1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố quy nhơn tỉnh bình định

95 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong quá trình hoạt động hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, bao gồm những chất thải nguy hại từ các hoạt động khám chữa bện

Trang 1

Thời gian hơn 4 năm được học tập và rèn luyện tại Đại học Tài nguyên và Môi trường, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy cô công tác tại các khoa, phòng, ban của trường

Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Bùi Thị Thu Hà, Bộ môn

Kỹ thuật Môi trường – người tận tình hướng dẫn em luận văn tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn Quý Thầy cô khoa Môi trường đã tận tình chỉ bảo, dạy

dỗ tận tâm và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các ban lãnh đạo tại các khoa, phòng tại các cơ sở y tế thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện cho em trong quá trình điều tra thực tiễn và thu thập số liệu

Do thời gian cũng như kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy

cô để em có thể hoàn thiện hơn trong công việc sau khi ra trường

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân ngày càng cao Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, một loạt hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động

hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường lượng lớn chất thải bao gồm chất thải rắn nguy hại mà nếu không được xử lý đúng cách thì hậu quả để lại sẽ không lường hết được

Luận văn “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định” được thực hiện với mục đích nhằm đánh giá hiện trạng phát sinh, công tác quản lý và chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế từ đó đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện địa phương

Nội dung chính của luận văn được thực hiện trong phạm vi 7 bệnh viện, 5 trạm y

tế phường và một số cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn thành phố Quy Nhơn Tìm hiểu tổng quan về chất thải rắn y tế như các khái niệm, thành phần, phân định, biện pháp xử

lý, các ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và con người Tiến hành khảo sát thực tế để đánh giá hiện trạng, tình hình phát sinh Công tác quản lý về mặt hành chính, công tác quản lý về mặt kỹ thuật bao gồm phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và theo dõi giám sát thực thi trong thời gian gần đây Đồng thời sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát, đánh giá ý thức và nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở

y tế

Tổng lượng phát sinh chất thải y tế của 7 bệnh viện là 1902,9 kg/ngày trong đó CTRYT nguy hại chiếm tỷ lệ 14,3% Mức độ xả chất thải nguy hại nhiều nhất là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định (0,23 kg/giường/ngày), thấp nhất là bệnh viện Tâm Thần (0,008 kg/giường bệnh/ngày) Nhìn chung, khối lượng chất thải nguy hại trên giường bệnh trong ngày của các bệnh viện thải ra ở mức trung bình so với cả nước Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý đạt trên 96% lượng phát sinh

Các kết quả thu được để đánh giá những kết quả đạt được và khó khăn tồn tại trong công tác quản lý chất thải tại các cơ sở y tế Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức cộng đống trong công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố

Trang 3

Along with the development of socio-economic, demands for caring, protection and improving the health of the people are more and more increasing To response timely the needs of medical and caring of people's health, series of systems of health facilities are constantly being strengthened, expanded and improved However, the health activities, especially the hospital has discharged a large number of wastes including hazardous solid wastes which will result to unexpected all straight if they aren't treated properly

The purpose of thesis is to assess the current situation arises, management and point out the disadvantages, limitations in the management of medical wastes at the health facilities, from that propose the management solutions suitably with local conditions

The main contents of the thesis were conducted within 7 hospitals, 5 clinics and some private health facilities in Quy Nhon city, including: providing an overview of medical solid wastes, such as the concepts, components, identification, treatment measures and the impacts of medical wastes on people and environment; conducting surveys to assess the current situation, the situation arises, management of administrative, management of technical comprise of classification, collection, transportation, storage, handling and monitoring enforcement in recently Besides, using questionnaires to survey and assess aware of staffs, patients and patients' relatives about the management of medical wastes in health facilities

The total amount of medical wastes of 7 hospitals have been generated about 1902.9 kg / day, in which the proportion of hazardous medical solid wastes accounted for 14.3% The extent of discharged hazardous wastes was the highest in General Hospital in Binh Dinh province (0.23 kg / bed / day), and the lowest in Mental Hospital (0.008 kg / bed / day) Overall, the weight of discharged hazardous wastes/bed/day in hospitals have been the average level compare to whole country The percentage of treated hazardous medical solid wastes have been attained over 96%

The obtained results were used to assess the achievements and difficulties in waste management at health facilities On that basis, propose some atsolutions solutions to limit environmental pollutions and raising public's awareness in the management of medical wastes in the city

Trang 4

Tp HCM, ngày… tháng… năm 2016

Giảng viên hướng dẫn

Trang 5

Tp HCM, ngày… tháng… năm 2016

Giảng viên phản biện

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1

3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 2

4 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 2

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 7

1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 7

1.1.1 Các khái niệm 7

1.1.2 Phân định chất thải rắn y tế 7

1.1.3 Nguồn phát sinh chất thải y tế 9

1.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 10

1.1.5 Khối lượng chất thải phát sinh 12

1.1.6 Tác hại của chất thải rắn y tế 14

1.1.7 Các phương pháp quản lý, xử lý chất thải rắn y tế 19

1.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 24

1.2.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 24

1.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 25

1.3 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ QUY NHƠN 27

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 27

1.3.2 Tình hình kinh tế xã hội 29

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN 40

2.1 ĐẶC ĐIỂM QUY MÔ CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ KHẢO SÁT 40

2.1.1 Đặc điểm quy mô của các bệnh viện khảo sát 40

Trang 7

2.1.2 Khảo sát đặc điểm quy mô của 5 trạm y tế phường 42

2.1.3 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 43

2.1.4 Lượng phát sinh chất thải rắn y tế 44

2.3 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ KHẢO SÁT 51

2.3.1 Hiện trạng công tác thu gom lưu giữ tại các cơ sở y tế 53

2.3.2 Hoạt động vận chuyển và tiêu hủy chất thải rắn y tế 58

2.3.3 Việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế 60

2.3.4 Những hiệu quả và hạn chế của công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế khảo sát 62

2.4 NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ… 64

2.5 DỰ BÁO PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN KHẢO SÁT 68

2.5.1 Các khuynh hướng tác động đến tương lai 68

2.5.2 Dự báo phát sinh chất thải y tế tại các bệnh viện khảo sát 69

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN 72

3.1 ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN 72

3.1.1 Giải pháp quản lý 72

3.1.2 Giải pháp kỹ thuật 74

3.2 ĐỐI VỚI CÁC TRẠM Y TẾ 76

3.2.1 Giải pháp quản lý 76

3.2.2 Giải pháp kỹ thuật 76

3.3 ĐỐI VỚI CÁC PHÒNG KHÁM TƯ NHÂN 76

3.4 CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN HIỆN NAY 77

3.4.1 Quản lý của các sở ban ngành 77

3.4.2 Quản lý việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT nguy hại 78

Trang 8

3.4.3 Đề xuất tăng cường biện pháp tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra tại cơ sở79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 KẾT LUẬN 80

