2.13 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải và GCN bảo hiểm 2.13.1 Định nghĩa: Theo điều 200.1 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2002: Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người b
Trang 1Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM
1 Khái niệm về bảo hiểm
Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham giabảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khỏan tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác(người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có rủi rođược qui định trong hợp đồng bảo hiểm xảy ra
Một hợp đồng chỉ được coi là hợp đồng bảo hiểm khi:
- Thỏa thuận phải hợp pháp;
- Phải có sự chấp nhận đóng góp (phí bảo hiểm);
- Phải có cam kết bồi thường, chi trả
1.2 Sự ra đời của công tác bảo hiểm
Bảo hiểm có nguồn gốc từ xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại, thậm chí cho đến nay người
ta vẫn chưa xác định được bảo hiểm đã xuất hiện từ khi nào Trong lịch sử hình thành và phát triểncủa ngành bảo hiểm, các hình thức bảo hiểm hình thành qua các giai đoạn gồm:
- Dự trữ thuần túy;
- Cho vay nặng lãi;
- Thỏa thuận và ràng buộc trách nhiệm giữa các bên: hình thức cổ phần và hình thức bảohiểm
Qua những khảo cứu về lịch sử, người ta đã tìm thấy những dấu tích đầy ấn tượng về sự dự trữlương thực thuần túy trong thời tiền sử, cổ đại và cận đại Trong thời kỳ này, con người đã biếtgiành ra những khoản dự trữ nhất định để khắc phục những rủi ro do hạn hán và thiên tai gây ra
Năm 2500 trước CN tại Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã thiết lập quĩ hỗ trợ những người gặphoạn nạn Năm 1700 trước CN ở Babylone và năm 500 trước CN ở Athens, đã xuất hiện hình thứccho vay nặng lãi với lãi suất rất cao phục vụ cho việc mua bán và vận chuyển hàng hóa Điều đặcbiệt là nếu hàng hóa chẳng may gặp rủi ro và bị tổn thất thì người vay không phải trả những khoảntiền đã vay Thực chất của hoạt động này chính là sự kết hợp giữa hình thức cho vay và ý đồ bảohiểm Quan hệ vay mượn về sau bị cấm và từ đó đã dần dần hình thành một hình thức mới, theo đócác nhóm nhà buôn chấp nhận chỉ trả một khoản tiền để đổi lấy sự đảm bảo cho con tàu hay hànghóa vận chuyển của mình Hình thức bảo hiểm thực sự đã bắt đầu từ đó
Vào thế kỷ thứ 13 đã xuất hiện những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên gắn liền với hoạt động giaolưu , buôn bán hàng hóa bằng đường biển Tại Gênes của Italia đã phát hành bản hợp đồng bảohiểm cổ nhất vào năm 1347 và còn lưu giữ đến ngày nay Công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vậntải biển và bộ đã thành lập vào năm 1424 tại Gênes
Cuối thế kỷ thứ 15, khi châu Âu thực hiện các cuộc khai phá đến châu Á và châu Mỹ, ý tưởng
về rủi ro và sự thành lập một quĩ chung đã xuất hiện cùng một lúc Người ta đã đưa ra hai cách đểđáp ứng nhu cầu giải quyết rủi ro:
1
Trang 2- Các thứ nhất là thành lập liên doanh góp vốn cổ phần: cùng thành lập đội thuyền chung vàphân chia lợi nhuận.
- Cách thứ hai là bảo hiểm có hệ thống, theo đó chủ tàu hay chủ hàng chấp nhận đóng tiềncho cơ quan bảo hiểm để được bồi thường cho những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gâyra
Trong giai đoạn này, bảo hiểm chuyển sang phát triển mạnh nhất ở Anh và năm 1574 đã đượcqui định trong luật Năm 1688 công ty bảo hiểm Lloyd’s đã ra đời tại quán cà phê của ông EwardLloyd trên đường Tower Street ở London Năm 1745 tại Anh, Đạo luật Bảo Hiểm Hàng Hải(Maritime Insurance Act 1745) ra đời và sau đó lần lượt được thay đổi bằng Đạo Luật Hàng Hải
1788, Đạo Luật Bảo Hiểm Hàng Hải 1868 và hiện nay quan hệ bảo hiểm được điều chỉnh bằng ĐạoLuật Bảo Hiểm Hàng Hải 1906 Đạo luật này được áp dụng rộng trên toàn thế giới
Vào thế kỷ thứ 17, bảo hiểm nhân thọ bắt đầu phát triển do vào thời kỳ này nhà cửa chủ yếu làmbằng gỗ và hỏa hoạn thường xuyên xảy ra Cùng với bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ cũngđồng thời xuất hiện Giữa thế kỷ thứ 17, các công ty tổ chức tương hỗ cung cấp dịch vụ bảo hiểmnhân thọ cho công chúng đã hình thành Đây là một hình thức tiết kiệm có lợi cho nhà bảo hiểm
Từ những loại hình bảo hiểm ban đầu như hàng hải, hỏa hoạn, nhân thọ, dần dần đã phát triểnthành các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm du lịch, hàng không, xe cơ giới…
1.3 Phân loại bảo hiểm
Bảo hiểm có thể phân thành ba loại hình cơ bản: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểmthương mại (bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ)
1.3.1 Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là chính sách xã hội của nhà nước nhằm thiết lập quĩ tài chính tập trung trợ giúp cho những người lao động trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tử tuất, hưu trí.
Nguồn hình thành quĩ: từ người lao động và từ người sử dụng lao động
1.3.2 Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là hoạt động bảo hiểm thông qua đó người tham gia được hưởng quyền lợi trong trường hợp: khám chữa bệnh, điều trị nội trú.
Nguồn thành lập quĩ: từ người tham gia bảo hiểm và tổ chức có người tham gia bảo hiểm
1.3.3 Bảo hiểm thương mại
Bao gồm hai loại hình là bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ
- Bảo hiểm nhân thọ: là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện qui định xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của con người Những sự kiện được bảo hiểm gồm:
2
Trang 3o Sống đến thời hạn nhất định;
o Chết;
o Ốm đau, thương tật, nằm viện, chế độ chăm sóc…
Nguồn thành lập quĩ: từ mọi người có nhu cầu bảo hiểm và từ các tổ chức sử dụng lao động
- Bảo hiểm phi nhân thọ: là loại hình bảo hiểm thương mại ngoài bảo hiểm nhân thọ Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
o Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
o Bảo hiểm trách nhiệm dân sự;
o Bảo hiểm con người
Nguồn thành lập quĩ: từ mọi người có nhu cầu bảo hiểm và từ các tổ chức doanh nghiệp
2 Giải thích một số thuật ngữ dùng trong bảo hiểm
2.1 Người bảo hiểm (Insurer)
Là người đứng ra nhận bảo hiểm cho những người khác khi được yêu cầu Người bảo hiểm cóquyền thu phí bảo hiểm nhưng đồng thời có trách nhiệm bồi thường tổn thất trong phạm vi bảohiểm Trong kinh doanh bảo hiểm, người bảo hiểm có thể là công ty bảo hiểm (Insurance Company)hay người ký nhận cam kết bảo hiểm (Underwriter)
Insurance Company: là thuật ngữ dùng để chỉ một công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm có khả
năng chấp nhận đăng ký bảo hiểm cho bất kỳ loại hình bảo hiểm nào phụ thuộc vào các điều khoảntrong bản ghi nhớ của Hội bảo hiểm hay các văn kiện cấu thành khác
Underwriter: là thuật ngữ chỉ người ký nhận hợp đồng bảo hiểm cho người được bảo hiểm Khả
năng ký chấp nhận bảo hiểm của Underwriter tùy thuộc vào loại hình bảo hiểm
2.2 Người được bảo hiểm (Insured/Assured)
Là người có đối tượng bảo hiểm đem bảo hiểm Người được bảo hiểm có trách nhiệm đóng phíbảo hiểm cho người bảo hiểm và có quyền đòi người bảo hiểm bồi thường những tổn thất thuộcphạm vi bảo hiểm
2.3 Người tái bảo hiểm (Reinsurer):
Là người nhận bảo hiểm cho một người bảo hiểm khác đối với đối tượng bảo hiểm đã đượcngười bảo hiểm này bảo hiểm
2.4 Người được tái bảo hiểm (Reinsured):
Là người bảo hiểm sau khi nhận bảo hiểm cho một người lại đem vật bảo hiểm đến bảo hiểm lại
ở một tổ chức bảo hiểm khác
2.5 Giá trị bảo hiểm (Insured value)
3
Trang 4Giá trị bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản là giá trị bằng tiền của tài sản Giá trị đó thường đượcxác định bằng giá trị thực tế của tài sản (đối tượng bảo hiểm) Trong bảo hiểm hàng hải, giá trị bảohiểm được qui định tại điều 210 – Bộ luật hàng hải Việt Nam, 1990 như sau:
(a) Giá trị bảo hiểm của tàu là tổng giá trị của tàu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm Giá trị này bao hàm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự trữ của tàu cộng với toàn bộ bảo hiểm phí Tùy theo hợp đồng, giá trị tàu còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi;
(b) Giá trị bảo hiểm của hàng hóa là giá trị hàng ghi trên hóa đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá thị trường ở nơi và vào thời điểm bốc hàng cộng phí bảo hiểm và có thể cả tiền lãi ước tính;
(c) Giá trị bảo hiểm của tiền cước vận chuyển là tổng số tiền cước vận chuyển cộng với bảo hiểm phí Trong trường hợp người thuê bảo hiểm mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển thì số tiền cước này được tính gộp vào giá trị bảo hiểm của hàng hóa để bảo hiểm;
(d) Giá trị bảo hiểm của các đối tượng bảo hiểm khác, trừ trách nhiệm dân sự, là giá trị của đối tượng bảo hiểm ở nơi và thời điểm bắt đầu bảo hiểm cộng với bảo hiểm phí.
2.6 Số tiền bảo hiểm (Sum Insured)
Số tiền bảo hiểm là khoản tiền nhất định ghi trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảohiểm để xác định giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm trong bồi thường cho người tham giabảo hiểm và là cơ sở để tính phí bảo hiểm
2.7 Tỷ lệ phí bảo hiểm (Premium Scale)
Tùy theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, người ta có các dạng hợp đồng bảohiểm sau:
(a) Bảo hiểm đúng giá trị - Full insurance: theo tập quán thông thường, số tiền bảo hiểm được
ấn định bằng giá trị bảo hiểm và một hợp đồng bảo hiểm như vậy gọi là “bảo hiểm đúng giá trị”
(b) Bảo hiểm trên giá trị - Over insurance: là dạng bảo hiểm mà số tiền bảo hiểm ghi trong hợp
đồng bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm Trong trường hợp này, người bảo hiểm không bồi thườngcho phần tổn thất vượt trên giá trị bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hóa, số tiền bảo hiểm trội ra đóchỉ được chấp nhận khi coi nó là số lãi có thể có của công việc buôn bán và không được lớn hơn10% giá trị bảo hiểm
(c) Bảo hiểm dưới giá trị - Under insurance: là trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong đơn bảo
hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm và người bảo hiểm chị trách nhiệm bồi thường tổn thất theo tỉ lệgiữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, kể cả chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm
Ví dụ 1: Công ty bảo hiểm A bán bảo hiểm cho công ty B một lô hàng trị giá 500 triệu đồng
(theo giá CIF) vận chuyển từ Nhật bản về Việt Nam với số tiền bảo hiểm ghi trong đơn bảo hiểm là
400 triệu đồng Trong quá trình đi biển, hàng đã bị tổn thất vì một nguyên nhân thuộc phạm vi bảohiểm Sau khi giám định, giá trị tổn thất xác định được bao gồm: tổn thất hàng hóa 50 triệu đồng vàmất cước phí 2 triệu đồng
Tron hợp đồng bảo hiểm trên, người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm dưới giá trị 100 triệuđồng (400/500=80%) Như vậy số tiền công ty bảo hiểm A phải đền bù cho công ty B là:
4
Trang 5- Tổn thất hàng hóa: 50 triệu đồng x 80% = 40 triệu đồng.
