1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu giá trị của nhĩ lượng với sonotubometry trên bệnh nhân viêm VA mạn tính có chỉ định phẫu thuật

83 153 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 12,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sonotubometry ra đời dựatrên nguyên lý đánh giá sự đóng mở của vòi nhĩ thông qua sự thay đổicường độ âm thanh từ nguồn phát âm ở mũi thu được ở ống tai ngoài khi... Phương pháp Sonotubom

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

VA (Végétation Adénoids) là tổ chức lympho trong vòng bạch huyếtWaldeyer bao quanh hầu họng Do đặc điểm cấu tạo và vị trí giải phẫu, VAthường xuyên tiếp xúc với tác nhân gây bệnh nên rất hay bị viêm

Viêm VA là bệnh lý thường gặp, chiếm khoảng 20 – 30% nhiễm khuẩn

hô hấp trên ở trẻ em [1] Tình trạng viêm và quá phát của VA có thể gây ra cácnhững biến chứng tại các cơ quan lận cận, đặc biệt là làm rối loạn chức năngvòi nhĩ; từ đó gây ra các bệnh lý về tai giữa như viêm tai ứ dịch, xẹp nhĩ(34%) hoặc cholestetoma (30%) [2],[3],[4] Theo Wang Wuqing (2010), tỷ lệviêm tai giữa ứ dịch ở trẻ em có VA quá phát có thể lên đến 72,8% [5] Nhữngbệnh lý này gây ảnh hưởng đến sức nghe, sự phát triển ngôn ngữ, thể chất vàtrí tuệ của trẻ [6] Do vậy, chẩn đoán sớm rối loạn chức năng vòi nhĩ là hếtsức cần thiết để điều trị và phòng các biến chứng

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán rối loạn chức năng vòi nhĩ Cácphương pháp cổ điển như Valsava, Politzer, Toynbee… đơn giản, dễ áp dụngnhưng có độ nhạy, độ đặc hiệu không cao và khó thực hiện ở trẻ nhỏ [2] Đonhĩ lượng là phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay Phương pháp nàyđánh giá áp lực trong tai giữa, qua đó đánh giá được chức năng thông khí củavòi nhĩ Đây là phương pháp khách quan, dễ thực hiện ở cả người lớn và trẻ

em với độ nhạy và độ đặc hiệu cao; tuy nhiên, không đánh giá được sự đóng

mở của vòi nhĩ

Năm 1869, Politzer là người đầu tiên mô tả hiện tượng dẫn truyềnsóng âm qua vòi nhĩ, đây là cơ sở ban đầu của nguyên lý đo chức năng vòinhĩ bằng âm thanh (Sonotubometry) sau này Sonotubometry ra đời dựatrên nguyên lý đánh giá sự đóng mở của vòi nhĩ thông qua sự thay đổicường độ âm thanh từ nguồn phát âm ở mũi thu được ở ống tai ngoài khi

Trang 2

vòi nhĩ mở [7 ] Theo Jonathann (1986), phương pháp này có độ nhạy và độđặc hiệu cao hơn nhĩ lượng trong đánh giá chức năng thông khí của vòi nhĩ

ở người lớn [8 ] Phương pháp Sonotubometry đã được sử dụng phổ biếntrên thế giới; tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào trongchẩn đoán rối loạn chức năng vòi nhĩ ở trẻ em có viêm VA mạn tính

Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đối chiếu giá trị của nhĩ lượng với Sonotubometry trên bệnh nhân viêm VA mạn tính có chỉ định phẫu thuật”

với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả chức năng thông khí của vòi nhĩ qua phương pháp đo nhĩ lượng

và Sonotubometry trên bệnh nhân viêm VA mạn tính có chỉ định phẫu thuật.

2 Đối chiếu giá trị nhĩ lượng và Sonotubometry để ứng dụng trong chẩn đoán rối loạn chức năng thông khí của vòi nhĩ.

3

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ CỦA VÒI NHĨ

Hình 1.1 Giải phẫu của vòi nhĩ [ 9 ]

1.1.1 Phôi thai học

Niêm mạc hòm nhĩ có nguồn gốc từ lá thai trong, sau đó ống biểu mô xâmnhập vào trung bì, tiến về phía mê nhĩ Sụn loa vòi xuất hiện từ tháng thứ 4.Phần xương xuất hiện vào tháng thứ 5 từ mầm của xương nhĩ và xương đá [2]

1.1.2 Giải phẫu của vòi nhĩ

Vòi nhĩ – vòi Eustachian là một ống xương sụn, nối liền thành trướchòm nhĩ với thành bên họng [10] Vòi nhĩ chia làm 2 phần: 1/3 sau trên là phầnxương , 2/3 trước dưới là phần sụn và màng, chỗ tiếp nối hẹp nhất là eo vòi

- Phần xương: nằm ngay dưới ống cơ búa, liên tiếp với thành trước của

hòm nhĩ [11] Cấu tạo gồm 3/4 trên – trong là một rãnh sâu, tạo thành

ở mặt ngoài – trước của xương đá, 1/4 dưới – ngoài là một mảnh từxương nhĩ

Trang 4

- Phần sụn: là phần chính thức của vòi nhĩ, hình lòng máng, lõm ở phía

dưới, tạo thành bờ sau trong và trên của vòi Phần xơ nối liền 2 mépsụn Theo trục dọc của vòi có nhiều đường nứt chia sụn thành 4 – 6mảnh riêng biệt, nối liền nhau bằng tổ chức xơ và xếp chồng lên nhaunhư ngói lợp

+ Lòng vòi: có thể chia làm 3 phần Tầng trên là vòm, tầng giữa hẹphơn là cổ, tầng dưới là đáy có các nếp niêm mạc

+ Loa vòi: giãn nở được, mở ra ở thành bên của vòm họng

7 Cơ căng màn hầu

8 Cơ nâng màn hầu

9 Phần màng quanh vòi nhĩ

10 Cơ vòi hầu

Hình 1.2 Cấu trúc của vòi nhĩ [ 2 ]

1.1.3 Cấu trúc mô học

- Phần sụn: được bao phủ bởi niêm mạc đường hô hấp

+ Biểu mô trụ có lông chuyển chứa nhiều tế bào nhầy hoặc tuyến nhày.+ Lớp đệm: rất phát triển ở phần họng, chứa nhiều sợi chun, mạch máuchủ yếu là tĩnh mạch, các ống tuyến nang – ống tiết thanh dịch nhày + Mô lympho ở miệng loa vòi, có khi phát triển thành đám gọi làamidan vòi hay amidan Gerlach

