câu đặc biệt là câu phức Lời nói của trẻ mang tínhtình huống, chủ yếu là diễn đạt một cách vội vàng Những lời nói mạch lạcđầu tiên của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câu nhưng cũng được xem đóchính là sự thể hiện mạch lạc Dạy lời nói đối thoại cho trẻ mẫu giáo bé và sựphát triển của nó sau đó là cơ sở để hình thành lời nói độc thoại

Sự phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo nhỡ lại chịu ảnh hưởnglớn của việc tích cực hóa vốn từ (khối lượng từ lúc này đạt khoảng 700 từ), lờinói của trẻ đã được mở rộng hơn, có trật tự hơn mặc dù cấu trúc còn chưahoàn thiện Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu học hát những câu vè, câu ca dao, đồngdao Nhưng phần lớn các bài ca dao, đồng dao thường ngắn gọn và mô phỏnglại công việc trong cuộc sống của con người lao động hay các trò chơi dân

gian như: “Thả đỉa ba ba”, “Bịt mắt bắt dê”, “ Chi chi chành chành” Trong

độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ lời nói văn cảnh, có nghĩa là nói màchỉ tự mình hiểu được Ở trẻ mẫu giáo lớn để trả lời các câu hỏi trẻ đã sử dụngcác câu tương đối chính xác ngắn gọn và khi cần thì mở rộng Ở trẻ phát triển

kỹ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sửa chữa cáccâu trả lời đó

Ví dụ 1: Trẻ thưa với cô:

Trang 26

- Thưa cô, bạn Nam trả lời sai rồi ạ Bông hoa mướp có màu vàng chứ không phải màu xanh ạ!

Trẻ nhận xét nội dung câu trẻ lời của bạn sai vì trẻ nhận thấy bông hoamướp có màu vàng chứ không phải màu xanh Câu nói của trẻ có thái độ biểucảm ngoan ngoãn, lễ phép vì trẻ biết đối tượng giao tiếp là cô giáo hay làngười lớn Câu nói của trẻ vừa mang tính khẳng định, vừa mang tính phủđịnh, vì trẻ đã biết sửa chữa câu trả lời của bạn sau khi trẻ nêu quan điểm củamình về câu hỏi của cô giáo

Rõ ràng, ở trẻ mẫu giáo lớn, câu nói đã đem cả nhận thức, thái độ biểucảm lẫn cả ý thức câu chữ vào lời nói của mình.Trẻ đã rèn được kỹ năng nóicâu hoàn thiện, logic, có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ, biểu cảm với người nghe, vàtrẻ hiểu ý nghĩa nội dung câu nói của mình Trẻ biết nhận định được đối tượngtrò chuyện có quan hệ như thế nào với bản thân để xưng hô ( Thưa cô - với côgiáo, bạn ơi - với bạn bè ) và biểu lộ cảm xúc vào lời nói của mình ( vâng ạ,

dạ - với người lớn)

Ví dụ 2: Cô đàm thoại với trẻ:

Cô giáo: Các con thấy hôm nay cô buộc tóc có đẹp không?

Trẻ: Con thấy ngày nào cô cũng buộc tóc đẹp ạ.

Ở ví dụ này, chúng ta thấy rằng, trẻ không chỉ biết trả lời câu hỏi của cômột cách đầy đủ các thành phần của câu, biểu lộ được cảm xúc vào lời nói, màtrẻ còn biết liên hệ thời gian giữa "hôm nay" với "ngày nào" khác với câu hỏicủa cô để khen ngợi và bày tỏ cảm xúc tích cực với đối tượng giao tiếp

Qua các ví dụ cho chúng ta thấy, lời nói của trẻ đã phát triển theo độ tuổi, theothời gian qua hình thức câu nói, thái độ cảm xúc, nội dung ý nghĩa của câu và

cả ý thức của trẻ khi trau chuốt từng chữ trong câu

1 1 2 4 S ự cần thiết phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Trang 27