- Tổn thất về cước phí: 2 triệu đồng x 80% = 1,6 triệu đồng
2.8 Phí bảo hiểm (Premium)
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải đóng cho người bảo hiểm để đượcngười bảo hiểm bồi thường khi có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra đối với đối tượng bảohiểm
Phí bảo hiểm được cấu thành từ hai thành phần: Phí thuần và phụ phí
- Phí thuần là khoản thu cho phép người bảo hiểm thực hiện được việc chi trả bồi thườnghoặc trả tiền bảo hiểm cho các trách nhiệm phát sinh từ những hợp đồng đã ký kết
- Phụ phí là khoản phí thu cho phép người bảo hiểm đảm bảo các chi phí cần thiết trong hoạtđộng kinh doanh như: chi phí ký kết hợp đồng, chi phí quản lý, thuế nộp cho ngân sách nhà nước
Mức phí bảo hiểm được định ra trên cơ sở mức phí thuần trên một đơn vị đối tượng bảo hiểmcho từng nghiệp vụ nhất định Phí thuần được xác định dựa trên xác suất xảy ra rủi ro hoặc trên cơ
sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo phí thu được đủ để bồi thường và bù đắp các chi phí khác, đồngthời người kinh doanh bảo hiểm có lãi Ngoài ra để tính mức phí thuần, người ta còn phải tính đến:Lãi suất đầu tư tài chính (nếu bảo hiểm tồn tích) và hệ số an toàn nhất định
Đối với trường hợp bảo hiểm dưới dạng hội bảo hiểm tương hỗ (Mutual Insurance Associaion),
theo các điều khoản của hợp đồng, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm đóng góp đối vớinhững tổn thất mà các thành viên khác phải gánh chịu, nên phí bảo hiểm không được xác định trướchoàn toàn mà được phân thành hai loại: phí cố định và phí thay đổi
2.9 Mức miễn bồi thường (Franchise)
Là giá trị được biểu hiện bằng một số tiền cụ thể hay bằng tỉ lệ phần trăm của số tiền bảo hiểm
mà nếu giá trị tổn thất nhỏ hơn giá trị này thì người bảo hiểm không phải bồi thường người đượcbảo hiểm Có hai hình thức miễn thường:
(a) Miễn thường có khấu trừ (deductible): Mức miễn thường có khấu trừ là mức miễn thường
mà khi giá trị tổn thất lớn hơn mức miễn thường thì người bảo hiểm chỉ bồi thường phần giá trị tổnthất vượt quá mức miễn thường, nếu thấp hơn người bảo hiểm không phải bồi thường
Giá trị bồi thường (có khấu trừ) = Giá trị tổn thất (nếu lớn hơn mức miễn thường) – mức miễn thường.
(b) Miễn thường không khấu trừ: Mức miễn thường không khấu trừ là mức miễn thường mà khi
giá trị tổn thất lớn hơn mức miễn thường thì người bảo hiểm sẽ bồi thường 100% giá trị tổn thất,nếu thấp hơn người bảo hiểm không phải bồi thường
Ví dụ 2: Mức miễn thường ghi trong đơn bảo hiểm là 2.000 USD Giái trị bồi thường sẽ là bao
nhiêu trong trường hợp:
a Bảo hiểm có khấu trừ, tổn thất 1.000 USD
5
Trang 6b Bảo hiểm có khấu trừ, tổn thất 3.000 USD.
c Bảo hiểm không khấu trừ, tổn thất 1.000 USD
d Bảo hiểm không khấu trừ, tổn thất 3.000 USD
Trả lời:
a Không bồi thường do giá trị tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường;
b Giá trị bồi thường: 3.000 USD – 2.000 USD = 1.000 USD;
c Không bồi thường do giá trị tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường (có khấu trừ);
d Bồi thường 3.000 USD do giá trị tổn thất lớn hơn mức miễn thường (không khấu trừ)
Ý nghĩa của mức miễn thường:
- Làm giảm bớt công việc xử lý và giải quyết bồi thường của nhà bảo hiểm đối với những tổnthất nhỏ, vì những tổn thất nhỏ thường xuyên xảy ra Do vậy khi xét thấy tổn thất nhỏ dưới mứcmiễn thường, người được bảo hiểm phải tự mình xử lý và đề phòng, hạn chế tổn thất
- Hợp đồng bảo hiểm có mức miễn thường sẽ khiến cho người được bảo hiểm quan tâm và cótrách nhiện hơn trong việc đề phòng hạn chế tổn thất đối với đối tượng bảo hiểm
- Miễn thường có khấu trừ thường áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa đối với nhữngloại hàng có đặc tính hao hụt tự nhiên Thông thường mức khấu trừ bằng mức hao hụt tự nhiên củahàng hóa
2.10 Giá trị bồi thường (Indemnified value)
Giá trị bồi thường là giá trị hay số tiền mà người bảo hiểm bồi thường cho người được bảohiểm:
Giá trị bồi thường = Giá trị tổn thất + chi phí giám định + chi phí đề phòng hạn chế tổn thất.
2.11 Đối tượng bảo hiểm (Subject-matter of insurance)
Trong hợp đồng bảo hiểm bao giờ cũng có một vật hay quyền lợi vật chất bị các rủi ro đe dọa,đấy chính là đối tượng bảo hiểm Vì mục đích đảm bảo an toàn, phục hồi, tái tạo lại đối tượng bảohiểm trong trường hợp có rủi ro, tổn thất xảy ra mà hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết Trong bảohiểm nói chung, đối tượng bảo hiểm có thể là:
- Một vật thể vật chất (Physical object);
- Một khoản tiền có thể bị mất vì rủi ro được bảo hiểm gây ra (Chose-in Action);
- Trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải gánh chịu (Liability imposed upon assured)
Để hợp đồng bảo hiểm có giá trị pháp lý, người tham gia bảo hiểm phải có quyền lợi bảo hiểmhợp pháp đối với đối tượng bảo hiểm Điều 3-MIA 1906 qui định đối tượng bảo hiểm trong bảohiểm hàng hải là các phiêu trình hàng hải hợp pháp và định nghĩa phiêu trình hàng hải hợp phápnhư sau:
- Tàu, hàng hóa hay các động sản khác có thể bị đe dọa bởi rủi ro hàng hải (được gọi là tài sản
có thể bảo hiểm);
6
Trang 7- Số tiền thu được của cước phí, hoa hồng, tiền lãi hay các lợi nhuận hoặc các chi phí khác cóthể bị nguy hiểm khi tài sản được bảo hiểm bị rơi vào trình trạng nguy hiểm;
- Trách nhiệm đối với người thứ ba mà chủ tài sản hay người có liên quan khác có thể gánhchịu do các rủi ro hàng hải
2.12 Rủi ro bảo hiểm
2.12.1 Khái niệm
Rủi tro trong bảo hiểm hàng hải là khả năng có thể gây ra hư hỏng, hủy hoại hay thiệt hại đốivới đối tượng bảo hiểm Trong bảo hiểm, khái niệm hay thuật ngữ rủi ro khác với thuật ngữ rủi rothông thường được dùng trong tập quán ngôn ngữ chung Rủi ro trong bảo hiểm chỉ giới hạn đối vớinhững thiên tai, tai nạn bất ngờ đối với đối tượng bảo hiểm Như vậy, rủi ro là một thuật ngữ dùng
để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả gây nên sự thiệt hại hoặc mang lại kết quảkhông như dự tính
Sự nguy hại của rủi ro phụ thuộc vào một qui trình xử lý đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thốngđồng bộ gồm khuyến cáo rủi ro, phát hiện rủi ro, nhận diện rủi ro, đến việc đánh giá rủi ro, lựa chọnnhững giải pháp thích hợp Nguyên nhân của rủi ro chia thành hai nhóm: chủ quan và khách quan.Hậu quả của rủi ro là tổn thất, là kết quả không mong đợi Nếu không có rủi ro, bảo hiểm tồn tại chỉ
là một hình thức Trong bảo hiểm, rủi ro được coi là cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường dân sựtrong hợp đồng Vì vậy, rủi ro có thể được coi là điểm khởi đầu, là tiền đề pháp lý qui định nội dungcủa hoạt động bảo hiểm…
Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải, người ta qui định chỉ đền bù những tổn thất do rủi ro đượcbảo hiểm gây ra Cần phải phân biệt rủi ro của biển (Perils of sea) và rủi ro trên biển (Perils on thesea) vì rủi ro trên biển thì nhiều nhưng chỉ những rủi ro bất ngờ (rủi ro của biển) thì mới thuộc tráchnhiệm bảo hiểm Ví dụ: Mắc cạn, chìm tàu, đâm va, mất tích là các rủi ro của biển vì đây là các rủi
ro bất ngờ chỉ xảy ra trên biển Tuy nhiên, cháy nổ không phải là tai nạn bất ngờ của biển nhưngvẫn được xem là rủi ro của biển do việc chữa cháy ngoài biển khó khăn hơn nhiều so với trên đấtliền
Như vậy, một đặc điểm cơ bản của các rủi ro được bảo hiểm là chúng phải có tính tự nhiên, bấtngờ, tồn tại độc lập, khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người và khi tổn thất xảy ra thìcon người phải gánh chịu hậu quả do nó mang lại
2.12.2 Phân loại rủi ro hàng hải
Căn cứ vào nguyên nhân, người ta phân thành các loại:
- Thiên tai: các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên bất thường như thời tiết xấu, bão, lốc, sétđánh, sóng thần…
- Tai nạn bất ngờ ngoài biển như mắc cạn, đắm, đâm va, cháy nổ, mất tích
- Tai nạn bất ngờ và các nguyên nhân khách quan bên ngoài khác nhưng không phải là tai nạnbất ngờ của biển như hàng hóa bị đổ vỡ, thiếu hụt, rò chảy, mất cắp…
- Rủi ro do nguyên nhân xã hội gây ra như chiến tranh, đình công, bạo động, nổi loạn…
- Rủi ro do bản chất của đối tượng bảo hiểm như ẩn tì hay nội tì
7
Trang 8Căn cứ theo nghiệp vụ bảo hiểm, người ta phân thành ba loại
- Rủi ro thông thường được bảo hiểm : là những rủi ro có tính chất ngẫu nhiên, bất ngờ ngoài
ý muốn của con người như : thiên tai, tai nạn bất ngờ ngoài biển … các rủi ro này trong mọi trườnghợp đều được bảo hiểm
- Rủi ro được bảo hiểm riêng: là những rủi ro gây ra bởi những nguyên nhân xã hội hay kháchquan bên ngoài như chiến tranh, đình công, bạo loạn Các rủi ro này chỉ được bảo hiểm khi muathêm bảo hiểm riêng biệt
- Rủi ro loại trừ: là những rủi ro có tính đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra hoặc do lỗi cố ýcủa người được bảo hiểm như: hao hụt, hao mòn tự nhiên, do bản chất tự nhiên của hàng hóa, dohành động xấu hay cố ý của người được bảo hiểm, các rủi ro này trong mọi trường hợp đều khôngđược bảo hiểm
2.13 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải và GCN bảo hiểm
2.13.1 Định nghĩa:
Theo điều 200.1 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2002: Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà theo đó người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các hiểm họa hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện đã thỏa thuận với người bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể áp dụng đối với các hiểm họa có thể gây ra tổn thất cho đốitượng bảo hiểm hàng hải trên quãng đường vận chuyển bằng đường không, đường thuỷ nội địa hoặcđường bộ trong liên hiệp vận chuyển
2.13.2 Đơn bảo hiểm (Insurance Policy)
Hợp đồng bảo hiểm được thể hiện bằng đơn bảo hiểm Theo điều 22, MIA-1906, hợp đồng bảohiểm hàng hải không được chấp nhận như là một bằng chứng bảo hiểm trừ khi nó được thể hiệndưới dạng một đơn bảo hiểm hàng hải phù hợp với đạo luật này Đơn bảo hiểm có thể được thựchiện và phát hành ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng hay sau đó
Đơn bảo hiểm có thể cấp theo các hình thức sau đây:
a) Đơn bảo hiểm chuyến là đơn bảo hiểm cấp cho đối tượng bảo hiểm từ một địa điểm này đến một hoặc nhiều địa điểm khác;
b) Đơn bảo hiểm thời hạn là đơn bảo hiểm cấp cho đối tượng bảo hiểm trong một thời gian nhất định;
c) Đơn bảo hiểm định giá là đơn bảo hiểm trong đó người bảo hiểm đồng ý trước giá trị của đối tượng bảo hiểm ghi trong đơn bảo hiểm, phù hợp với giá trị được bảo hiểm và được sử dụng khi giải quyết bồi thường tổn thất toàn bộ hoặc bồi thường tổn thất bộ phận
Việc xác định tổn thất toàn bộ ước tính phải căn cứ vào giá trị ghi trong hợp đồng và quy định tại khoản 1 Điều 254 của Bộ luật này, trừ trường hợp đơn bảo hiểm có thỏa thuận khác;
8
Trang 9d) Đơn bảo hiểm không định giá là đơn bảo hiểm không ghi giá trị của đối tượng bảo hiểm, nhưng số tiền bảo hiểm phải ghi rõ trong đơn bảo hiểm
2.13.3 Nội dung của đơn bảo hiểm
Nội dung của đơn bảo hiểm bao gồm các điểm cơ bản sau đây:
- Tên người được bảo hiểm hoặc người có quyền lợi được bảo hiểm;
- Đối tượng bảo hiểm;
- Các điều kiện bảo hiểm;
- Số lượng chuyến đi hoặc thời hạn thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tùy theo hợp đồng đó làhợp đồng bảo hiểm chuyến hoặc hợp đồng bảo hiểm định hạn;
- Số tiền bảo hiểm;
- Nơi, ngày, tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;
- Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm
Hình thức và nội dung cơ bản của đơn bảo hiểm được áp dụng đối với giấy chứng nhận bảohiểm
2.13.4 Điều kiện bảo hiểm (Condition of Insurance)
Điều kiện bảo hiểm là một trong những nội dung chính yếu nhất của một hợp đồng bảo hiểmxác định các rủi ro, phạm vi được bảo hiểm đồng thời qui định quyền hạn và nghĩa vụ và nhữngcam kết khác giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm Nội dung các điều kiện bảo hiểm đượcthể hiện trong các qui tắc bảo hiểm của các công ty bảo hiểm
2.13.5 Phân loại hợp đồng bảo hiểm
2.13.5.1 Phân loại theo Số tiền có thể bồi thường
- Hợp đồng bảo hiểm không ghi rõ giá trị (Unvalued Policy)
Là hợp đồng không ghi rõ giá trị của đối tượng bảo hiểm, khi có tổn thất xảy ra mới tiến hànhxác định giá trị và việc bồi thường dựa trên số tiền bảo hiểm, khi có tổn thất xảy ra mới tiến hànhxác định giá trị và việc bồi thường dựa trên số tiền bảo hiểm Thông thường những hợp đồng nàyđược áp dụng đối với các đối tượng bảo hiểm để xác định giá trị Giá trị xác định theo hợp đồng nàygọi là giá trị có thể bảo hiểm được (Insurance Value)