- Phần vòi xương: niêm mạc mỏng hơn, biểu mô với các tế bào thấp

hơn, lông chuyển ít hơn, lớp đệm mỏng hơn, tuyến tiết ít hơn, không

Trang 5

có mô lympho là kiểu niêm mạc chuyển tiếp giữa niêm mạc đường hô

7 Cơ nâng màn hầu

Hình 1.3 Bộ máy vận động của vòi nhĩ [ 9 ]

Khi nghỉ ngơi, vòi nhĩ được đóng lại thụ động Vòi nhĩ được mở khingáp, nuốt hoặc hắt hơi cho phép cân bằng áp lực giữa tai giữa và áp lựckhông khí trong vòm mũi họng Cơ đóng vai trò quan trọng nhất trong quátrình này là cơ căng màn hầu [12]

- Cơ căng màn hầu: khi cơ co thì kéo phần trước – ngoài của phần sụn

xuống dưới và ra ngoài làm vòi sụn giãn nở

- Cơ nâng màn hầu: xuất phát từ phần thấp nhất của xương đá, đi qua

cơ xiết họng, bám tận vào khẩu cái mềm [13] Khi cơ co thì nâng nềnvòi, mở rộng vòi bằng cách kéo tấm giữa, gờ loa vòi ra sau và vàotrong

- Cơ căng màng nhĩ: gắn một phần lên sụn vòi - xương tiếp giáp sụn

nên khi co làm mở vòi nhĩ ở chỗ tiếp nối giữa phần sụn và xương

- Các thành phần khác

Trang 6

+ Bản lề elastin: phần nối giữa thành giữa và thành bên của sụn vòi rất

giàu sợi elastin tạo thành bản lề, giữ vòi nhĩ đóng khi các cơ giãn ra

+ Lớp mỡ Ostmann: ở giữa cơ căng màn hầu và vòi nhĩ, giúp sự đóng vòi

nhĩ và bảo vệ tai giữa khỏi sự trào ngược dịch từ mũi họng [14], [10]

1.1.5 Đặc điểm giải phẫu của vòi nhĩ ở trẻ em

Hình 1.4 Đặc điểm giải phẫu của vòi nhĩ [ 15 ] (A Vòi nhĩ ở trẻ em, B Vòi nhĩ ở người lớn)

- Chiều dài: ngắn hơn ở người lớn, chiều dài khi mới đẻ là 15mm bằng

khoảng 1/2 người trưởng thành, 1 tuổi là 20mm, 4 tuổi là 30mm

- Hướng: nằm ngang hơn, khi mới sinh ra góc tạo với mặt phẳng ngang là 10o

Từ trên 7 tuổi góc này là giống người lớn (45o)

- Eo: Vòi nhĩ trẻ em thẳng, hầu như không có eo.

- Sụn vòi: mềm hơn, dễ xảy ra sự trào ngược dịch mũi họng vào vòi nhĩ

- Mật độ elastin: thấp hơn, mật độ tế bào sụn nhiều hơn người lớn, làm cho vòi

nhĩ trẻ em mềm hơn

- Lớp đệm mỡ: thể tích nhỏ hơn ở trẻ em.

- Góc tạo bởi cơ căng màn hầu và sụn vòi: ở trẻ em rộng hơn ở phần họng mũi

của vòi và giảm dần ra sau về phần tai giữa của vòi Ở người lớn, góc này ổnđịnh trong toàn bộ chiều dài của vòi nhĩ

Trang 7

Do vậy, vòi nhĩ ở trẻ em rộng hơn, ngắn hơn, thẳng hơn, mềm hơn vànằm ngang hơn, tạo điều kiện cho viêm nhiễm từ vòm mũi họng vào tai giữa.

Sự khác biệt giữa vòi nhĩ trẻ em và người lớn có thể liên quan đến chức năngvòi kém hiệu quả ở trẻ em, nên viêm tai giữa thường gặp ở trẻ em [16]

1.1.6 Chức năng sinh lý của vòi nhĩ: có 3 chức năng cơ bản.

Hình 1.5 Chức năng sinh lý của vòi nhĩ [ 16 ]

- Bảo vệ chống áp lực âm và chất xuất tiết từ mũi họng lên hòm nhĩ

- Dẫn lưu các chất xuất tiết ở hòm nhĩ vào vòm mũi họng

- Thông khí giúp cân bằng áp lực không khí giữa tai giữa và bên ngoài,đổi mới và bù lại lượng oxy đã bị hấp thụ ở tai giữa Đây là chứcnăng quan trọng nhất của vòi nhĩ

1.2 ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG VÒI NHĨ QUA ĐO NHĨ LƯỢNG VÀ SONOTUBOMETRY

Trang 8

- Năm 1867, Lucae đã đo trở kháng trên các vật mẫu tai giữa mà độcăng của màng nhĩ thay đổi được và cũng đo trên tai người Schuster

đã tạo ra cầu đo trở kháng cơ học sau này để củng cố thêm [17]

- Năm 1946, Metj đã công bố kết quả nghiên cứu cơ bản về đo trởkháng tai [18] Sau đó, nhiều loại máy đo trở kháng đã được sáng chế(Zwislocki…), nhưng các số đo trở kháng tuyệt đối tại màng nhĩ tảnmạn nên các kết quả này sớm bị rơi vào quên lãng

- Năm 1960, Terkilsen và Nielsen dựa vào nguyên lý cầu điện trởWheatstone đã chế tạo ra cầu điện âm học vừa đo trở kháng tuyệt đốivừa đo trở kháng tương đối Phần đo trở kháng tuyệt đối được đo ở cácmáy thế hệ cũ, không có ứng dụng lâm sàng nên được loại bỏ trong cácmáy thế hệ mới [19]

- Những năm về sau, các máy thế hệ mới được chế tạo gồm 2 phần làphần nhĩ lượng và phần đo phản xạ cơ bàn đạp Từ đó, các máy thế hệmới này được áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới

1.2.1.2 Cấu tạo máy đo

Hình 1.6 Cấu tạo máy đo nhĩ lượng [ 2 ]

Bộ phận nút kín ở ống tai ngoài có 3 lỗ thông, bao gồm [16]:

Trang 9

- Bộ phận phát âm: truyền vào tai một âm ở tần số 226Hz được phát ra

từ máy Tần số này cho phép nghiên cứu tốt nhất yếu tố cứng củaxương con và sự di động của màng nhĩ

- Bộ phận đo âm phản hồi: Khi tai nghe tốt, năng lượng âm được

truyền đi lớn, âm phản hồi nhỏ Ngược lại, khi tai nghe kém, nănglượng âm được truyền đi nhỏ, âm phản hồi lớn Nhờ một hệ thốngphát hiện và biến đổi năng lượng được biểu hiện trên một Vôn kế chobiết mức độ âm phản hồi này

- Bộ phận áp kế: được nối với một bơm áp lực khí ở ống tai ngoài, biểu

hiện áp lực bằng mmH2O hoặc daPa (decapascal, 1daPa = 1,02mmH2O)

1.2.1.3 Nguyên lý

Khi làm thay đổi áp lực khí ở ống tai ngoài tăng lên hoặc giảm xuống sẽlàm nén hoặc kéo giãn hệ thống màng nhĩ – xương con, tức là làm tăng trởkháng của tai giữa (giảm độ thuận nạp âm học) Đồ thị của thuận nạp âm họcbiến đổi theo áp lực khí của ống tai ngoài gọi là nhĩ đồ Ở người bình thường, độthuận nạp âm học là tối đa, biểu hiện ở đỉnh của nhĩ đồ tức là tai nghe rõ nhất,lúc đó áp lực khí của hòm nhĩ và ống tai ngoài cân bằng nhau [16]

1.2.1.4 Các phương pháp đánh giá chức năng vòi nhĩ bằng đo nhĩ lượng

- Trường hợp màng nhĩ không có lỗ thủng

+ Đo áp suất tai giữa lúc nghỉ (Resting middle – ear pressure)

+ Đo nhĩ lượng với nghiệm pháp Valsava và Toynbee

+ Đo theo phương pháp Holmquist

+ Nghiệm pháp chín bước (Nine-step test)

- Trường hợp màng nhĩ có lỗ thủng

+ Nghiệm pháp tăng – giảm áp lực (Inflation – deflation test)

+ Thử nghiệm đáp ứng áp lực cưỡng bức (Forced – response test)

Trang 10

1.2.1.5 Thông số cơ bản

Hình 1.7 Kết quả đo nhĩ lượng [ 20 ]

- Thể tích ống tai ngoài (ECV – Equivalent Ear Canal Volume): là thể

tích không khí được đo giữa đầu dò âm thanh (đầu nút tai) và màngnhĩ [17] Đơn vị là milliliter (ml) Bình thường, ở người lớn từ 0,6 –1,5 ml, ở trẻ em là 0,4 – 1,0 ml [21]

- Áp lực của tai giữa (MEP – Middle Ear Pressure) hoặc áp lực đỉnh của nhĩ đồ (TPP – Tympanometric peak pressure): là áp lực tương

ứng với đỉnh của nhĩ lượng, lúc này áp lực trong hòm tai và trong ốngtai ngoài bằng nhau và độ thông thuận của tai giữa là lớn nhất [17].Bình thường, áp lực tai giữa dao động quanh 0 daPa, có thể từ -50hoặc -100 daPa đến +50 daPa Tùy từng máy đo, MEP có thể daođộng từ -400 đến +200 daPa [22]

- Độ thông thuận (SC – Static Compliance): là độ cao của đỉnh nhĩ đồ,

tương ứng với độ thuận nạp âm học được đo tại mặt phẳng màng nhĩ.Bình thường từ 0,3 – 1,6 ml, trẻ em từ 3 – 5 tuổi từ 0,2 – 0,9 ml [17],[22]

- Độ rộng của nhĩ đồ (TW - Tympanogram width): là sự khác biệt về

áp lực tại hai điểm của đường cong nhĩ lượng khi độ thông thuận của

Trang 11

tai giữa chỉ bằng ½ đỉnh độ thông thuận Bình thường, độ rộng củanhĩ đồ từ 50 – 150 daPa ở người lớn, ở trẻ em từ 60 – 150 daPa [17]

- Độ dốc hay độ nghiêng của nhĩ đồ (Grad – Gradient): đơn vị tính là

milliliter (ml), trung bình 0,52ml, nếu Grad = 0,2 – 0,3 ml có nhĩlượng thấp, nếu Grad = 0,7 – 0,8 ml có nhĩ lượng đỉnh quá nhọn [17]

1.2.1.6 Kết quả

Theo phân loại của Jerger, nhĩ đồ thu được khi đo ở trạng thái nghỉ chia racác dạng A, B, C; trong đó nhĩ đồ dạng B, C thường gợi ý tình trạng rối loạn chứcnăng vòi nhĩ [23] Sau đó, Fiellau-Nikolajsen đã nghiên cứu thêm các giá trị để

bổ sung thêm tiêu chuẩn đánh giá các dạng nhĩ đồ này [24]

- Dạng A: nhĩ đồ bình thường có đỉnh nhọn, cân đối, áp lực tai giữa từ

+50 đến -100 daPa, độ thông thuận bình thường [24],[ 25]

+ Dạng As: áp lực đỉnh bình thường, độ thông thuận thấp Có thể gợi ý

có cứng khớp xương con, màng nhĩ xơ dày

+ Dạng Ad: áp lực đỉnh bình thường, độ thông thuận cao Gặp ở bệnh

nhân trật/lỏng khớp xương con, màng nhĩ nhẽo

- Dạng B: nhĩ đồ là đường thẳng Tùy theo thể tích ống tai (ECV):

+ Nếu ECV bình thường: gợi ý ứ dịch hòm tai

+ Nếu ECV nhỏ: bít ống tai do ráy tai, do chạm thành ống tai

+ Nếu ECV lớn: màng nhĩ thủng, đặt ống thông khí

- Dạng C: đỉnh nhọn, áp lực tai giữa âm từ -100 đến -400 daPa Nhĩ đồ

thể hiện áp lực âm trong hòm tai do rối loạn chức năng vòi, có thểkèm theo ứ dịch trong hòm tai [25] Theo Fiellau-Nikolajsen, có thểchia 2 dạng [20]:

+ Dạng C1: áp lực của tai giữa từ - 100 đến -199 daPa

+ Dạng C2: áp lực của tai giữa từ - 200 đến -400 daPa.