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn góp phần chuẩn bịphương tiện phát triển tư duy trực quan hình tượng ở giai đoạn cao hơn, hìnhthành những cơ sở ban đầu cho sự xuất hiện kiểu tư duy logic ở giai đoạn pháttriển tiếp theo; giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mình một cách đầy đủ,chính xác và sâu sắc hơn Đồng thời góp phần mở rộng phạm vi giao tiếp, pháttriển cảm xúc, tình cảm và tâm lý trẻ nói chung; nâng cao kỹ năng ngôn ngữnói chung của trẻ lứa tuổi

Bước sang tuổi này trẻ nảy sinh nhu cầu phải giải thích nội dung, chủ đề

và lựa chọn bức tranh, đồ chơi và giải thích để người lớn hiểu được nhữngđiều trẻ mong muốn Ở lứa tuổi này trẻ biết trình bày theo một trật tự xác địnhlàm nổi bật được những ý cơ bản để người lớn đồng tình hay không đồng tình

Yêu cầu trẻ có ngôn ngữ mạch lạc là trước khi giải thích một điều gì đóthì trẻ phải nghĩ trong đầu, nghĩa là có sự tham gia của tư duy này Trước hếtlời nói mạch lạc có ý nghĩa to lớn, góp phần phát triển 5 mặt cho trẻ, cụ thể là:

“Giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển trí tuệ , phát triển thể lực, vàrèn luyện lao động” Bên cạnh đấy, môn học này còn có nhiệm vụ quan trọng

là : Cung cấp cho trẻ những kiến thức, trí thức về thế giới xung quanh trẻ Mởrộng hiểu biết và tích luỹ vốn kinh nghiệm cá nhân; làm giàu vốn từ, phát triểnngôn ngữ giàu hình tượng, giàu sức biểu cảm đồng thời rèn luyện khả năng trigiác đối tượng, khả năng trình bày lời nói một cách mạch lạc, logic, có trình tựchính xác, và rèn kỹ năng nghe, đọc, kể diễn cảm Lời nói mạch lạc còn giáodục thái độ cách ứng xử cho trẻ thông qua các bài học, dạy trẻ biết yêu quêhương, đất nước, yêu thiên nhiên và con người

Như vậy, lời nói mạch lạc là một hình thức ngôn ngữ rất cần thiết chotrẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Nó là phương tiện thỏa mãn hàng loạt nhu cầu của trẻ(nhu cầu nhận thức, giao tiếp, phối hợp hoạt động…) đáp ứng sự phát triểncủa trẻ ở giai đoạn này Chính vì vậy, một trong những nội dung phát triểnngôn ngữ cho

Trang 28

trẻ ở trường mầm non là cần phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, đặcbiệt là mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi).

1 1 2 5 N hiệm vụ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo tức là phát triển kỹ năngdiễn đạt mạch lạc trong hai kiểu lời nói (đối thoại và độc thoại) thông qua banhiệm vụ sau :

- Nhiệm vụ thứ nhất là phát triển vốn từ và kỹ năng sử dụng từ ngữtrong lời nói của trẻ Từ là một thể thống nhất giữa âm thanh và ý nghĩa, chonên khi cung cấp cho trẻ một từ mới cần phải tiến hành song song các nhiệm

vụ như: giúp trẻ nhận thức mặt ý nghĩa của từ, dạy trẻ phát âm đúng từ đóđồng thời giúp trẻ biết sử dụng từ để nói năng rõ ràng, mạch lạc, có nội dung.Việc phát triển nội dung từ ngữ, mở rộng vốn từ và dạy trẻ biết cách sử dụng

từ ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình được tiến hành đồng thời trong mối quan

hệ tương hỗ lẫn nhau, không thể tách rời nhau trong quá trình trẻ tham gia vàocác hoạt động ở trường mầm non