Đối với hợp đồng bảo hiểm không ghi rõ giá trị, có thể xảy ra trường hợp gọi là bảo hiểm đa giátrị (Several Value) Đây là trường hợp một người bảo hiểm mang tài sản đi bảo hiểm ở nhiều nơi giátrị và số tiền bảo hiểm khác nhau Thị trường bảo hiểm không chấp nhận người được bảo hiểm đượchưởng lời trong hợp đồng bảo hiểm
- Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ giá trị (Valued Policy)
Là hợp đồng ghi rõ giá trị của đối tượng bảo hiểm Thông thường những hợp đồng này được
áp dụng đối với những đối tượng bảo hiểm khó xác định giá trị
9
Trang 102.13.5.2 Phân loại theo không gian và thời gian
- Bảo hiểm chuyến – Voyage Polily (theo không gian)
Là hợp đồng bảo hiểm cho từng chuyến đi từ một cảng đến một vài cảng khác, không kể thờigian của hành trình dài hay ngắn Đơn bảo hiểm chuyến có thể dùng cho nhiều chuyến nối tiếpnhau, chẳng hạn cả chuyến đi lẫn chuyến về, tùy theo qui định của đơn Loại đơn bảo hiểm nàythường áp dụng để bảo hiểm hàng hóa, đôi khi dùng để bảo hiểm cước phí vận chuyển, ngày nay rất
ít khi dùng để bảo hiểm thân tàu
- Bảo hiểm định hạn – Time Policy (theo thời gian)
Là hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm trong một thời gian xác định nào đó Thôngthường loại hợp đồng bảo hiểm này không quá 12 tháng, muốn kéo dài thời hạn người ta áp dụng
“điều khoản gia hạn” (Continuation Clause) Theo điều khoản này, trong trường hợp hợp đồng đãhết hạn 12 tháng mà tàu đang còn trên biển hoặc ở cảng ghé, cảng lánh nạn thì người bảo hiểm thỏathuận tiếp tục bảo hiểm cho đến khi tàu đến cảng đích và phải nộp thêm một khoản phí bảo hiểmtương ứng (Pro-rate Premium) và người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết
Hợp đồng bảo hiểm định hạn thường được áp dụng trong trường hợp bảo hiểm thân tàu, nhưngcũng có trường hợp chủ tàu chọn cách bảo hiểm thân tàu của họ theo từng chuyến riêng biệt dướimột hợp đồng bảo hiểm chuyến
- Hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp (Mixed Policy)
Đây là hợp đồng bảo hiểm kết hợp giữa hợp đồng bảo hiểm định hạn và hợp đồng bảo hiểmchuyến (Voyage and Time Policy) Với loại hợp đồng bảo hiểm này, đối tượng bảo hiểm được bảohiểm trong một khoản thời gian xác định và cho một số chuyến xác định Hiệu lực bảo hiểm sẽ kếtthúc sau khi hết hạn thời gian bảo hiểm và sau khi tàu đã về đến cảng đích Hợp đồng bảo hiểm này
đã khắc phục được các nhược điểm của các hợp đồng nói trên
- Hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm bao định hạn.
Với hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, để thuận tiện cho các chủ hàng có khối lượng hàng lớn,không phải ký những hợp đồng lắt nhắt, người bảo hiểm đưa ra các dạng hợp đồng bảo hiểm bao vàhợp đồng bảo hiểm bao định hạn
Hợp đồng bảo hiểm bao (Floating Policy)
Là hợp đồng bảo hiểm trong đó người bảo hiểm nhận được bảo hiểm toàn bộ số hàng củangười được bảo hiểm đến một giá trị xác định và mỗi lần hàng được gởi đi, người bảo hiểm sẽ cấpcho người được bảo hiểm một giấy chứng nhận bảo hiểm cho lô hàng đó Khi tổng số hàng đượcvận chuyển bằng tổng số giá trị hàng kí trong đơn bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực Cácchi tiết về từng lô hàng được ghi rõ trong giấy chứng nhận hay đơn bảo hiểm cho từng lô hàng đóvới điều kiện người ta sẽ giới hạn số lượng hàng trong một lần vận chuyển
Hợp đồng bảo hiểm bao định hạn (Open Cover)
10
Trang 11Trong hợp đồng bảo hiểm này, người bảo hiểm sẽ nhận bảo hiểm cho toàn bộ số hàng chongười được bảo hiểm trong một thời gian nhất định.
Các thuận lợi của người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao
Trước hết, họ được hưởng bảo hiểm một cách tự động và nếu vô ý bỏ qua một chuyếnhàng không thông báo cho bảo hiểm thì việc đó vẫn không làm cho bảo hiểm mất hiệu lực
Người được bảo hiểm biết trước mức phí bảo hiểm phải trả do vậy họ biết chắc về chi phíbảo hiểm, nên họ chủ động hơn trong công việc
Hệ thống bảo hiểm bao cho phép người bảo hiểm quản lý công việc của họ hữu hiệu hơn.Thông thường người được bảo hiểm sẽ đóng phí bảo hiểm theo định kỳ
Cuối cùng hệ thống bảo hiểm bao tạo nên mối quan hệ kinh doanh tốt giữa người bảohiểm và người được bảo hiểm
2.14 Từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản
Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó
Ðối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật
3 Quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm
3.1 Người được bảo hiểm
3.1.1 Trách nhiệm
3.1.1.1 Mặc nhiên
- Phải tuân thủ nguyên tắc “trung thực tuyệt đối – Utmost good faith” do người bảo hiểm
không thể kiểm tra hết tất cả các đối tượng bảo hiểm Đây là một nguyên tắc cơ bản của bảo hiểmhàng hải
- Tùy từng lĩnh vực mà người được bảo hiểm phải hiểu được một cách tự nhiên những việc họkhông được phép làm hay phải làm trước khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm Đối với tàu biển thì:
Tàu phải đủ khả năng đi biển;
Tàu không được chạy sai tuyến đường trong một chuyến đi;
Tàu phải bắt đầu chuyến đi trong một thời gian hợp lý;
Phải đảm bảo hành trình hợp pháp
3.1.1.2 Qui định rõ
- Người được bảo hiểm phải có nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí cho người bảo hiểm ngay sau khi
ký kết hợp đồng hoặc ngay khi cấp đơn bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo ngày cho người bảo hiểm biết sau khi nhậnđược các thông tin liên quan đến sự thay đổi về các hiểm họa được bảo hiểm có khả năng đe dọa
11
Trang 12đối tượng bảo hiểm hoặc về tai nạn đã xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm và phải làm theo các chỉdẫn của người được bảo hiểm.
- Trong trường hợp xảy ra tổn thất liên quan đến các hiểm họa đã được bảo hiểm, người đượcbảo hiểm có nghĩa vụ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất và đảmbảo cho việc thực hiện quyền khiếu nại của người bảo hiểm đối với người gây ra tổn thất Khi thựchiện nghĩa vụ này, người được bảo hiểm phải thực hiện các chỉ dẫn của người bảo hiểm
- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm mọi tin tức, tài liệu, bằngchứng và đồng thời phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để người bảo hiểm có thể thực hiện cóhiệu quả quyền truy đòi người thứ ba
- Người được bảo hiểm được hoàn trả lại một phần phí bảo hiểm trong trường hợp hợp đồngbảo hiểm kết thúc trước thời hạn mà người được bảo hiểm không có lỗi trong việc kết thúc hợpđồng bảo hiểm
3.2 Quyền và trách nhiệm của người bảo hiểm
- Người bảo hiểm được quyền thu phí bảo hiểm;
- Người bảo hiểm được quyền kiểm tra tất cả những gì liên quan đến đối tượng bảo hiểm hayliên quan đến tổn thất đã xảy ra;
- Khi trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòingười thứ ba về trách nhiệm bồi thường tổn thất trong phạm vi số tiền đã trả (nếu có);
- Người bảo hiểm được quyền sử dụng đối tượng bảo hiểm sau khi đã bồi thường theo quiđịnh về tổn thất toàn bộ trong trường hợp bảo hiểm đúng giá trị
12
Trang 134 Bồi thường tổn thất trong công tác bảo hiểm
Tổn thất (Loss/Damage) là tình trạng, hoàn cảnh thực tế đưa đến sự giảm bớt giá trị của vật sởhữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu tài sản Tổn thất là hậu quả của các rủi ro, còn rủi ro là nguyênnhân gây ra tổn thất Nói đến tổn thất là nói đến thiệt hại và đó là sự kiện làm phát sinh trách nhiệmvật chất của bảo hiểm Do vậy vấn đề này được bảo hiểm đặc biệt quan tâm
4.1 Phân loại tổn thất trong bảo hiểm
Căn cứ vào mức độ, qui mô tổn thất người ta phân thành hai loại: tổn thất bộ phận và tổn thất toàn bộ Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan, tổn thất được phân thành hai loại: tổn thất riêng và tổn thất chung.
13
Trang 14SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI TỔN THẤT HÀNG HẢI
Ngoài ra các chi phí đặc biệt và chi phí cứu hộ cũng có thể được xem là thành phần của tổn thất
bộ phận Chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất là chi phí được bồi thường theo điều khoản riêng,không bao hàm trong tổn thất bộ phận hay tổn thất toàn bộ
4.2 Nguyên tắc bồi thường tổn thất trong bảo hiểm
“Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh
từ trách nhiệm pháp lý” Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm Mụcđích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểmngay sau khi tổn thất xảy ra Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảohiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ
có thể cố gắng khôi phục được gần như thế
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào
đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, khônghơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi Trong bảo hiểm, số tiền bồithường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi ro được bảo hiểmkhông vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế Người được bảo hiểm cũngkhông thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đườngbảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơnthiệt hại
Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm Khi xảy ra trườnghợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi
Trang 15của người đó Tuy nhiên, đôi khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi íchcủa họ Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu vào việc đánhgiá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi thường thương tật con người,chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.
15
Trang 16Chương 2: BẢO HIỂM THÂN TÀU
1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thân tàu
Bảo hiểm thân tàu biển là loại hình bảo hiểm đối với các tổn thất, mất mát về thân, máy tàu.Loại hình bảo hiểm này ra đời từ thế kỷ 17 gắn liền với sự xuất hiện của quán cà phê Lloyd’sCoffee House của ông Eward Lloyd tại London Là một thuyền trưởng giàu kinh nghiệm, ông Lloyd
đã cho tổng hợp các tin tức, phát hành bản tin thông báo tổn thất hàng hải hàng ngày và tiến hànhbảo hiểm đối với tàu thuyền
Qua các thống kê về tổn thất, người ta đã rút ra những kinh nghiệm và thực hiện các biện pháp
đề phòng, nhưng tai nạn cũng không thể loại trừ, do đó họ đã lập ra hội bảo hiểm thân tàu Trên cơ
sở hoạt động của hội bảo hiểm này, các qui định, thể lệ về bảo hiểm cũng ra đời
Vào năm 1888, điều kiện bảo hiểm thời hạn thân tàu đầu tiên “Institute Time Clause” (ITC) đãđược hiệp hội bảo hiểm London soạn thảo và áp dụng rộng rãi trên thế giới Cùng với sự phát triểnmạnh mẽ của ngành vận tải biển trên thế giới, các điều kiện bảo hiểm thời hạn thân tàu cũng đượcsửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, cụ thể là ITC 1/10/1970, 1/10/1983, 1/11/1995 …
Hiện nay, các nước có ngành bảo hiểm phát triển thường vận dụng điều kiện ITC vào nghiệp vụbảo hiểm của mình Nội dung của chương này chủ yếu dựa theo các điều kiện bảo hiểm thân tàu củahiệp hội bảo hiểm London và các qui tắc bảo hiểm thân tàu của tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
2 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
2.1 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu là giá trị của con tàu được bảohiểm Đây là cơ sở quan trọng trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của con tàu là tổng giá trị của con tàu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm Giá trịnày bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng, dự trữ của tàu cộng với toàn bộ phí bảohiểm tùy theo hợp đồng Giá trị con tàu có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ vàchi phí ứng trước chuẩn bị cho chuyến đi
Việc xác định đúng và chính xác giá trị bảo hiểm có ý nghĩa thiết thực đối với quyền lợi củangười được bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra và xác định đúng, hợp lý mức phí bảo hiểm mà ngườiđược bảo hiểm đóng góp Việc xác định giá trị bảo hiểm của con tàu phải căn cứ trên việc tính toángiá trị và khấu hao qua thời gian và thời giá của con tàu để có thể đưa ra một giá trị thực tế của nó
2.2 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu là giới hạn trách nhiệm bồi thường của người bảohiểm đối với con tàu, thể hiện một phần hay toàn bộ giá trị bảo hiểm của con tàu đó và là cơ sở đểxác định số tiền bồi thường bảo hiểm đối với mội vụ tai nạn, tổn thất
16
Trang 17Số tiền bảo hiểm được xác định tùy thuộc vào quan hệ hợp đồng giữa người bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm đối với mỗi con tàu nhất định.