Trang 12

Hình 1.8 Nhĩ đồ dạng A [ 26 ]

Hình 1.9 Nhĩ đồ dạng B [ 26 ]

Hình 1.10 Nhĩ đồ dạng C [ 26 ]

Theo Nguyễn Tấn Phong (2003), có thể gặp những dạng nhĩ đồ sau [27]:

- Nhĩ đồ tắc vòi không hoàn toàn: nhĩ đồ có đỉnh nhọn, áp lực đỉnh âm,

độ thông thuận bình thường (dạng 1)

- Nhĩ đồ có dịch keo trong hòm tai

+ Nhĩ đồ hình đồi, áp lực đỉnh âm do có tắc vòi kèm theo (dạng 2).+ Nhĩ đồ hình đồi, áp lực đỉnh bình thường (dạng 3)

+ Nhĩ đồ hình đồi, áp lực đỉnh dương (dạng 4)

Trang 13

- Nhĩ đồ tắc vòi hoàn toàn: đường thẳng chếch về bên trái (dạng 5).

- Nhĩ đồ dính màng nhĩ: đường thẳng nằm ngang, sát trục hoành (dạng 6).

Ngoài ra, có nhiều các phân loại khác như theo Cantekin (1980), Gates(1985) [28] ,[29] Tuy nhiên, hệ thống phân loại theo Jerger (1970) là hệthống đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng rộng rãi hiện nay trên lâm sàng

Hình 1.11 Các hình thái nhĩ đồ theo Nguyễn Tấn Phong [ 27 ]

1.2.1.7 Giá trị của đo nhĩ lượng

Trang 14

giả đã nhận thấy sự dẫn truyền âm thanh tăng lên khi nuốt và kết quảnày sớm bị quên lãng [30]

- Đến năm 1932, Gyergyay đã sử dụng các loại âm thanh khác nhau đặtvào mũi và kết quả thu được đã bổ sung thêm nghiên cứu của Politzer[31]

- Năm 1939, Perlman nghiên cứu dẫn truyền âm thanh qua vòi nhĩbằng cách đặt nguồn âm thanh 500Hz ở lỗ mũi và một microphonetrong tai Nghiên cứu này cho thấy thời gian đóng mở vòi nhĩ nhưng

- Năm 1966, Guillerm đã chế tạo dụng cụ đầu tiên mang tên

“Sonomanometry” Ông sử dụng nguồn âm thanh có tần số 100 Hz,

có thể thay đổi áp lực trong khoang mũi họng bằng máy bơm không khí

và ghi lại sự dẫn truyền âm thanh qua một ống thông Foley được nút kín

ở ống tai ngoài [34]

- Năm 1967 – 1975, nhiều nhà khoa học đã thử các nguồn âm thanh cótần số khác nhau (không quá 2000 Hz) như Naunton (200 Hz),Eguchi (2000 Hz) [35], [36] Tuy nhiên, các tần số được chọn vàothời điểm này nhằm mục đích khắc phục những khó khăn trong kỹthuật đo, chưa quan tâm đến tần số mà âm thanh sẽ được truyền tối đakhi vòi nhĩ mở [2]

- Năm 1977, Virtanen nhận thấy sự truyền âm qua vòi nhĩ tốt nhất ở 6,

7, 8 kHz và tạp âm sinh lý do nuốt có thể lên đến 5 kHz Nguồn âmthanh có tần số 5 kHz là không hợp lệ vì bị ảnh hưởng bởi tạp âmsinh lý khi nuốt [37]

Trang 15

- Năm 1987, nhiều nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sử dụng tiếng ồntrắng có tần số 6 – 8 kHz cho các kết quả đáng tin cậy về chức năng củavòi nhĩ [38] Từ đó, máy đo âm thanh “Sonotubometry” ra đời được ápdụng như một phương pháp không xâm lấn để đánh giá sự đóng mở vòinhĩ ở người [39].

1.2.2.2 Cấu tạo máy đo

Hình 1.12 Cấu tạo máy đo Sonotubometry [ 40 ]

- Bộ phận (nguồn) phát âm: phát ra âm thanh (tiếng ồn trắng) được

truyền liên tục vào khoang mũi họng với tần số 7KHz và cường độ100dB [41] Bộ phận này có bộ phận cảm biến, có thể thay đổi cường

độ âm thanh tùy thuộc vào tình trạng vòi nhĩ hẹp tắc hay doãng rộng[42]

- Bộ phận thu âm: thu nhận sóng âm thanh thu được ở ống tai ngoài,

được gắn với một bộ phận khuếch đại âm thanh [40]

- Bộ phận khuếch đại âm thanh: phân tích, tách biệt âm thanh thu được

trong ống tai ngoài với các tạp âm trong khoang mũi họng khi nuốt[42]

Trang 16

1.2.2.3 Nguyên lý

Hình 1.13 Nguyên lý của Sonotubometry [ 40 ]

(A Vòi nhĩ đóng, B Vòi nhĩ mở)

Phương pháp Sonotubometry đánh giá sự truyền tải âm thanh qua vòinhĩ Khi nuốt, vòi nhĩ mở chủ động nên âm thanh từ khoang mũi họng có thểtruyền qua vòi nhĩ, đến tai giữa và thu được ở ống tai ngoài Phương pháp nàygiúp đánh giá đóng mở của vòi nhĩ chủ động khi nuốt [7]

1.2.2.4 Thông số cơ bản

1 Thời gian đóng mở của vòi nhĩ

2 Sóng âm thanh thu được ở ống tai ngoài

3 Sóng tạp âm ở khoang mũi họng

4 Cường độ của nguồn phát âm

Hình 1.14 Kết quả hiển thị của Sonotubometry [ 43 ]

- Cường độ của nguồn phát âm (dB): là cường độ âm thanh của

nguồn phát âm đặt ở mũi

Trang 17

- Sóng âm thanh thu được ở ống tai ngoài

+ Số lần đóng/mở của vòi nhĩ: tương ứng với mỗi lần nuốt.

