1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và NGUY cơ lây NHIỄM HIV ở NHÓM NAM NGHIỆN CHÍCH MA túy tại hà nội năm 2016

99 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 898,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đã ổn định vàđang có xu hướng giảm trong các năm vừa qua nhưng một số hành vi nguy cơliên quan đến lây nhiễm HIV vẫn đang có những t

Trang 1

ĐẶNG THỊ TRANG

THùC TR¹NG Vµ NGUY C¥ L¢Y NHIÔM HIV

ë NHãM NAM NGHIÖN CHÝCH MA TóY

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS NGUYỄN MINH SƠN

2 TS LÊ ANH TUẤN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm

ơn chân thành tới PGS TS Nguyễn Minh Sơn và TS Lê Anh Tuấn, những người Thầy đã trực tiếp truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm quý báu, tận tình hướng dẫn em trong nghiên cứu khoa học, trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô trong Viện Đào tạo YHDP & YTCC, đặc biệt các thầy cô bộ môn Dịch Tễ, Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, tiếp cận với nghiên cứu khoa học và hoàn thành đề tài.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình

sử dụng số liệu và thực hiện luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những anh chị đồng nghiệp đã luôn ở bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống, công việc, cũng như trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Đặng Thị Trang

Trang 3

Kính gửi: - Phòng đào tạo Sau Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội

- Viện Đào tạo YHDP & YTCC

- Hội đồng chấm luận văn bộ môn Dịch tễ họcTôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiêncứu trong khóa luận là trung thực, do tôi trực tiếp phân tích và xử lý dựa trên

sự cho phép sử dụng số liệu của cơ sở nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trên bất kìtạp chí hay một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Đặng Thị Trang

Trang 4

(Acquired Immune Deficiency Syndrone)ARV Thuốc điều trị kháng Retrovirus (AntiRetro Virus)

MSM Nam quan hệ tình dục đồng giới

(Men who have sex with men)NCMT

OR

Nghiện chích ma túy

Tỷ suất chênh (Odds ratio)PNBD Phụ nữ bán dâm

QHTD Quan hệ tình dục

TCMT Tiêm chích ma túy

UNAIDS Chương trình phối hợp phòng chống HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc

(Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)WHO Tổ chức Y tế Thế giới

(World Health Organization)

Trang 5

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm .3

1.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .4

1.2.1 Thực trạng nhiễm HIV trên Thế giới .4

1.2.2 Thực trạng nhiễm HIV tại Việt Nam 5

1.2.3 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .6

1.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .8

1.3.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy 8 1.3.2 Tiếp cận với các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV .13

1.4 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.1.1 Thời gian 24

2.1.2 Địa điểm .24

2.2 Đối tượng nghiên cứu .25

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn .25

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ .25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu .27

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 29

2.5.1 Công cụ 29

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu 29

2.6 Sai số và khắc phục sai số .30

Trang 6

2.7 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu .31

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 31

Chương 3: KẾT QUẢ 33

3.1 Thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .34

3.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .36

Chương 4: BÀN LUẬN 47

4.1 Đặc điểm cơ bản của nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội .47

4.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội năm 2016 48

4.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV của nam nghiện chích ma tuý tại Hà Nội năm 2016 49

4.3.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV 49

4.3.2 Tiếp cận với các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV .56

4.3.3 Các yếu tố liên quan với nhiễm HIV ở nam nghiện chích ma túy 59

4.4 Hạn chế của nghiên cứu .61

KẾT LUẬN .62

KHUYẾN NGHỊ .63

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Y ĐẶT VẤN ĐỀ .1

Chương 1 TỔNG QUAN .3

1.1 Một số khái niệm .3

1.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .4

1.2.1 Thực trạng nhiễm HIV trên Thế giới .4

Trang 7

1.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .8

1.3.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma tú y .8

1.3.2 Tiếp cận với các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV .13

1.4 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu .21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .24

2.1.1 Thời gian .24

2.1.2 Địa điểm .24

2.2 Đối tượng nghiên cứu .25

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn .25

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ .25

2.3 Phương pháp nghiên cứu .25

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu .25

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu .25

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu .27

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu .30

2.5.1 Công cụ .30

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu .30

2.6 Sai số và khắc phục sai số .31

2.6.1 Sai số chọn mẫu .31

2.6.2 Sai số hệ thống .31

2.7 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu .32

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu .32

Chương 3 KẾT QUẢ .34

Trang 8

3.3.Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .37

Chương 4 BÀN LUẬN 48

4.1 Đặc điểm cơ bản của nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội 48

4.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội năm 2016 .49

4.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm nam nghiện chích ma tuý tại Hà Nội năm 2016 .50

4.3.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV .50

4.3.2 Tiếp cận với các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV

57

4.3.3 Các yếu tố liên quan với nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy .61

4.4 Hạn chế của nghiên cứu .62

KẾT LUẬN .63

KHUYẾN NGHỊ .64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm HIV theo địa bàn .35

Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân .36

Bảng 3.4: Đặc điểm tiêm chích ma túy ở nhóm NCMT .37

Bảng 3.5: Hành vi dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy .38

Bảng 3.6: Tỷ lệ dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy với các đối tượng .38

Bảng 3.7: Hành vi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm .39

Bảng 3.8: Tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với các loại bạn tình .40