3 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là số tiền người tham gia bảo hiểm đóng góp xây dựng hình thành nên quỹ bảohiểm Việc đóng góp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm thường được tiến hành ngay saukhi ký kết hợp đồng bảo hiểm
Phí bảo hiểm dù được xác lập theo phương án nào thì vẫn phải bảo đảm mức phí hợp lý côngbằng cho mọi đối tượng tham gia bảo hiểm Mức phí phụ thuộc vào mức độ rủi ro của từng đốitượng cụ thể và trách nhiệm của người bảo hiểm trước đối tượng đó
Phí bảo hiểm thân tàu được xác định bằng tổng của phí bồi thường tổn thất toàn bộ, phí bồithường tổn thất bộ phận và phí quản lý kinh doanh
3.1 Phí bảo hiểm tổn thất toàn bộ
Theo thống kê, người ta xác định được xác suất tổn thất toàn bộ về tàu do đắm, mất tích… xảy
ra trên thế giới và lấy xác suất này làm tỷ lệ phí bảo hiểm tổn thất toàn bộ cho một con tàu ở mức
độ trung bình
Tùy theo tình trạng kỹ thuật, dung tải của tàu mà người ta sẽ điều chỉnh tỷ lệ phí bảo hiểm nàysao cho phù hợp và từ tỷ lệ phí bảo hiểm người ta tính được phí bảo hiểm tổn thất toàn bộ cho contàu đó Như vậy, phí bảo hiểm này phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm
Phí bảo hiểm = Tỷ lệ phí bảo hiểm x Số tiền bảo hiểm
- Trình độ nghề nghiệp của thuyền bộ;
- Tuyến đường hay phạm vi hoạt động của con tàu;
- Khả năng quản lý và nghiệp vụ kinh doanh của chủ tàu;
- Tình trạng tổn thất của đội tàu do chủ tàu quản lý trong mỗi năm
3.3 Phí quản lý kinh doanh
Phí quản lý kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Chi phí quản lý hành chính xác định theo mức chi tiêu cho bộ máy điều hành, phong phẩm,thường ấn định là 10% phí bảo hiểm;
- Chi phí dành cho tuyên truyền, quảng cáo đề phòng tổn thất khoảng 10% phí bảo hiểm;
17
Trang 18- Phần còn lại là lãi kinh doanh của bảo hiểm và phần lập quỹ dự trữ bảo hiểm cho nhữngnăm có tổn thất lớn.
- Lạm phát gây ra sự mất giá cũng phải được tính vào phí bảo hiểm
Người được bảo hiểm hoặc đại lý của họ có nhiệm vụ thanh toán phí bảo hiểm và người bảohiểm có nhiệm vụ cấp đơn bảo hiểm cho người được bảo hiểm hay đại lý của họ
Phí bảo hiểm có thể được đóng một lần cũng có thể được chia ra thành nhiều đợt trong thời hạnhiệu lực bảo hiểm tùy theo qui định của hợp đồng
Ví dụ 1: (Tính phí bảo hiểm)
Một tàu hàng có DWT = 67.500MT được đóng vào năm 2005, có GTBH và STBH thỏa thuậnvào ngày 01/01/2016 là 5.000.000 USD, tỷ lệ phí bảo hiểm tổn thất tòan bộ là 0.325% và đơn giáphí bảo hiểm tổn thất bộ phận là 0.5 USD/MT DWT (phí bảo hiểm tổn thất toàn bộ và phí bảo hiểmtổn thất bộ phận đã bao hàm phí quản lý kinh doanh) Tính tỷ lệ phí bảo hiểm cho tàu 1 năm;
- Đơn giá phí bảo hiểm cho tổn thất toàn bộ = 0,5 USD/MT (d)
- Phí bảo hiểm cho tổn thất toàn bộ = (b) x (c) = 16.250 USD (e)
- Phí bảo hiểm cho tổn thất bộ phận = (a) x (d) = 33.750 USD (f)
- Tổng phí bảo hiểm trong thời hạn một năm = (e) + (f) = 50.000 USD (g)
4 Hoàn phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm được hoàn trả khi hủy đơn bảo hiểm Đơn bảo hiểm bị hủy có thể do “đươngnhiên kết thúc bảo hiểm”, khi chuyển nhượng đơn bảo hiểm, khi hủy hợp đồng theo thỏa thuận giữahai bên và khi tàu nằm bến không hoạt động kinh doanh liên tục trong một thời gian nhất định Sốtiền hoàn phí bảo hiểm không được vượt quá số tiền phí bảo hiểm ứng với thời gian bảo hiểm cònlại của tàu và phí bảo hiểm sẽ không được hoàn trả trong trường hợp tàu bị tổn thất toàn bộ dù rằng
do một rủi ro được bảo hiểm gây ra
Trong mọi trường hợp, người bảo hiểm sẽ hoàn trả lại cho người được bảo hiểm theo tỉ lệ phíbảo hiểm sau khi đã khấu trừ tiền hoa hồng (ước định khoảng 15%) Tỉ lệ phí này gọi là tỉ lệ phítịnh
4.1 Hoàn phí trong trường hợp đồng bị hủy (Cancellation) theo thỏa thuận
Khi có sự vi phạm nguyên tắc trung thực tuyệt đối hoặc các điều khoản cam kết hoặc điều gì phipháp thì hợp đồng có thể bị hủy và người được bảo hiểm không thu lại được phí bảo hiểm đã đóng,trừ khi giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm có thỏa thuận về việc hủy hợp đồng bảo hiểm
18
Trang 19Trong trường hợp này, phí bảo hiểm được hoàn trả theo tỉ lệ số tháng của phí bảo hiểm thuầncòn lại Nghĩa là phí hoàn trả được tính theo phí bảo hiểm nguyên tháng còn lại sau ngày hủy hợpđồng
Ví dụ 2: Người bảo hiểm đã thu phí bảo hiểm là 20.000 USD/12 tháng Sau 6 tháng, hợp đồng
bảo hiểm bị hủy Tiền hoàn phí cho 6 tháng còn lại được xác định như sau:
- Tiền phí đã khấu trừ: 20.000 USD – 3.000 USD = 17.000 USD
- Tiền hoàn phí sau 6 tháng: (17.000 USD/12 tháng) x 6 tháng = 8.500 USD
Ví dụ 3: Tỷ lệ phí bảo hiểm bán ra là 2.5% Tính tỷ lệ phí bảo hiểm phải hoàn trả trong 8 tháng
còn lại sau khi hủy hợp đồng
- Tỉ lệ phí hoàn trả cho 8 tháng: 0,1771% x 8 tháng = 1,4168%
4.2 Hoàn phí trong trường hợp tàu ngừng hoạt động (Lay-up)
Trong trường hợp dự kiến nằm bến lâu dài thì tàu không phải chịu toàn bộ các rủi ro như trongđơn bảo hiểm đã dự tính, do vậy người bảo hiểm sẵn sàng hoàn trả một phần phí bảo hiểm cho thờigian nằm bến theo các nguyên tắc sau:
- Trường hợp tàu ngừng hoạt động và đang nằm trong cảng hay tại vùng nước được người bảohiểm chấp thuận, phí bảo hiểm được hoàn trả cho các khoảng thời gian tàu ngừng hoạt động liên tụckhông dưới 30 ngày Nếu tàu chỉ sửa chữa tại nơi được chấp nhận trong một phần thời gian củakhoảng thời gian tàu ngừng hoạt động thi phí hoàn trả phải tính theo tỉ lệ số ngày/ năm ngừng hoạtđộng để sửa chữa và số ngày ngừng hoạt động không sửa chữa
- Phí hoàn trả trong mỗi trường hợp được xác định bằng phí bảo hiểm tịnh sau khi khấu trừphí giữ lại do rủi ro ở cảng và được biểu thị bằng tỉ lệ phần trăm trên phí năm tùy theo tàu có sửachữa hay không Tỉ lệ này không được qui định trong ITC (Phí giữ lại áp dụng cho đơn bảo hiểmcấp tại London hiện nay là 50% với tàu sửa chữa và 25% với tàu không sửa chữa)
- Vùng cảng hoặc nước được chấp thuận hay không tùy thuộc vào qui định của từng ngườibảo hiểm
- Phí bảo hiểm không được hoàn trả nếu tàu nằm trong vùng nước không được bảo vệ hayvùng nước nguy hiểm hoặc tại cảng hay khu vực không được người bảo hiểm chấp nhận Nhưngnếu vùng nước không được chấp nhận thuộc khu vực lân cận của vùng nước được chấp thuận thìcho phép tính gộp những ngày tàu nằm ngoài vùng chấp nhận với những ngày tàu nằm trong vùngchấp nhận để đủ khoảng thời gian liên tục một kỳ hạn 30 ngày Tuy nhiên, việc hoàn hồi phí sẽ ápdụng cho tỉ lệ khoảng thời gian tàu nằm trong vùng được chấp nhận
- Trong trường hợp hoàn trả phí bảo hiểm với tàu ngừng hoạt động trong khoảng thời gian 30ngày mà trong thời gian này thì hạn bảo hiểm đã kết thúc, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệmhoàn trả phí bảo hiểm cho những ngày tàu ngừng hoạt động trong thời hạn bảo hiểm
19
Trang 20- Khi có sự điểu chỉnh tỉ lệ bảo hiểm năm, tỉ lệ hoàn phí bảo hiểm cũng được điều chỉnh theo
tỉ lệ tương ứng
- Khi thời gian tàu ngừng hoạt động trên 30 ngày nhưng khoảng thời gian này thuộc 02 hợpđồng bảo hiểm khác nhau do cùng một người bảo hiểm bán thì bảo hiểm vẫn chấp nhận hoàn hồiphí bảo hiểm cho khoản thời gian này nhưng việc hoàn hồi được tính riêng rẽ cho từng hợp đồngbảo hiểm
Ví dụ 4: Tỉ lệ phí bảo hiểm mà tàu đã đóng là 2,75%/năm Tính tỉ lệ hoàn trả cho 1 tháng (30
ngày) trong trường hợp tàu ngừng hoạt động không sửa chữa và có sửa chữa:
(a) Trường hợp tàu không sửa chữa:
- Tỉ lệ trả lại cho 1 tháng: (2,3375% - 0,5844%)x30/365 = 0,1461%(b) Trường hợp tàu có sửa chữa:
- Tỉ lệ trả lại cho 1 tháng: (2,3375% - 1,1687%) x30/365 = 0,0974%
4.3 Hoàn phí trong trường hợp kết thúc hợp đồng (Termination)
Trong trường hợp đơn bảo hiểm kết thúc theo điều khoản 5 – Institute Time Clause Hull thì phíhoàn trả là phần phí tịnh tính theo tỉ lệ ngày còn lại nếu tàu không bị tổn thất toàn bộ do một rủi rođược bảo hiểm gây ra Số ngày còn lại được tính từ ngày kết thúc hợp đồng tới ngày mãn hạn ghitrên hợp đồng
5 Rủi ro bảo hiểm (hiểm họa được bảo hiểm)
Các tổn thất chỉ được bồi thường theo đơn bảo hiểm khi tổn thất đó trực tiếp gây ra bởi mộthiểm họa được bảo hiểm Các hiểm họa được bảo hiểm trong bảo hiểm thân tàu bao gồm:
5.1 Rủi ro được bảo hiểm không bị chi phối bởi qui định mẫn cán hợp lý
Là những rủi ro của biển (perils of the sea), sông hồ hoặc các vùng nước có thể lưu thông v.v…gây ra những tai nạn bất ngờ, không bao gồm tác động của sóng, gió thông thường Hiểm họa nàybao gồm cả đắm, lật, khí hậu khốc liệt, tàu nằm cạnh, mắc cạn, đâm va với mọi vật thể khác (trướcđây loại trừ đâm va với băng trôi)
5.1.1 Rủi ro của biển, sông hồ hay vùng nước hàng hải
20
365 ngày Phí bảo hiểm tịnh năm
Trang 21Đề cập đến các tai nạn, thương vong bất ngờ ngoài biển, sông hồ hay vùng nước hàng hải baogồm chìm đắm, mắc cạn, đâm va v.v… Rủi ro này không bao hàm các hoạt động thông thường củasóng gió, trừ khi người được bảo hiểm chứng minh được rằng điều kiện thời tiết như vậy có gây hạicho tàu Nếu chỉ do hoạt thông thường của sóng gió, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm và
có thể qui về tàu không đủ khả đi biển v.v… Nếu tổn thất do cả hai nguyên nhân là thời tiết xấu vàtàu không đủ khả năng đi biển thì người ta sẽ xem xét nguyên nhân nào gần nhất
5.1.2 Cháy, nổ