+ Hình dạng sóng: bình thường có dạng hình sin, 1 đỉnh [40]

Hình 1.15 Đồ thị sóng của Sonotubometry [ 40 ]

o Đường đi lên (1): là hình ảnh mở vòi nhĩ chủ động khi nuốt Biên

độ của sóng âm thanh thu ở ống tai ngoài tăng lên khi vòi nhĩ mở

o Đường đi xuống (2): là hình ảnh đóng thụ động vòi nhĩ Biên độ củasóng âm thanh thu ở ống tai ngoài giảm dần khi vòi nhĩ đóng

+ Biên độ sóng đóng mở vòi nhĩ (dB): là biên độ lớn nhất của sóng âm

thanh thu được ở ống tai ngoài, đơn vị là decibel (dB) Bình thường,biên độ sóng ≥ 5 dB [41]

+ Thời gian đóng mở vòi nhĩ (ms): tính từ lúc bắt đầu xuất hiện đường

đi lên đến khi kết thúc đường đi xuống, được tính tự động và hiểnthị trên màn hình, đơn vị là milisecond Bình thường, ở người lớn là

200 - 700 ms, trẻ em là 200 - 550 ms [44 ],[ 45 ]

1.2.2.5 Kết quả

- Bình thường: có hình ảnh sóng đóng/mở vòi nhĩ tương ứng với mỗi

lần nuốt, có hình dạng, biên độ và thời gian đóng mở vòi nhĩ bìnhthường

- Hẹp tắc vòi nhĩ

Trang 18

+ Không có sóng âm thanh thu ở ống tai ngoài khi nuốt, mặc dù nguồnphát âm thanh phát cường độ tối đa (> 105 dB) [46].

+ Sóng âm thanh thu được ở ống tai ngoài có biên độ < 5 dB và thờigian đóng mở vòi nhĩ giảm [41]

Hình 1.16 Hình ảnh hẹp tắc vòi nhĩ trên Sonotubometry [ 43 ]

- Doãng rộng vòi nhĩ

+ Hình dạng sóng: không còn hình dạng sin điển hình 1 đỉnh, biểu hiện

ở các dạng sóng như sóng nhiều đỉnh, sóng giảm dần hoặc không cósóng với nguồn phát âm có cường độ thấp (< 105 dB) [46]

+ Và thời gian mở vòi nhĩ kéo dài (> 900 ms) [46]

Hình 1.17 Sóng nhiều đỉnh trên Sonotubometry [ 43 ]

Trang 19

1.2.2.6 Giá trị của phương pháp Sonotubometry

- Ưu điểm

+ Dễ thực hiện ở mọi lứa tuổi

+ Áp dụng trong cả trường hợp màng nhĩ kín và thủng

+ Đánh giá chức năng đóng mở chủ động vòi nhĩ

+ Đánh giá chức năng vòi nhĩ sinh lý, không xâm lấn

+ Độ nhạy và độ đặc hiệu cao

+ Phân loại được vòi nhĩ bình thường, hẹp tắc, doãng rộng vòi nhĩ

- Nhược điểm

+ Không đánh giá đóng mở vòi nhĩ thụ động

+ Chỉ đánh giá dẫn truyền âm thanh của vòi nhĩ mà không đánh giáđược khả năng cân bằng áp lực của vòi nhĩ và áp lực trong tai giữa

1.3 BỆNH HỌC VIÊM VA MẠN TÍNH

1.3.1 Triệu chứng lâm sàng

1.3.1.1 Triệu chứng cơ năng

- Ngạt mũi: là triệu chứng chính và đầu tiên Thường hai bên, thườngxuyên, tăng về đêm Khi ngủ có thể phải há miệng để thở, giấc ngủkhông dài

- Chảy mũi thường xuyên: chảy mũi nhầy hoặc mủ (thò lò mũi xanh)

Có thể viêm loét tiền đình mũi

- Ù tai, nghe kém: do biến chứng viêm tai

1.3.1.2 Triệu chứng toàn thân

- Chậm phát triển so với lứa tuổi

- Chậm biết nói, nói ngọng kéo dài, lơ đễnh

1.3.1.3 Triệu chứng thực thể

- Soi mũi trước: hốc mũi có dịch nhày/mủ, niêm mạc nhợt

- Soi mũi sau qua gương/ nội soi

+ Khối VA màu hồng nhạt/viêm đỏ, trên bề mặt có dịch nhày/mủ

Trang 20

+ Mức độ quá phát của VA được phân thành 4 độ dựa theo mức độ chelấp cửa mũi sau của VA, với mốc từ bờ dưới của cửa mũi sau tới trầnvòm mũi họng [47].

o Độ 1: VA < 25% cửa mũi sau

o Độ 2: 25 % cửa mũi sau ≤ VA <50% cửa mũi sau

o Độ 3: 50% cửa mũi sau ≤ VA < 75% cửa mũi sau

o Độ 4: VA ≥ 75% cửa mũi sau

- Sờ vòm: có cảm giác chạm vào khối mềm, vòm bị che lấp 1 phần

- Khám họng: thành sau họng thường có các hạt lympho

- Khám tai: thường thấy màng nhĩ đục, mất bóng sáng, hoặc hơi lõm

Hình 1.18 Mức độ quá phát của VA [ 47 ] 1.3.1.4 Biến chứng

- Viêm tai ứ dịch, viêm tai giữa mạn tính, xẹp nhĩ, cholesteatoma

- Viêm mũi xoang cấp/mạn tính

- Viêm hạch: có thể gây áp xe thành sau họng ở trẻ < 2 tuổi

- Khác: Viêm thanh khí phế quản, viêm đường tiêu hóa, …

Biến chứng về sự phát triển thể chất và tinh thần

- Kém thông minh, không tập trung tư tưởng, hay buồn ngủ, học tập kém

- Phát triển về thể chất kém: gầy yếu, còi cọc Có thể có bộ mặt VA :miệng luôn há, mũi tẹt, trán dô, hàm răng vẩu, vẻ mặt kém tinh anh

1.3.2 Điều trị

Trang 21

1.3.2.1 Nội khoa

- Giữ ấm cho trẻ, nâng cao thể trạng

- Tại chỗ: Hút rửa mũi bằng nước muối, nhỏ thuốc co mạch nếu ngạt mũi

- Khi có đợt viêm VA cấp: chống phù nề, giảm đau, hạ sốt, kháng sinh(khi có dấu hiệu bội nhiễm hoặc biến chứng)

1.3.2.4 Ngoại khoa

Chỉ định nạo VA: Theo hiệp hội đầu cổ Hoa Kỳ (American Academy of

Otolaryngology – Head and Neck Surgery/AAO – HNS) năm 2012 [48]:

- Tắc nghẽn đường hô hấp trên

+ Viêm VA mạn tính gây rối loạn giấc ngủ (ngủ ngáy) trên 3 tháng.+ Viêm V.A mạn tính có kèm theo hội chứng ngừng thở khi ngủ