- Nhiệm vụ thứ hai là hình thành và phát triển cấu trúc ngữ pháp của trẻ.Trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi học nắm cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt không phải bằngcách phân tích các thành phần câu, đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt… mà trẻ họcbằng cách trực tiếp tham gia vào các hoạt động ở trường mầm non (hoạt độngvui chơi, hoạt động học tập, lao động, tham quan, dạo chơi…) Dưới sự hướngdẫn của cô giáo, trẻ được nghe cô nói, bạn nói sau đó trẻ ghi nhớ các cấu trúcngữ pháp một cách tổng quát Nhờ sự lặp đi lặp lại các cấu trúc ngữ pháp màtrẻ nghe được, trẻ nhập tâm, bắt chước và tập sử dụng vào các tình huống kháctrong hoạt động ngôn ngữ của trẻ

- Nhiệm vụ thứ ba là giáo dục ngữ âm cho trẻ mẫu giáo lớn

Trang 29

Giáo dục ngữ âm cho trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi là giáo dục kỹ năng ghinhận, phân biệt các loại âm thanh và quá trình tái hiện âm thanh Hai quátrình này được phát triển đồng thời trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Pháttriển ngữ âm cho trẻ mẫu giáo lớn được tiến hành dựa trên cơ sở trực quan vàhành động Để phát triển khả năng ghi nhận và phân biệt các loại âm thanhcho trẻ, cô giáo không cần phát âm rõ ràng các âm tiết rời rạc cho trẻ nghe màphải gắn với lời nói của mình Với các tình huống cụ thể trong quá trình tổchức các hoạt động đa dạng của trẻ ở trường mầm non nhằm giúp trẻ đượcnghe các âm thanh đa dạng, các ngữ điệu khác nhau trong lời nói Đồng thời,

để rèn luyện kỹ năng tái hiện âm thanh, cô giáo có thể tổ chức cho trẻ kể lạichuyện theo tác phẩm văn học, đọc thơ, diễn kịch hoặc thông qua hoạt độngvui chơi

Tóm lại, việc phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi đượcthực hiện thông qua ba nhiệm vụ: phát triển vốn từ, đặc biệt là mặt ngữ nghĩacủa từ; hình thành cấu trúc ngữ pháp tiếng việt và rèn luyện kỹ năng phát âm

Ba nhiệm vụ này được tiến hành đồng thời trong mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, tương hỗ lẫn nhau Sự mạch lạc trong lời nói của trẻ 5–6 tuổi được thểhiện ở cách dùng từ ngữ, cách sử dụng câu và cách cấu âm như thế nào đểngười nghe hiểu một cách trọn vẹn, đầy đủ ý nghĩa, tình cảm của trẻ Cùngvới việc trao đổi, đàm thoại giữa cô giáo với trẻ, giữa trẻ với trẻ, thì ca dao,đồng dao cũng là hình thức phát triển khả năng mạch lạc trong lời nói đốithoại

1.1.3 Một số vấn đề về ca dao, đồng dao

1.1.3.1 Khái niệm ca dao, đồng dao

Có nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về khái niệm ca dao, đồng dao như:Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Phan Canh, xuất bản 1999, NXB Mũi Cà

Mau định nghĩa:“Đồng dao là câu hát của trẻ con” [3, tr.444] Cuốn “Từ

điển văn học Việt Nam” của tác giả Lại Nguyên Ân, NXBĐH Quốc gia Hà

Trang 30

Nội định nghĩa về đồng dao: “ Đồng dao là loại dân ca sinh hoạt đặc thù hầu như chỉ

Trang 31

dùng cho trẻ em hát Tuy có khi người lớn cùng hát và bao giờ cũng do người lớn đặt ra rồi dạy cho trẻ em Ở dạng thông thường mỗi bài đồng dao gắn với một trò chơi, mỗi câu ứng với một hành động trong trò chơi, vừa giống phần thanh âm đệm theo và cầm nhịp cho phần diễn xướng, vừa giống như lời chỉ dẫn cho động tác” [1, tr.155].