2 KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 83

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải 10

Hình 1.2 Biểu đồ thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa 11

Hình 1.3 Bản đồ vị trí thành phố Quy Nhơn 28

Hình 2.1 Chất sắc nhọn và tái chế tại phòng khám 38 Lê Lợi 48

Hình 2.2 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các cơ sở y tế tư nhân phát sinh CTR y tế nguy hại theo khối lượng kg/ngày 49

Hình 2.3 Sơ đồ quy trình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 52

Hình 2.4 Sơ đồ thu gom vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 54

Hình 2.5 Chất thải rắn y tế được phân loại vào các thùng chứa theo quy định tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bình Định 56

Hình 3.1 Hệ thống quản lý bảo vệ môi trường tại bệnh viện 72

Hình 3.2 Mô hình nhà lưu giữ chất thải bệnh viện 75

Hình 3.3 Mô hình quản lý nhà nước về CTRYT 78

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế 9

Bảng 1.2 Thành phần và các đặc trưng vật lý của CTRYT ở Việt Nam 11

Bảng 1.3 Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện 13

Bảng 1.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 13

Bảng 1.5 Một số bệnh lây nhiễm, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm khi tiếp xúc với chất thải y tế lây nhiễm 16

Bảng 1.6 Yêu cầu màu sắc, đánh dấu nhãn dán thùng và túi đựng chất thải rắn y tế 20

Bảng 2.1 Tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế khảo sát năm 2016 40

Bảng 2.2 Số lượng giường bệnh của các cơ sở y tế khảo sát qua các năm 41

Bảng 2.3 Lượng CTR y tế từ năm 2012 đến năm 2015 tại 7 bệnh viện nghiên cứu 42

Bảng 2.4 Quy mố cơ cấu tổ chức các trạm Y tế 43

Bảng 2.5 Lượng CTRYT phát sinh tại các cơ sở y tế khảo sátError! Bookmark not defined. Bảng 2.6 Khối lượng CTRYT phát sinh tại trạm y tế phường 47

Bảng 2.7 kết quả khối lượng phát sinh CTR y tế cụ thể của một số phòng khám tư 50

Bảng 2.8 Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại các cơ sở y tế 59

Bảng 2.9 Công tác thực hiện bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế 60

Bảng 2.10 Đánh giá công tác quản lý CTR y tế 64

Bảng 2.11 Hiểu biết của cán bộ, nhân viên về nhóm chất thải và mã màu dụng cụ đựng CTYT 66

Bảng 2.12 Hoạt động phân loại CTRYT của cán bộ, nhân viên tại bệnh viện và trạm y tế phường 66

Bảng 2.13 Các hoạt động tuyên truyền, nhắc nhở công tác BVMT và quản lý CTRYT tại bệnh viện 67

Bảng 2.14 Dự báo số giường bệnh tại các bệnh viện khảo sát đến năm 2025 69

Bảng 2.15 Tiêu chuẩn phát sinh CTR bệnh viện 70

Bảng 2.16 Dự báo lượng chất thải y tế đến năm 2025 của 7 bệnh viện nghiên cứu 70

Trang 11

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVĐK Bệnh viện đa khoa

CTNH Chất thải nguy hại

CTRNH Chất thải rắn nguy hại

CTRTT Chất thải rắn thông thường

CTRYT Chất thải rắn y tế

KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn

QCVN Quy chuẩn việt nam

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội thì lĩnh vực y tế bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng có nhiều sự thay đổi Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Tuy nhiên trong quá trình hoạt động hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải, bao gồm những chất thải nguy hại từ các hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, phẫu thuật, nghiên cứu… Những chất thải này nếu không được xử lý đúng cách thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và sức khỏe con người

Thành phố Quy Nhơn, là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế của tỉnh Bình Định, là nơi tập trung đông dân cư và các bệnh viện đáp ứng các nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân trong tỉnh và khu vực lân cận Nam Trung Bộ - Tây Nguyên Do đó việc phát sinh chất thải cũng như công tác quản lý chất thải y tế ở đây rất được quan tâm Từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm

ẩn của chất thải y tế gây ra đối với con người và môi trường, cần có những biện pháp nâng cao từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải

Với mục đích nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp cũng như đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn Em

đã lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định”

Đề tài đề cập nhiều vấn đề liên quan đến chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn: các đặc trưng chất thải rắn y tế, phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý; đánh giá thực trạng và những tồn tại trong công tác quản

lý, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả trên phương diện cá nhân

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

 Tìm hiểu mức độ ô nhiễm môi trường chung và hiện trạng quản lý chất thải rắn

y tế của thành phố Quy Nhơn Cụ thể:

 Điều tra đánh giá hiện trạng và đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Quy Nhơn

 Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp tối ưu trong công tác quản lý quản lý chất thải rắn y tế tại thành phố Quy Nhơn

 Dự báo tốc độ phát sinh chất thải rắn y tế trong những năm sắp tới

Trang 13

3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

 Làm rõ một số khái niệm về chất thải rắn y tế: khái niệm chất thải y tế, phân loại chất thải Làm rõ một số khái niệm về CTYT: khái niệm CTYT, phân loại chất thải, chất thải y tế nguy hại, quản lý chất thải y tế, giảm thiểu chất thải y tế, tái sử dụng, tái chế, thu gom chất thải, vận chuyển chất thải, xử lý ban đầu, xử lý và tiêu hủy chất thải

Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bình Định

 Khảo sát hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu như: hiện trạng công tác thu gom lưu giữ tại các cơ sở y tế, hoạt động vận chuyển tiêu hủy chất thải rắn; viêc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở; các hiệu quả và hạn chế trong công tác bỏ vệ môi trường; khảo sát khuynh hướng tác động đến tương lai và đưa ra dự báo

 Đề xuất nâng cao công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn: xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại các cơ sở y tế, các biện pháp cải thiện tình hình quản lý hiện nay, đề xuất các biện pháp thanh tra kiểm tra

 Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các cơ sở đến năm 2025

 Đưa ra giải pháp quản lý, xử lý chất thải rắn y tế

4 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI

a Phạm vi về không gian: Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung

chủ yếu vào chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, bao gồm 7 bệnh viện,

5 trạm y tế và một số phòng khám tư nhân có quy mô lớn trên địa bàn thành phố Quy Nhơn

b Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu luận văn là từ ngày 26/8/2016 đến

ngày 19/12/2016

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khảo sát hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế gồm 7 bệnh viện, 5 trạm y tế và một số phòng khám tư nhân trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Dưới đây là các cơ sở y tế khảo sát