+ Viêm tai giữa ứ dịch trên 3 tháng hoặc có chỉ định đặt ống thông khí

- Viêm VA mạn tính gây biến dạng sọ mặt hoặc rối loạn giọng nói

- Viêm VA mạn tính gây các biến chứng tim phổi như tăng áp lực độngmạch phổi, tăng áp lực tâm thất phải… kèm tắc nghẽn đường thở

Chống chỉ định

- Đang bị viêm VA cấp, viêm mũi họng cấp

- Đang bị nhiễm trùng cấp toàn thân hay tại chỗ

- Có các bệnh máu, rối loạn yếu tố đông máu

- Có dị tật ở vòm mũi họng

1.3.3 Rối loạn chức năng vòi nhĩ trên bệnh nhân viêm VA mạn tính

Tại loa vòi: tổ chức VA quá phát, gia tăng mô lympho gây chèn ép cơ học

Trang 22

ảnh hưởng đến hoạt động mở vòi nhĩ [49]

Hình 1.19 Ảnh hưởng của VA quá phát tại loa vòi [ 9 ]

Trong lòng vòi nhĩ: RLCNVN có thể xảy ra do nguyên nhân nhiễm trùng

hoặc dị ứng

- Tổ chức VA bị viêm nhiều lần được xem là nguồn chứa vi khuẩn,kích thích giải phóng chất trung gian gây viêm, gây viêm nhiễm từvòm mũi họng vào trong lòng vòi nhĩ

- Trong trường hợp dị ứng, các tế bào ưa acid chứa trong tổ chức VA giảiphóng các chất kích thích quá trình viêm nhiễm và gây ra tắc nghẽn vòinhĩ

- Theo Pulec, khi nghiên cứu dưới kính hiển vi điện tử cho thấy maomạch bạch huyết của vòi nhĩ ở gần tổ chức VA bị viêm, phù nề gây ratắc vòi nhĩ [50]

Hình 1.20 Ảnh hưởng của VA trong lòng vòi nhĩ [ 9 ]

Trang 23

Ở trẻ em, thường xuyên có tình trạng rối loạn chức năng vòi nhĩ sinh lý,

thường gặp nhất là phần sụn của vòi nhĩ không mở ra khi nuốt do cấu tạo vòinhĩ ở trẻ em có sụn loa vòi mềm hơn, hoạt động của cơ căng màn hầu kémhơn hoặc cả hai Rối loạn này sẽ tự phục hồi khi trẻ lớn [51]

Hình 1.21 Vòi nhĩ ở trẻ em không mở khi nuốt [ 52 ]

Viêm VA mạn tính là nguyên nhân hay gặp nhất gây rối loạn chức năngvòi nhĩ ở trẻ em [9] Những rối loạn trên làm cho tai có cảm giác đầy tai, ù tai,nghe thấy tiếng kêu ọc ọc, nổ tách tách trong tai, tự thính, có thể đau tai Khinội soi tai thấy màng nhĩ xẹp hoặc có túi co kéo, bóng hơi, mức dịch

1.3.4 Các nghiên cứu về rối loạn chức năng thông khí của vòi nhĩ trên bệnh nhân viêm VA mạn tính

1.3.4.1 Trên thế giới

- Năm 1984, Alhady R nghiên cứu thông số áp lực tai giữa để đánh giáchức năng vòi nhĩ và kết luận giảm chức năng vòi gặp nhiều nhất ởnhóm VA quá phát, ít ở nhóm viêm xoang và viêm amidan mạn tính[53]

- Năm 1987, Jin Okubo đã nghiên cứu trên 89 trẻ từ 4 – 12 tuổi, kếtqủa cho thấy có 117 tai (61,9%) có sóng đóng mở vòi nhĩ trênSonotubometry với thời gian trung bình là 337,7 ± 154,4 ms và áp lựctrung bình là 16,3 ± 7,2 dB

- Năm 1989, K Zaman nghiên cứu trên 100 trẻ em (6 tháng – 7 tuổi)được nạo VA và nhận thấy áp lực tai giữa trung bình là - 89,3mm

Trang 24

H2O, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm VA có kíchthước to và nhỏ [54]

- Năm 1989, Jonathan đã nghiên cứu trên hai nhóm trẻ em gồm nhóm 1(25 trẻ bình thường) và nhóm 2 (64 trẻ viêm tai giữa ứ dịch) cho thấy

sự đóng mở vòi nhĩ gặp ở 80% trẻ bình thường nhưng chỉ gặp ở 29%trẻ có viêm tai giữa ứ dịch [55]

- Năm 1999, K.J Munro nghiên cứu trên 20 trẻ bình thường (5 – 6 tuổi)

và kết quả cho thấy 80% sự đóng mở vòi nhĩ trên Sonotubometry vớithời gian đóng mở vòi nhĩ trung bình là 118 ms và biên độ trung bình

là 11.5 dB [56]

- Năm 2002, Furmann A nhận xét VA quá phát có thể gây giảm ngheđặc biệt ở những tần số thấp và có ảnh hưởng đến trở kháng tai giữa[57]

- Năm 2003, Modrzyński M nghiên cứu về nhĩ đồ của 89 trẻ em tuổi 4– 10 được chẩn đoán viêm VA quá phát và có giảm thính lực, thấy 37trẻ có nhĩ lượng dạng B, 44 trẻ có nhĩ lượng dạng C [58]

- Năm 2003, Hiroya Utahashi đã nghiên cứu ở 70 trẻ em (3 – 15 tuổi)được đặt ống thông khí và nạo VA Kết quả cho thấy chức năng thôngkhí ở vòi nhĩ được cải thiện ở những trẻ được nạo VA sớm [59]

- Năm 2007, Van der Avoort đã nghiên cứu 61 trẻ em (6 – 8 tuổi) và kếtquả có 82% trẻ có chức năng vòi nhĩ bình thường trên Sonotubometry[42]

- Năm 2010, Toros SZ nghiên cứu trên 95 trẻ viêm VA cho thấy nhĩ đồdạng B 49/190 tai và nhĩ đồ dạng C 62/190 tai; không thấy sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nặng của các triệu chứng lâmsàng, mức độ to của VA và kết quả nhĩ đồ [60]