Theo cuốn “Tìm hiểu đồng dao người Việt” của tác giả Triều Nguyên, NXB Thuận Hóa năm 2009:“Đồng dao là thể loại văn học dân gian, thuộc phương thức diễn đạt tự sự bằng văn vần, gồm phần lời của những bài hát dân gian trẻ em trong cuốn sách” [8, tr20].

Nhìn chung, các tác giả trên có quan điểm khác nhau về ca dao, đồng daonhưng

họ có chung nhận định:

“Ca dao, đồng dao là thơ ca truyền miệng của trẻ em Việt Nam trong xã hội xưa hay những câu hát, câu vè mộc mạc, gần gũi, dễ thuộc, dễ nhớ bởi vần điệu vui tươi, rộn ràng”.

Ca dao, đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời háttrong các trò chơi, bài hát ru em… Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắnliền với các trò chơi của trẻ Tuy chỉ được lưu truyền qua các thế hệ bằngphương thức truyền miệng, nhưng ca dao, đồng dao và trò chơi đồng dao đãmang lại cho trẻ em đời sống tinh thần phong phú qua những cảm xúc vuitươi, hồn nhiên, trong sáng cũng như một môi trường giáo dục mang tính họctập cộng đồng

Trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, ca dao, đồng dao

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thông qua các bài ca dao, đồng dao giáo viên

có thể tiến hành phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các nội dung như:Giáo dục chuẩn mực ngữ âm; hình thành và phát triển vốn từ; phát triển lờinói mạch lạc; phát triển ngôn ngữ nghệ thuật; với ưu thế như vậy nên trong

Trang 32

quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giáo viên mầm non cần nắm được nộidung các bài ca

Trang 33

dao, đồng dao, biết cách lựa chọn những bài ca dao, đồng dao phù hợp vớimục tiêu giáo dục, như vậy ca dao, đồng dao sẽ là một phương tiện hữu hiệu

để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ

1.1.3.2 Đặc điểm nội dung của ca dao, đồng dao

Bài ca dao, đồng dao thường có tính chất nhẹ nhàng, tình cảm, dễ in vàotâm trí trẻ thông qua hình ảnh sống động, sự vật, hình thể bằng con đường tìnhcảm, hát đồng dao là sự nối tiếp chức năng của tiếng hát mẹ ru Đồng dao sửdụng ca từ đơn giản ngắn gọn chỉ hai từ, ba từ, bốn hoặc năm chữ tưởngchừng không có ý nghĩa kết hợp với vần điệu tiết tấu nhịp nhàng dễ nhớ khiếnhọc sinh yêu thích Về nội dung và nghệ thuật diễn xướng ta thấy có nhiềuhoạt động như: hoạt động hát, hoạt động vui chơi, hoạt động trò chơi Nhưngtôi chủ yếu tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm về thể loại ca dao, đồng dao qua nộidung ca dao, đồng dao trẻ em hát - trẻ em chơi

a Đặc điểm ngôn ngữ của ca dao, đồng dao

Thể thơ phổ biến thường sử dụng trong hát ca dao, đồng dao là thể thơbốn chữ, bốn chữ biến thể và thể thơ lục bát, thơ hai chữ, ba chữ, thể thơ hỗnhợp Thành phần cấu tạo một bài ca dao, đồng dao bao gồm âm điệu và thanhđiệu, lối bắt vần chân, vần lưng tạo cho lời ca bài đồng dao gần với chất caxướng Cùng với sự xuất hiện phổ biến của vần bằng (thanh không-thanhhuyền), vần trắc (gồm 4 thanh còn lại) ở giữa dòng và cuối dòng tạo sự luânphiên thanh bằng, trắc làm nên tính trầm bổng cho giai điệu có chứa cả phầnnhạc và phần thơ

