1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại chi cục quản lý thị trường tỉnh bến tre

122 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các tài liệu sách báo, tạp chí có bài viết liên quan đến công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả; các thông tin bài viết trên mạng internet bằng các công cụ tìm kiếm như: Google, ya

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THANH ĐIỀN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THANH ĐIỀN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 8 31 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN TOÀN

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế “ Giải pháp tăng cường

công tác chống sản xuất và buôn hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre” là công trình nghiên cứu độc lập Đề tài đã sử dụng nhiều nguồn thông tin

liên quan khác nhau để phục vụ cho phần viết luận văn

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người cam đoan

Nguyễn Thanh Điền

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban Lãnh đạo Chi cục, cán bộ công chức Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù, bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Điền

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN TOÀN

Tên đề tài: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ

BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE

1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, luận văn

đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục quản lý thị trường tỉnh Bến Tre

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2015 – 2017

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

- Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp thu thập được từ các cơ quan, Chi cục Quản lý thị trường tại Bến Tre Số liệu sơ cấp được điều tra thực tế tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre và các cơ sở kinh doanh

- Phương pháp tổng hợp số liệu

- Phương pháp phân tích: Phân tích về cơ cấu tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực của Chi cục Quản lý thị trường Bến Tre; các số liệu đã thu thập và tổng hợp

3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận:

Một là, hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác chống sản xuất

Trang 6

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu nhiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ 6

1.1 Cơ sở lý luận về hàng giả 6

1.1.1 Khái niệm về hàng giả 6

1.1.2 Đặc điểm của hàng giả 9

1.1.3 Phân loại hàng giả 12

1.2 Lý luận về sản xuất, buôn bán hàng giả 13

1.2.1 Khái niệm về sản xuất, buôn bán hàng giả 13

1.2.2 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả 15

1.2.3 Phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả 16

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất, buôn bán hàng giả 20

1.3 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 22

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

1.3.1 Quan điểm của Đảng về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 22

1.3.2 Các chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả 23

1.3.3 Quy định chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Quản lý thị trường trong công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả 25

1.4 Một số kinh nghiệm của các địa phương trong nước về công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả 30

1.4.1 Công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả ở thành phố Hồ Chí Minh 30

1.4.2 Công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả ở tỉnh Long An 32

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE 37

2.1 Khái quát chung về Chi cục QLTT tỉnh Bến Tre 37

2.1.1 Cơ cấu tổ chức 37

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 37

2.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực và bộ phận chống hàng giả 41

2.1.4 Công tác trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác chống hàng giả 44

2.1.5 Thực trạng sản xuất và buôn bán hàng giả tại tỉnh Bến Tre 45

2.2 Thực trạng công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015-2017 48

2.2.1 Công tác đánh giá, dự báo tình hình thị trường liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn 48

2.2.2 Nguồn nhân lực chống sản xuất, buôn bán hàng giả giai đoạn 2015-2017 48

2.2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chống hàng giả 49

2.2.4 Công tác tuyên truyền 51

2.2.5 Công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm 53

2.2.6 Công tác phối hợp trong đấu tranh chống hàng giả 60

2.3 Đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả của Chi cục QLTT tỉnh Bến Tre 61

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

2.3.1 Đặc điểm cơ bản của các đối tượng điều tra 61

2.3.2 Phân tích so sánh ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát đối với các nội dung được khảo sát 64

2.4 Đánh giá chung 71

2.4.1 Kết quả đạt được 71

2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân tồn tại 72

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TẠI CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG TỈNH BẾN TRE 75

3.1 Quan điểm và phương hướng, nhiệm vụ của công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm tới 75

3.1.1 Quan điểm 75

3.1.2 Phương hướng, nhiệm vụ 75

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT tỉnh Bến Tre 77

3.2.1 Nhóm giải pháp về chủ trương 77

3.2.2 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ, quản lý 83

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Kiến nghị 95

2.1 Đối với Chính phủ, các Bộ ngành trung ương 95

2.2 Đối với UBND tỉnh Bến Tre 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 100 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1+2

BẢN GIẢI TRÌNH

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

hàng giả của các cơ quan chức năng trên toàn tỉnh 27

Bảng 2.1 Cơ cấu lao động của Chi cục theo giới tính - trình độ - độ tuổi 41

Bảng 2.2 Biên chế số lượng công chức QLTT tại các đơn vị 43

Bảng 2.3 Bảng tổng hợp khái quát cơ sở vật chất tại Chi cục QLTT Bến Tre 44

Bảng 2.4 So sánh số vụ sản xuất hàng giả/tổng số vụ xử lý hàng giả 47

Bảng 2.5 Công tác tuyên truyền pháp luật về hàng giả của Chi cục QLTT 52

Bảng 2.6 Tình hình thực hiện xử lý về hàng giả năm 2015-2017 58

Bảng 2.7 Kết quả xử lý các hành vi vi phạm về hàng giả theo đơn vị giai đoạn 2015 - 2017 59

Bảng 2.8 Công tác phối hợp chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục QLTT Bến Tre 61

Bảng 2.9 Kết quả khảo sát CBCC, CSKD 62

Bảng 2.10 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của CSKD 64

Bảng 2.11 Bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của CBCC Chi cục QLTT 66

Bảng 3.1: Phương pháp tính điểm thi đua 90

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Chi cục Quản lý thị trường 37

Sơ đồ 2.2 Quy trình kiểm tra, xử lý hàng giả của lực lượng QLTT 54

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:

Đất nước ta đang thực hiện chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa, trong

xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

đã và đang tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sản xuất hàng hóa ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì trong quá trình phát triển mỗi quốc gia cũng phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức trong đó có vấn nạn hàng giả Ở Việt Nam trong những năm gần đây, lợi dụng chính sách mở cửa hội nhập kinh tế và sự bất cập trong cơ chế, chính sách pháp luật, các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm về sở hữu trí tuệ đang có chiều hướng gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi khó kiểm soát

Hiện nay, hàng giả có mặt ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế

xã hội với mẫu mã đa dạng, phong phú và công nghệ, kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại Hàng giả đã và đang là nguy cơ gây thiệt hại lớn đối với nền sản xuất, tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp và lợi ích người tiêu dùng Chính vì vậy, đấu tranh ngăn chặn hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của thị trường, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như bảo

vệ lợi ích chính đáng của nhà sản xuất và người tiêu dùng

Bến Tre là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, tiếp giáp với biển Đông, có bờ biển dài 65 km Phía bắc giáp Tiền Giang, phía Tây và Tây Nam giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Trà Vinh Thành phố Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 85 km Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế, tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh có xu hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Hàng giả xuất hiện tại địa bàn tỉnh Bến Tre chủ yếu là được sản xuất ở địa bàn khác

và sản xuất từ nước ngoài đưa vào kinh doanh trên thị trường Trước tình hình đó, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ ngành Trung ương, chỉ đạo của Tỉnh

Ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre; lực lượng Quản lý thị trường đã thường xuyên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

duy trì và đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả góp phần tích cực vào việc lành mạnh thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên do nhiều lý do khách quan và chủ quan mà công tác chống hàng giả trong những năm qua tuy đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ song vẫn còn không ít khó khăn, tồn tại nên chưa ngăn chặn được triệt để những hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả đặc biệt là khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đã nêu tôi chọn đề tài “Giải pháp tăng

cường công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế

2 Mục tiêu nhiên cứu

- Nguyên cứu đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác chống sản xuất

và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2015 – 2017

- Đối tượng khảo sát của đề tài là cán bộ công chức Quản lý thị trường; nhà sản xuất, kinh doanh các mặt hàng mà thường bị sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại, công nghiệp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh

Bến Tre

Về thời gian: Số liệu nghiên cứu về kết quả công tác kiểm tra, kiểm soát và

xử lý về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn

2015 – 2017, đề xuất giải pháp đến năm 2025

Nội dung nghiên cứu: Phân tích đánh giá thực trạng công tác chống sản xuất,

buôn bán hàng giả, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đấu tranh chống hàng giả của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin qua số liệu thứ cấp:

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp tại các cơ quan, Chi cục Quản lý thị trường và doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre

- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác chống hàng giả như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại, Luật Bảo vệ người tiêu dùng…; các Nghị định, đặc biệt là Nghị định

xử phạt vi phạm hành chính về hàng giả; các Thông tư hướng dẫn và Chỉ thị của các

cơ quan quản lý nhà nước

- Các tài liệu sách báo, tạp chí có bài viết liên quan đến công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả; các thông tin bài viết trên mạng internet bằng các công cụ tìm kiếm như: Google, yahoo,…

* Thu thập dữ liệu sơ cấp:

- Số liệu được thu thập bằng cách thiết kế phiếu điều tra để điều tra, lấy ý kiến đối với cán bộ công chức Quản lý thị trường; nhà sản xuất, kinh doanh các mặt hàng mà thường/dể bị sản xuất, buôn bán hàng giả trong hoạt động thương mại, công nghiệp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

- Phiếu khảo sát được gửi trực tiếp cho các đối tượng được điều tra

- Đối với cán bộ, công chức Quản lý thị trường, tác giả tiến hành khảo sát 52 mẫu Thông tin đối tượng được khảo sát gồm: Họ và tên; nơi công tác, trình độ chuyên môn, chức vụ; giới tính; thời gian công tác

- Đối với cơ sở kinh doanh, tác giả tiến hành khảo sát 30 mẫu Thông tin đối tượng được khảo sát gồm: Họ và tên; tên cơ sở kinh doanh; địa chỉ; loại hình cơ sở kinh doanh; trình độ chuyên môn, chức vụ; giới tính; thời gian công tác; ngành nghề kinh doanh; có sản phẩm bị sản xuất, buôn bán hàng giả không

- Nội dung khảo sát: Đánh giá về quy trình, thủ tục quản lý thị trường nói chung và công tác quản lý, kiểm tra thị trường nói riêng; Đánh giá về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức Chi cục Quản lý thị trường; Đánh giá

về công tác phối hợp, tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp thông tin cho cơ sở kinh doanh, người tiêu dùng; Đánh giá về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về thương mại, công nghiệp nói chung và hoạt động kiểm tra thị trường nó; Công tác kiểm tra, kiểm soát, chống sản xuất, buôn bán hàng giả của Chi cục được phát hiện, ngặn chặn và xử lý kịp thời

- Tác giả dùng thang đo Likert (1932) giới thiệu, gồm 5 mức độ để đối tượng được điều tra lựa chọn Với thang đo Likert đo mức độ hài lòng từ thấp đến cao để lượng hoá nhận định của đối tượng được điều tra: 1= Rất không đồng ý; 2= Không đồng ý; 3=Không có ý kiến; 4 = Đồng ý; 5 = Rất đồng ý

- Kết quả khảo sát được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm excel

4.2 Phương pháp tổng hợp số liệu

- Từ các văn bản pháp luật, các báo cáo đánh giá của Chi cục Quản lý thị trường Bến Tre, tổng hợp xây dựng các cơ sở lý luận về hàng giả, công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả như: Khái niệm về hàng giả, bản chất hàng giả, đặc điểm hàng giả, phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả; các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả; kinh nghiệm đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả của các tỉnh, thành phố tại Việt Nam

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

- Từ các số liệu thu thập được tổng hợp xây dựng các bảng số liệu thống kê theo các tiêu chí phục vụ cho công tác đánh giá thực trạng công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả

4.3 Phương pháp phân tích

- Từ nguồn dữ liệu, bài viết, các báo cáo phân tích đánh giá về cơ cấu tổ chức

bộ máy quản lý, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, công tác đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường Bến Tre

- Về nguồn nhân lực: Tính toán cơ cấu về giới tính, độ tuổi và trình độ trên tổng số lao động của Chi cục; so sánh đánh giá sự tăng giảm qua các năm qua các chỉ số tuyệt đối và tương đối; đưa ra đánh giá về thực trạng trên cơ sở các số liệu tính toán và đánh giá mức độ tác động của thực trạng nguồn nhân lực đến công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả

- Phân bổ chỉ tiêu xử lý về hàng giả: Tính toán kết quả thực hiện về số vụ xử

lý trên chỉ tiêu giao ta được mức độ hoàn thành nhiệm

- Kết quả công tác xử lý vi phạm về hàng giả theo đơn vị hành chính và loại hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre giai đoạn 2015 - 2017

- Tính toán, tổng hợp số lượng, chủng loại hàng giả, so sánh sự tăng giảm qua các năm; đưa ra nhận xét đánh giá về sự tăng giảm các chủng loại Quản lý thị trường trong công tác chống hàng giả

- Chỉ tiêu về số lượng, chủng loại hàng giả đã xử lý giai đoạn 2015-2017

5 Kết cấu của luận văn

Đề tài gồm 03 phần, nội dung chính ở phần II được chia thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả

Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng công tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre

Chương 3: Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác chống sản xuất, kinh doanh hàng giả tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Bến Tre

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC

CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

1.1 Cơ sở lý luận về hàng giả

1.1.1 Khái niệm về hàng giả

Quan niệm về hàng giả đã xuất hiện ở nước ta trong nhiều năm trở lại đây, nhất là từ khi nước ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung bao cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả "Hàng giả" là sự kết hợp của 2 từ "hàng hóa" và "giả" Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Đồ vật trở thành hàng hóa phải có tính ích dụng đối với người dùng - giá trị sử dụng - nghĩa là được chi phí bởi lao động và khi đưa ra thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả Theo Từ điển tiếng Việt thì: "Hàng hoá là sản phẩm dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua quan hệ trao đổi mua - bán" [27] Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005: "Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai” [16]

Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được Kinh tế học hiện đại quan niệm hàng hóa bao gồm cả dịch vụ được cung ứng cho người tiêu dùng

Theo Từ điển tiếng Việt: "Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm ra với

vẻ bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật" [27]

Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở wikipedia thì hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao

bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua Cách hiểu này thực ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ theo thực tế của hàng giả mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp lý, thể hiện bản chất của hàng giả

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận hàng hóa là các sản phẩm vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian, có thể trao đổi, mua bán được

Theo khoản 8 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm

2013 quy định xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ thì hàng giả gồm:

“a) Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị

sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công

bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

c) Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký; không đủ loại dược chất

đã đăng ký; có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

d) Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công

bố áp dụng; không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác;

e) Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

f) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ (SHTT) quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005;

g) Tem, nhãn, bao bì giả

h) Tem, nhãn, bao bì giả gồm: Đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành,

mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác"[10] [11]

Theo điều 213 Luật SHTT ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội quy định hàng hoá giả mạo về SHTT:

“1 Hàng hoá giả mạo về SHTT theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này

2 Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo

hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý

3 Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan” [15]