Bảng 3.9: Tỷ lệ biết tình trạng nhiễm HIV của bạn tình .41

Bảng 3.10: Tỷ lệ tiếp cận chương trình BKT sạch miễn phí .41

Bảng 3.11: Tỷ lệ tiếp cận chương trình phân phát BCS miễn phí .42

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa nhiễm HIV với một số đặc điểm của người NCMT .44

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa nhiễm HIV và các yếu tố nguy cơ .45

Bảng 3.14: Mối liên quan giữa nhiễm HIV và tiếp cận các dịch vụ phòng, chống lây nhiễm HIV .46

Bảng 3.15: Phân tích đa biến xác định các yếu tố liên quan với nhiễm HIV 47

YBảng 3.1: Đặc điểm cơ bản của nhóm nam tiêm chích ma túy .33

Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm HIV theo địa bàna phương .34

Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân .35

Bảng 3.4: Đặc điểm tiêm chích ma túy ở nhóm nam NCMT .36

Bảng 3.5: Hành vi dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy .37

Bảng 3.6: Tỷ lệ dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy với các đối tượng .37

Bảng 3.7: Hành vi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm .38

Bảng 3.8: Tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với các loại bạn tình .39

Bảng 3.9: Tỷ lệ biết tình trạng nhiễm HIV của bạn tình .40

Trang 10

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa nhiễm HIV với một số đặc điểm của nam

NCMT .43Bảng 3.13: Mối liên quan giữa nhiễm HIV và các yếu tố nguy cơ .44Bảng 3.14: Mối liên quan giữa nhiễm HIV và tiếp cận các dịch vụ phòng,

chống lây nhiễm HIV .45Bảng 3.15: Phân tích đa biến xác định các yếu tố liên quan với nhiễm HIV 46

Trang 11

Biểu đồ 3.2: Tần suất dùng chung BKT ở nhóm nghiện chích ma túy .39

Biểu đồ 3.3: Tần suất sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với PNBD 1 tháng qua .40

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua .42

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ tiếp cận thông tin, tài liệu truyền thông .43

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ người NCMT tham gia điều trị Methadone .43

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ tiếp cận các chương trình xét nghiệm và điều trị HIV .44

YBiểu đồ 3.1: Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm nam NCMT .34

Biểu đồ 3.2: Tần suất dùng chung BKT ở nhóm nam nghiện chích ma túy .38

Biểu đồ 3.3: Tần suất sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với PNBD 1 tháng qua .39

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua .41

Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ tiếp cận thông tin, tài liệu truyền thông .42

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ nam NCMT tham gia điều trị Methadone .42

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ tiếp cận các chương trình xét nghiệm và điều trị HIV .43

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lây nhiễm HIV/AIDS vẫn đang là một vấn đề y tế được xã hội quantâm, là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam Theothống kê của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cảtỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường Trong

6 tháng đầu năm 2016, số người xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV là3.684 người, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.366người, số người nhiễm HIV tử vong là 862 người [1] Dịch HIV tại Việt Namvẫn đang trong giai đoạn tập trung, chủ yếu tập trung ở các nhóm nguy cơ cao(nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới).Trong đó, nhóm nghiện chích ma túy có tỷ lệ nhiễm HIV chiếm tỷ lệ caonhất

Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đã ổn định vàđang có xu hướng giảm trong các năm vừa qua nhưng một số hành vi nguy cơliên quan đến lây nhiễm HIV vẫn đang có những thay đổi theo hướng phứctạp và khó kiểm soát Việc sử dụng chung bơm kim tiêm làm gia tăng nguy cơlây nhiễm trên nhóm tiêm chích ma túy Quan hệ tình dục không an toàn trênnhóm đối tượng này phản ánh nguy cơ lây nhiễm HIV sang nhóm vợ, bạn tìnhcủa họ Điều này làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV không chỉ trong nhóm đốitượng nguy cơ cao mà cả nhóm có nguy cơ thấp [2] Bên cạnh đó, một xuhướng nổi cộm hiện nay là việc sử dụng rộng rãi chất ma túy tổng hợp (đá,thuốc lắc) trong nhóm nghiện chích ma túy [3] Ma túy tổng hợp được sửdụng với nhiều hình thức khác nhau, gây mất kiểm soát hành vi, thực hiện cáchành vi nguy cơ cao như quan tình dục hệ tập thể, quan hệ đồng giới, quan hệvới phụ nữ bán dâm không sử dụng bao cao su dẫn đến tăng cao khả năng lâynhiễm HIV

Trang 14

Với sự hỗ trợ của các chương trình, dự án, nhiều hoạt động can thiệpgiảm hại cho nhóm tiêm chích ma túy được thực hiện đã góp phần quan trọngtrong giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV [4], [5], [6] Tuy nhiên, hiện nay, nguồn lựccho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của quốc gia nói chung và thànhphố Hà Nội nói riêng đang bị cắt giảm Các hoạt động như truyền thông thayđổi hành vi, can thiệp giảm tác hại không mạnh như trước đây mà chủ yếu tậptrung vào một số hoạt động như điều trị Methadone, xét nghiệm và điều trịHIV Vì vậy, câu hỏi đặt ra là trong điều kiện nguồn lực và các hoạt động canthiệp giảm thì thực trạng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ trong nhóm nghiệnchích ma túy như thế nào? Việc tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ hiện nhiễm vànguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy sẽ cung cấp luận cứtrả lời cho câu hỏi trên Câu trả lời cũng góp phần cung cấp thông tin chocảnh báo sớm dịch HIV, từ đó định hướng cho việc xây dựng và tăng cườngcác hoạt động can thiệp phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới.

Giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi được triển khai tại ViệtNam nhằm đo lường tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các chỉ số hành vi nguy cơ lâynhiễm HIV và độ bao phủ các chương đình can thiệp dự phòng lây nhiễmHIV ở các nhóm nguy cơ cao Hà Nội là một trong những tỉnh triển khaichương trình này Vì vậy, chúng tôi tiến hành sử dụng nguồn số liệu của giámsát trọng điểm lồng ghép hành vi để mô tả thực trạng nhiễm và một số nguy

cơ nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội năm 2016trungtâm kinh tế, xã hội của cả nước, nơi tập trung dân cư từ khắp các vùng miềntrên cả nước đến làm việc và sinh sống Cùng với sự phát triển về kinh tế, vănhóa, xã hội, các tệ nạn xã hội cũng phát triển song hành làm cho dịch HIV códiễn biến phức tạp Nghiên cứu Từ những thực tế trên, nghiên cứu “Thực

trạng và nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà

Trang 15

Nội năm 2016” được tiến hành với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại

Hà Nội năm 2016;

2 Mô tả một số nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy tại Hà Nội năm 2016.

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm

Khái niệm về ma túy

Hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất về ma túy hay chất ma túy Matúy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích có thể gây nghiện, có nguồngốc tự nhiên hay tổng hợp Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làmthay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý của người sử dụng [7]

Trong Luật phòng chống ma túy năm 2000, khái niệm “chất ma túy” vàcác khái niệm liên quan được chính thức định nghĩa Chất ma túy là các chấtgây nghiện, chất hướng thần gây kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảogiác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sửdụng Các chất này đã được quy định trong các danh mục do Chính phủ banhành [8]

Ma túy tổng hợp là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy được điều chếbằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các tiền chất thuộc nhómmethamphetamine hoặc amphethamine Hiện nay, ở Việt Nam, đặc biệt ở cácthành phố lớn, loại ma túy tổng hợp hay được sử dụng là methamphetamine(đá) và thuốc lắc Đồng sử dụng heroin và ma túy tổng hợp là yếu tố làm tăngnguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đường máu và các bệnh lây truyền quađường tình dục [3]

Sử dụng ma túy là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, liên quan đến tỷ lệ tửvong và các bệnh lây truyền qua đường máu như virut gây suy giảm miễndịch ở người (HIV) và virut viêm gan C Người sử dụng ma túy có thể dùngcác cách như nuốt, hít khói thuốc, khịt mũi, hoặc tiêm Trong số các đườngdùng thì tiêm chích dẫn đến nguy cơ lây truyền bệnh tật cao nhất

Trang 17

Người nghiện chích ma túy là người sử dụng chất ma túy bằng đườngtiêm và bị lệ thuộc vào các chất này [8].

Một số khái niệm khác

Bán dâm là hành vi quan hệ tình dục của một người với người khác đểđược trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác Phụ nữ bán dâm (PNBD) là phụ nữquan hệ tình dục với khách làng chơi để kiếm tiền [9]

Nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM-Men who have sex with men) làmột thuật ngữ chỉ hành vi quan hệ tình dục của những người nam giới vớinhững người nam giới khác với bất kì hoàn cảnh nào, không phụ thuộc vàokhuynh hướng tình dục, nhận dạng tình dục và nhận dạng giới Cụm từ nàythường được sử dụng trong các nghiên cứu về lây nhiễm HIV, mô tả mộthành vi có nguy cơ hơn là mô tả khuynh hướng tình dục của cá nhân [10].Dùng chung bơm kim tiêm (BKT) bao gồm đưa cho người khác sử dụngbơm kim tiêm đã sử dụng và/hoặc dùng lại bơm kim tiêm mà người khác đã

sử dụng

Bơm kim tiêm sạch là dụng cụ tiêm chích vô trùng chỉ dùng một lần vàsau đó không dùng lại nữa [11]

1.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy

1.2.1 Thực trạng nhiễm HIV trên Thế giới

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào tháng 6năm 1981 tại Mỹ Đến cuối năm 2016, theo UNAIDS, nhiễm mới HIV tiếptục có xu hướng giảm nhưng không phải ở tất cả mọi nơi Ước tính khoảng1,8 triệu người mới nhiễm HIV trên toàn cầu năm 2016, ít hơn 8,6% so với2,1 triệu người ở cùng thời điểm năm 2015 Số người tử vong do cácnguyên nhân liên quan đến HIV đã giảm 48% kể từ mức đỉnh trong năm

2005 Tính đến cuối năm 2016, số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang cònsống trên toàn cầu là 36,7 triệu người, trong đó khoảng 53% người được

Trang 18

điều trị ARV [12], [13] Số người nhiễm HIV mới giảm minh chứng chonhững nỗ lực của toàn thế giới trong việc đẩy lùi đại dịch HIV toàn cầu.