Ví dụ: Bài “Thả đỉa ba ba” xây dựng ở thể thơ bốn chữ, sử dụng lối

bắt vần chân luân phiên thanh bằng trắc tương đối nhịp nhàng:

“Thả đỉa ba ba Chớ bắt đàn bà Phải tội đàn ông

Trang 34

Cơm trắng như bông ”

Ngoài ra, trong một số bài ca dao, đồng dao khác sử dụng thể thơ hỗnhợp, thể thơ lục bát, có khi lời ca là sự kết hợp của thể thơ bốn chữ, năm chữ,sáu chữ nhưng thực chất lại là sự biến thể của thể bốn chữ do yêu cầu mở rộngnội dung câu thơ Thể thơ này hoàn toàn phù hợp với nhận thức của trẻ

Ví dụ:

“Thằng Bờm có cái quạt mo Phú ông xin đổi ba bò chín trâu Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu Phú ông xin đổi ao sâu cá mè ”

Lời ca của ca dao, đồng dao có vị trí quan trọng trong việc thực hiện tròchơi âm nhạc bởi giúp trẻ dễ nhớ, dễ phát âm, nội dung lời ca có mối liên hệmật thiết với môi trường xung quanh, sự vật hiện tượng, nội dung trò chơi.Đặc biệt phần lời ca hỗ trợ cho động tác vận động của trò chơi linh hoạt phongphú và hấp dẫn

Ví dụ:

“ Nu na nu nống Cái cống nằm trong Con ong nằm ngoài

Củ khoai chấm mật ”

Phần lời ca rất thực tế với hình ảnh quen thuộc ăn sâu vào thế giới tâmhồn trẻ thơ ngay từ lúc còn rất nhỏ như: cái cống, con ong, củ khoai chấmmật kết hợp với lời thơ chân thành, giản dị là việc chơi trò chơi "Nu na nunống"

b Đặc điểm âm nhạc của ca dao, đồng dao

Về mặt tiết tấu, đồng dao là những bài hát có cấu trúc nhịp theo chu kỳlặp đi lặp lại và nói theo tiết tấu, có 2 loại tiết tấu theo chu kỳ là:

L o ạ i t h ứ nh ấ t : Cấu trúc theo chu kỳ đơn

Trang 35

Là những bài ca dao, đồng dao có loại nhịp điệu thuần nhất thuộc nhóm

cấu trúc tiết tấu chu kỳ đơn như: Nu na nu nống, Kéo cưa lừa xẻ được trẻ

ngắt nhịp theo hơi thở từng câu với phần nhịp điệu quan trọng, sơ đồ nhịp điệugồm

3, 4 âm tiết 1 câu:

“Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe Thì ăn cơm vua ”

Nhìn chung, đa số bài ca dao, đồng dao ít mang tính giai điệu, sự cảm

âm chính xác lứa tuổi này bước đầu bộc lộ Vì vậy, bài đồng dao dưới dạngvần vè, diễn xướng, nhịp điệu rõ ràng là phù hợp nhất với sự phát triển tâmsinh lý của trẻ 5-6 tuổi

L o ạ i t h ứ h a i : Cấu trúc theo chu kỳ phức

Là những bài ca dao, đồng dao viết ở nhiều dạng (thường là hai) nhịpđiệu kết hợp theo lối xen kẽ hoặc luân phiên Bài đồng dao sử dụng cấu trúcthang 4 âm, các âm son -si -đô -rê là âm ổn định thay nhau xuất hiện, kết hợpgiai điệu ở âm khu cao, sử dụng 2 loại nhịp điệu là loại 6 âm tiết nhịp và 8 âmtiết nhịp , xen kẽ tiết tấu lượn sóng uyển chuyển, các bước nhảy quãng hẹp tạo