Như vậy, tiếp cận trên cơ sở kinh tế chính trị Mác - Lênin, hàng giả có thể không phải là hàng hóa (có giá trị, kết tinh sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, nhưng không có giá trị sử dụng – tính ích dụng của hàng hóa ) hoặc là hàng hóa (có

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

có kết tinh hao phí lao động và có giá trị sử dụng nhất định) Tuy nhiên, hàng giả không tuân theo quy luật giá trị, trong lưu thông nó không tuân theo nguyên tắc ngang giá; trong giao dịch, một bên tham gia giao dịch không được tiếp cận đầy đủ thông tin về hàng hóa - bị lừa dối Giá trị của hàng hóa không phản ánh hao phí lao động xã hội cần thiết, giá cả hàng hóa luôn cao hơn rất nhiều hao phí lao động xã hội thực tế/cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó

Trên góc độ pháp lý, hàng giả là sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu, buôn bán trái pháp luật; pháp luật cấm các hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ… hàng giả; các hành vi vi phạm về hàng giả tùy theo tính chất, mức độ vi phạm

sẽ bị xử lý theo các quy định pháp luật có liên quan về hành chính hoặc hình sự

1.1.2 Đặc điểm của hàng giả

Hàng giả ngày càng đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã với công nghệ sản xuất ngày càng tinh vi, hiện đại Từ những sản phẩm hàng hóa tiêu dùng thông thường đến các loại hàng giả được sản xuất với công nghệ cao khó phân biệt với hàng thật Tuy nhiên, hàng giả vẫn có một số đặc điểm chủ yếu đó là: Thường

có chất lượng kém, phẩm chất thấp, không đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh, an toàn hoặc cũng có thể là hàng có chất lượng tốt nhưng vì chủ hàng không muốn chi phí tốn kém và mất thời gian cho việc quảng bá xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm của riêng mình; xúc tiến thương mại để sản phẩm ngày càng được thị trường tin dùng, tồn tại và phát triển lâu dài nên tìm mọi cách để sản phẩm của mình ẩn náu, núp dưới nhãn hiệu nổi tiếng của hàng hoá cùng loại thuộc hãng sản xuất - kinh doanh khác; nhằm tiêu thụ nhanh sản phẩm của mình để sớm thu hồi vốn và lợi nhuận bằng cách làm giả nhãn hiệu, nhái nhãn hiệu, kiểu dáng,… hàng hoá của công ty khác đã được người tiêu dùng ưa chuộng và tin dùng Do hàng giả chủ yếu là hàng chất lượng kém được sản xuất với giá thành hạ nhưng lại ẩn náu dưới danh nghĩa hàng thật có nhãn hiệu của các nhà sản xuất nổi tiếng được người tiêu dùng ưa chuộng nên hàng giả vẫn được tiêu thụ nhanh, nhiều và mang lại siêu lợi nhuận đặc biệt là tại những quốc gia mà thu nhập bình quân của người dân còn thấp Nhìn chung hàng giả có một số đặc điểm chủ yếu sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

Thứ nhất, hàng giả là những vật phẩm, hàng hoá được sản xuất, nhập khẩu,

buôn bán trái pháp luật

Thứ hai, hàng giả dựa trên các hàng hoá đã có trên thị trường, có những đặc

điểm, tính chất, kiểu dáng, nhãn hàng hóa hoặc các thông tin dấu hiệu của hàng thật, gây nhầm lẫn với hàng thật, hàng đang được bảo hộ Hàng giả thường có đặc điểm, tính chất, kiểu dáng của hàng thật, mô phỏng, sao chép các đặc điểm của hàng thật sao cho giống hàng thật để người tiêu dùng khó nhận biết, phân biệt Hầu hết hàng giả được sản xuất với mẫu mã, bao bì, kiểu dáng giống như hàng thật

Thứ ba, về chất lượng: Đối với nhóm hàng giả chất lượng thì hàng giả đều là

hàng hóa kém chất lượng, không có giá trị sử dụng, có rất ít giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với bản chất tự nhiên, công dụng, tên gọi, tiêu chuẩn công

bố, tiêu chuẩn áp dụng

Đối với nhóm hàng giả hình thức chất lượng thường không bằng hàng thật Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp hàng giả chất lượng tương đương so với hàng thật, việc làm giả về mẫu mã, bao bì nhằm giảm chi phí đầu tư, rút ngắn quá trình xâm nhập thị trường

Thứ tư, hàng giả được tạo ra nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng, xâm

hại quyền lợi của đơn vị sản xuất hàng thật Hàng giả không đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng do giá trị sử dụng của loại hàng này ít hơn, thậm chí gây nguy hại, không có giá trị sử dụng so với hàng thật gây tác hại trong khi người tiêu dùng phải chi phí một khoản tiền lớn hơn so với giá trị thực của hàng hóa Mục đích của việc làm hàng giả là làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với hàng thật để tiêu thụ hàng giả Mục đích này đạt được từ sự cố gắng mô phỏng những đặc điểm, tính chất của hàng thật, thể hiện qua những dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn Chính vì có các dấu hiệu, yếu tố gây nhầm lẫn với hàng thật mà hàng giả nhìn giống như hàng thật và người tiêu dùng mua nhầm hàng giả Hàng giả gây mất uy tín cho doanh nghiệp (DN) sản xuất ra hàng thật về chất lượng hàng hóa, gây thiệt hại về kinh tế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

Trên thực tế, có một số ít trường hợp người tiêu dùng có chủ ý khi mua hàng giả, biết là hàng giả nhưng vẫn mua vì ham giá rẻ, chạy theo thương hiệu, mốt… Trong trường hợp này mặc dù không bị lừa dối khi tham gia giao dịch nhưng quyền lợi của DN sản xuất ra hàng thật vẫn bị xâm hại, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, công bằng xã hội và thiết chế xã hội chủ nghĩa

Sản xuất và buôn bán hàng giả là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau và

có tính nguy hại như nhau Đặc điểm của hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả phụ thuộc rất nhiều vào loại hàng hóa bị làm giả bởi đối với mỗi loại hàng hóa khác nhau thì phương thức sản xuất, buôn bán hàng hóa khác nhau Ví dụ: Đối với các loại hàng hóa tiêu dùng thông thường như: Bột ngọt, diêm, bột giặt,…công nghệ sản xuất đơn giản, có cả hàng xuất xứ từ trong nước, nước ngoài và thường được bán ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; đối với các loại sản phẩm như: Thiết

bị tin học, viễn thông, thiết bị điện tử…thường là hàng do nước ngoài sản xuất, được bày bán chủ yếu ở thành thị và một số địa bàn ở nông thôn Nhưng nhìn chung hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Hoạt động trái với quy định của pháp luật;

- Thường được thực hiện lén lút, ít công khai, lẩn tránh sự quan sát của mọi người và cơ quan chức năng;

- Thường hoạt động trong điều kiện thiếu thốn về không gian, không đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn, kỹ thuật, môi trường…;

- Bất chấp mọi thủ đoạn để tiêu thụ hàng hóa và thu được lợi ích từ việc sản xuất, buôn bán hàng hóa giả như: Sử dụng công nghệ sản xuất thô sơ, rẻ tiền, nguyên liệu sản xuất không đảm bảo yêu cầu chất lượng, kỹ thuật, an toàn…;

- Tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giời biển vì lợi dụng ở những nơi này trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết, lại có tâm lý thích hàng ngoại, giá rẻ nên dễ lừa gạt; hơn nữa ở đây sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng thường chưa chặt chẽ, có nhiều sơ hở nên dễ trốn tránh