Chỉ những tổn thất do nguyên nhân trực tiếp của cháy nổ mới được bồi thường Nổ được bảohiểm dù có cháy hay không Tổn hại do nổ ngoài tàu vẫn được coi là hiểm họa được bảo hiểm Tuynhiên, cháy nổ do những rủi ro loại trừ như chiến tranh, đình công, hành động ác ý và năng lượngnguyên tử thì không được bảo hiểm
5.1.3 Trộm cắp gây ra do người ở ngoài tàu
Trộm cắp không bao gồm những hành động ăn cắp bí mật hay trộm cắp gây ra bởi bất kỳ ngườinào là thành viên của tàu, cũng như thủy thủ hay hành khách Trong bảo hiểm thân tàu, trộm cắpphải là một hành động trộm cắp có bạo lực và gây ra bởi những người ở ngoài tàu
5.1.4 Vứt bỏ xuống biển
Là hành động cố ý vứt bỏ những bộ phận, trang thiết bị của tàu nhằm làm nhẹ tàu, làm nổi tàuhay cứu tàu thoát khỏi nguy hiểm Trong trường hợp vứt bỏ nhưng tàu vẫn tổn thất toàn bộ thì chỉbồi thường tổn thất toàn bộ mà thôi Trong trường hợp hành vi hợp lý này thuộc phạm vi bảo hiểm
và có lợi cho hàng hóa trên tàu thì chủ tàu tuyên bố tổn thất chung và thực hiện cầu hoàn từ các bênkhác Vứt bỏ để ngăn ngừa tổn thất nhưng không thuộc trách nhiệm bảo hiểm thì không được bồithường
5.1.5 Cướp biển
Cướp biển bao gồm những hành khách tiến hành nổi dậy và những người nổi loạn tấn công từngoài tàu Điều khoản này không bao gồm các rủi ro đình công, chiến tranh, hành động ác ý vàcũng không bao hàm cướp biển vì động cơ chính trị vì trong trường hợp này thuộc rủi ro chiếntranh
5.1.6 Va chạm với các phương tiện chuyên chở bộ, trang thiết bị bến cảng
Va chạm với các phương tiện vận chuyển bộ là các tai nạn xảy ra do các phương tiện bộ (ô tô,
xe hỏa) va vào tàu khi chúng khi chúng chạy qua các cầu tàu Va chạm với các trang thiết bị bếncảng là các va chạm của tàu với các trang thiết bị của cảng như cầu tàu, đập chắn sóng, ụ, đà v.v
5.1.7 Động đất, núi lửa, sét đánh
Rủi ro này xảy ra khi tàu đang hành trình thì được coi là rủi ro của biển, nhưng khi tàu đangnằm ụ, đà, bến đều vẫn gặp hiểm họa này Do vậy, khi rủi ro này xảy ra nhưng không phải rủi ro củabiển, các tổn hại đối với tàu và trang thiết bị trên tàu vẫn được bồi thường
21
Trang 225.1.8 Tai nạn khi bốc dỡ và dịch chuyển hàng hóa
Trong các tai nạn này, người được bảo hiểm chỉ bồi thường cho những tổn thất và tổn hại gây rađối với tàu, không chịu trách nhiệm đối với tổn thất của hàng hóa, trách nhiệm v.v… mà ngườiđược bảo hiểm phải gánh chịu
5.2 Hiểm họa bị chi phối bởi quy định mẫn cán hợp lý
5.2.1 Nổ nồi hơi, gãy trục hoặc ẩn tỳ của máy móc và thân tàu
Bất kể nguyên nhân nào do nổ nồi hơi và gây tổn thất cho buồng máy, thân tàu đều được bảohiểm bồi thường, nhưng nguyên nhân nổ phải là nguyên nhân trực tiếp do một hiểm họa đã dượcbảo hiểm Do vậy, khiếu nại về thay nồi hơi không được bồi thường
Trục được bảo hiểm chủ yếu là trục láp, bộ xiết trục kín nước vv… Khi trục bị gãy dẫn đến phátsinh các hư hỏng và tổn thất khác đối với tàu Các tổn thất phát sinh do sự gãy trục được bảo hiểmbồi thường, tuy nhiên tổn thất của trục bị gãy không được bảo hiểm bồi thường
Ẩn tỳ là những khuyết tật sẵn có của vỏ hay máy móc trước khi đóng tàu hay sửa chữa tàu màngười được bảo hiểm không biết Trong trường hợp này, người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổnthất do ẩn tỳ gây ra và không bồi thường cho những việc sửa chữa hay thay thế bộ phận bị khuyếttật ẩn tỳ
5.2.2 Bất cẩn của thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ, hoa tiêu
Bất cẩn của thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ hay hoa tiêu được bảo hiểm phải xảy ra trong mộtquá trình làm việc mẫn cán hợp lý Thuyền trưởng, sĩ quan, thủy thủ và hoa tiêu trong điều khoảnnày không được xem là chủ tàu nếu họ có cổ phần đối với tàu
5.2.3 Bất cẩn của người sửa chữa hay người thuê tàu với điều kiện người sửa chữa và người thuê tàu này không phải là người được bảo hiểm
Khi tiến hành sửa chữa tàu, các tổn thất hay tổn hại do việc sửa chữa gây ra thì vẫn được bảohiểm Tuy nhiên, người bảo hiểm có quyền kế nhiệm người được bảo hiểm để đòi lại người sửachữa Trong trường hợp người được bảo hiểm tự đứng ra sửa của mình thì không được coi là tươnghợp với điều kiện này
Theo điều khoản này, những tổn thất do bất cẩn của người thuê tàu gây ra được bảo hiểm Tuynhiên, khi người thuê tàu đứng ra mua bảo hiểm thì không còn nằm trong phạm vi bảo hiểm này
5.2.4 Manh động của thuyền trưởng, sỹ quan hay thủy thủ
Rủi ro này bao gồm các hành vi sai trái, cố ý (không phải là bất cần của thuyền viên) làm thiệthại cho chủ tàu, người thuê tàu và dù rằng chủ tàu đã mẫn cán hợp lý trong việc điều hành, nhưngtổn thất vẫn xảy ra Hành động manh động có thề là: vứt bỏ tàu có chủ ý hay lái tàu lên cạn vì mụcđích ác ý, bán tàu, trang thiết bị của tàu bất hợp pháp, lái tàu chống lại lệnh cấm vận, cố ý trợ giúpngười nhập cư bất hợp pháp, buôn lậu mà không có sự đồng ý của chủ tàu
22
Trang 235.2.5 Va chạm với máy bay hay các vật tương tự rớt từ đó
Va chạm với máy bay là ngụ ý bao hàm tất cả các va chạm của tàu với máy bay, vật rớt từ máybay, vệ tinh phục vụ mục đính hòa bình (vẫn bị chi phối bởi điều kiện chiến tranh)
5.3 Các hiểm họa được loại trừ
5.3.1 Loại từ rủi ro chiến tranh và loại trừ rủi ro đình công
5.3.2 Loại trừ hành động ác ý
Người bảo hiểm không bồi thường cho các mất mát, tổn thất, trách nhiệm hay chi phí phát sinhtừ:
- Vụ nổ gây ra bởi chất nổ
- Bất kỳ vũ khí chiến tranh nào
Do bất kỳ người nào gây ra từ hành động ác ý hay từ động cơ chính trị
- Mọi tổn thất không trực tiếp gây ra bởi một hiểm họa ghi trong đơn bảo hiểm
- Các tổn thất gây ra từ những nguyên nhân do sự sai trái cố ý của người được bảo hiểm Ởđây cần phải phân biệt sự khác nhau giữa “sai trái cố ý” với “sai sót bất cẩn”
- Những tổn thất gây ra do sự chậm trễ hay mọi chi phí phải chi ra vì sự chậm trễ Loại trừnày cũng được áp dụng cho cả trường hợp sự chậm trễ là do một hiểm họa được trong đơn bảohiểm
- Những tổn thất do cũ kỹ thông thường của vỏ tàu và máy móc
- Tổn hại đối với loại tàu thân gỗ do bị chuột hay sâu mọt gây ra
23
Trang 266 Hiệu lực của đơn bảo hiểm thân tàu
6.1 Thời hạn bảo hiểm
Institute Time Clause không ấn định giới hạn thời gian cho đơn bảo hiểm, do vậy đơn bảo hiểm
có thể áp dụng trong bất kỳ quãng thời gian nào Theo tập quán, các đơn bảo hiểm thân tàu vẫnđược lập cho kỳ hạn là 12 tháng
Thời hạn bảo hiểm được ghi trên đơn bảo hiểm hay được ghi trên phụ bản kèm Đơn bảo hiểm
sẽ có hiệu lực cho đến ngày mãn hạn bình thường ghi trong đơn hay trong phụ lục đính kèm Tuynhiên, đơn bảo hiểm có thể kết thúc nếu có một thỏa thuận khác hay đương nhiên kết thúc trongnhững trường hợp đã được qui định
6.2 Tiếp tục bảo hiểm
26
Trang 27Điều khoản “tiếp tục bảo hiểm – Continuation” của ITC cho phép việc gia hạn đương nhiên của
đơn bảo hiểm khi người được bảo hiểm có thông báo tiếp tục bảo hiểm trước khi đơn bảo hiểm mãnhạn bình thường Nếu vào ngày kết thúc hạn kỳ, tàu đang hành trình trên biển hay đang bị lâm nạnhay mất tích thì tàu vẫn được tiếp tục bảo hiểm cho đến khi tàu về đến cảng kết tiếp an toàn hoặccho đến khi tai nạn đã qua khỏi trong trường hợp tàu đang nằm cảng và bị lâm nạn tại cảng
Phí bảo hiểm bổ sung cho khoảng thời gian tăng thêm này được tính theo tỉ lệ phí bảo hiểmtháng
6.3 Đương nhiên kết thúc bảo hiểm
Khi chấp nhận đơn bảo hiểm và ấn định phí bảo hiểm, người bảo hiểm phải căn cứ vào trìnhtrạng và các yếu tố liên quan của đối tượng bảo hiểm tại thời điểm đó Khi có sự thay đổi nào đó cóảnh hưởng quan trọng đến các rủi ro gây nguy hại cho người bảo hiểm thì sẽ xảy ra trường hợp
“đương nhiên kết thúc bảo hiểm” Theo Institute Time Clausse, hợp đồng bảo hiểm sẽ đương nhiênkết thúc trong các trường hợp sau:
(a) Thay đổi cơ quan phân cấp tàu
Theo qui định của Institute Time Clause, tàu phải được phân cấp bởi một cơ quan phân cấp tàuđược người bảo hiểm chấp thuận và các qui phạm về phân cấp tàu phải được duy trì trong suốt thờigian được bảo hiểm Do vậy, nếu cơ quan phân cấp tàu bị thay đổi trong khi đơn bảo hiểm vẫn cóhiệu lực thì đương nhiên bảo hiểm này sẽ kết thúc, trừ khi có sự chấp thuận của người bảo hiểm vềviệc thay đổi cơ quan đăng kiểm
(b) Cấp tàu bị hết hạn hoặc thay đổi
Thông thường, người bảo hiểm không có cơ hội hay đã không kiểm tra cấp tàu của các con tàumình nhận bảo hiểm mà phải dựa vào giấy chứng nhận cấp tàu của cơ quan đăng kiểm và tin tưởngrằng người được bảo hiểm sẽ giữ được cấp đó Do vậy, khi có sự thay đổi cấp tàu (mà thường chỉ là
hạ cấp tàu) sẽ làm giảm tiêu chuẩn an toàn của tàu và như vậy cần phải có thỏa thuận mới nếu muốntiếp tục bảo hiểm
Việc kết thúc bảo hiểm với tàu bị hết hạn đăng kiểm khi tàu đang ở ngòai biển được hoãn lạiđến khi tàu về đến cảng ghé đầu tiên Đối với một tàu mà cấp của nó bị đình chỉ hay thay đổi domột tai nạn thuộc rủi ro được bảo hiểm hay hiểm họa được bảo hiểm theo các điều khoản chiếntranh và đình công, thì bảo hiểm chỉ kết thúc nếu tàu rời cảng ghé mà không có sự chấp thuận củacông ty đăng kiểm Nếu tàu quá hạn đăng kiểm định kỳ mà không được phép gia hạn thời gian củađăng kiểm, bảo hiểm cũng kết thúc
(c) Tàu thay đổi quốc kỳ
Việc thay đổi quốc kỳ có thể làm thay đổi chất lượng thuyền bộ và làm tăng thêm rủi ro chongười bảo hiểm Khi có sự thay đổi quốc kỳ, người bảo hiểm sẽ có cơ hội để thay đổi các điềukhoản trong hợp đồng bảo hiểm hay chấm dứt bảo hiểm
(d) Thay đổi chủ tàu
27
Trang 28Khi có thay đổi về chủ tàu thì người bảo hiểm có cơ hội xem xét hợp đồng bảo hiểm, do vậy chophép kết thúc hợp đồng bảo hiểm.