Trang 14

Bảng Danh sách và địa chỉ các bệnh viện và trạm y tế phường trong phạm vi

khảo sát

1 BV Đa Khoa Tỉnh Bình Định

106 Nguyễn Huệ - Quy Nhơn

2 BV Lao và Bệnh phổi Bình Định KV5 Phường Nhơn Phú – Quy Nhơn

3 BV Tâm Thần Bình Định Hùng Vương – Quy Nhơn

4 BV Y Học Cổ Truyền KV5 phường Nhơn Phú – Quy Nhơn

5 BV Mắt Bình Định 78 Trần Hưng Đạo – Quy Nhơn

6 BV Đa Khoa Hòa Bình

355 Trần Hưng Đạo – Quy Nhơn

7 BV Chỉnh Hình và Phục Hồi Chức

8 Trạm y tế phường Bùi Thị Xuân Phú Tài Tp.Quy Nhơn

9

Trạm y tế phường Lê Hồng Phong

78 Trần Phú – Quy Nhơn

10 Trạm y tế phường Nguyễn Văn Cừ Cần Vương – Quy Nhơn

11 Trạm y tế phường Quang Trung 450 Nguyễn Thái Học - Quy Nhơn

12 Trạm y tế phường Ngô Mây 24 Biên Cương – Quy Nhơn

b Chỉ số nghiên cứu

 Tổng lượng chất thải rắn y tế/ngày

 Hệ số phát thải chất thải rắn y tế kg/giường bệnh/ngày

 Hệ số phát thải chất thải rắn y tế nguy hại kg/giường bệnh/ngày

 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn bệnh viện

 Thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải rắn y tế

5.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Trang 15

Đề tài thu thập các tài liệu thứ cấp từ những nguồn đáng tin cậy như: Báo cáo hoạt động khám chữa bệnh 2015, báo cáo công tác quản lý chất thải y tế của các cơ sở y tế năm 2015 Các tài liệu về tình hình quản lý, hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Các quy định về chất thải rắn y tế thu thập từ báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011 Tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thành phố Quy Nhơn Các tài liệu và văn bản pháp luật có liên quan Thu thập số liệu

về số lượng giường bệnh, số bệnh nhân khám chữa bệnh và điều trị từ Sở Y tế Bình Định

Phương pháp này kế thừa được các kết quả nghiên cứu đã có, đồng thời giúp người thực hiện có những nét khái quát mang tính tổng quan đối tượng nghiên cứu, điều kiện

tự nhiên và khu vực nghiên cứu

b Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

 Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa

Tiến hành khảo sát thực tế, quan sát chụp ảnh các hình ảnh liên quan đến chất thải rắn y tế như cách phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải y tế

Cân định lượng rác thải tại 5 trạm y tế phường Mỗi tuần 2 lần trong vòng 6 tuần

 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Phương pháp được thực hiện bằng cách phát phiếu điều tra bảng câu hỏi cho các đối tượng là cán bộ nhân viên trong bệnh viện và bệnh nhân để tìm hiểu về công tác quản

lý và mức độ nhận thức của người được khảo sát liên quan đến chất thải rắn y tế Bảng câu hỏi được bố trí các câu hỏi đều dễ trả lời, tránh các câu hỏi có tính khái quát cao Các câu hỏi tập trung vào vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, các đối tượng được phỏng vấn đã được giải thích rõ và hướng dẫn cách thức trả lời gồm có:

 Phiếu điều tra cho cán bộ nhân viên bệnh viện 70 phiếu/ 7 bệnh viện, và cán bộ nhân viên trạm y tế 15 phiếu /5 trạm

 Phiếu điều tra khảo sát hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện dành cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 35 phiếu

 Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Phương pháp này được sử dụng để phân tích và xử lý các thông tin sau khi đã thu thập được từ các phương pháp khác nhau Xử lý toán học với các thông tin định lượng, biểu diễn số liệu dễ hiểu đúc kết, đồ thị, biểu đồ để thể hiện các thông số và rút ra kết luận

 Phương pháp dự báo

 Dự báo số giường bệnh

Trang 16

Để tính được số lượng giường bệnh đến năm 2025, ta dựa vào các cơ sở dữ liệu số lượng giường bệnh các bệnh viện qua các năm từ đó tính tỷ lệ tăng trung bình năm Cách tính như sau:

Năm 2012 – 2013: số giường năm 2012 là 1610, đến 2013 số giường tăng lên là

1660 giường Vậy số giường tăng lên năm 2013 là: 1660 - 1610 = 50 giường bệnh

Số phần trăm (%) giường bệnh tăng trong năm 2013 là: (100*50)/1610 = 3,11% Năm 2013 – 2014: năm 2013 có số giường là 1660 đến năm 2014 số giường tăng lên 1670 giường Vậy số giường tăng lên vào năm 2014 là: 1670 – 1660 = 10 giường bệnh

Số phần trăm (%) giường bệnh tăng trong năm 2014 là: (100*10)/1660 = 0,6% Năm 2014 – 2015: năm 2014 có số giường là 1670 đến năm 2015 số giường tăng lên 1720 giường Vậy số giường tăng lên vào năm 2014 là: 1720 – 1670 = 50 giường bệnh

Số phần trăm (%) giường bệnh tăng trong năm 2015 là: (100*50)/1670 = 3%

Năm 2015 – 2016: số giường bệnh không tăng thêm, số phần tram giường bệnh tăng thêm là 0%

Số phần trăm (%) giường bệnh tăng trong một năm là: (tính trung bình trong 5 năm) là: (0 + 3,11 + 0,6 + 3)/4 = 1,68%

Từ năm 2016 – 2017: năm 2016 số giường là 1720 giường, cứ 100 giường bệnh tăng lên 1,68%

Vậy 1720 giường bệnh năm 2017 sẽ có số giường tăng lên là: (1,68*1720)/100 =

30 giường bệnh

Số giường năm 2017 là: 1720 + 30 = 1750 giường bệnh

Với cách tính tương tự cho các năm ta có bảng dự đoán số giường bệnh của các bệnh viện trên địa bàn khảo sát vào năm 2020

 Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh đến năm 2025 [10], [11]

Sử dụng phương pháp hệ số ô nhiễm dùng để dự báo lượng CTRYT phát sinh:

WYTNH(1) = WYTNH(2) * N, Trong đó:

WYTNH(1) : Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh (kg/ngày)

WYTNH(2): Chỉ tiêu phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại (kg/GB/ngày)

N: Quy mô giường bệnh thời điểm dự báo (giường)

Trang 17

Chỉ tiêu phát sinh CTRYT dựa vào nghiên cứu của Bộ Y tế và WHO, 2004

tiêu chuẩn phát sinh chất thải rắn bệnh viện như sau:

Bảng Tiêu chuẩn phát sinh chất thải rắn bệnh viện

Tuyến bệnh viện

Khối lượng CTR bệnh viện

(kg/giường/ngày)

Khối lượng CTR y tế nguy hại (% tổng lượng CTR bệnh viện)

(Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu của Bộ Y tế và WHO) [11]

5.3 Các tiêu chuẩn tham chiếu

 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và

Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường quy định về quản lý chất thải y tế

 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại

 Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của Bộ Y tế quy định về hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

 Nghị Định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU

VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ bao gồm: chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng cách ly); chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai

lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bó bột trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại; chất thải phát sinh từ các công việc hành chính; chất thải ngoại cảnh

Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện

Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải

Xử lý ban đầu chất thải rắn y tế là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải

có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nới lưu giữ hoặc tiêu huỷ

1.1.2 Phân định chất thải rắn y tế

a Chất thải lây nhiễm bao gồm

 Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác

Trang 19

 Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

 Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;

 Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm

b Chất thải nguy hại không lây nhiễm

 Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

 Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;

 Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng;

 Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

 Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại

c Chất thải y tế thông thường

 Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

 Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại (theo quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế)

 Sản phẩm thải lỏng không nguy hại

Cũng theoThông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT Chất thải y tế được phân loại thành 8 nhóm, gồm:

 Chất thải lây nhiễm sắc nhọn

 Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn

 Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao

 Chất thải giải phẫu

 Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn

 Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng

Trang 20

 Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế

 Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế

1.1.3 Nguồn phát sinh chất thải y tế

Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như là trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sinh sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu… các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học, ngân hàng máu Các nguồn xả chất thải lây lan độc hại chủ yếu là ở khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật bào chế dược

Bảng 1.1 Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế

(Nguồn quy hoạch quản lý chất thải y tế Bộ Y tế, 2009)

Căn cứ vào phân loại ở trên ta có thể thấy chất thải bệnh viện gồm hai phần chính: phần không độc hại (chiếm khoảng 85% tổng số chất thải bệnh viện), loại chất thải này chỉ cần xử lý đơn giản như những loại chất thải sinh hoạt; phần độc hại cần phải có những biện pháp xử lý thích hợp

Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải từ hoạt động bệnh viện và các phòng khám tư nhân được thể hiện ở hình sau:

Trang 21

ĐƯỜNG THẢI CHUNG

Bình áp suất Chất thải lâm sàng

Chất thải hóa học Chất thải sinh hoạt Chất thải phóng xạ

Hình 1.1 Sơ đồ các nguồn phát sinh chất thải [3]

 3% là chất thải dược, chất thải hóa học

 Dưới 1% là các chất thải khác: phóng xạ, chất gây độc tế bào, bình chứa áp suất, chất thải kim loại nặng

Theo kết quả điều tra của dự án hợp tác giữa Bộ y tế và WHO năm 2009 thì thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá

KHU VỰC HÀNH CHÍNH

PHÒNG CẤP

CỨU

KHU BÀO CHẾ DƯỢC

PHÒNG BỆNH NHÂN TRUYỀN NHIỄM

PHÒNG BỆNH NHÂN KHONG LÂY LAN

Trang 22

cao, chiếm trên 25% tổng lượng chất thải rắn y tế, chưa kể 52% chất thải rắn y tế là các chất hữu cơ

Hình 1.2 Biểu đồ thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa [7]

a Thành phần vật lý

 Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…

 Đồ giấy: Giấy hộp dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

 Đồ thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…

 Đồ nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng…

 Đồ kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm, hộp đựng…

 Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…

 Rác rưởi, lá cây, đất đá…

Kết quả phân tích thành phần và các đặc trưng vật lý của chất thải rắn y tế trên

80 bệnh viện trong phạm vi cả nước được miêu tả trong bảng sau:

Bảng1.2 Thành phần và các đặc trưng vật lý của CTRYT ở Việt Nam [4]

STT Thành phần và các đặc trưng vật lý của

CTRYT

Tính chất nguy hại

Tỷ lệ (%)

Trang 23

STT Thành phần và các đặc trưng vật lý của

CTRYT

Tính chất nguy hại

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: GS.TS Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn – tập 1)

Theo bảng 1.2 trong chất thải rắn y tế thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ tuy nhiên thành phần này không mang tính độc hại Thành phần có chứa yếu tố nguy hại (lây nhiễm) chiếm 22,6% như: chai nhựa PVC, PE, PP, bông băng, chai lọ thủy tinh, bơm kim tiêm, các bệnh phẩm sau mổ

b Thành phần hóa học

 Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai thủy tinh, sỏi đá, hóa chất, thuốc thử

 Những chất hữu cơ: Đồ vải, thuốc, phần cơ thể, đồ nhựa…

Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần: C, H, O, N, S, Cl và một phần tro

c Thành phần sinh học: máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể, những loại dịch tiết và

đặc biệt là những vi trùng gây bệnh

1.1.5 Khối lượng chất thải phát sinh

Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn đưuọc thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng…Chúng bao gồm không chỉ lượng phát sinh thật của mỗi bệnh nhân nội trú ở bệnh viện mà còn bao gồm chất thải phát sinh do các khoa không có bệnh nhân nội trú như khoa xét nghiệm, khoa dược, phòng khám

Theo báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011, lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện như sau:

Trang 24

Bảng1.3 Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện

Tuyến bệnh viện

Tổng lượng chất thải y

tế (kg/giường bệnh/ngày)

Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Báo Cáo môi trường quốc gia, 2011)

Lượng chất thải phát sinh của các tuyến bệnh viện tuyến Trung Ương, tuyên tỉnh và tuyến huyện có hệ số phát thải chất thải rắn y tế dao động khá lớn về tổng lượng phát thải cũng như tỉ lệ chất thải nguy hại Các khoa trong bệnh viện có khối lượng chất thải phát sinh khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng khoa, trong đó lượng chất thải phát sinh nhiều nhất là khoa cấp cứu ở tất cả các tuyến bệnh viện Bảng 1.5 dưới đây thể hiện lượng chất thải phát sinh cụ thể tại từng khoa của từng tuyến bệnh viện

Bảng 1.4 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện [7]

Khoa

Tổng lượng chất thải y tế (kg/giường bệnh/ngày)

Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

Trang 25

Khoa

Tổng lượng chất thải y tế (kg/giường bệnh/ngày)

Chất thải y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

Khoa cận lâm

(Nguồn: Báo Cáo môi trường quốc gia, 2011)

1.1.6 Tác hại của chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế nguy hại khi chưa được loại bỏ hoặc xử lý thích đáng có thể gây

ô nhiễm cho đất, nguồn nước mặt, nước ngầm, cũng có thể nguy hiểm đối với những người trực tiếp làm nghề thu lượm phế liệu hoặc thậm chí cho trẻ em chơi ở quanh vùng đổ rác Tại châu Âu có một số công trình nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa tỷ lệ cao thất thường bệnh ung thư trong dân cư sống gần các xưởng xử lý chất thải không vận hành đúng các quy tắc, nhất là về sự thải khói từ hoạt động của các lò

đốt

a Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường

 Đối với môi trường đất

Khi chất thải rắn y tế được chôn lấp không đúng quy định thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất, gây nhiễm độc, làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn Các chất ô nhiễm từ các bãi rác có khả năng rò rỉ, thoát ra bên ngoài gây ô nhiễm nguồn nước và đất Từ đây chúng tác động ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng người dân về lâu dài

 Đối với môi trường không khí

Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh cho đến khi khâu xử lý cuối cùng gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí xung quanh Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển, chúng phát tán bụi, bào tử vi sinh vật, hơi dung môi vào không khí Việc thiêu đốt chất thải ở điều kiện không lý tưởng, không đạt yêu cầu, đốt chất thải y tế không đủ nhiệt độ sẽ gây nhiều khói đen Nếu đốt chất thải đựng trong các túi nhựa PCV còn chứa các loại phẩm dược có thể tạo ra khí axit thường là khí HCl và SO2 Trong quá trình đốt, các dẫn xuất halogen như F, Ch, Br, I… Ở nhiệt độ thấp thường tạo ra axít như hydrochloride Điều này dẫn đến nguy cơ tạo nên chất đioxin, một loại