Châu Phi là châu lục chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch HIV/AIDS.Khu vực Sahara và Châu Phi là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất thế giớivới 24,7 triệu người, tiếp đến là Châu Á Thái Bình Dương với 4,8 triệu ngườinhiễm HIV Nơi này phải đối mặt với gánh nặng lây nhiễm HIV cao như ởAngola, Cameroon, Mozambique và Nigeria [14]

Tại Châu Á, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Thái Lan vào năm

1985, đến cuối những năm 90, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bốdịch đáng lo ngại trên toàn đất nước Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vựcnày có nhiều hình thái khác biệt, tại Thái Lan và Campuchia hình thái lâynhiễm HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới, nhưng một số nước khácnhư Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia hình thái lây nhiễm vẫn chủ yếu quatiêm chích ma túy (TCMT) và tình trạng lây truyền qua quan hệ tình dục khácgiới đang có xu hướng tăng [15]

1.2.2 Thực trạng nhiễm HIV tại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, trong 6tháng đầu năm 2016, số người xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV là 3.684người, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.366 người, sốngười nhiễm HIV tử vong là 862 người Lũy tích số người nhiễm HIV đangcòn sống 227.225 người, số bệnh nhân AIDS là 85.753 và số tử vong 89.210người Số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục có xu hướng giảm so vớitrước đây, nhưng với tốc độ chậm So với cùng kỳ năm trước, số người mớinhiễm HIV tăng 480 người và số người chuyển sang giai đoạn AIDS tăng1.040 người Trong số những trường hợp mới phát hiện nhiễm HIV, lâynhiễm qua đường tình dục chiếm 56%, lây nhiễm qua đường máu chiếm 34%,

mẹ truyền sang con 2%, còn lại không rõ nguyên nhân [1], [16] Như vậy, mô

Trang 19

hình dịch HIV tại Việt Nam đang có sự thay đổi hình thái lây nhiễm từnguyên nhân chính qua đường tiêm chích ma túy sang lây truyền chính quaquan hệ tình dục, cảnh báo sự lây lan của dịch cho cộng đồng Những ngườinhiễm mới trong giai đoạn hiện nay sẽ không chỉ tập trung trong nhóm nguy

cơ cao mà còn xảy ra trên nhóm người dễ bị tổn thương như vợ/bạn tình củangười nhiễm HIV thông qua quan hệ tình dục

Một số hành vi nguy cơ liên quan đến HIV/AIDS đang có những thay đổitheo hướng phức tạp và khó kiểm soát, can thiệp Các nhóm chính có nguy cơnhiễm HIV cao bao gồm người nghiện chích ma tuý, phụ nữ bán dâm và namquan hệ tình dục đồng giới Những người trẻ tuổi thuộc các nhóm nguy cơ caonày, hoặc những người tham gia vào các hoạt động liên quan đến những nhómnày là những đối tượng đặc biệt dễ bị nhiễm HIV do họ bị rủ rê, lôi kéo, kết hợpvới những điểm yếu của tuổi trẻ, sự mất cân bằng trong các mối quan hệ và đôikhi do bị kỳ thị, phân biệt đối xử từ gia đình và bạn bè Những yếu tố này làmtăng nguy cơ nhiễm HIV do họ tham gia các hành vi nguy cơ như quan hệ tìnhdục không an toàn và dùng chung bơm kim tiêm

1.2.3 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy

1.2.3.1 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nghiện chích ma túy trên Thế giới

Theo báo cáo của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của LiênHiệp Quốc (UNODC), trên toàn thế giới có 247 triệu người ở độ tuổi từ 15đến 64 tuổi đã từng sử dụng ma túy trong năm 2014, trong đó, khoảng trên 29triệu người gặp những rối loạn do sử dụng ma túy Các số liệu này đều tăng sovới năm 2013 với 246 triệu người sử dụng ma túy và 27 triệu người lệ thuộc

ma túy [17] Có khoảng 12 triệu người tiêm chích ma túy và trong đó 1,68triệu người (14%) đang sống với HIV [18] Tỉ lệ hiện nhiễm HIV cao ở nhómngười tiêm chích ma túy ở khắp nơi trên thế giới (lên tới 15,5% ở Đông vàNam Phi; ở Tây-Nam Á và Đông/Đông Nam Châu Âu với tỷ lệ lần lượt là

Trang 20

28,8% và 23,0%) [19] Sử dụng ma túy là một vấn đề sức khỏe cộng đồng,ước tính khoảng 207.400 ca tử vong liên quan đến ma túy vào năm 2014.Người tiêm chích ma túy phải đối mặt với nguy cơ cao mắc các bệnh lâytruyền qua đường máu như virut gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) vàvirut viêm gan C Nguy cơ nhiễm HIV ở những người nghiện chích ma túycao gấp 28 lần người bình thường [20] Ở khu vực Châu Phi cận Sahara,khoảng gần một phần ba số người nghiện chích ma túy nhiễm HIV [18] Điềunày cho thấy, cần phải có những giải pháp trong phòng tránh lây nhiễm, chămsóc và điều trị cho người nghiện chích ma túy Theo thống kê, cứ sáu người

sử dụng ma túy thì chỉ có một người được tiếp cận với điều trị Điều này chothấy sự hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ y tế của đối tượng này [17]

1.2.3.2 Thực trạng nhiễm HIV ở nhóm nghiện chích ma túy tại Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, hiện cả nước có210.751 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng 10.617 người so với cùng

kỳ năm 2015, trong đó khoảng 90% là nam giới Tại Hà Nội, hiện có 14.236người sử dụng ma túy Trong đó, số người có mặt tại cộng đồng là 7.452;vắng mặt là 1.356; ở các cơ sở cai nghiện là 3.233; ở trường trại là 2.195người Theo kết quả theo dõi di biến động người sử dụng ma túy, tốc độ tăngngười nghiện mới đã được kiềm chế, tuy nhiên, số người sử dụng ma túy tổnghợp ở cộng đồng vẫn chưa được phát hiện và thống kê đầy đủ [21]

Về tình hình HIV trên các nhóm đối tượng nguy cơ cao, theo báo cáoGiám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích matúy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và MSM là 5,2% Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễmHIV trong nhóm đối tượng nghiện chích ma túy đã có xu hướng giảm đáng

kể, từ 29,3% năm 2002 xuống còn 9,3% năm 2015 nhưng trong số ngườinhiễm HIV được phát hiện trên toàn quốc, chiếm tỷ lệ lớn nhất vẫn là đốitượng tiêm chích ma túy [16] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma

Trang 21

túy năm 2013 vẫn còn rất cao tại một số tỉnh trọng điểm như Hải phòng(43,5%), Điện Biên (30,9%), Hà Nội (25,9%), Yên Bái (25,9) và Quảng Ninh(25,0%) [22], [23].