(e) Thay đổi người khai thác tàu
Trong việc quản lý khai thác tàu, khi có sự thay đổi người điều hành quản lý tàu, nghĩa là có sựthay đổi lãnh đạo mà người bảo hiểm tin tưởng ở người tham gia bảo hiểm về phương diện quản lýđiều hành, thì đương nhiên dẫn đến kết thúc bảo hiểm
(f) Thay đổi người thuê tàu trần
Theo quan điểm của người bảo hiểm, việc cho thuê tàu trần dẫn đến thay đổi thuyền bộ, quản lý
Do vậy, nó giống như thay đổi lãnh đạo nên hợp đồng bảo hiểm cũng đương nhiên kết thúc
Khi có sự thay đổi ở các khoản c, d, e, f nói trên, hợp đồng bảo hiểm đương nhiên kết thúc Tuynhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người được bảo hiểm thì thời hạn bảo hiểm có thể được kéo dàicho đến khi tàu về đến cảng cuối cùng của chuyến hành trình dự kiến
(g) Tàu bị trưng thu danh nghĩa hay trưng thu quyền sử dụng
Trong trường hợp này, bảo hiểm sẽ kết thúc ngay khi tàu bị trưng thu và có thể được đình chỉhoặc hoãn lại cho tới khi tàu đến cảng dỡ cuối cùng nếu tàu có chở hàng hoặc đến cảng đích nếu tàuchạy không hàng Trong trường hợp trưng thu danh nghĩa hay trưng thu quyền sử dụng bắt buộc màkhông có sự chấp thuận trước văn bản của người được bảo hiểm, việc tự động kết thúc bảo hiểm sẽđược hoãn lại sau 15 ngày kể từ ngày tàu bị trưng thu, bất kể tàu ở ngoài biển hay trong cảng
7 Miễn thường trong đơn bảo hiểm
Đã từ lâu hình thành một nguyên tắc trong hàng hải rằng nếu người được bảo hiểm cam kết chịumột phần trách nhiệm đối với các rủi ro thì họ hành động một cách thận trọng hơn để tránh rủi ro sovới khi toàn bộ rủi ro đều được bù đắp bởi người bảo hiểm Áp dụng nguyên tắc này, người ta gọicách quy định miễn bồi thường những khiếu nại tổn thất riêng tương đối nhỏ do người được bảohiểm đưa ra là “miễn bồi thường”
Có hai loại miễn giảm bồi thường: miễn giảm có trừ và miễn giảm không trừ
a) Hàng hóa được bảo hiểm với mức “miễn bồi thường có trừ” (Exess, hoặc Duductiblefranchise): là khi tổn thất vượt quá mức quy định miễn bồi thường thì người bảo hiểm chỉ bồithường phần vượt quá mức miễn bồi thường Tất nhiên khi tổn thất thấp hơn mức miễn giảm trởxuống thì người bảo hiểm sẽ không bù Ví dụ, trong đơn bảo hiểm qui định mức miễn bồi thường5% có trừ, chẳng hạn khi tổn thất 9% thì người bảo hiểm chỉ đền bù 4% tức là bị trừ đi 5%
b) Khi hàng hóa được bảo hiểm với mức “miễn bồi thường không trừ” (non – deductibe): làkhi mức tổn thất vượt quá tỷ lệ bồi thường thì người bảo hiểm đền bù tất cả phần tổn thất Trườnghợp này theo ví dụ đưa ra ở trên, khi tổn thất hàng hóa là 9% thì người bảo hiểm đền bù là 9%, chỉmiễn bồi thường khi tổn thất dưới 5%
8 Các điều kiện bảo hiểm thân tàu
28
Trang 29Phần này chỉ giới thiệu phạm vi bảo hiểm của một số điều kiện bảo hiểm thông dụng nhất, baogồm:
8.1 Điều kiện tiêu chuẩn về bảo hiểm tổn thất toàn bộ thân tàu (Institute Standard Total Los Only – TLO 1/10/1973)
Điều kiện này chỉ bồi thường tổn thất toàn bộ và các chi phí cứu hộ và chi phí đề phòng, hạnchế tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra:
- Tổn thất toàn bộ thực tế và Tổn thất toàn bộ ước tính
8.4 Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (All Risks – ITC 1/10/70, 1/11/95)
Điều kiện này có phạm vi bảo hiểm rộng nhất Ngoài trường hợp tổn thất toàn bộ, điều kiện nàycòn bảo hiểm cho các tổn thất bộ phận Phạm vi bảo hiểm trong điều kiện này bao gồm:
- Tổn thất toàn bộ thực tế và Tổn thất toàn bộ ước tính
- Tổn thất bộ phận
- Chi phí cứu hộ
- Chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất
- Tổn thất chung
- Chi phí, thiệt hại do phòng chống, giảm nhẹ ô nhiễm
- Bồi thường 3/4 trách nhiệm đâm va (Điều khoản 3/4 trách nhiệm đâm va)
8.5 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh và đình công thân tàu thời gian (War and Strikes – 01/11/95)
Điều kiện bảo hiểm này chủ yếu bảo hiểm cho các rủi ro sau:
- Rủi ro chiến tranh (War Risks)
Chiến tranh (war), Nội chiến (Civil War), Cách mạng (Revolution), Nổi loạn (rebellion),Khởi nghĩa (Insurrection) hoặc Xung đột dân tộc (Civil Strife) phát sinh từ những biến
cố này, hoặc do bất kỳ hành động thù địch (hostile) nào khác của một thế lực tham chiếnhay chống lại thế lực đó
Chiếm giữ (Capture), Bắt giữ (Seizure/Arrest), Kiềm chế hay Cầm giữ (Restraint orDetainment), và những hậu quả phát sinh từ những rủi ro này hay bất kỳ mưu toan vì thế
mà có
29
Trang 30 Bị trúng mìn (Derelict Mines), Thủy lôi (Torpedoes), Bom (Bombs) hoặc bất kỳ vũ khíchiến tranh khác (Weapons of War);
- Rủi ro đình công (Strike Risks)
Đình công (Strikes), Công nhân cấm xưởng (Lock-out Workmen), hay những ngườitham gia rối loạn lao động (Labour Disturbances), Phá rối trật tự (riots) hoặc bạo độngdân sự (Civil commotion)
Bất kỳ kẻ khủng bố (Terrorist) hay người nào hành động vì một lý do chính trị (PoliticalMotive)
Tịch thu (Confiscation) hay Chiếm đoạt (Expropriation)
Trong trường hợp tàu bị bắt giữ, và người được bảo hiểm đã bị mất quyền sử dụng, khai thácliên tục trong 12 tháng thì coi như người được bảo hiểm đã bị tước mất quyền sở hữu và không cókhả năng đòi lại được và tàu được xem như tổn thất toàn bộ ước tính
- Rủi ro loại trừ:
Các mất mát, tổn thất, trách nhiệm hay chi phí phát sinh do:
Chiến tranh nổ ra dù có được công bố hay không giữa bất kỳ nước nào trong các nước:Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung Quốc;
Tàu bị trưng thu (hoặc là danh nghĩa hay để sử dụng) hay tàu bị tước đoạt;
Bắt giữ, giam giữ, cầm giữ, tịch thu, truất hữu theo qui định về kiểm dịch hay do viphạm qui định hải quan hay thương mại;
Các hoạt động có tính pháp lý thông thường, thất bại trong việc đảm bảo an ninh hay trảnhững khoản tiền phạt, hay bất kỳ nguyên nhân tài chính khác;
Bất kỳ khiếu nại nào đối với những khoản tiền có thể truy đòi được theo các hợp đồngbảo hiểm khác nếu không có sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm này
- Chấm dứt bảo hiểm:
Khác với các điều kiện bảo hiểm thời hạn thân tàu đã trình bày ở phần trước, điều kiện bảohiểm Chiến tranh và Đình công qui định rõ các trường hợp chấm dứt bảo hiểm như sau:
30
Trang 31 Hợp đồng này có thể được hủy bỏ bởi người bảo hiểm hay người được bảo hiểm bằngthông báo trước 7 ngày Việc chấm dứt sẽ hiệu lực vào lúc nửa đêm ngày thứ bảy sau khithông báo hủy được đưa ra Trước khi thông báo có hiệu lực, người bảo hiểm và ngườiđược bảo hiểm có thể thương lượng để đưa ra mức phí bảo hiểm, các điều kiện hay camkết mới để tiếp tục bảo hiểm;
Dù có thông báo hay không hợp đồng bảo hiểm sẽ tự động kết thúc khi:
Chiến tranh nổ ra dù có được công bố hay không giữa bất kỳ nước nào trong cácnước: Anh, Mỹ, Pháp, Nga và Trung Quốc;
Tàu bị trưng thu (Hoặc là danh nghĩa hay để sử dụng) hay tàu bị tước đoạt;
Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm bị hủy bỏ theo các lý do trên, người bảo hiểm sẽhoàn hồi phí bảo hiểm cho người được bảo hiểm theo tỉ lệ phí bảo hiểm tịnh
8.6 Điều kiện bảo hiểm chuyến thân tàu (Institute Voyage Clause – Hulls)
Các điều kiện này bao gồm:
- Tổn Thất Toàn Bộ, Tổn Thất Chung và 3/4 Trách Nhiệm Đâm Va (Total Loss, GeneralAverage ang 3/4ths Collision Liability – 01/11/95)
- Mọi rủi ro (All Risks – 01/10/83)
- Chiến Tranh và Đình Công (War and Strikes – 01/11/95)
Các điều kiện này có nội dung không khác gì các điều kiện trương ứng trong bảo hiểm Thờihạn, tuy nhiên các điều kiện bảo hiểm này chỉ bảo hiểm cho tàu trong một chuyến hoặc một sốchuyến hành trình nhất định
Trong các điều kiện bảo hiểm chuyến, điều kiện Tổn Thất Toàn Bộ, Tổn Thất Chung và 3/4
Trách Nhiệm Đâm Va và điều kiện Mọi Rủi Ro bổ sung thêm điều khoản “Thay đổi tuyến hànhtrình” (Change Voyage), theo đó trong trường hợp tàu đổi tuyến hành trình hay vi phạm các cam kết
về lai dắt hay cứu hộ thì tàu vẫn tiếp tục được bảo hiểm miễn là người được bảo hiểm phải thôngbáo cho người bảo hiểm ngay khi nhận được thông tin này Khi ấy các điều khoản bổ sung và phíbảo hiểm tăng thêm sẽ được thỏa thuận giữa hai bên
8.7 Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất riêng về chuyến thân tàu (Institute Voyage Clause Free From Particular Absolutely)
Theo điều kiện này người bảo hiểm không cần phải bồi thường tổn thất riêng, trừ những tổn thất
do mắc cạn, đắm tàu, hoặc cháy hoặc những tổn thất gây nên bởi những lý do quy định trong điềukhoản F.P.A chẳng hạn, các điều kiện hàng bị mất hoàn toàn, dỡ hàng tại cảng bị nạn, chi phí cứunạn, đóng góp tổn thất chung, tổn thất toàn bộ hay toàn bộ ước tính
8.8 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh đình công về chuyến thân tàu (Institute War and Strikes Clause – Hull Voyage).
9 Bảo hiểm thân tàu Việt Nam
9.1 Nguyên tắc chung của hợp đồng bảo hiểm thân tàu
31
Trang 32Người được bảo hiểm đồng ý tham gia bảo hiểm thân tàu (bao gồm vỏ tàu, máy móc, trang thiếtbị) cho các tàu thuộc quyền quản lý của mình tại công ty bảo hiểm Người được bảo hiểm ở đây làđại diện chủ tàu, người chủ sở hữu tàu, người điều hành tàu vv… Các con tàu là đối tượng bảohiểm.