Có thể khẳng định rằng thủ đoạn sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng tinh

vi, xảo quyệt; đó là những hành vi gian dối, lừa đảo có tính phổ biến và nguy hại ở

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

mức cao đối với lợi ích của xã hội và người tiêu dùng và cũng có thể lên án các hành vi đó vì nó không loại trừ việc thu lợi nhuận từ các hành vi xâm hại sức khoẻ

và tính mạng con người, như sản xuất thuốc chữa bệnh giả, thực phẩm có chứa các độc tố nguy hiểm

1.1.3 Phân loại hàng giả

Trên thị trường hiện nay, nếu phân loại thì hàng giả có 4 loại như sau:

- Giả về chất lượng và công dụng

- Giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa

- Giả mạo về SHTT

- Các loại tem, nhãn, bao bì hàng hóa

Hàng hóa giả về chất lượng và công dụng: Là hàng hóa không có giá trị sử dụng; có chỉ tiêu chất lượng chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với công bố áp dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa

Hàng hóa giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: Là hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa hoặc giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa

Hàng hóa giả mạo về SHTT: Là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan

Các loại tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả: Gồm các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, ten chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa

Thông thường, hàng giả có chứa một hoặc nhiều dấu hiệu giả như trên

Ngày nay, hàng giả ngày càng được sản xuất rất tinh vi, gần giống với hàng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

thật nên rất khó phân biệt Mỗi loại sản phẩm hàng hóa có cách phân biệt khác nhau, các nhà sản xuất luôn đưa ra các dấu hiệu để phân biệt với hàng giả, tuy nhiên

ở mỗi thời điểm nhà sản xuất cũng thay đổi mẫu mã sản phẩm, hàng hóa vì vậy người tiêu dùng khó nắm bắt đầy đủ các dấu hiệu để phân biệt

Trên thực tế, bằng mắt thường người tiêu dùng có thể nhận biết hàng giả qua: bao bì, nhãn, các thông tin ghi trên sản phẩm hàng hóa; thường là về màu sắc, độ sắc nét, góc cạnh, bao bì… của hàng thật sắc nét hơn hàng giả

Nếu xem xét kỹ nhãn hàng hóa thì sẽ thấy ghi không đầy đủ hoặc sai (khi thử hoặc sử dụng sẽ lộ ra khuyết điểm so với hàng thật)

Nếu so sánh về giá thì hàng giả thường có giá rẻ hơn hàng thật

1.2 Lý luận về sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.1 Khái niệm về sản xuất, buôn bán hàng giả

Sản xuất hàng giả: Kinh tế chính trị Mác - Lênin xác định 3 yếu tố cơ bản

của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Trong đó, con người (sức lao động) tác động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động, biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã định nghĩa sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn

vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất

và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền

Từ đó có thể hiểu, sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để trao đổi; sản xuất hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động tạo ra hàng hóa giả bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, thu hoạch, đánh bắt, chế tạo, in ấn, gia công, đặt hàng, chế biến, chiết xuất, chế tác, tái chế, lắp ráp, sang chiết, nạp, đóng gói hàng giả Quá trình sản xuất hàng giả bắt đầu từ động cơ, mục đích là tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi phí; phương thức thực hiện bất chấp các quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức, chuẩn mực của xã hội; sản phẩm đầu ra của sản xuất là các loại hàng giả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

Buôn bán hàng giả: Theo khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005: “Mua bán

hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” [16] Trong đó, "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" [16] Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" [22]

Trong thực tế cuộc sống và các quy định hiện hành, các thuật ngữ "kinh doanh", "mua bán" và "buôn bán" thường được hiểu theo cùng một nghĩa Các hoạt động như "sản xuất", "đầu tư" thường được tách riêng để nhấn mạnh đặc thù của từng hoạt động Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận khái niệm

"buôn bán" là hoạt động mua, bán nói chung gắn với các hoạt động mua vào, bán ra hàng hóa nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể

Theo đó, buôn bán hàng giả là hoạt động mua vào bán ra hàng giả nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể Buôn bán hàng giả có liên hệ mật thiết với sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả là kênh phân phối, đầu tiêu thụ của sản xuất hàng giả; nếu không có kênh phân phối này thì hàng giả được sản xuất ra sẽ không đến tay người tiêu dùng Nói buôn bán hàng giả là thuần tuý nhìn từ góc độ thị trường Nhưng sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả là hai khâu thường gắn liền với nhau, có cùng bản chất Theo Luật Hình sự Việt Nam thì hành vi này bị xét xử theo một tội danh chung là “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả”

Theo đó, buôn bán hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động đưa hàng hóa giả vào lưu thông bao gồm mua, bán, chào hàng, tiếp thị, lưu giữ, vận chuyển, phân phối, trưng bày giới thiệu để bán, triển lãm để bán, khuyến mại hàng giả, xuất khẩu, nhập khẩu hàng giả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

1.2.2 Đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả

Ngày nay, tham gia vào hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả có đủ loại tổ chức và cá nhân thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả DN nhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài nhưng phần đông và phổ biến hơn cả là các DN ngoài quốc doanh và các hộ kinh doanh cá thể Có những tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả gần như mang tính chuyên nghiệp Họ tổ chức hoạt động thành những kênh, những đường dây khép kín, khá chặt chẽ trong việc sản xuất - giao nhận - vận chuyển - buôn bán - tiêu thụ hàng giả; trong đó có những quan hệ móc nối với các

tổ chức, cá nhân người nước ngoài để sản xuất hàng giả đưa vào tiêu thụ ở Việt Nam hoặc thậm chí được sản xuất ở trong nước rồi đưa qua biên giới để sau đó tìm cách nhập trở lại vào nước ta với nhãn mác hàng ngoại để lừa gạt người tiêu dùng

Cụ thể:

- Đối với các DN trong nước: Sản xuất nhái mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp,

sử dụng thương hiệu hàng hoá của nước ngoài để tiêu thụ tại Việt nam và thậm chí đã có trường hợp xuất khẩu hàng vi phạm nhãn hiệu ra nước ngoài; sản xuất giả hàng của những DN Việt Nam có sản phẩm chất lượng tốt, thị trường rộng lớn và nhu cầu tiêu thụ cao: Rượu bia, nước giải khát, nước mắm và nhập khẩu hàng hoá

có yếu tố vi phạm về sở hữu công nghiệp

- Các loại hình DN, tư nhân Việt Nam liên kết với DN, tư nhân nước ngoài để sản xuất tại nước ngoài, sau đó nhập khẩu vào Việt Nam tiêu thụ các loại hàng giả, hàng kém chất lượng, bao bì giả nhãn và giả nhãn hiệu hàng hoá

- Một số DN đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng sản xuất và tiêu thụ hàng giả Việc sản xuất hàng giả của loại đối tượng này thường ở dạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp dẫn đến tranh chấp nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu

- Hộ kinh danh cá thể sản xuất, tiêu thụ hàng giả: Đối tượng này sản xuất chủ yếu những mặt hàng tiêu dùng thông thường cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng: Xà phòng, dầu gội đầu, muối I-ốt, bột canh

- Khi nền kinh tế nước ta mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nhiều