Trang 25

- Năm 2014, Borangiu đã nghiên cứu chức năng vòi nhĩ ở 52 trẻ em

5 – 10 tuổi bằng Sonotubometry cho thấy sự đóng mở vòi nhĩ bìnhthường gặp ở 84,61% trẻ và thời gian đóng mở trung bình là 273

ms [61 ]

1.3.4.2 Trong nước

- Năm 2000, Nguyễn Tấn Phong nghiên cứu về 120 nhĩ đồ của 80 BNtrong đó 3/4 là trẻ em Tác giả đưa ra kết quả về các hình thái nhĩ đồthường gặp trên bệnh nhân bị viêm VA và đưa ra giả thuyết từ viêmV.A mạn tính ở trẻ em hoặc viêm xoang gây rối loạn chức năng vòinhĩ có thể dẫn tới viêm tai keo, co lõm màng nhĩ và hình thành túi cokéo hoặc xẹp nhĩ, từ đó có thể hình thành cholestetoma [62]

- Năm 2001, Nguyễn Lệ Thủy nghiên cứu trên 82 tai bị tắc vòi nhĩ chothấy: nhĩ đồ dạng bẹt gặp nhiều nhất 45 tai chiếm 54,9%, nhĩ đồ hìnhđồi và nhĩ đồ dạng đường thẳng chếch trái về vùng áp lực âm gặp íthơn (26 tai và 11 tai chiếm 31,7% và 13,4%) [63]

- Năm 2003, Lương Hồng Châu đưa ra kết quả nhĩ đồ của 168 tai đượcchẩn đoán viêm tai giữa không thủng màng nhĩ thấy nhĩ đồ dạng bẹtgặp nhiều nhất chiếm 77,98% (131 tai bệnh), nhĩ đồ dạng đườngthẳng chếch gặp ở 21 tai chiếm 12,5% và nhĩ đồ hình đồi gặp ở 16 taichiếm 9,5% [16]

- Năm 2011, Hà Lan Phương đã nghiên cứu hình thái nhĩ đồ ở trẻ viêm

VA quá phát có chỉ định phẫu thuật Kết quả cho thấy có 44,6% trẻ cónhĩ đồ bình thường; ít gặp hơn là hình đồi (38,1%), nhọn, lệch âm(16,1%), dạng bẹt (1,2%) Nghiên cứu đưa ra kết luận nạo VA đã giảiquyết cả nguyên nhân cơ học và viêm nhiễm, giúp phục hồi chức năngcủa vòi nhĩ [64]

Trang 26

- Năm 2012, Lê Minh Đức nghiên cứu ảnh hưởng của viêm VA tớichức năng tai giữa Nhĩ đồ bệnh lý gồm 123/162 tai có các hình thái:đỉnh nhọn lệch âm (22 tai), hình đồi (78 tai) và dạng bẹt (23 tai).Nghiên cữu đã kết luận không có mối liên quan giữa mức độ quá phátcủa VA với độ thông thuận, áp lực đỉnh và hình dạng của nhĩ đồ [65]

- Hiện nay chưa có nghiên cứu nào liên quan đến Sonotubometry vàcác rối loạn chức năng vòi trên bệnh nhân viêm VA mạn tính

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Gồm 90 bệnh nhân được chẩn đoán là viêm VA mạn tính có chỉ địnhphẫu thuật nạo VA tại khoa Tai Mũi Họng – Bệnh viện Bạch Mai trongkhoảng thời gian từ tháng 6/2016 đến tháng 8/2017

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Trẻ được chẩn đoán viêm VA mạn tính có chỉ định nạo VA

- Được nội soi để đánh giá tình trạng VA, loa vòi và màng nhĩ

- Màng nhĩ không thủng

- Được đánh giá chức năng vòi nhĩ bằng đo nhĩ lượng vàSonotubometry

- Bố/mẹ/người đại diện đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Màng nhĩ thủng

- Có các bệnh lý ống tai ngoài: u xương, viêm chít hẹp ống tai ngoài…

- Có các dị tật bẩm sinh vùng mũi họng: khe hở môi – vòm miệng…

- Có ổ viêm nhiễm như: viêm mũi xoang, viêm mũi họng cấp…

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 27

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả từng trường hợp có can thiệp với cỡ mẫu tiện lợi

2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Thiết kế bệnh án mẫu.

- Bước 2: Hỏi bệnh, khám bệnh, nội soi đánh giá tình trạng VA, loa vòi và

màng nhĩ

- Bước 3: Đánh giá chức năng thông khí của vòi nhĩ bằng phương pháp

đo nhĩ lượng và Sonotubometry

- Bước 4: Đối chiếu kết quả đo nhĩ lượng và Sonotubometry

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu

- Bộ nội soi Tai Mũi Họng: nguồn sáng, camera, ống nội soi 0o

- Máy đo nhĩ lượng của hãng Rion – Nhật Bản (RS – H1)

- Máy đo chức năng vòi nhĩ của hãng Rion – Nhật Bản (JK – 05A)

Hình 2.1 Bộ nội soi Karl Storz

Trang 28

Hình 2.2 Máy đo nhĩ lượng RS – H1 (Hãng Rion – Nhật Bản)

Hình 2.3 Máy đo chức năng vòi nhĩ JK – 05A (Hãng Rion – Nhật Bản)

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu

- Khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Bạch Mai

2.2.5 Các chỉ số nghiên cứu và cách đánh giá

Trang 29

- Triệu chứng thực thể: nội soi tai đánh giá màng nhĩ, hòm nhĩ; nội soivòm mũi họng đánh giá VA, loa vòi.