1.3 Nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy

Theo UNAIDS, nguy cơ lây nhiễm HIV được định nghĩa là khả năng củamột người có thể bị lây nhiễm HIV Những hành vi nhất định tạo ra, làm tăng

và duy trì khả năng lây nhiễm được coi là nguy cơ Người tiêm chích ma tuý

có nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường máu và quađường tình dục do thực hành tiêm chích và các hành vi tình dục không antoàn Những hành vi đó bao gồm dùng chung bơm kim tiêm khi TCMT,QHTD với nhiều bạn tình trong thời gian dài không sử dụng hoặc ít sử dụngBCS [24] Nguy cơ nhiễm HIV có thể do cá nhân bị lôi kéo vào các hành vinguy cơ từ nhiều lý do khác nhau như thiếu thông tin, không có khả năng đàmphán về tình dục an toàn, không sẵn có BCS, BKT Những năm gần đây, sựtiếp cận với HIV/AIDS đã được mở rộng không chỉ tập trung vào nguy cơ cánhân mà còn cả yếu tố môi trường, xã hội như sự kỳ thị, phân biệt đối xử vớiHIV, vai trò của gia đình và cộng đồng Một nghiên cứu tổng quan hệ thống

về các hỗ trợ xã hội và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV đã khẳng định mốiliên quan giữa hai yếu tố này Đồng thời nghiên cứu nhấn mạnh rằng các nỗlực can thiệp dự phòng HIV cần tập trung vào giảm kỳ thị, phân biệt đối xử

và tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, cộng đồng cho những nhóm người cónguy cơ cao và dễ bị tổn thương [25] Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếnhành tìm hiểu và phân tích các yếu tố thuộc nguy cơ cá nhân ở nhóm nghiệnchích ma túy

1.3.1 Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm nam nghiện chích ma túy

1.3.1.1 Tiêm chích ma túy và dùng chung bơm kim tiêm

Dùng chung bơm kim tiêm khi TCMT là một trong những hành vi nguy

Trang 22

cơ cao lây truyền HIV [7], [26] Theo ước tính của Liên minh AIDS, trungbình cứ khoảng mười trường hợp nhiễm mới HIV thì có một trường hợp dodùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma túy Chỉ có 25% người NCMTdùng bơm kim tiêm sạch trong tất cả các lần tiêm chích ma túy vào năm 2015[26], [27] Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố nguy cơ nhiễmHIV trên các nhóm đối tượng nguy cơ cao Các kết quả cho thấy có mối liênquan giữa dùng chung BKT với lây nhiễm HIV Tỷ lệ dùng chung bơm kimtiêm đã giảm ở hầu hết các tỉnh nhưng vẫn còn cao ở một số tỉnh như: Gia Lai(22,7%), Hồ Chí Minh (39,3%), Đà Nẵng (39%) [23], [28] Tại Hà Nội, tỷ lệdùng chung BKT trong 6 tháng qua trong điều tra IBBS năm 2005 là 11,2%;năm 2009 là 17,8%; đến năm 2013 tỷ lệ này đã giảm xuống 6,3% [23] NgườiNCMT thường sinh hoạt theo nhóm và các hành vi của các cá nhân luôn chịuảnh hưởng bởi các quan niệm và hành vi của nhóm Một nghiên cứu định tính

đi sâu tìm hiểu hành vi tiêm chích của nhóm NCMT đã chỉ ra rằng: không đủtiền mua thuốc để chích một mình là nguyên nhân chính dẫn đến tiêm chíchtheo nhóm và dùng chung bơm kim tiêm Những người NCMT trong mộtnhóm thường hùn nạp tiền để mua thuốc và cùng tiêm chích với nhau Ngoài

ra, việc dùng chung BKT trong các nhóm bạn chích còn là một cách thể hiệntình bạn, tình anh em giữa các thành viên trong nhóm Những người NCMTkhi tiêm chích chung, chịu ảnh hưởng của áp lực nhóm về việc sử dụng chungBKT, nếu người NCMT nào trong nhóm có hành vi muốn dùng riêng BKTkhi tiêm chích thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc không tin tưởng bạnchích cùng hoặc không phù hợp với những quy tắc thường thấy trong nhữngnhóm chích chung Một lý do khác khiến người NCMT dùng chung bơm kimtiêm hay các dụng cụ tiêm chích khác là áp lực từ phía công an Họ có thể bịbắt nếu trong người có ma túy và dụng cụ tiêm chích Ngoài ra, vào ban đêm,việc mua được BKT sạch để dùng là rất khó, vì vậy, để thỏa mãn cơn thèmthuốc họ sẵn sàng mượn BKT của bạn chích hoặc dùng lại BKT chưa được vô

Trang 23

trùng [29], [30] Đây chính là hành vi nguy cơ cao dẫn đến lây nhiễm HIV từbạn chích nhiễm HIV.