Trang 26

hóa chất vô cùng độc hại ngay cả ở nồng độ thấp Ngoài ra, các kim loại nặng như thủy ngân cũng có thể phát tán, thải ra theo khí thoát của lò đốt Các khí này nếu không xử lý sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

 Đối với môi trường nước

Chất thải rắn y tế của bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: Samonella, Coliform, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn Gram âm đa kháng… Do đó, chất thải rắn y tế lây nhiễm nếu không được xử lý trước khi thải bỏ thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước Mặt khác nếu áp dụng công nghệ chôn lấp không được thực hiện đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh, đặc biệt là chất thải rắn y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt

có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Đồng thời việc xả nước thải bừa bãi các chất thải lâm sàng như xả thải chung nước thải lây nhiễm vào hệ thống nước thải thông thường có thể tiềm ẩn yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng chất hữu

cơ BOD (biochemical oxygen demand)

 Chất thải có chứa yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội

Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong các cơ sở y tế, những người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong khâu quản lý và kiểm soát chất thải

Họ thường nằm trong các nhóm sau:

 Bác sỹ, y tá, nhân viên chăm sóc sức khỏe và các nhân viên trong bệnh viện

 Bệnh nhân của các bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏe

 Khách, người nhà tới bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏe

 Nhân viên trong các dịch vụ hỗ trợ cho bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏe như giặt là, vận chuyển và xử lý chất thải

 Nhân viên làm việc ở những thiết bị xử lý chất thải như hố tiêu hủy hay lò đốt chất thải

Trang 27

Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại đến sức khỏe con người:

 Tác hại của chất thải lây nhiễm

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các tác nhân

vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: dạ da, vết thương trầy xước, niêm mạc, đường hô hấp do hít phải, qua đường tiêu hóa Chất thải lây nhiễm sắc nhọn

có thể gây ra nguy hại gấp đôi đối với người tiếp xúc Không chỉ gây ra các vết xước hay vết cắt, khả năng nhiễm khuẩn thông qua các vết thương này cũng rất lớn Các loại kim tiêm dưới da là chất thải nguy hiểm nhất trong nhóm này vì nó thường bị dính lẫn máu của người bệnh

Chất thải lây nhiễm còn được quy cho là một trong những nguyên nhân gây ra sự kháng thuốc của một số chủng vi khuẩn Sự tồn tại và lây nhiễm của các vi khuẩn có trong chất thải y tế gây ra những khó khăn trong việc sử dụng đúng phác đồ điều trị cho loại vi khuẩn đó khi mà sự kháng thuốc đã tăng lên

Đối với những bệnh nguy hiểm so virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc

C, những nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Những người vận hành quản lý chất thải xung quanh bệnh viện cũng có nguy cơ lây nhiễm đáng kể

Bảng 1.5 Một số bệnh lây nhiễm, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm khi tiếp

xúc với chất thải y tế lây nhiễm Bệnh lây nhiễm Tác nhân gây bệnh Đường lây nhiễm

Đường tiêu hóa Salmonella, Shigella spp

Vibrio cholerae

Phân và/hoặc nôn

Đường hô hấp

Mycobacterium tuberculosis Streptococcus pneumoniae

Trang 28

Viêm màng não Neisseria meningtidis Dịch não tủy

Viêm gan virus A Viêm gan virus A phân

Viêm gan virus B, C Viêm gan virus B, C Máu và dịch cơ thể

(Nguồn Bộ Y tế, 2010)

Nguy cơ của chất thải hóa học và dược phẩm

Nguy cơ từ chất thải hóa học và dược phẩm gồm nhiều loại chất và thuốc men sử dụng trong cơ sở y tế và bệnh viện Đây là các chất nguy hại như chất gây độc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, gây độc nhưng thường với khối lượng thấp Đã

có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hóa chất và dược phẩm trong bệnh viện không đảm bảo Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lí chất thải gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi

ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc

và khoảng thời gian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế

có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường hô hấp, tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc

Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế nguy hại có thể bị rò

rỉ đổ tràn ra ngoài môi trường xung quanh Việc rơi vãi các chất thải y tế lây nhiễm, đặc biệt là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao có thể làm lây lan mầm bệnh tại các cơ

sở y tế, bệnh viện, đối với cán bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, kể

cả việc gây ô nhiễm môi trường đất và nước tại chỗ

Để hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ bệnh nghề nghiệp này, nên thay thế giảm lượng hóa chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện bảo

hộ cho những người tiếp xúc với hóa chất Những nơi sử dụng và bảo quản loại hóa chất nguy hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan

 Nguy cơ của chất thải gây độc tế bào

Nguy cơ chất thải y tế gây độc tế bào gồm nhiều loại thuốc điều trị chống ung thư Chúng có thể kích thích hay tổn thương cục bộ trên mắt và da, cũng có thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu và viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt là những người chịu trách nhiệm thu gom chất thải loại này có thể bị phơi nhiễm các thuốc điều trị chống ung thư do hít thở hoặc hấp thu các hạt lơ lửng trong không khí qua đường hô hấp

Trang 29

Ngoài ra, các thuốc gây độc tế bào như thuốc chống ung thư cũng có thể hấp thu qua

da, qua đường tiêu hóa do thực phẩm vô tình bị nhiễm bẩn

 Nguy cơ của chất thải phóng xạ

Những bệnh do chất thải phóng xạ gây ra được xác định bởi các chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm là một loại độc hại tới tế bào, gen, và cũng có thể ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán như máy Xquang, máy chụp cắt lớp Có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳng hạn như phá hủy các mô, nhiều khi gây bỏng cấp tính Trên thế giới các nguồn phóng xạ được sử dụng rộng rãi trong y học và trong những ứng dụng khác Năm 1988, tại Brazil có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28 người bị phóng xạ nặng Các tai nạn tương tự cũng đã từng xảy ra ở thành phố Mêxicô năm 1962, Algeria năm 1983

Chính vì những hậu quả do chất thải y tế gây ra mà ta cần phải có những biện pháp phòng tránh sau:

 Có thể thay thế hoặc giảm lượng hóa chất độc hại sử dụng

 Cung cấp các phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc trực tiếp với hóa chất

 Thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người liên quan

 Sự nhạy cảm của cộng đồng

Nói chung người dân rất dễ bị tác động bởi nhìn thấy các bộ phận của cơ thể người

kể cả thai nhi Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rằng không bao giờ chấp nhận việc vứt chất thải giải phẫu một cách bừa bão vào chất thải Việc này còn liên quan đến các tập quán địa phương và sự nhạy cảm văn hóa của cộng đồng chung quanh, ở đây tín ngưỡng tôn giáo yêu cầu các bộ phận cơ thể cần đưa trả về gia đình người bệnh