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

loại hàng giả được sản xuất ở nước ngoài đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ, đồng thời xuất hiện DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sản xuất nhái theo mẫu mã, kiểu dáng, thương hiệu của các sản phẩm hàng hoá nước ngoài gây tranh chấp, khiếu nại vi phạm sở hữu công nghiệp, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Công ty nước ngoài sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam tiêu thụ: Chủ yếu là hàng cao cấp, có giá trị lớn như hàng điện tử, hàng may mặc cao cấp, các loại đồng hồ đeo tay đủ các nhãn mác, hàng mỹ phẩm cao cấp , gắn nhãn hiệu hàng hoá cùng loại của các hãng nước ngoài có thương hiệu nổi tiếng, như hàng điện tử, điện lạnh mang nhãn hiệu National, Sony đồng hồ gắn nhãn hiệu Rado, Omega nhưng thực chất hàng không phải do hãng có thương hiệu nổi tiếng đó sản xuất Tình trạng này đang xảy ra khá phổ biến, loại hàng giả này đã và đang được bán công khai trên thị trường nước ta mà chủ yếu là hàng Trung Quốc Những hàng giả trên xâm nhập thị trường Việt nam bằng các đường:

- Nhập lậu

- Nhập khẩu tiểu ngạch

- Thậm chí có thể cả nhập khẩu chính ngạch những hàng hoá có yếu tố vi phạm sở hữu công nghiệp (vi phạm nhãn hiệu, xuất xứ, kiểu dáng công nghiệp) hoặc do chính sách nhập khẩu phân luồng (xanh, vàng, đỏ) của Hải Quan (theo mô hình quản lý rủi ro) nên có một số loại hàng giả vào Việt Nam bằng con đường chính nghạch

1.2.3 Phương thức sản xuất, buôn bán hàng giả

1.2.3.1 Phương thức sản xuất hàng giả

Sản xuất, buôn bán hàng giả thường được tiến hành lén lút là chủ yếu, nhưng cũng có lúc, có loại được sản xuất và tiêu thụ công khai, việc sản xuất và tiêu thụ hàng giả ngày càng tinh vi, khó phát hiện; có loại quy trình sản xuất đơn giản nhưng cũng có loại quy trình sản xuất phức tạp, tinh xảo, đòi hỏi quy trình công nghệ cao

Hàng giả sản xuất trong nước hay nhập lậu từ nước ngoài đều có chung một mục tiêu đó là:

- Sản xuất những loại hàng hoá đang khan hiếm, thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn, lãi suất cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

- Sản xuất hàng hoá mang tên thương mại, địa chỉ sản xuất, nhãn hiệu hoặc một trong các yếu tố trên của cơ sở sản xuất kinh doanh khác có thương hiệu nổi tiếng hoặc có chất lượng tốt hơn, thị trường tiêu thụ nhiều

- Sản xuất theo đơn đặt hàng của các chủ tiêu thụ

- Sản xuất hàng hoá lấy nhãn hiệu, hàng hoá cùng loại của những cơ sở sản xuất khác đã nổi tiếng được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng để tiêu thụ được hàng hoá của mình sản xuất ra

- Sản xuất hàng hoá cùng loại, cùng công dụng nhái nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng - đây là tình trạng

vi phạm xảy ra khá nhiều hiện nay Việc làm giả nhãn hiệu của người khác rất tinh vi: Có khi nhái toàn bộ, có khi chỉ thay đổi một chi tiết nhỏ, thêm, bớt một chút làm cho người tiêu dùng không để ý, dễ nhầm lẫn với hàng thật

- Sản xuất hàng hoá có nhãn hàng hoá nhưng không ghi tên thương mại, địa chỉ, chất lượng, thành phần cấu tạo hoặc có ghi nhưng ghi không đầy đủ, không rõ ràng, ghi không đúng sự thật

- Sử dụng lại bao bì, nhãn hiệu của hàng chính phẩm đánh tráo ruột là hàng giả, bao bì nhãn hiệu thật (xi măng, dầu gội đầu )

- Hàng hoá được sản xuất theo phương thức thủ công, không có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, không tuân theo một quy trình sản xuất nhất định (ví dụ: đối với một số loại hàng hoá như mỹ phẩm - phải có sổ theo dõi pha chế thuốc, kiểm tra chất lượng, hồ sơ số lô sản xuất nhưng người sản xuất hàng giả không tuân thủ quy trình sản xuất trên) Mặt khác người sản xuất mua nguyên liệu trôi nổi trên thị trường không rõ nguồn gốc xuất xứ, chất lượng không đảm bảo để sản xuất Đây là một phương thức sản xuất hàng giả đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay mà có những mặt hàng giả gây nguy hiểm cho xã hội, cho sản xuất, cho sức khoẻ con người như thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, hoá mỹ phẩm

- Hàng cũ, hàng đã qua sử dụng được tân trang lại, được mông má, lên đời, đánh bóng như mới; hàng bị tráo đổi các linh kiện, phụ tùng chính hiệu chất lượng không đảm bảo như hàng chính hiệu nhưng được đem tiêu thụ như hàng mới, hàng nguyên gốc

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

- Tẩy xoá, sửa lại nhãn hàng đã quá hạn sử dụng, hàng chất lượng không đảm bảo an toàn thành hàng còn trong thời hạn sử dụng để tiêu thụ Phương thức này chủ yếu tiêu thụ hàng bao gói sẵn, đồ hộp như sữa hộp, thịt hộp, cá hộp, hoa quả hộp

- Hàng giả được sản xuất với mẫu mã bên ngoài rất giống, thậm chí nhìn bên ngoài còn đẹp hơn hàng thật, nếu không để 2 sản phẩm thật - giả cạnh nhau, thì người tiêu dùng không phân biệt được

Sản xuất luôn phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, trình độ hiểu biết, nhận thức của người tiêu dùng cũng ngày một nâng cao hơn nhưng các đối tượng sản xuất và tiêu thụ hàng giả ngày càng tinh vi hơn, có loại hàng giả được sản xuất với công nghệ hiện đại nên rất khó phân biệt Do đó, để

có thể phân biệt hàng thật - hàng giả trước hết cần dựa vào sự so sánh, đánh giá của nhà sản xuất ra loại hàng bị làm giả

Đặc biệt, thời gian gần đây đã xuất hiện tình trạng DN nước ngoài sản xuất, xuất khẩu hàng hoá giả thương hiệu, xuất xứ hàng Việt Nam Đây là vấn đề rất mới trong công tác chống hàng giả trong tình hình hiện nay cần được quan tâm để ngày càng đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng

1.2.3.2 Phương thức buôn bán hàng giả

Phương thức vận chuyển, giao nhận, mua bán hàng giả, xâm phạm SHTT cũng rất tinh vi, tùy từng chủng loại hàng hóa mà đối tượng vi phạm chọn phương thức vận chuyển phù hợp cả bằng đường không, đường bộ, đường thủy, chuyển fax nhanh

- Hàng giả có giá trị lớn, quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, thị trường tiêu thụ rộng, thì việc sản xuất và tiêu thụ rất tinh vi: Hàng giả rất giống hàng thật, thậm chí nhìn bề ngoài có khi đẹp hơn hàng thật nhưng chất lượng kém hơn hàng thật, hoặc giả về sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn thương mại )

Những loại hàng trên nhiều khi là hàng nhập khẩu, hàng cao cấp, người tiêu dùng không am hiểu nhiều về nhãn mác, xuất xứ, cấu tạo, đó là một yếu tố dẫn đến loại hàng giả này nhiều khi được sản xuất và tiêu thụ công khai