1.3.1.2 Quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su

Quan hệ tình dục không an toàn cũng là nguyên nhân dẫn đến lây nhiễmHIV cao ở nhóm nghiện chích ma túy Một phần lớn người NCMT chưa lậpgia đình hoặc ly dị/ly thân/góa nên nhóm đối tượng này khi có nhu cầu QHTDthì thường tìm đến PNBD Những người này thường có quan hệ tình dục vớiphụ nữ bán dâm hay quan hệ tình dục đồng giới và việc họ bị nhiễm HIV từbạn tình hay bạn tình bị lây nhiễm HIV từ họ đều có nguy cơ cao như nhau.Nguy hiểm hơn khi người tiêm chích ma túy có bạn tình cũng tiêm chích matúy Ngoài lây nhiễm HIV sang người khác, quan hệ tình dục không được bảo

vệ giữa những người có HIV dương tính có thể dẫn đến các bệnh lây truyềnqua đường máu khác như viêm gan B và C và các bệnh lây qua đường tìnhdục khác Tất cả đều có thể đẩy nhanh sự tiến triển sang giai đoạn AIDS Sửdụng bao cao su khi quan hệ tình dục là phương pháp an toàn và hiệu quả nhất

để tránh lây nhiễm HIV trong mối quan hệ bạn tình

Về quan hệ tình dục với PNBD, theo kết quả điều tra giám sát kết hợphành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) năm 2006, 2009, 2013, tỷ lệNCMT có quan hệ tình dục với PNBD trong 12 tháng qua tại thành phố HàNội là 21% (năm 2006); 38,1% (năm 2009); 37,8% (năm 2013) và tỷ lệ dùngBCS khi quan hệ tình dục với PNBD tương ứng là 51,2%; 60,6%; 78,2% Ởcác tỉnh/thành phố khác, tỷ lệ người NCMT có quan hệ tình dục với PNBDtrong 12 tháng qua cao hơn như Nghệ An, Quảng Ninh, An Giang, Điện Biên

Tỷ lệ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục với PNBD của hầu hết các tỉnh đềutrên 50%, đặc biệt có nơi rất cao như Hải Phòng (91%) [23], [31], [32] Kếtquả điều tra giám sát trọng điểm năm 2014 về quan hệ tình dục trong nhómNCMT cho thấy 20,7% người NCMT có quan hệ tình dục với PNBD trong 12

Trang 24

tháng qua và 59,2% thường xuyên sử dụng BCS khi quan hệ tình dục vớiPNBD trong 1 tháng qua [33] Như vậy, hành vi quan hệ tình dục không antoàn với PNBD ở đối tượng NCMT đã giảm nhưng giảm ít và không phải ởtất cả các tỉnh/thành phố

Thực tế tại Việt Nam, với nền văn hóa Á Đông và tư tưởng phụ hệ, namgiới thường có quyền trong việc đưa ra các quyết định và không phải chịutrách nhiệm về các hành vi tình dục của bản thân Vì vậy, nam giới thườngnắm vai trò chủ động trong việc quyết định sử dụng BCS trong quan hệ tìnhdục hay không Lý do tại sao nam giới sử dụng hoặc không sử dụng bao cao

su trong các mối quan hệ tình dục rất khác nhau tùy thuộc vào loại bạn tìnhkhác nhau, từng hoàn cảnh cụ thể Các lý do phổ biến là không thích dùng,không có sẵn BCS, bạn tình phản đối, hoặc cho rằng không cần thiết Trongnghiên cứu của Trịnh Thị Sang tại Bắc Giang, không thích dùng BCS vàkhông có sẵn BCS là các lý do chính dẫn đến việc người NCMT không dùngkhi quan hệ tình dục với PNBD Đặc biệt, khi người NCMT đang trong trạngthái hưng phấn, kích thích sau khi sử dụng ma túy, họ không ý thức đượchành vi của mình, thực hiện QHTD không được bảo vệ [34] Đối với bạn tìnhthường xuyên, mục đích sử dụng BCS khi quan hệ tình dục chủ yếu là đểtránh thai Họ cho rằng nếu bạn tình của họ đã dùng biện pháp tránh thai làđặt vòng hoặc uống thuốc tránh thai rồi thì dùng BCS khi quan hệ tình dục sẽdẫn đến nghi ngờ lẫn nhau Nhiều khi người NCMT cũng không đủ can đảm

để nói rõ nguy cơ của họ đối với người thân của mình Điều này khiến cho họtiếp tục hành vi QHTD không an toàn, từ đó lây bệnh cho vợ/người yêu, concái của họ [34] Nghiên cứu của Hammett trên đối tượng là vợ/người yêu củangười nam NCMT tại 3 tỉnh/thành phố Việt Nam cho thấy 40% người khôngbiết tình trạng nhiễm HIV của chồng/người yêu nên vẫn tiếp tục thực hiện cáchành vi nguy cơ mà không được bảo vệ Điều này khiến người phụ nữ vô tình

Trang 25

bị lây nhiễm HIV từ chồng/người yêu do quan hệ tình dục không an toàn Đâychính là yếu tố quan trọng tạo nên cầu nối lây nhiễm HIV vào cộng đồng dân

cư [35] Đối với những người NCMT có vợ/người yêu/bạn tình tiêm chích matúy, nguy cơ lây nhiễm HIV không chỉ qua quan hệ tình dục không an toàn

mà còn qua dùng chung BKT với vợ/người yêu/bạn tình Tác giả DươngCông Thành đã chỉ ra tỷ lệ nhiễm HIV trong số PNBD có tiêm chích ma túytrong các năm 2010, 2011, 2012 lần lượt là 29%, 22%, 16% Tỷ lệ này caohơn nhiều so với tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD nói chung (dưới 4%) [36]