 Ảnh hưởng của khí thải lò đốt chất thải rắn

Lò đốt chất thải rắn y tế bị hạn chế và do những bất cập rất phức tạp, khó giải quyết

và gây ảnh hưởng nặng nề đến các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường cho phát triển bền vững Lò đốt chất thải rắn y tế là nguồn chính tạo ra dioxin (chất độc hóa học màu

da cam), Furan, thủy ngân hữu cơ vào môi trường không khí Dioxin khó phân hủy, chu kỳ bán rã từ 25 đến 100 năm, phán tán rộng và thông qua nhiều con đường như không khí, chuỗi thức ăn, nước uống để xâm nhập vào con người, gây nhiều bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh các thế hệ sau thông qua tác động đến hệ thống miễn dịch, máu và sinh sản; bệnh bạch huyết mãn tính, ung thư đường hô

Trang 30

hấp, ung thư tiền liệt tuyến; giảm khả năng sinh sản của nam giới: giảm số lượng tinh trùng, dị thường tinh hoàn, giảm hormone sinh dục; giảm khả năng sinh sản của nữ giới: rối loạn hoạt động của buồng trứng, giảm hormone sinh dục nữ; gây ra các bệnh chung cho cả 2 giới như bệnh tiểu đường type 2, các bệnh về gan, lách, tuỷ xương, hệ miễn dịch

1.1.7 Các phương pháp quản lý, xử lý chất thải rắn y tế

a Giảm thiểu tại nguồn

 Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thải hay giảm lượng chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt

 Sử dụng các biện pháp khử trùng lấy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháp hóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại

 Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác hộ lý và khử trùng tẩy uế

b Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện

 Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại

 Giám sát sự luân chuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận, nhập kho, sử dụng và tiêu hủy thải bỏ

c Quản lý kho hóa chất, dược chất

 Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn là nhập quá nhiều một đợt dễ dẫn tới thừa hay quá hạn

 Sử dụng các lô hàng cũ trước, hàng mới dùng sau

 Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất vật tư trong kiện rồi mới chuyển sang kiện mới

 Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc, dược chất, vật tư tiêu hao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sử dụng

d Thu gom, phân loại và vận chuyển

 Phân loại

Điểm mấu chốt của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một cách chính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường Việc tách và phân loại chính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển và lưu tại trạm hay nơi trung chuyển và quá trình vận chuyển tới nơi tiêu hủy

và quá trình tiêu hủy

Việc tách và phân loại chất thải rắn y tế đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót thùng chứa dây thắt túi, hộp nhốt vật sắc nhọn Yêu cầu mầu sắc phải thống nhất để dễ quản

lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông

Trang 31

Bảng 1.6 Yêu cầu màu sắc, đánh dấu nhãn dán thùng và túi đựng CTRYT Loại chất thải Màu và đánh dấu nhãn Loại thùng, túi

Chất thải lây nhiễm

cao

Vàng, ký hiệu nhiễm khuẩn cao

Thùng nhựa, túi nhựa bền chắc chắn

Chất thải lây nhiễm,

bệnh phẩm, giải phẫu

Vàng, có logo nhiễm khuẩn

Thùng nhựa, túi nhựa bền

Vật sắc nhọn Vàng, đề chữ vật sắc nhọn Túi nhựa bền, hoặc hộp

giấy, chai nhựa

Chất thải y tế có

đồng vị bức xạ

Vàng nâu, logo có bức xạ theo quy định

Hộp chì, kim loại có dán nhãn bức xạ

 Thu gom tại phòng khoa

Hộ lý và nhân viên y tế phân loại, tách chất thải y tế ngay trong quá trình thực hành nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật như thay băng, tiêm truyền Hoạt động này phải duy trì thường xuyên liên tục

Nhân viên chuyên trách thu gom chất thải y tế từ các buồng chuyên môn tập trung

về thùng lưu chứa trung chuyển, vận chuyển về khu lưu trung chuyển chất thải y tế nguy hại bệnh viện cần lưu ý:

 Chất thải phải được thu gom hàng ngày và chuyển về nơi lưu, trung chuyển chất thải của bệnh viện

 Thùng túi đã chứa đầy chất thải, khi vận chuyển đi phải có nhãn ghi rõ chất thải

từ khoa, bệnh viện, ngày giờ

 Phải có ngay thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng

 Lưu chứa: Khu trung chuyển lưu chứa chất thải y tế có thể xây dựng riêng hoặc

có thể kết hợp với nhà xưởng lắp đặt lò đốt nếu được trang bị để tiêu hủy tại chỗ Nhà xưởng lò đốt và lưu CTRYT nguy hại, xử lý thùng thu gom có diện tích bao che

 Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày

 Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 48 giờ đối với mùa đông

Trang 32

 Vận chuyển chất thải đi xử lý trong vòng 24 giờ đối với mùa hè

e Các phương pháp chính xử lý chất thải rắn y tế

 Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt ở nhiệt độ cao

Phương pháp đốt là phương pháp oxy hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và các chất trơ không cháy Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được 95% thể tích và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải Lò đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành trong khoảng nhiệt độ từ

7000C đến 12000C Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải dioxin Phương pháp đốt có ưu điểm là với nhiệt độ cao thì chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý triệt

để, loại trừ được các mầm bệnh trong các chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn sâu sau khi xử lý Tuy nhiên đốt ở nhiệt độ không đủ theo quy định có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí, chi phí đầu tư xây dựng và quản lý vận hành cao (PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái và cộng sự)

 Phương pháp khử trùng

Theo phương pháp này, các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ra môi trường như chất thải sinh hoạt thông thường phải đem đi khử trùng Ở các nước phát triển, việc khử trùng còn được coi là công đoạn đầu của việc thu gom chất thải y tế nhằm hạn chế khả năng gây tai nạn của chất thải

 Khử trùng bằng hóa chất: hóa chất thường dùng là Clo, hypoclorit Đây là phương pháp đơn giản và rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là không tiêu diệt hết lượng vi khuẩn trong rác nếu thời gian tiếp xúc ngắn Ngoài ra, một số vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất xử lý, hoặc Clo chỉ là chất khử trùng hữu hiệu khi không có các chất hữu cơ Do vậy, hiệu quả của phương pháp khử trùng không cao

 Khử trùng bằng phương pháp nhiệt và áp suất cao: Đây là phương pháp khử trùng hiệu quả cao nhưng thiết bị xử lý đắt tiền và đòi hỏi chế độ vận hành bảo dưỡng

 Phương pháp chôn lấp an toàn

Chôn lấp an toàn chỉ áp dụng cho những cơ sở y tế chưa có điều kiện để thiêu đốt chất thải y tế nguy hại Khi chôn lấp không chôn lẫn chất thải y tế nguy hại với chất thải sinh hoạt Chỉ được phép chôn chất thải y tế nguy hại tại các khu vực đã được quy định Bãi chôn lấp chất thải y tế nguy hại phải đáp ứng các chỉ tiêu môi trường và các yêu cầu kỹ thuật do cơ quan quản lý môi trường đối với chất thải nguy hại Chôn lấp các chất thải có tính độc, các chất thải có tính ăn mòn: phải sử dụng hệ thống lớp lót đáy và thành kép Cấu tạo hệ thống lớp lót đáy và thành kép gồm:

Trang 33

Phương pháp chôn lấp có nhiều nhược điểm nhưng yêu cầu phải có diện tích đất đủ lớn để chôn lấp chất thải y tế nguy hại; là tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước ngầm cao; là nguồn ủ cho các bệnh truyền nhiễm và gây thành các dịch bệnh cho xã hội Cho nên hiện nay người ta không khuyến khích các bệnh viện hay các

cơ sở y tế tư nhân sử dụng biện pháp chôn lấp chất thải y tế nguy hại

 Phương pháp đóng rắn

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại trong đó có

cả chất thải y tế Bản chất của quá trình xử lý là chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra ngoài Công nghệ này đang được áp dụng để:

 Cải tạo khu vực chứa chất thải nguy hại

 Xử lý các sản phẩm nguy hại của các quá trình xử lý khác

 Xử lý và tồn trữ các chất nguy hại an toàn hơn, giảm thiểu khả năng phát tán ra môi trường xung quanh

Các chất dính vô cơ thường dùng là vôi, xi măng porand, bentonic, pizzolan, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, ure formaldehyt

Theo quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, việc cô lập các nhóm chất thải này có thể được dựa trên tính nguy hại của chất thải, đặc biệt với nhóm chất thải lây nhiễm Theo quy chế tỷ lệ trộn hỗn hợp rác thải y tế nguy hại là 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5% Hỗn hợp sau khi được tạo thành một khối đồng nhất dưới dạng cục thì đem đi chôn

 Công nghệ không đốt thân thiện với môi trường

Trang 34

Hiện nay, có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm và công nghệ có sử dụng lò vi sóng

Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm: Bản chất là tạo ra môi trường hơi nước nóng với áp suất cao để khử khuẩn CTRYT Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử khuẩn ổn định, do đó làm tăng chi phí vận hành của hệ thống

Công nghệ sử dụng vi sóng: bao gồm sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ

áp suất cao

Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện bình thường là tạo điều kiện khử tiệt khuẩn ở nhiệt độ khoảng 100oC với áp suất không khí thông thường Do vậy, hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng tốn thời gian xử lý cho mỗi mẻ đồng thời hiệu quả chỉ đạt 99,9%

Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa: Có tác dụng phá hủy cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh Nhờ đó sau khi xử lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không tạo ra khói bụi, không xả ra nước thải cũng như không sử dụng hóa chất để tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện với môi trường (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)

f Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế

 Xử lý ban đầu CTRYT (xử lý ngay tại cơ sở y tế)

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý an toàn ở gần nơi chất thải phát sinh;

Các phương pháp xử lý ban đầu đối với các loại CTRYT có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: khử khuẩn bằng hóa chất, khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng (hơi nóng), đun sôi liên tục trong 15 phút;

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao sau khi xử lý ban đầu có thể đi chôn lấp hoặc

xử lý như chất thải thông thường

 Xử lý và tiêu hủy CTRYT (tại cơ sở xử lý CTRYT)

Đối với chất thải lây nhiễm, chất thải phẫu thuật: khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng; thiêu đốt

Đối với các loại sắc nhọn: Thiêu đốt trong lò đốt chuyên dụng cùng với chất thải lây nhiễm khác hoặc chôn trực tiếp trong các hố xây xi măng chuyên dùng để chôn vật sắc nhọn

Trang 35

Đối với chất thải phẫu thuật: Bọc trong túi hai lớp màu vàng, đóng thùng và chôn

ở nghĩa trang; chôn trong hố bê tông có đáy và đóng nắp kín

Đối với chất thải hóa học, dược phẩm: Trả lại nhà cung cấp theo hợp đồng; thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao; dùng phương pháp hóa học để tiêu hủy chất thải (phương pháp trung hòa hoặc thủy phân kiềm); trơ hóa trước khi chôn lấp (trộn lẫn chất thải với xi măng, vôi và một số vật liệu khác để ổn định chất thải với tỷ lệ hợp phần: 65% chất thải dược phẩm, hóa học, 15% vôi, 15% ximăng, 5% nước)

Đối với chất thải gây độc tế bào: Trả lại cho nhà cung cấp theo hợp đồng; thiêu đốt trong lò đốt có nhiệt độ cao; sử dụng một số hóa chất như KMnO4, H2SO4, giáng hóa các chất gây động tế bào; trơ hóa sau đó đem chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải tập trung

Đối với chất thải chứa kim loại nặng: Trả lại cho nhà sản xuất để thu hồi kim loại nặng; tiêu hủy tại nơi tiêu hủy an toàn chất thải công nghiệp

Đối với chất thải phóng xạ: Theo TCVN về xử lý an toàn bức xạ

Đối với các bình áp suất: Trả lại nơi sản xuất; tái sử dụng

1.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

1.2.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt

ở nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại chất thải y tế, quản lý chất thải y tế (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả các biện pháp xử lý chất thải); tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, sức khỏe; biện pháp làm giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khoẻ cộng đồng; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ

lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng

Chính vì vậy, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận

và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới như: Công ước Basel, Nguyên tắc Polluter pay, Nguyên tắc Proximitry

Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này

Trang 36

a Tại các nước phát triển

Hiện tại ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý loại rác thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000oC đến trên

4000oC Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt

Về phần công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách hợp

lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám Có quy định cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải

Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất, kèm theo công đoạn xử lý sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện Trong thực tế không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ tiêu hủy, đôi khi sử dụng phương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn

b Tại các nước đang phát triển

Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường vẫn còn rất sơ sài, nhất

là đối với phế thải y tế tại các bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân Những năm gần đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và

có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở Ấn Độ từ năm

1998, chính phủ đã ban hành luật về ”Phế thải y tế: lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc

xử lý và di dời đến các bãi rác Do đó, vấn đề phế thải rắn y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện nhiều

1.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

a Thực trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.024 bệnh viện công lập với 126.772 giường bệnh Cùng với số lượng bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân thì khối lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh từ các hoạt động y tế ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển dịch vụ từ các

cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

Theo đại diện Bộ Y tế, thì cả nước có 490 lò đốt rác y tế Tuy nhiên trong số này chỉ có 276 lò đang hoạt động Thế nhưng ngay cả với hệ thống lò đốt này thì nhiều lò đốt không có hệ thống xử lý khí thải, nên không thể kiểm soát được các khí độc hại như dioxin, furan Do đó nguy cơ gây ô nhiễm thứ cấp từ khói thải là rất cao Đối với loại rác thải y tế không được xử lý thì mối nguy hại còn to lớn hơn nhiều Hiện nay phần lớn bệnh viện huyện và bệnh viện tỉnh vẫn còn dùng biện pháp chôn lấp chất thải nguy hại

Trang 37

Cái khó nhất của các bệnh viện không nằm ở nguồn kinh phí đầu tư, hay nhân lực vận hành mà là chi phí cho việc đốt rác thải y tế quá lớn mà bệnh viện không kham nổi Theo tính toán của các bệnh viện thì hiện nay, 1kg dầu để đốt rác thải y tế có giá khoảng 20.000 đồng Để đốt hết 1kg chất thải y tế độc hại, có khi các bệnh viện phải tốn tới 4 kg dầu tương ứng với khoảng 80.000 đồng