ổn định về giai điệu đậm chất Tây Bắc Về mặt nhịp điệu, đồng dao gắn liềnvới trò chơi và chủ yếu là đồng bộ mối quan hệ trường độ nốt đơn, đơn chấmdôi hoặc nốt đen, tiết tấu ở thể thơ có ca từ chẵn, trọng âm rơi vào từ chẵn vàthể thơ 3 chữ, 5 chữ, 7 chữ trọng âm rơi vào từ lẻ Nhịp điệu đã ghi nhận đồngdao là thể loại âm nhạc dân gian cho trẻ với phần lời thơ được chuyển tải dướidạng mô hình tiết tấu đồng bộ như:

“Thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà, phải tội đàn ông”

c Đặc điểm môi trường diễn xướng của ca dao, đồng dao

Trang 36

Đối với trẻ, ca dao, đồng dao trở thành món ăn tinh thần gắn với hoạtđộng thực tiễn lao động, phác họa bức tranh đời sống nhân dân, nó bao gồmnhững bài hát và trò chơi, cách thức diễn xướng gắn liền hoạt động thực tiễn

vui chơi và lao động của trẻ Theo cuốn Từ điển tiếng Việt định nghĩa diễn

xướng như sau: “Đó là việc trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âmthanh, nhịp điệu”; diễn là hành động xảy ra, xướng là hát lên, ca lên

Qua đó, khái niệm diễn xướng ca dao, đồng dao là việc trình bày sángtác đồng dao qua thể hiện đồng nhất giữa hành động và lời hát, câu hát đồngdao vang lên với giai điệu vui rộn ràng, khí thế lao động tạo không khí ồn ã,khẩn trương Nhờ sự nhân cách hóa trong ngôn ngữ đồng dao mà thế giới loàivật, con vật đã trở thành bạn bè và gắn liền với đời sống trẻ nhỏ Trẻ em luôntưởng tượng các con vật cũng có khả năng nghe và hiểu điều chúng nói

Ví dụ:

“Sừng mày sừng thân trúc Thân mày thân cây ghiến Mày cứ húc tao xem”

Trong lao động, chăn trâu là lúc trẻ em có được gặp nhau, tổ chức tròchơi và hát đồng dao, lời hát diễn xướng theo nhịp điệu khỏe khoắn như tiếngvang của nhịp điệu lao động Đồng dao diễn xướng trong lao động thì phầnnhịp điệu có vai trò quan trọng tạo nên cảm hứng sáng tác

1.1.3.2.4 Đặc điểm của đối tượng sử dụng ca dao, đồng dao

Trò chơi là sản phẩm tinh thần của nhân dân, sinh ra bằng óc tưởngtượng của nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, theo đó nó mang tính cộngđồng, chứa đựng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân nên rất phù hợp nhiều

độ tuổi, thu hút nhiều đối tượng, thỏa mãn nhu cầu giải trí cho nhiều người.Tầng lớp bình dân là đối tượng chủ yếu vì họ rất gắn bó với trò chơi, họcoi đây là

ngườibạn tinh thần Trò chơi không hạn chế độ tuổi tham gia, không chỉ người

Trang 37

lớn mới được vui chơi mà trẻ con cũng được tham gia Với đối tượng là trẻcon, trò chơi đồng dao mang màu sắc riêng, tính chất và đặc điểm phù hợptâm lý hiếu động, thích bay nhảy Đối tượng tham gia trò chơi phụ thuộc đặctrưng từng trò chơi Tùy theo tính chất từng loại trò chơi mà người tham gia sẽ

là một hay nhiều người, số người chơi được quy ước giữa các thành viên Tròchơi đồng dao mang tính tập thể với số người tham gia không hạn chế và biếnhóa linh hoạt, thỏa mãn đủ nhu cầu vui chơi giải trí của mọi đối tượng trong

xã hội

1.1.3.3 Vai trò của ca dao, đồng dao đối với việc phát triển lời nói mạch lạc

và giáo dục trẻ 5-6 tuổi

a Đối với việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi

* Giá o d ụ c c h uẩ n m ự c n g ữ â m : Ở nội dung này giáo viên có thể dùng nhiều

bài ca dao, đồng dao để phát triển ngôn ngữ cho trẻ: Chẳng hạn để rèn khảnăng nghe âm thanh ngôn ngữ cho trẻ giáo viên có thể lựa chọn các bài cadao, đồng dao ở một số chủ đề trong chương trình mẫu giáo như: Chủ đề