Từ những lý do trên đã gợi mở cho ta thấy đối với từng đối tượng khácnhau cách thức tuyên truyền, nội dung tuyên truyền và việc cung cấp dụng cụ

hỗ trợ trong quan hệ tình dục an toàn cho người NCMT cũng khác nhau Sựquyết định sử dụng BCS không những chỉ phụ thuộc vào bản thân ngườiNCMT mà còn phụ thuộc vào vợ/người yêu, hoặc bạn tình của họ Sự thuyếtphục các loại bạn tình dùng BCS trong quan hệ tình dục cũng là một bước cầnthiết và sự sẵn có BCS cũng quyết định đến việc thường xuyên sử dụng BCSđối với bạn tình bất chợt và PNBD

1.3.1.3 Nguy cơ phối hợp

Ngoài ra, các nguy cơ phối hợp có liên quan đến lây nhiễm HIV như: sựđan xen giữa hai nhóm hành vi nguy cơ trên Một tỷ lệ khá cao người nghiệnchích ma túy vừa tiêm chích ma túy có dùng chung BKT, vừa có quan hệ tìnhdục không dùng BCS thường xuyên Do vậy, một số đối tượng nhiễm HIV/AIDS

đã không thể xác định được nguyên nhân lây nhiễm HIV của bản thân do tiêmchích ma túy hay do quan hệ tình dục [30] Số liệu giám sát IBBS vòng 1, 2 vàvòng 3 tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng: những hành vi đan xen có những nguy cơlây nhiễm HIV đặc biệt cao Người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục vớiPNBD có nguy cơ lây truyền HIV cao hơn rất nhiều so với những đối tượngNCMT không có quan hệ tình dục với PNBD do họ không thường xuyên sử dụng

Trang 26

bao cao su khi quan hệ tình dục [23], [31], [32].

Bên cạnh đó, tình hình sử dụng ma túy tổng hợp đang có xu hướng tăngnhanh, nhất là ở các đô thị lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai địaphương có số trường hợp sử dụng ma túy tổng hợp cao nhất với tỷ lệ 50-85%

ở tất cả các nhóm nguy cơ cao [37] Về tần suất sử dụng, đá và thuốc lắc chỉđứng sau heroin, đá thường được yêu thích hơn trong cộng đồng người tiêmchích ma túy [3] Mặc dù hầu hết các loại ma túy tổng hợp này được dùngtheo đường hút hoặc uống sẽ không làm trực tiếp lây nhiễm HIV, nhưng việc

sử dụng ma túy tổng hợp làm người sử dụng mất kiểm soát hành vi, kích thíchnhu cầu quan hệ tình dục dẫn đến quan hệ tình dục tập thể không được bảo

vệ, quan hệ đồng giới, từ đó tăng nguy cơ lây nhiễm HIV Sự kết hợp cáchành vi có nguy cơ cao và sự tương tác giữa các quần thể có nguy cơ cao vàdân số nói chung có thể dẫn tới sự lan truyền nhanh chóng của dịch HIV

1.3.2 Tiếp cận với các chương trình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV

Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc công nhận, tiến hànhcác can thiệp giảm hại đối với dịch HIV/AIDS và tỷ lệ hiện nhiễm HIV trongnhóm người NCMT đã giảm trong các năm gần đây Có lẽ, để có được kết quả

đó thì phải kể đến sự thay đổi chính sách trong Luật phòng chống HIV năm

2006 quy định hướng tới giảm tác hại trong cách tiếp cận của chính phủ đối vớiviệc sử dụng ma túy [38] Để đối phó với dịch HIV/AIDS, nhiều chương trìnhcan thiệp đã và đang được triển khai tại Việt Nam Năm nhóm biện pháp chínhtrong phòng chống HIV/AIDS, đó là:

- Thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi;

- Can thiệp giảm tác hại trong nhóm đối tượng nguy cơ cao (cung cấpbơm kim tiêm sạch, cung cấp và tiếp thị xã hội bao cao su, điều trị thay thếnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone…);

Trang 27

- Giám sát HIV/AIDS, phát hiện và điều trị sớm các bệnh lây truyền quađường tình dục, bệnh lao;

- Tư vấn xét nghiệm HIV, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;

- Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút (ARV) làm chậm sự lây lan củaHIV [39]

Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tậptrung, chủ yếu trong các nhóm nguy cơ cao (nghiện chích ma túy, phụ nữ bándâm và MSM) Vì vậy, các hoạt động giảm tác hại được thực hiện tập trungvào các nhóm này, đóng vai trò chủ chốt trong hạn chế sự lây truyền HIV racộng đồng Giảm tác hại là một cách tiếp cận dựa trên bằng chứng để dựphòng, điều trị và chăm sóc người nhiễm HIV và người nghiện chích ma túy,được WHO và các cơ quan khác của Liên hợp quốc đồng ý thông qua và hỗtrợ thực hiện Các chương trình giảm tác hại đã góp phần ngăn chặn và giảmthiểu sự lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đồng thời giúp cảithiện sức khỏe và nâng cao chất lượng sống cho họ ở nhiều quốc gia trên thếgiới [27] Có thể thấy rõ được điều này qua thành công tại Thụy Sĩ, Anh, Úcvới việc giảm nhiễm mới HIV trong nhóm nghiện chích ma túy xuống gầnnhư bằng không Tại Nepal, tỷ lệ này giảm từ 68% năm 2002 xuống 6,3%năm 2011, tại Ukraine giảm từ 41% xuống 19,7% Ngược lại, ở Philippin, nơicác chương trình giảm hại bị giới hạn, báo cáo cho thấy tỷ lệ nhiễm mới HIVtrong nhóm NCMT tăng từ 1% lên tới 41% [20] Người tiêm chích ma túy sửdụng các dịch vụ dự phòng HIV có xu hướng tham gia tiêm chích và thựchành tình dục an toàn hơn [40] Vì vậy cần nỗ lực để duy trì, tăng cơ hội chongười NCMT tiếp cận các dịch vụ này Trong số 158 quốc gia trên thế giới,