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

Sản xuất và buôn bán loại hàng ở dạng vi phạm này nhiều khi công khai như nhiều loại hàng hoá khác Những hành vi vi phạm này đã bị phát hiện, kiểm tra, xử

lý, nhiều trường hợp bắt đầu từ khiếu nại, khiếu kiện của chính nhà sản xuất ra sản phẩm hàng hoá đang bị làm giả

- Các loại hàng giả khác, phương thức tiêu thụ phổ biến ở các dạng sau: + Dùng nhiều hình thức, chiêu thức khuyến mại đánh vào tâm lý người mua

để tiêu thụ hàng giả, hàng nhái như: Giảm giá, mua hàng được tặng quà

+ Giá bán hàng giả thường rẻ hơn hàng thật để người mua tham rẻ mà tiêu thụ là phổ biến nhưng cũng có loại để tránh người tiêu dùng nghi ngờ thì hàng giả lại được bán với giá xấp xỉ hàng thật, thậm chí có loại người tiêu dùng biết là hàng giả nhưng vẫn chấp nhận mua, vì giá rẻ

+ Nhiều loại hàng hoá khi bán phải kèm theo phiếu bảo hành, nhưng đối với hàng giả, hàng nhái thì không phiếu bảo hành hoặc có nhưng là phiếu bảo hành giả mạo làm cho người tiêu dùng tin đó là hàng chính hiệu của hãng sản xuất có bảo hành

+ Lừa dối người tiêu dùng bằng cách quảng cáo sai, quảng cáo quá sự thật về công dụng, chất lượng hàng hoá, xuất xứ , hàng chất lượng thấp nhưng quảng cáo

và bán với giá như hàng có chất lượng cao

+ Lợi dụng người tiêu dùng hiểu biết còn hạn chế về mặt hàng, về chất lượng, nhãn hiệu hàng hoá ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn để đưa hàng giả đến tiêu thụ Thậm chí có loại hàng, có trường hợp đưa cả hàng có công dụng khác hàng thật nhưng giới thiệu, quảng cáo công dụng như hàng thật, tráo trộn hàng giả lẫn vào hàng thật để tiêu thụ Phương thức tiêu thụ này không những được thực hiện

ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn mà ngay tại thành phố lớn, thị xã cũng có nhiều lọai hàng hoá người tiêu dùng không am hiểu nhiều, thiếu hiểu biết về công dụng, cách sử dụng, chất lượng, xuất xứ thì hàng giả cũng được đưa ra tiêu thụ (thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm )

- Có một số mặt hàng giả, hình thức tiêu thụ đa dạng hơn như sắt thép giả, xi măng giả đưa vào các hộ kinh doanh bán lẻ tiêu thụ; đưa vào chính đại lý của nhà sản xuất ra hàng hoá chính hiệu để tiêu thụ; các chủ thầu, chủ công trình lớn vì lợi

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

nhuận đã lợi dụng hoặc móc ngoặc, thông đồng với cơ quan quản lý, giám sát để tiêu thụ hàng giả

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất, buôn bán hàng giả

- Nhân tố rất quan trọng là cạnh tranh trên toàn cầu và trong nước ngày càng gay gắt, quyết liệt mang tính sống còn, hệ quả của nó là các DN, cá nhân không đủ điều kiện cạnh tranh theo pháp luật nảy sinh ra các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, không chú trọng xây dựng văn hoá kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp… dẫn tới con đường sản xuất, buôn bán hàng giả

- Hiểu biết của DN và người tiêu dùng về bảo hộ SHTT và chống sản xuất, buôn bán hàng giả: Hiện nay sự am hiểu và quan tâm của DN đối với quyền SHTT chưa đúng mức, chưa đầy đủ Vì vậy, khi hàng hoá thuộc quyền SHTT của DN bị vi phạm thì DN đó không có cơ sở pháp lý để kiện tụng hoặc tố cáo Mặt khác do không quan tâm đến quyền SHTT đã được xác lập của người khác nên DN dễ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của các DN khác Đối với đa số người tiêu dùng, các hiểu biết về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, sở hữu công nghiệp và chống hàng giả cũng chưa được phổ cập; vì vậy họ thường dễ bị nhầm lẫn khi mua hàng và khi phát hiện ra hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hàng giả thì thường lúng túng không biết phải làm gì

- Thủ đoạn sản xuất và buôn bán hàng giả ngày càng tinh vi hơn do sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức, nhưng phổ biến nhất vẫn là các loại hàng giả về chất lượng, công dụng, giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ

- Việt Nam nằm cạnh trung tâm sản xuất, buôn bán hàng giả lớn nhất thế giới

là Trung Quốc, có tác động rất lớn đối với thị trường nội địa

- Quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng mở rộng, không chỉ ở trong nước mà còn phát triển với các nước trên thế giới và trong khu vực; thông tin, khoa học công nghệ phát triển nhanh, bên cạnh phần tích cực của nó, thì những kẻ sản xuất – buôn bán hàng giả cũng triệt để lợi dụng khai thác lợi thế này Trong quá trình phát triển kinh tế, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế và cuối cùng là hệ thống pháp luật của nước ta mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa hoàn chỉnh

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

- Việc mở cửa phát triển kinh tế đối ngoại thu hút mạnh người nước ngoài và Việt kiều vào Việt Nam đầu tư, liên doanh, liên kết, tham quan du lịch, đồng thời kéo theo hoạt động sản xuất - buôn bán hàng giả, hàng nhái sản phẩm của các cơ sở sản xuất nổi tiếng trên thế giới và thông qua đó họ lợi dụng vận chuyển và sử dụng séc chuyển tiền giả, thẻ Master card giả, tiền Việt Nam, ngoại tệ giả và các loại giấy

tờ giả khác

1.2.4.1 Các nguyên nhân chủ quan

- Công tác quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều bất cập (về quy định pháp luật, chính sách chưa đủ và đồng bộ, chưa hoàn thiện; trình độ nghiệp vụ trong công tác kiểm tra còn hạn chế, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức, sự phối hợp giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ )

- Công tác kiểm soát nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan và chống buôn lậu chưa đủ sức ngăn chặn được nguồn hàng giả từ nước ngoài xâm nhập vào thị trường nước ta Hơn nữa công tác chống hàng giả nhập khẩu qua biên giới chưa được quan tâm đúng mức và chưa gắn với công tác chống buôn lậu nhằm ngăn chặn từ gốc hàng giả nhập khẩu lưu thông trên thị trường

- Cơ chế chính sách và trang bị đảm bảo cho hoạt động chống hàng giả của các cơ quan thực thi còn thiếu

- Nhiều DN chưa nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm, lợi ích phát triển trong việc tự bảo vệ sản phẩm của mình tránh bị làm nhái, làm giả

- Công tác tuyên truyền thu hút người tiêu dùng cùng tham gia vào cuộc đấu tranh này chưa tốt

- Sự phối hợp giữa các lực lượng trên từng địa bàn; giữa cửa khẩu, biên giới với nội địa và với các DN chưa thường xuyên, chặt chẽ; công tác đấu tranh chưa triệt để tận gốc, thiếu sự chỉ đạo tập trung thống nhất nhằm tạo ra sự chuyển biến đáng kể

1.2.4.2 Các nguyên nhân khách quan

- Sản xuất, buôn bán hàng giả thu lợi nhuận cao là lực hấp dẫn mạnh đối với những kẻ sản xuất, buôn bán hàng giả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

- Một nhân tố được coi là quan trọng là hàng giả với giá cả rất rẻ đánh đúng vào tâm lý người tiêu dùng bao giờ cũng muốn mua hàng rẻ Đặc biệt, là người dân sống tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thu nhập thấp và thiếu thông tin hàng hóa

- Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người Việt Nam còn ưa chuộng hàng ngoại và hàng có nhãn hiệu nổi tiếng, trong khi không đủ trình độ, khả năng phân biệt hàng nội - hàng ngoại, hàng thật - hàng giả đã tạo cơ hội và môi trường thuận lợi cho hàng giả mang nhãn mác ngoại được nhập khẩu và lưu thông trên thị trường

- Với trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại, việc sản xuất hàng giả được thực hiện rất nhanh nhạy với những lô hàng lớn và cũng được ngụy trang bằng công nghệ hiện đại, tinh xảo để dễ đánh lừa người tiêu dùng Thêm vào đó là hệ thống các kênh phân phối lưu thông đã hình thành trên thị trường, nhất

là hệ thống tiêu thụ của các nhà sản xuất sản phẩm chính hiệu, hệ thống bán lẻ khó kiểm soát chính là nơi để hàng giả, hàng nhái trà trộn, đan xen tiêu thụ lẫn với hàng thật, hàng chính hiệu

- Các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan có nền kinh tế hàng hoá phát triển hơn, tạo nên sức ép lớn về hàng hoá đối với thị trường Việt Nam; có nhiều tổ chức quốc tế, DN, cá nhân nước ngoài chuyên làm hàng giả, hàng kém chất lượng để đưa vào nước ta

- Chống hàng giả nói chung và chống hàng giả có nguồn gốc nhập khẩu lưu thông trên thị trường nói riêng là công việc khó khăn, phức tạp trong khi năng lực, trình độ nghiệp vụ, thông tin và điều kiện vật chất để thực hiện công tác này của các lực lượng có chức năng chống hàng giả chưa đáp ứng yêu cầu

1.3 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả

1.3.1 Quan điểm của Đảng về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Nhận thức rõ những tác hại của hàng giả cũng như tình trạng báo động của nạn hàng giả đối với kinh tế xã hội và cộng đồng, Đảng ta đã kịp thời có những chiến lược và chủ trương chính sách phù hợp nhằm chấn chỉnh lại sản xuất và lưu thông hàng hoá nội địa

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

Khi đề ra đường lối đổi mới và chủ trương chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường như một chiến lược lâu dài, Đảng ta đã thấy rõ tính hai mặt của cơ chế này: Vừa có những tác dụng tích cực to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, vừa có những tác động tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội Từ

đó, một trong những quan điểm cơ bản của Đảng ta là: Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nnước, nhằm phát huy tác dụng tích cực đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế này

1.3.2 Các chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Các quan điểm, chủ trương của Đảng về sản xuất và buôn bán hàng giả trong

cơ chế kinh tế thị trường đã được Nhà nước ta từng bước thể chế hoá thành các văn bản pháp luật và tổ chức các lực lượng triển khai thực hiện trong những năm qua

Ngày 27/10/1999 Thủ tướng đã ra Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, nội dung của Chỉ thị có chỗ nêu rõ "các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải coi việc chống sản xuất, buôn bán hàng giả là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài Phải có biện pháp đồng bộ, kiên quyết để đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả Mọi hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ hàng giả được phát hiện đều phải xử lý nghiêm theo pháp luật Những vụ việc nghiêm trọng phải kịp thời đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục chung" Đồng thời Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ thị và giao nhiệm vụ cụ thể tới từng bộ, ngành, UBND địa phương cũng như mọi DN và người dân trong công tác đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả

Như vậy, trong quá trình đổi mới xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã luôn nhìn nhận và có quan điểm rõ về những mặt trái của cơ chế thị trường, trong đó có các hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và luôn coi việc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực này là một nhiệm

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

vụ quan trọng và lâu dài và chủ trương đấu tranh rất kiên quyết, xử lý nghiêm các hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích của người tiêu dùng cũng như lợi ích của các nhà DN hoạt động đúng pháp luật

* Chính sách hiện hành:

1) Các văn bản luật: Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật Doanh nghiệp, Luật Khoa học công nghệ, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá, Cụ thể:

a) Bộ luật Dân sự năm 2015:

b) Bộ luật hình sự số: 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực từ 01/07/2016 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số: 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018:

c) Luật thương mại năm 2005:

d) Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật Số: 36/2009/QH12 ngày ngày 19 tháng 06 năm 2009 của Quốc Hội

đ) Luật cạnh tranh năm 2004:

e) Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2011:

f) Luật Doanh nghiệp 2005

2) Các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đối với các hành

vi vi phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT bao gồm:

- Nghị định số: 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

- Nghị định số: 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt đông thương mại, sản xuất mua bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số: 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ

- Nghị định số: 47/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 của Chính phủ quy định

xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số: 109/2011/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm

2011 của Chính phủ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

Và hệ thống các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành; các văn bản pháp quy khác Đây thực sự là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong việc tạo dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh chống hàng giả, đồng thời góp phần từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý thuận lợi khuyến khích các hoạt động kinh tế thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, phát triển bảo đảm tính lành mạnh và có định hướng của Nhà nước

Như vậy trong mỗi lĩnh vực về cơ bản đã hình thành tương đối đầy đủ các chế định pháp lý tương ứng liên quan, mang tính hệ thống pháp lý từ cao xuống thấp, được quy định và hướng dẫn tương đối chi tiết, đầy đủ và cụ thể, các hành vi

vi phạm liên quan đến hàng giả, phần lớn đã được điều chỉnh thích hợp trong các văn bản pháp luật hiện hành

1.3.3 Quy định chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Quản lý thị trường trong công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả

Quản lý thị trường (QLTT) là lực lượng được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong cả nước, có chức năng kiểm tra, kiểm soát trên thị trường nội địa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, công nghiệp

Lực lượng QLTT là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền SHTT; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm và gian lận thương mại; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy mẫu sản phẩm hàng hóa, tang vật, phương

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

tiện có dấu hiệu vi phạm, trưng cầu giám định, kiểm nghiệm mẫu vật là hàng hóa, tài liệu, giấy tờ, vật chứng liên quan đến vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân

- Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ phục vụ hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và xử lý VPHC

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý địa bàn, kết quả kiểm tra, thanh tra chuyên ngành, xử lý vi phạm hành chính và cơ sở dữ liệu khác phục vụ hoạt động của lực lượng QLTT; tổng hợp, báo cáo kết quả kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của lực lượng QLTT với cấp có thẩm quyền; đề xuất, kiến nghị ban hành, sửa đổi các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được giao

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên ngành, xử lý VPHC

- Tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện các nội dung quản lý nhà nước

Với chức năng, nhiệm vụ lực lượng QLTT trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ ngày càng khẳng định vai trò của mình trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm về SHTT, vệ sinh an toàn thực phẩm và các hành vi vi phạm khác được pháp luật quy định, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của DN và người tiêu dùng, góp phần ổn định trật tự thị trường, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Theo quy định hiện hành của pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp chống sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm: Lực lượng QLTT (ngành Công Thương); lực lượng Cảnh sát kinh tế (ngành Công an); lực lượng Hải quan (ngành Tài chính); Thanh tra chuyên ngành Công Thương, Khoa học - Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Y tế; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển cũng có chức năng, thẩm quyền chống hàng giả

Các lực lượng có thể chủ động tổ chức công tác đấu tranh chống hàng giả hoặc phối hợp liên ngành tổ chức thực hiện tùy theo tính chất, đặc thù vụ việc Công tác phối hợp được thực hiện theo Kế hoạch, chương trình (thông qua các đợt cao điểm