+ Màng nhĩ: Bình thường, dày đục, phồng, xẹp, bóng hơi, mức dịch + Mức độ quá phát của VA: 4 độ, dựa theo mức độ che lấp cửa mũi sau,với mốc từ bờ dưới của cửa mũi sau tới trần vòm mũi họng [47]

o Độ 1: VA < 25% cửa mũi sau

o Độ 2: 25 % cửa mũi sau ≤ VA <50% cửa mũi sau

o Độ 3: 50% cửa mũi sau ≤ VA < 75% cửa mũi sau

o Độ 4: VA ≥ 75% cửa mũi sau

Đánh giá chức năng vòi nhĩ bằng đo nhĩ lượng

- Kỹ thuật đo

+ Giải thích cách đo

+ Làm sạch ống tai

+ BN ngồi thẳng, không cử động đầu, không nuốt

+ Chọn núm tai thích hợp vừa với ống tai ngoài, lắp vào đầu dò

+ Chọn chế độ đo tự động, f = 226 Hz và một bên tai

+ Đặt núm tai vào tai cần đo Nếu núm tai không khít thì đèn ở đầu dò

có màu đỏ, nếu vừa khít, thì đèn màu xanh và máy sẽ đo tự động + Làm tương tự với tai còn lại

Trang 30

+ Đánh giá rối loạn chức năng vòi nhĩ: dựa vào dạng của nhĩ đồ

+ Làm tương tự với tai còn lại

+ Nếu bệnh nhân không hợp tác hoặc thực hiện không đúng, sẽ đượchướng dẫn lại và làm lại sau 1 ngày

- Các chỉ số nghiên cứu

+ Số lượng sóng: là số lần sóng xuất hiện tương ứng với khi nuốt 5 lần

[41]

o Có đóng mở vòi nhĩ: số lượng sóng điển hình ≥ 2/5 lần nuốt

o Không có đóng mở vòi nhĩ: không có sóng hoặc có sóng điển hình

< 2/5 lần nuốt

+ Hình dạng sóng

o Bình thường: sóng hình sin điển hình, 1 đỉnh

o Bệnh lý: không có sóng hoặc hình dạng sóng bất thường (sóngnhiều đỉnh, sóng đi xuống)

Sau 5 lần nuốt, sẽ chọn một sóng điển hình nhất ở mỗi tai của bệnhnhân để đánh giá:

+ Thời gian đóng mở vòi nhĩ (ms)

o Bình thường: 200 - 900 ms [44]

o Bệnh lý: < 200 ms hoặc > 900 ms

Trang 31

+ Đối chiếu áp lực tai giữa với Sonotubometry.

- Đối chiếu kết quả chung đánh giá chức năng vòi nhĩ của nhĩ lượngvới Sonotubometry

- Đối chiếu kết quả đo nhĩ lượng và Sonotubometry với mức độ quáphát của VA

- Đối chiếu kết quả đo nhĩ lượng và Sonotubometry với tính chất dịchtrên VA

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Các số liệu mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0

- Xử lý số liệu: Các số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học,qua các thuật toán

+ Tính tỉ lệ %

+ Tính trị số trung bình của mẫu nghiên cứu

Trang 32

+ So sánh 2 tỷ lệ bằng test Chi – square.

- Phân tích, so sánh kết quả thu được với kết quả của các tác giả kháctrong và ngoài nước

2.2.7 Đạo đức nghiên cứu

- Tất cả bố/mẹ/người đại diện nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ,

rõ ràng về mục đích nghiên cứu, các lợi ích lâu dài do nghiên cứumang lại

- Sau mỗi lần kiểm tra phải thông báo kết quả cho bố/mẹ/người đạidiện

- Bố/mẹ/người đại diện của bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu Tất

cả những thông tin liên quan đến bệnh nhân đều được quản lý và giữ

bí mật

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI, KẾT QUẢ ĐO NHĨ LƯỢNG

Trang 34

- Tỷ lệ BN nam cao hơn tỷ lệ BN nữ với tỷ lệ ≈ 2,5 : 1 Sự khác biệtnày có ý nghĩa thống kê (p <0,001).

3.1.2 Triệu chứng cơ năng

Bảng 3.2 Các triệu chứng cơ năng thường gặp (N=90)

Trang 35

trạng ngủ ngáy có xu hướng tăng dần theo mức độ quá phát của VA(độ 2: 80%, 4/5; độ 3: 81,6%, 40/49, độ 4: 94,4%, 34/36).

- Cơn ngừng thở khi ngủ gặp ở 20/90 BN, chiếm tỷ lệ 22,2%

- Ít gặp hơn là nghe kém (2/90), ù tai (1/90)

Trang 36

Hình 3.2 Hình ảnh nội soi đánh giá tính chất dịch trên VA

C VA đọng dịch mủ Nguyễn Khánh H.,

Trang 37

3.1.3.2 Nội soi tai

Nghiên cứu gồm 90 bệnh nhân, như vậy có 180 tai được đánh giá

A Màng nhĩ phồng

Nguyễn Dương Hà L.,9T

Mã HS : J35/98

B Màng nhĩ xẹp Nguyễn Quang T.,6T

Mã HS : J35/108

C Hình ảnh mức dịch Chu Tuấn L.,7T

Mã HS : J35/35

Hình 3.3 Hình ảnh nội soi tai

3.1.4 Kết quả đo nhĩ lượng

Trang 38

- Dạng B và C có 35/180 tai, trong đó dạng B có 12/180 tai (6,7%) vàdạng C gặp ở 23/180 tai (12,7%)

Hình 3.4 Nhĩ đồ dạng A (Khương Bích V., 13T; Mã HS: J35/112)

Trang 39

Hình 3.5 Nhĩ đồ dạng B (Chu Tuấn L., 7T; Mã HS: J35/35)

Hình 3.6 Nhĩ đồ dạng C (Bùi Tùng B., 8T; Mã HS: J35/62) 3.1.4.2 Kết quả đo áp lực của tai giữa

Kết quả đo áp lực của tai giữa

Bảng 3.7 Áp lực của tai giữa đánh giá theo số tai (N=180)

Áp lực tai giữa n % ALTB ± SD Min – Max

Âm tính 35 19,4 - 229 ± 119,9 (-400) – (-104) Bình thường 145 80,6 - 15,9 ± 26,8 (- 92) – 45

- Áp lực tai giữa âm tính gặp ở 35/180 tai, chiếm tỷ lệ 19,4%

- Không có trường hợp nào có áp lực tai giữa dương tính

Trang 40

3.1.4.3 Kết quả đánh giá chức năng vòi nhĩ qua nhĩ lượng

Kết quả nhĩ đồ đánh giá ở một bên tai

Bảng 3.8 Kết quả nhĩ đồ đánh giá ở một bên tai (N=180)

- Có 145/180 tai không có RLCNVN, chiếm tỷ lệ 80,6%

Kết quả nhĩ đồ đánh giá ở hai tai

Bảng 3.9 Kết quả nhĩ đồ đánh giá ở hai tai (N=90)

3.1.5 Kết quả đo Sonotubometry

3.1.5.1 Đóng mở vòi nhĩ

Bảng 3.10 Đóng mở vòi nhĩ đánh giá theo số tai (N=180)

Ngày đăng: 22/09/2019, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w