Chính từ những bất cập này mà tình trạng “gần nửa số lượng lò đốt rác đã được trang bị đành đắp chiếu” Và để xử lý số lượng rác thải y tế nguy hại này, hệ thống bệnh viện gần như không có cách nào khác là thuê xử lý hoặc tự chôn lấp Tính toán

sơ bộ thì hiện toàn tuyến y tế cấp tỉnh có tới trên 61% cơ sở y tế thuê xử lý; 6,4% sử dụng lò đốt 1 buồng và 9% cơ sở tự đốt hoặc chôn lấp Ở cấp huyện tỉ lệ này còn đáng ngại hơn nhiều - trên 24% cơ sở thuê xử lý, 17% tự đốt và gần 20% chôn lấp

 Phân loại thu gom

Chất thải rắn y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bệnh viện Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do các vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập gây ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ dàng xâm nhập Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy định

Chất thải rắn y tế được nhân viên của công ty Môi Trường Đô Thị đến thu gom các túi chất thải tại các khu vực trung chuyển của bệnh viện, các nhân viên bệnh viện lẫn nhân viên bệnh viện đều chưa được đào tạo, hướng dẫn về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại

Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đủ tới mức trở thành

kỹ năng

Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lí và nhân viên y tế thu gom hằng ngày tại khoa phòng Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ lao động khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào phân loại thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chât thải

 Lưu giữ vận chuyển để xử lý

Trang 38

Theo Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đáng nói, ngay ở các bệnh viện tuyến Trung Uơng vẫn còn tới 25% cơ

sở chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế, bệnh viện tuyến tỉnh là gần 50%, còn bệnh viện tuyến huyện lên tới trên 60%

Đối với các bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân do quỹ đất eo hẹp nên việc đầu

tư xây dựng hệ thống xử lý rác thải y tế vẫn còn là thách thức lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe nhân dân Theo quy định trong các bệnh viện, chất thải được thải ra hàng ngày và thời gian lưu giữ chất thải độc hại là 48 giờ Đối với các cơ sở y

tế nhỏ, thời gian lưu giữ các chất thải lây nhiễm, các vật sắc nhọn, chất thải y tế từ phòng thí nghiệm và chất thải dược phẩm không được quá một tuần, riêng nhóm chất thải thuộc chất thải bệnh phẩm phải đôt hoặc chôn ngay Thực tế, gần như 100% bệnh viện có thực hiện phân loại tại nguồn, nhưng khó có thể thực hiện tốt hoàn toàn do điều kiện nhân lực của từng bệnh viện rất khác nhau Việc phân loại rác thải y tế còn chưa đúng quy định, còn lẫn vào chất thải sinh hoạt Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn nhiều và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, vật sắc nhọn chưa được cô lập an toàn Không có phương tiện vận chuyển riêng biệt, chuyên dụng, nơi lưu trữ không đảm bảo vệ sinh, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập

b Thực trạng cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của hệ thống bệnh viện

Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đoạn đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở vật chất

kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại này còn bị thiếu thốn, bên cạnh đó công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để

Mặt khác, số lượng bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh y tế tư nhân rất lớn, lại thiếu vốn, bên cạnh đó đội ngũ nhân lực còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, do đó nên số lượng bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tại các bệnh viện và cơ sở y tế

tư nhân không chỉ là vấn đề của riêng bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân mà cần có sự

quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội

1.3 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ QUY NHƠN

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên

a Vị trí địa lý và hành chính

Trang 39

Quy Nhơn là thành phố tỉnh lị Bình Định, là một trong 8 đô thị loại I của nước ta,

là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định với các hướng tiếp giáp:

 Phía Đông là biển đông

 Phía Tây giáp huyện Tuy Phước

 Phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát

Phía Nam giáp thị xã Sông Cầu tỉnh Phú Yên

Hình 1.3 Bản đồ vị trí thành phố Quy Nhơn

Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13036’ vĩ Bắc, từ 109006’ đến 109022’ kinh Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 400 dặm về phía Nam, cách thành phố Pleiku 105 dặm Cách Đà Nẵng 195 dặm, cách Huế 247 dặm, cách Nha Trang 130 dặm, cách Tuy Hòa 62 dặm và cách Quảng Ngãi 109 dặm Dân số hiện nay của thành phố Quy Nhơn là 286.331 người

Các đơn vị hành chính: Quy Nhơn có 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân Trần Quang Diệu và 5 xã: Nhơn Lý, Nhơn Hải, Nhơn Châu, Nhơn Hội, Phước Mỹ

b Địa hình

Trang 40

Nhiều đất đai, cảnh quan địa lý đa dạng khác nhau như núi, rừng nguyên sinh (Cù Mông Area), đồi, ruộng, ruộng muối, bãi biển, đầm lầy (Đầm Thị Nại), hồ (hồ Phú Hòa), Bàu Lạc (Phường Trần Quang Diệu), Bàu Sen (Phường Lê Hồng Phong), Hồ Sinh Thái (phường Thị Nại), sông (sông Hà Thanh), biển, bán đảo và hải đảo (đảo Nhơn Châu – đảo xanh lá cây Quy Nhơn có bờ biển dài 72km, diện tích đầm, hồ nước

lợ lớn, giàu tài nguyên sinh vật biển quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Các ngành kinh tế chính của thành phố bao gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng, chăn nuôi và khai thác thủy sản, du lịch

c Khí hậu

Thành phố Quy Nhơn mang đặc tính khí hậu của vùng Trung – Trung Bộ, bị chi phối bởi gió Đông Bắc trong mùa mưa và gió Tây vào mùa khô Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng10 đến tháng 2 năm sau (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượng mưa cả năm) Mùa đông ít lạnh, thịnh hành gió Tây Bắc đến Bắc Mùa hè có nhiệt độ khá đồng đều, có 4 tháng nhiệt độ trung bình vượt 280C, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,50C Hướng gió chủ yếu là Đông đến Đông Nam, nhưng chiếm ưu thế trong nửa đầu mùa Hạ là hướng Tây đến Tây Bắc Mùa mưa tại khu vực Quy Nhơn thường có bão và bão lớn tập trung nhiều nhất vào tháng 10

Khí hậu thành phố Quy Nhơn nói chung tương đối thuận lợi, lượng mưa không quá nhiều, mùa đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng tương đối thích hợp cho việc xây dựng đô thị Tuy nhiên, khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồn nước mặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều cũng gây nên những tác động khó khăn cho việc xậy dựng cải tạo hệ thống thoát nước

1.3.2 Tình hình kinh tế xã hội

a Kinh tế

Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ trong GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3% Thu nhập bình quân dầu người 2014 là 4.500 USD/người

Mục tiêu phát triển của thành phố theo đồ án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là phấn đấu đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương, là một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền trung Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia, đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á

Ngày đăng: 23/09/2019, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w