Trường mầm non có bài đồng dao “Nu na nu nống”, “Kéo cưa lừa xẻ” Chủ

đề động vật có bài “Con vỏi con voi”,“Con rùa” dạy trẻ tri giác tính biểu

cảm của âm thanh ngôn ngữ: Khi buồn thì như thế nào? Khi vui thể hiện nhưthế nào? Giọng nói âu yếm, nhẹ nhàng hay quát nạt; dạy trẻ tri giác được sắcthái khác nhau của âm thanh như tốc độ, trường độ, cao độ; rèn cho trẻ khảnăng chú ý nghe, khả năng ngắt nhịp hay nhấn giọng khi đọc ca dao, đồngdao

- Luyện phát âm cho trẻ: Các bài ca dao, đồng dao thường được dùngtrong việc luyện phát âm cho trẻ: Luyện khả năng nghe các âm tiết, âm vị;luyện cho trẻ phát âm đúng âm vị, âm tiết tiếng Việt trong sự kết hợp vớinhau, dạy trẻ phát âm đúng các âm vị và phân biệt được các cặp âm vị nhất làcác âm vị khó mà trẻ hay nhầm lẫn l-n, ch- tr, r- d Chẳng hạn như câu cadao:

Trang 38

“ Lúa nếp là lúa nếp làng

Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng”

Trang 39

Khi đọc câu ca dao này trẻ rất dễ nhầm lẫn giữa l với n, “lúa nếp” sẽthành “núa nếp” hay “lúa lếp” Do vậy đọc ca dao, đồng dao giáo viên sẽ pháthiện ra những trẻ phát âm sai, nói ngọng và giúp trẻ phát âm đúng các âm vị.

- Lỗi nói lắp, nói dài dòng :

+ Nói lắp: Thí dụ đáng lẽ nói: "Con đi ăn cơm đây" thì câu đó sẽ thành

"Co co con đi ăn ăn cơ cơm đây"

*Rèn sức truyền cảm trong lời nói hằng ngày và khi trẻ thể hiện bài ca dao, đồng dao

Ở nội dung này giáo viên có thể dùng một số bài ca dao, đồng dao vềchủ đề gia đình, về tình cảm anh chị em

“Công cha như núi Thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Khi cho trẻ đọc bài ca dao trên, trẻ sẽ thể hiện tình cảm, thái độ củamình đối với cha mẹ qua các câu ca dao Điều này sẽ rèn sức truyền cảmtrong lời nói của trẻ

*Hì n h t hà n h v à p h á t t r i ể n v ố n t ừ c h o t r ẻ : Đối với nội dung này, các bài ca

dao,

đồng dao sẽ góp phần làm giàu vốn từ cho trẻ: về các từ loại như danh từ, tính

Trang 40

từ, động từ và các từ về tự nhiên, xã hội Giúp trẻ nắm được nghĩa của từ; tíchcực hoá vốn từ cho trẻ như:

“Cá bống còn ở trong hang Cái rau tập tàng còn ở nương dâu

Ta về ta sắm cần câu Câu lấy cá bống nấu rau tập tàng”

Hay

“Con cua mà có hai càng Đầu tai không có bò ngang cả đời Con cá mà có cái đuôi

Hai vây vung vẩy nó bơi rất tài Con rùa mà có cái mai

Cái cổ thụt ngắn, thụt dài vào ra Con voi mà có hai ngà

Cái vòi nó cuốn đổ nhà, đổ cây Con chim mà có cánh bay Bay cùng nam, bắc, đông, tây tỏ đường”.