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

đấu tranh chống hàng giả hoặc tổ chức kiểm tra chống hàng giả theo chuyên đề, chủ điểm…) hoặc mang tính đột xuất, theo yêu cầu thực tế phát sinh của vụ việc

Lực lượng QLTT là lực lượng chính, chủ công trong chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên thị trường nội địa; được tổ chức chuyên nghiệp, bám sát thị trường, tổ chức kiểm tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất, buôn bán hàng giả và các hành vi vi phạm trong nhiều lĩnh vực khác nhau theo chức năng nhiệm vụ được giao

Tại cấp tỉnh, theo quy định tại Nghị định 10/CP ngày 23/01/1995 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của QLTT và Nghị định 27/2008/NĐ-CP ngày 13/3/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 10/CP thì Chi cục QLTT là cơ quan trực thuộc Sở Công Thương giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước và kiểm tra việc tuân theo pháp luật các hoạt động thương mại, công nghiệp của tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thương mại; đề xuất với Sở Công Thương và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương

kế hoạch, biện pháp về tổ chức thị trường, bảo đảm lưu thông hàng hoá theo pháp luật, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các vi phạm trong hoạt động thương mại, công nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thương mại cho các tổ chức và cá nhân hoạt động liên quan đến thương mại trên địa bàn tỉnh Chống sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong số rất nhiều nhiệm vụ khác của Chi cục như chống hàng cấm, hàng kém chất lượng, hàng hóa nhập lậu, vi phạm đăng

ký kinh doanh, điều kiện kinh doanh… và các hành vi gian lận thương mại khác

Bảng 1.1 So sánh số vụ xử lý hàng giả của Chi cục QLTT trên tổng số vụ xử lý

hàng giả của các cơ quan chức năng trên toàn tỉnh

Nội dung Tổng số vụ kiểm tra, xử lý của Chi cục QLTT

(Nguồn: Thường trực Ban Chỉ đạo 389 tỉnh)

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

Từ số liệu bảng 1.1 nêu trên ta thấy lực lượng QLTT tỉnh Bến Tre là lực lượng chủ lực trong hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong các cơ quan ban ngành của tỉnh Bến Tre Cụ thể, năm 2015 kiểm tra xử lý 70 vụ trong tổng số

120 vụ kiểm tra xử lý của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, chiếm 75%; năm 2016 kiểm tra xử lý 71 vụ trong tổng số 142 vụ kiểm tra xử lý của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, chiếm 50%; năm 2017 kiểm tra xử lý 54

vụ trong tổng số 71 vụ kiểm tra xử lý của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, chiếm 76% Điều này cho thấy lực lượng QLTT là lực lượng tiên phong trong công tác chống sản xuất, buôn bán hàng giả trong các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tuy nhiên xét về quy mô thì đa phần các vụ kiểm tra, phát hiện

và xử lý vi phạm còn nhỏ lẻ, tập trung ở các hộ kinh doanh với quy mô nhỏ

* Nội dung chống sản xuất, buôn bán hàng giả của QLTT

Hàng hóa nói chung, hàng giả nói riêng là đối tượng thuộc Nhà nước điều chỉnh, quản lý Nhà nước không thừa nhận hàng giả nhưng trên thực tế hàng giả vẫn tồn tại, do đó Nhà nước vẫn phải quản lý Tuy nhiên, Nhà nước không quản lý hàng giả ở góc độ hàng hóa mà quản lý hàng giả thông qua công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại trên thị trường Và vấn đề đặt ra là Nhà nước quản lý công tác phòng, chống hàng giả như thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa

- Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả là hoạt động thực thi pháp luật của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh

và hoạt động thương mại thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chất lượng hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa, quyền SHTT, sở hữu công nghiệp, về đăng ký kinh doanh, xử lý các hành vi vi phạm trong sản xuất kinh doanh hàng hóa… được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với hàng hóa, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả Pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, kinh phí cho công tác điều tra, xác minh, giám định, xử lý các vụ việc về hàng giả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

- Quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả còn thể hiện ở sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng như: Công an, Hải quan, Thương mại, Khoa học công nghệ, Đo lường chất lượng, văn hóa, … thông qua các phương tiện thông tin (báo, đài …) , tuyên truyền, công cụ thanh tra, kiểm tra, công tác phối hợp trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hàng giả

Chống sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế - hoạt động quản lý sản xuất, buôn bán hàng hóa trên thị trường của lực lượng QLTT

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện: Lực lượng QLTT, công chức QLTT

Thứ hai, về đối tượng: Là hàng giả và các hoạt động sản xuất, buôn bán

hàng giả, các tổ chức cá nhân sản xuất, buôn bán hàng giả

Thứ ba, về mục tiêu: Kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới triệt tiêu hàng

giả, sản xuất, buôn bán hàng giả

Thứ tư, về nội dung: Đối với Chi cục QLTT cấp tỉnh, trong phạm vi nghiên

cứu của đề tài, chống sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm:

1/ Tổ chức bộ máy chuyên hoạt động chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn

2/ Đánh giá, dự báo tình hình thị trường liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả và tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn

3/ Lập kế hoạch, phương án kiểm tra, giám sát, thanh tra trong công tác quản

lý, phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn

4/ Phân bổ lực lượng, bố trí nhân lực trong việc chống sản xuất và buôn bán hàng giả

5/ Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, trang bị kiến thức cho cán bộ công chức trong đơn vị

6/ Bố trí, cung cấp, trang bị cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho các Phòng, Đội QLTT và cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

7/ Tổ chức tuyên truyền chống sản xuất, buôn bán hàng giả

8/ Tổ chức công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong sản xuất, buôn bán hàng giả

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 23/09/2019, 12:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại tỉnh Bến Tre (2015, 2016, 2017), Báo cáo kết quả công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại
2. Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường (2015), Sổ tay chống hàng giả và thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chống hàng giả và thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam", Nxb Lao động "-
Tác giả: Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường
Nhà XB: Nxb Lao động "-" Xã hội
Năm: 2015
3. Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường (2017), Sổ tay chống hàng giả và thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chống hàng giả và thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Công Thương, Cục Quản lý thị trường
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2017
4. Bộ trưởng Bộ Công Thương (2013), Thông tư số: 09/2013/TT-BCT ngày 02 tháng 5 năm 2013 Quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 09/2013/TT-BCT ngày 02 tháng 5 năm 2013 Quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của Quản lý thị trường
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Công Thương
Năm: 2013
5. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Thông tư số: 11/2015/TT- BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 Quy định chi tiết và hường dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 11/2015/TT-BKHCN ngày 26 tháng 6 năm 2015 Quy định chi tiết và hường dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2015
6. Chi cục QLTT tỉnh Bến Tre (2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Báo cáo kết quả công tác quản lý thị trường, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác quản lý thị trường
7. Chính phủ nước CHXHCNVN (1995), Nghị định số: 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Quản lý thị trường
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 1995
8. Chính phủ nước CHXHCNVN (2008), Nghị định số: 27/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: 27/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 10/CP ngày 23 tháng 01 năm 1995
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2008
9. Chính phủ nước CHXHCNVN (2013), Nghị định số: 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước CHXHCNVN (2013)," Nghị định số: 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2013
10. Chính phủ nước CHXHCNVN (2013), Nghị định số: 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt độngĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCNVN
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w