Người bảo hiểm đồng ý bảo hiểm về thân tàu cho các tàu mà người được bảo hiểm yêu cầu vớiđiều kiện là tàu phải đảm bảo điều kiện an toàn đi biển theo đúng qui định của Luật Hàng Hải ViệtNam, luật lệ tập quán và các công ước Quốc tế Các điều luật nêu trên tuy không phải là cam kếtnhưng ngụ ý chỉ những con tàu có đủ các điều kiện đó mới được nhận bảo hiểm, những điều kiện
Giá trị bảo hiểm của tàu là giá trị do hai bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với giá trị thực tếtại thời điểm tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, giá trị bảo hiểm của con tàu do các công ty bảo hiểmViệt Nam chấp thuận thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế của con tàu Do vậy khi xảy ra tổn thấttoàn bộ thực tế người được bảo hiểm phải gánh chịu sự chênh lệch này và trong trường hợp tổn thấttoàn bộ ước tính thì người được bảo hiểm không chịu từ bỏ đối tượng bảo hiểm
9.2 Luật và điều khoản, điều kiện chi phối hợp đồng
Luật áp dụng đối với hợp đồng theo đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảohiểm theo cách thức và mức độ đã thỏa thuận đối với những tổn thất do hiểm họa bảo hiểm đã quiđịnh gây ra Người bảo hiểm là các tổ chức kinh doanh bảo hiểm được pháp luật Việt Nam thừanhận Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm này phải có tên gọi, địa chỉ, tài khoản ngoại tệ, tài khoảntiền Việt Nam, ngân hàng đăng ký tài khoản
9.3 Thủ tục bảo hiểm
Đối với tàu mới tham gia bảo hiểm lần đầu tại công ty bảo hiểm, ngoài giấy yêu cầu bảo hiểmtàu biển còn phải kèm theo các giấy tờ sau:
- Giấy chứng nhận đăng ký tàu
- Giấy chứng nhận khả năng đi biển của tàu có kèm theo các biên bản kiểm tra từng phần của
cơ quan đăng kiểm cấp
- Báo cáo tình hình tổn thất của tàu xảy ra trước khi yêu cầu bảo hiểm và đơn bảo hiểm cũ(nếu có)
- Biên bản kiểm tra khi giao nhận tàu
- Các bản thiết kế kỹ thuật tàu nếu có
32
Trang 33Khi nhận được “Giấy yêu cầu bảo hiểm tàu biển” và các tài liệu liên quan, Công ty bảo hiểm sẽxem xét và tiến hành kiểm tra tình trạng thực tế con tàu Nếu tàu thực sự đảm bảo an toàn đi biển,công ty bảo hiểm sẽ chấp thuận và cấp đơn bảo hiểm Nếu sau khi cấp đơn bảo hiểm tàu thuyền lại
có thay đổi, người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho công ty bảo hiểm Nếu xét thấy sự thayđổi đó làm tăng thêm rủi ro thì sẽ thỏa thuận lại điều kiện bảo hiểm và đóng thêm phí bảo hiểm bổsung
Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra nếu người bảohiểm khai báo sai hay thông báo không đầy đủ những thay đổi của tàu theo qui định của qui tắc bảohiểm thân tàu
9.4 Phí bảo hiểm
9.4.1 Phương pháp tính phí bảo hiểm
Biểu phí bảo hiểm của tổng công ty bào hiểm Việt Nam xác định theo tỷ lệ số tiền bảo hiểm màhai bên thỏa thuận được thể hiện bằng số phần trăm của số tiền bảo hiểm đó Tỷ lệ phí bảo hiểm nàyphụ thuộc vào trọng tải hay công suất máy, phạm vi hoạt động, mức miễn thường, loại tàu, điềukiện bảo hiểm, phân cấp, tuổi tàu v.v… cụ thể như sau:
- Phân biệt theo trọng tải, công suất máy và pham vi hoạt động:
Trọng tải , công suất Theo phạm vi hoạt động
Từ 100DWT đến 500DWT Vùng biển Việt Nam
Từ 500DWT đến 1000DWT Vùng biển Việt Nam
Từ 1500DWT đến 2500DWT Vietnam, Cambodia, HongKong, Malaysia,
Singapore, Thailand
Từ 2500DWT đến 5000DWT
Vietnam, Cambodia, HongKong, Malaysia, Singapore, Thailand, Indonesia, Myanmar, Philippines, Japan
Từ 5000DWT trở lên Ngoài phạm vi nói trên
áy Từ 300BHP đến 500BHPTừ 500BHP đến 1000BHP Vùng biển Việt NamViệt Nam, Bắc Hải (Trung Quốc)
Từ 1000BHP đến 2000BHP Vietnam, Cambodia, HongKong, QuangzhouTrên 2000BHP Vietnam, Cambodia, Quangzhou, Malaysia,
Singapore, Thailand
- Phân biệt theo điều kiện bảo hiểm
- Phân biệt theo mức miễn thường: Theo 4 mức miễn thường không khấu trừ là dưới1500DWT, từ 1500DWT tới 3000DWT, từ 3001DWT đến 5000DWT và trên 5000DWT
- Phân biệt theo loại tàu: Gồm 5 loại tàu chở hàng khô, tàu chở hàng đông lạnh, tàu chởkhách, tàu kéo, và các loại tàu khác
- Phân biệt theo các trường hợp đặc biệt:
Tàu được phân cấp đăng kiểm được giảm 20% tỉ lệ phí gốc
Tàu không được phân cấp thu thêm phí tăng dần theo tuổi tàu
Tàu đóng trong và trước đại chiến thế giới lần thứ 2 thu thêm phí
Tàu chở hàng đông lạnh tăng từ 40% đến 60% phí so với tàu cùng loại chở hàng khô.Nếu phần hàng đông lạnh chỉ chiếm nhỏ hơn 1/2 trọng tải thì tăng 25% số phí phải nộp sovới tàu khô cùng loại
33
Trang 34 Tàu bị tổn thất về máy móc, nồi hơi các bộ phận khác chưa được sửa chữa nhưng vẫn đủkhả năng đi biển, phí bảo hiểm phải nộp tăng từ 10% đến 30% so với loại phí gốc.
Tàu hoạt động ngoài phạm vi hoạt động đã qui định
9.4.2 Tỷ lệ phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm hàng năm áp dụng cho các loại tàu, nhóm tàu do các công ty bảo hiểm tínhtoán phù hợp với biểu phí bảo hiểm do Bộ Tài Chính ban hành trên cơ sở cân đối tình hình tổn thấtcủa toàn bộ đội tàu tham gia bảo hiểm do Công ty Bảo hiểm nhận trách nhiệm bảo hiểm Tỷ lệ phíbảo hiểm sau khi tính toán, cân đối sẽ thông báo cho các chủ tàu vào tháng 12 của năm trước nămbảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm cũng sẽ được điều chỉnh tăng lên đối với các tàu, chủ tàu có tỷ lệ bồithường tổn thất lớn quá 65% so với phí bảo hiểm thu được và ngược lại có điều chỉnh giảm giá đốivới các tàu, chủ tàu có tỷ lệ bồi thường tổn thất nhỏ hơn 50%
9.4.3 Loại tiền đóng phí bảo hiểm
Đối với tàu biển hoạt động tuyến quốc tế, các Công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm bằng ngoại
tệ, do vậy phí bảo hiểm sẽ thanh toán bằng đồng USD
9.4.4 Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm
Đối với tàu tham gia bảo hiểm một năm tại Bảo Việt, Phí bảo hiểm được thanh toán theo 04 kỳ,mỗi kỳ bằng 1/4 số phí:
- Kỳ 1: Thanh toán chậm nhất vào ngày 15/02
- Kỳ 2: Thanh toán chậm nhất vào ngày 10/04
- Kỳ 3: Thanh toán chậm nhất vào ngày 10/07
- Kỳ 4: Thanh toán chậm nhất vào ngày 10/10
Đối với tàu bảo hiểm thời hạn trên 06 tháng nhưng dưới một năm, phí bảo hiểm được nộp làm
02 kỳ, mỗi kỳ thanh toán 1/2 tổng số phí đã thỏa thuận Thời gian thanh toán vào ngày đầu tiên củamỗi kỳ và ngày thanh toán này được ghi rõ trong giấy thông báo phí bảo hiểm
Đối với tàu tham gia bảo hiểm thời hạn dưới 6 tháng, phí bảo hiểm được thanh toán một lầnngày khi cấp đơn bảo hiểm
Trường hợp tàu được bảo hiểm theo thời hạn mà xảy ra tổn thất toàn bộ thì sau 15 ngày kể từkhi tàu bị tổn thất toàn bộ hay biết được tin tàu bị tổn thất toàn bộ, người được bảo hiểm phải thanhtoán toàn bộ phí bảo hiểm còn lại của tàu mặc dầu chưa đến kỳ thanh toán
Đối với tàu bảo hiểm chuyến, người được bảo hiểm phải thanh toán đầy đủ số phí bảo hiểmngay khi cấp đơn bảo hiểm
Phí bảo hiểm được coi là thanh toán đúng thời hạn và đầy đủ khi tiền đã vào tài khoản của Công
ty bảo hiểm hoặc có giấy xác nhận của Ngân hàng về việc chuyển trả phí bảo hiểm của người đượcbảo hiểm và kể cả số tiền lãi của số phí còn nợ cho thời gian kể từ ngày phát sinh nợ đến ngày thanhtoán
34
Trang 359.4.5 Phương thức thanh toán phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm được thanh toán vào tài khoản của công ty bảo hiểm theo qui định đối với phươngthức thanh toán của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
9.4.6 Hoàn trả phí bảo hiểm
Trong trường hợp tàu ngừng hoạt động, tàu không phải chịu mọi rủi ro như theo điều kiện ghitrên đơn bảo hiểm do vậy người được bảo hiểm được hoàn lại một phần phí bảo hiểm Công ty bảohiểm chỉ hoàn trả phí bảo hiểm khi người được bảo hiểm thông báo trước bằng văn bản ngày bắtđầu hủy đơn bảo hiểm Thời gian ngừng hoạt động chi được tính cho tàu phải sửa chữa, chờ sửachữa, tàu được bán, tàu ngừng không kinh doanh khai thác Tàu ngừng hoạt động vì chờ bốc xếphàng hoặc trong lúc bốc xếp hàng, lánh nạn, chữa bệnh hay lo thuốc men cho thuyền viên thì khôngđược hoàn trả phí bảo hiểm
Vị trí tàu ngừng hoạt động phải được thông báo cho nguời bảo hiểm biết Tàu chỉ được hoàn phíbảo hiểm khi đã ngừng hoạt động trên 30 ngày ở vị trí an toàn mà Công ty bảo hiểm công nhận.Trường hợp tàu ngừng hoạt động ở cả nơi được chấp nhận và nơi không được chấp nhận quá 30ngày thì được hoàn phí bảo hiểm cho những ngày tàu đậu tại nơi đã chấp nhận Người được bảohiểm phải thông báo cho công ty bảo hiểm biết ngày tàu hoạt động trở lại (thời hạn bảo hiểm vẫncòn hiệu lực và tàu không bị tổn thất toàn bộ)
Đối với tàu ngừng hoạt động 30 ngày liên tục trở lên, số phí bảo hiểm được hoàn trả bằng:
- 90% số phí bảo hiểm trong thời gian tàu ngừng hoạt động trong trường hợp hai bên thỏathuận hủy bỏ hợp đồng;
- 75% số phí bảo hiểm trong thời gian tàu ngừng hoạt động không sửa chữa, neo đậu an toàn
Phí bảo hiểm chỉ được hoàn trả lại vào cuối thời gian hiệu lực của đơn bảo hiểm
9.5 Bảo quản, kiểm tra tàu và công tác đề phòng hạn chế tổn thất
9.5.1 Công tác bảo quản tàu
Chủ tàu phải luôn luôn chăm sóc để con tàu luôn đủ khả năng đi biển, cụ thể là:
- Chủ tàu phải trang bị đầy đủ các trang thiết bị theo qui định của Đăng kiểm
- Luôn thực hiện các công tác bảo trì, bảo dưỡng để các hệ thống trang thiết bị ở trạng thái tốtnhất
Trang 36- Theo dõi công tác chất xếp hàng hóa sao cho đảm bảo sức chở của tàu cũng như các yêu cầukhác mà các Công ước Quốc tế đề ra.