Ca dao, đồng dao là kho từ vựng phong phú cho trẻ, có thể nói chỉ mộtbài đồng dao nhưng đã cung cấp cho trẻ số lượng lớn các từ về tự nhiên, xãhội Đây là điều đặc biệt trong ca dao, đồng dao mà khó có thể loại văn họcnào có

được Chẳng hạn như trong chủ đề động vật bài đồng dao “Bồ các là bác chimri” sẽ cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú về các loài chim như: chim ri, chimsáo, tu hú

“ Bồ các là bác chim ri Chim ri là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú

Ngày đăng: 24/09/2019, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Đình Ân (2007), Vào đời cùng lời ca dao, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào đời cùng lời ca dao
Tác giả: Phạm Đình Ân
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân, Từ điển văn học Việt Nam, NXBĐH Quốc gia Hà Nội 3. Phan Canh (1999), Từ điển tiếng Việt, NXB Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam", NXBĐH Quốc gia Hà Nội3. Phan Canh (1999), "Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Từ điển văn học Việt Nam, NXBĐH Quốc gia Hà Nội 3. Phan Canh
Nhà XB: NXBĐH Quốc gia Hà Nội3. Phan Canh (1999)
Năm: 1999
4. Đỗ Thị Lương Huệ (2006), Một số biện pháp rèn luyện phát âm L-N cho trẻ 5 tuổi, Tạp chí giáo dục mầm non số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp rèn luyện phát âm L-N cho trẻ5 tuổi
Tác giả: Đỗ Thị Lương Huệ
Năm: 2006
5. Nguyễn Xuân Khoa (2004), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫugiáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2004
7. Lưu Thị Lan (1997), Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em ( 0-6 tuổi).Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em ( 0-6 tuổi
Tác giả: Lưu Thị Lan
Năm: 1997
8. Triều Nguyên (2009), Tìm hiểu đồng dao người Việt, NXB Thuận Hóa 9. Phan Đăng Nhật (1992), Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em.Tạp chí giáo dục mầm non số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đồng dao người Việt", NXB Thuận Hóa9. Phan Đăng Nhật (1992), "Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em
Tác giả: Triều Nguyên (2009), Tìm hiểu đồng dao người Việt, NXB Thuận Hóa 9. Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Thuận Hóa9. Phan Đăng Nhật (1992)
Năm: 1992
10. Nguyễn Thị Oanh (2000), Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn ( 5-6) tuổi, Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạccho trẻ mẫu giáo lớn ( 5-6) tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2000
11. Nguyễn Ánh Tuyết (2006), Tâm lý học lứa tuổi mầm non, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học sưphạm
Năm: 2006
12. PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết (2007), Giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non những vấn đề lýluận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
13. Đinh Hồng Thái (2005), Phát triển ngôn ngữ mạch lạc trẻ mẫu giáo. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số: B 2003-75-85, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ mạch lạc trẻ mẫu giáo
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Năm: 2005
14. Đinh Hồng Thái (2005), Đôi điều bàn về khái niệm lời nói mạch lạc tuổi mầm non. Tạp chí Giáo dục số 107 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều bàn về khái niệm lời nói mạch lạc tuổimầm non
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Năm: 2005
15. Đinh Hồng Thái (2006), Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006
16. Trần Đức Ngôn- Dương Thu Hương (1994), Văn học thiếu nhi Việt Nam.Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đức Ngôn- Dương Thu Hương (1994), "Văn học thiếu nhi Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Ngôn- Dương Thu Hương
Năm: 1994
17. Kha-Hai-Nơ-Đích (1990), Phương pháp dạy trẻ học nói như thế nào, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy trẻ học nói như thế nào
Tác giả: Kha-Hai-Nơ-Đích
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1990
6. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (0 - 6 tuổi) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w