- Phải đảm bảo đầy đủ nhiên liệu, lương thực cho suốt hành trình
- Đội ngũ thuyền viên phải có đầy đủ trình độ, kinh nghiệm
9.5.2 Công tác kiểm tra
Công ty bảo hiểm hay người đại diện của công ty bảo hiểm có quyền thực hiện việc kiểm tra đốivới các tàu thuộc mình quản lý về điều kiện an toàn đi biển thực tế tại bất cứ thời gian nào và bất cứđịa điểm nào, miễn là công tác kiểm tra không ảnh hưởng tới hoạt động của tàu Các chi phí choviệc kiểm tra an toàn thực tế đi biển do Công ty bảo hiểm thực hiện và chi trả
Người được bảo hiểm có trách nhiệm giúp đỡ, không gây cản trở cho người bảo hiểm hay ngườiđại diện cho công ty bảo hiểm trong công tác kiểm tra Công ty bảo hiểm có quyền từ chối hoặc loạitrừ những tổn thất xảy ra do hậu quả của những khiếm khuyết phát hiện qua kiểm tra mà chủ tàuchưa khắc phục
9.5.3 Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Trong các trường hợp xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảohiểm biết Người bảo hiểm sẽ phối hợp với chủ tàu hay đại lý hay người thừa sai để bàn bạc đưa rabiện pháp nhằm ngăn ngừa tổn thất Để có thể khuyến khích, động viên và bù đắp người bảo hiểmsẵn sàng chi trả tất cả các chi phí về đề phòng và hạn chế tổn thất
Các Công ty bảo hiểm cũng sẵn sàng chi trả các khoản chi phí mà người đại lý hay người thừasai phải chi trả ngay cả khi các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất không thành công miễn là cácchi phí đó hợp lý Công ty bảo hiểm sẽ khen thưởng cho những tập thể cá nhân có thành tích trongcông tác đề phòng
36
Trang 37Chương 3: BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ TÀU
1 Trách nhiệm dân sự của chủ tàu
Chủ tàu có trách nhiệm bồi thường dân sự các tổn thất phát sinh trong việc sử dụng tàu biển,nếu không chứng minh được rằng đã không có lỗi gây ra tổn thất đó
Trách nhiệm bồi thường dân sự không loại trừ trách nhiệm hành chính và hình sự
1.1 Trách nhiệm đối với bản thân con tàu
- Chủ tàu được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn quy định khi bồi thường các tổn thất liên quan đến:
Mọi nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật về việc thanh thải xác tàu và các vật thể liên quan đến tàu khi trục vớt, di chuyển, phá huỷ tàu bị đắm, bị mắc cạn hoặc bị
1.2 Trách nhiệm đối với con người
Chủ tàu được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn quy định khi bồi thường các tổn thất liên quan đến:
Bất cứ người nào có mặt ở trên tàu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người;
Bất cứ người nào ở bên ngoài con tàu mà bị chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người;
Trong trường hợp tổn thất do những người ở bên ngoài con tàu gây ra mà chủ tàu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ, thì chủ tàu chỉ được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với các tổn thất phát sinh trong việc điều khiển, quản trị tàu, bốc hàng, vận chuyển và dỡ hàng; nhận hành khách, vận chuyển và trả hàng khách;
1.3 Trách nhiệm đối với hàng hóa chuyên chở
Chủ tàu được hạn chế trách nhiệm bồi thường theo mức giới hạn quy định khi bồi thường các tổn thất liên quan đến: Mọi tài sản hoặc các quyền lợi khác ở bên ngoài con tàu bị mất mát, hư hỏnghoặc bị xâm phạm do hành động, sự sơ suất, sai lầm của bất cứ ai đang ở trên tàu hoặc ở ngoài con tàu mà chủ tàu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ
37
Trang 38Chủ tàu không được hạn chế trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp xảy tổn thất liên quan đến:
a) Hành động cứu hộ hoặc chi phí để đóng góp vào tổn thất chung;
b) Ô nhiễm môi trường do phóng xạ nguyên tử;
c) Khiếu nại của thuyền trưởng, thuyền viên khác, người làm công cho chủ tàu ở trên tàu hoặc của những người làm công khác ở bên ngoài con tàu mà có nhiệm vụ liên quan đến tàu, kể cả khiếu nại của người thừa kế, người đại diện và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng, nếu quy định pháp luật về hợp đồng lao động giữa chủ tàu và những người này không cho phép chủ tàu được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với những khiếu nại của họ hoặc chỉ cho phép chủ tàu giới hạn trách nhiệm bồi thường với mức cao hơn so với mức giới hạn được quy định trong bộ luật hàng hải
2 Hội bảo hiểm P and I
2.1 Khái niệm
P&I hay “Protection and Indemnity Insurance” là tên gọi của loại hình bảo hiểm trách nhiệm vàmột số tổn thất khác phát sinh từ việc sở hữu và khai thác tàu thuyền Bảo hiểm P&I Không phải làdạng bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm lợi nhuận/cước phí cũng không phải làdạng bảo hiểm đối với hiểm họa tàu bị cầm giữ, bảo hiểm đình công hay bảo hiểm cho các khoảnchi phí kiện tụng không đòi được
Trong khai thác tàu thuyền, ngoài các rủi ro được bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm thân tàu
và bảo hiểm hàng hóa còn có những rủi ro và trách nhiệm không được bảo hiểm theo các điều kiệnbảo hiểm này như trách nhiệm đối với thương vong, ¼ trách nhiệm đâm va, phần giá trị vượt quágiới hạn của đơn bảo hiểm, trách nhiệm đối với các tổn thất về hàng hóa và các trách nhiệm liênquan… Đây thật sự là một gánh nặng đối với các chủ tàu Để bảo hiểm cho các phần rủi ro và tráchnhiệm này, nghiệp vụ bảo hiểm P&I (Protection and Indemnity) đã hình thành Nói chung bảo hiểmP&I bao gồm 02 loại: Protection bảo hiểm đối với tử vong và thương tật, ¼ trách nhiệm đâm va,những thiệt hại hư hỏng đối với các cấu trúc cố định, nổi và di chuyển, thanh thải xác tàu đắm;Indemnity về mặt nguyên tắc bảo hiểm cho hàng hóa và trách nhiệm liên quan Ngày nay hai loạihình bảo hiểm này được hợp nhất lại thành một và sự phân biệt hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa truyềnthống
2.2 Tổ chức và quản lý của hội
2.2.1 Tổ chức của hội
Khi một chủ tàu đem tàu tham gia bảo hiểm tại hội và được hội chấp thuận và cấp đơn Bảohiểm P&I thì được trở thành thành viên của hội Chủ tàu ở đây bao gồm: chủ tàu, người có cổ phầnđối với tàu, người được ủy thác trông nom tàu, người khai thác tàu, người thuê tàu, người quản lýhay khai thác hoạt động của tàu hay bất kỳ người nào khác là chủ sở hữu của tàu
Các thành viên có thể tham gia bảo hiểm cho một hoặc nhiều con tàu mà mình làm chủ hoặcquản lý và Hội không đòi hỏi các thành viên phải tham gia bảo hiểm toàn bộ số tàu của mình Cácthành viên sẽ không chịu trách nhiệm đối với các thành viên khác hoặc bên thứ ba về trách nhiệmcủa Hội
38
Trang 392.2.2 Quản lý của Hội
Hay được biết đến là Ủy ban (Committee) là cơ quan quyền lực của Hội do thành viên của Hộibầu cử từ các Hội viên và đại diện cho tất cả các hội viên giải quyết công việc của Hội.Việc bầu cửcác thành viên của Ủy ban là hết sức quan trọng, tuy nhiên cách bầu cử Ủy ban tại các hội cũng cóđôi chút khác nhau
Cơ quan thường trực giải quyết các công việc hàng ngày của Ủy ban bao gồm Ban giám đốc(Directors), Ban quản lý (Managers) và các văn phòng đại lý (Agents)
2.3 Nguyên tắc hoạt động của Hội
Hội bảo hiểm P&I hoạt động trên cơ sở cân bằng thu chi Thực chất phương pháp tính chi phícủa Hội là phương pháp hạch toán giữa Hội với các hội viên dựa trên cơ sở tương hỗ lẫn nhau nhằmcân bằng các khoản thu, chi của Hội Nguồn thu chủ yếu của Hội là phí bảo hiểm và lãi đầu tư Phíbảo hiểm do các hội viên đóng góp hàng năm Lãi đầu tư bao gồm tất cả các khoản lãi của các hìnhthức đầu tư vốn nhàn rỗi của Hội Những nguồn thu này nhằm trang trải cho các khoản chi khácnhau trong năm Các khoản chi của Hội bao gồm: Các khoản chi cho việc bồi thường tổn thất cáchội viên, các khoản chi bồi thường co các Hội khác trong nhóm Quốc tế, chi phí tái bảo hiểm chonhững tổn thất vượt quá mức giữ lại của Hội và nhóm, chi phí quản lý hành chính Ngoài các khoảnchi trên đây, Hội còn tính đến những chỉ tiêu do sự mất giá của đồng tiền đóng phí Do tính chấtphức tạp của rủi ro mà Hội nhận bảo hiểm, nên trong năm nghiệp vụ có những tổn thất phải chờmột vài năm mới có sự phán quyết của tòa án hay trọng tài Chỉ đến khi thanh toán hết các khoảnchi trong năm nghiệp vụ thì Hội mới có số liệu để phân bổ chi phí phải đóng góp của các hội viênnăm đó
2.4 Sự khác nhau cơ bản giữa hội bảo hiểm P and I với các công ty bảo hiểm
So với các loại hình bảo hiểm tính phí cố định (fixed prmium insurance), bảo hiểm P&I cónhững điểm sau:
- Kinh doanh không lợi nhuận (Not for Profit)
- Việc quản lý của các Hội bảo hiểm P&I căn bản dựa trên các chủ tàu thông qua hội đồng,hay ban giám đốc được bầu cử Ban giám đốc sẽ quyết định các chính sách về phạm vi bảohiểm, việc bồi thường, đóng góp phí bảo hiểm… trong khi đó bảo hiểm thương mại do cáccông ty bảo hiểm điều hành không phải là chủ tàu
- Hội bảo hiểm P&I thường trả lại cho các chủ tàu phần lợi nhuận của những năm mà côngtác bảo hiểm đạt kết quả tốt bằng cách trả lại phí cho thành viên
- Bảo hiểm P&I nhận bảo hiểm cho hầu hết những phạm vi bảo hiểm bao hàm cả quyền của
Ủy ban đối với các khiếu nại “Omnibus”
- Bảo hiểm P&I là loại hình bảo hiểm mà người quản lý (Manager) là người phục vụ của Hội
và thực hiện những công việc theo yêu cầu cảu các chủ tàu, trong khi đó các loại hình bảohiểm thương mại khác là dạng bảo hiểm mà chủ tàu là khách hàng của nhà bảo hiểm
2.5 Nhóm quốc tế của các hội bảo hiểm P and I
39
Trang 40Hội bảo hiểm P&I tiến hành bảo hiểm không giới hạn vì mục đích phục vụ kinh doanh của cácchủ tàu và do vậy các rủi ro, trách nhiệm mà Hội đảm nhiệm ngày càng nhiều Mặc dù tinh thần củacác hội bảo hiểm P&I là bảo hiểm tương hỗ của các chủ tàu, các tổn thất được chia sẻ cho các Hộiviên của Hội, nhưng những tổn thất lớn và liên tiếp có thể gây ảnh hưởng đến vị thế tài chính củaHội, thậm chí có thể làm tê liệt hoạt động hay phá sản Hội Để có thể chia sẻ cho những trường hợpxảy ra rủi ro lớn, một số Hội P&I đã hợp nhất với nhau lại thành nhóm Quốc tế của các Hội(International Insurance Pool) Mục đích chính của việc thành lập nhóm là mở rộng phạm vi tráchnhiệm, phân tán, dàn mỏng rủi ro hơn giữa các thành viên của các Hội Như vậy, có thể coi nhómQuốc tế này là Hội của các Hội bảo hiểm P&I, khi đó mỗi Hội P&I sẽ là thành viên của nhóm hội.
Thông qua nhóm hội, các hội bảo hiểm ký kết một Hợp Đồng Lập Quĩ Bồi Thường Chung củaNhóm Hội (Pooling Agreement) để bồi thường cho những trách nhiệm vượt quá giới hạn bảo hiểmcủa Hội Khi xảy ra khiếu nại vượt quá giới hạn này, phần trách nhiệm vượt quá sẽ được tất cả cáchội viên trong nhóm gánh vác
2.6 Những rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm P and I
2.6.1 Nguyên tắc chung
Hội chỉ bảo hiểm những trách nhiệm, tổn thất và chi phí mà chủ tàu phải gánh chịu phát sinh từnhững sự cố xảy ra trong thời hiệu của hợp đồng bảo hiểm, liên quan đến quyền lợi của chủ tàu vàgắn liền với hoạt động của tàu Bảo hiểm P&I về nguyên tắc là bảo hiểm trách nhiệm, nhưng thêmvào đó loại bảo hiểm này còn nhận bảo hiểm cho nhiều dạng tổn thất khác
Các tổn thất được hội bảo hiểm phải xảy ra liên quan trực tiếp tới hoạt động của con tàu và luôngắn liền với một con tàu cụ thể Như vậy, những tổn thất và trách nhiệm liên quan đến công việc,trang bị kỹ thuật của chủ tàu trên bờ, trong xã hội và những chi phí tương tự theo các thủy thủkhông phục vụ trên tàu và trách nhiệm đối với hàng hóa hoặc trách nhiệm theo vận đơn phát sinhsau khi hàng hóa đã được nhận để vận chuyển nhưng chưa chỉ định tàu đều không được bảo hiểm
2.6.2 Rủi ro chịu trách nhiệm đối với thương vong
Hội bảo hiểm cho các trách nhiệm của người được bảo hiểm phát sinh do thương tật, tử vongcũng như tiền cứu hộ với điều kiện toàn bộ những tổn thất này xảy ra liên quan trực tiếp đến hoạtđộng của tàu được bảo hiểm Trong trường họp này, trách nhiệm của chủ tàu được bảo hiểm màkhông quan tâm đến tổn thất xảy ra ở đâu và như thế nào cũng như nguồn gốc của tổn thất hoặc tainạn
2.6.2.1 Thương vong, bệnh tật của thủy thủ đoàn
Phần này nêu ra những phạm vi bảo hiểm đối với các trường hợp thủy thủ bị bệnh tật, thươngvong hay tử nạn, bao gồm:
(a) Trách nhiệm chi trả cho các tổn thất, các khoản bồi thường thiệt hại (ngoại trừ viện phí,thuốc men, ma chay) cho những thương tật, bệnh hoạn và tử vong của thuyền viên dù xảy ratrên tàu hay không
40