đã có trên một nửa số quốc gia triển khai các chương trình giảm hại Tuynhiên, một số nước còn lại, chương trình giảm hại vẫn còn có quy mô nhỏ,

Trang 28

chủ yếu dựa trên nguồn Phi chính phủ và đang phải đối mặt với việc thiếukinh phí, thiếu sự ủng hộ về mặt chính trị.

1.3.2.1 Chương trình truyền thông thay đổi hành vi

Công tác thông tin giáo dục truyền thông về HIV/AIDS được xem nhưvacxin trong dự phòng lây nhiễm HIV Chương trình này đã được triển khairất sớm ở nước ta với nhiều hình thức tiếp cận trực tiếp và gián tiếp Mục địchchủ yếu của truyền thông thay đổi hành vi là nâng cao nhận thức, kiến thức vàhiểu biết về lây truyền HIV và các biện pháp phòng chống cho người dân, đặcbiệt là những người có hành vi nguy cơ cao Kết quả của các hoạt động truyềnthông đã cải thiện đáng kể tình trạng phân biệt đối xử, nâng cao kiến thức củangười dân về HIV/AIDS và các hành vi nguy cơ Theo báo cáo kết quả năm

2015, toàn quốc có khoảng 10 triệu lượt người thuộc đối tượng đích đượctruyền thông phòng chống HIV/AIDS, tăng gần 3 triệu lượt người so với cùng

kỳ năm trước Trong các nhóm đối tượng nguy cơ cao, nhóm nghiện chích matúy được tiếp cận nhiều nhất (17%) [39] Việc tiếp cận với nhóm này để thựchiện truyền thông không phải dễ dàng bởi họ không tin tưởng vào nhữngngười không thuộc nhóm của họ Do vậy, phương pháp truyền thông quamạng lưới đồng đẳng viên là phương pháp tiếp cận hiệu quả nhất Hiện nay,việc thực hiện các hoạt động truyền thông trực tiếp qua nhóm tuyên truyềnviên giảm do đội ngũ đồng đẳng viên giảm Về nội dung truyền thông, chủyếu tập trung vào các nội dung như điều trị ARV, điều trị Methadone, xétnghiệm HIV, thực hiện mục tiêu 90-90-90, và sử dụng bảo hiểm y tế chongười nhiễm HIV Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chưa được xây dựng đểphù hợp cho từng nhóm đối tượng khác nhau, từng khu vực địa lý khác nhau

và mới chỉ triển khai trong các tháng chiến dịch Bởi vậy, mức độ tiếp cận củangười dân tới các thông tin giáo dục truyền thông về HIV/AIDS còn thấp TạiBắc Giang, chỉ có 26,2% người NCMT nhận được tài liệu truyền thông trong

Trang 29

6 tháng qua [41] Hạn chế trong việc tiếp cận chương trình truyền thông sẽdẫn đến hạn chế trong nhận thức của người NCMT về phòng, chống lâynhiễm HIV Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy nhận thức của người NCMT vềHIV/AIDS nhìn chung vẫn chưa cao, và đặc biệt mức độ thay đổi hành vi,thực hành hành vi an toàn vẫn còn hạn chế Nghiên cứu của Trần Văn Kiệmtại Quảng Nam cho thấy chỉ có 48,6% người NCMT có kiến thức cơ bản vềphòng lây nhiễm HIV [42] Tại Cần Thơ, Quảng Trị, tỷ lệ người NCMT cókiến thức đúng về HIV/AIDS là 62,1%; 62,4% [43], [44] Điều này cho thấy,nhóm NCMT cần được quan tâm hơn nữa trong thời gian tới về tiếp cận cáctài liệu truyền thông thay đổi hành vi và phòng, chống HIV/AIDS.

1.3.2.2 Chương trình cung cấp bơm kim tiêm sạch

Chương trình cung cấp BKT sạch cho người NCMT được coi là mộttrong những can thiệp hiệu quả để giảm lây truyền HIV ở người NCMT Vàcũng chưa có bằng chứng nào cho thấy chương trình BKT làm tăng sử dụng

ma túy, phạm tội ở người NCMT Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chứngminh hiệu quả của chương trình BKT trong việc giảm hành vi dùng chungBKT ở đối tượng này [45], [46] Tại Việt Nam, chương trình phân phát bơmkim tiêm sạch được triển khai thí điểm lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1993

và đã trở thành một hoạt động trọng tâm trong can thiệp giảm hại dự phònglây nhiễm HIV BKT sạch được phát cho người NCMT qua các kênh: mạnglưới đồng đẳng viên, cộng tác viên, qua các phòng tư vấn xét nghiệm tựnguyện và các cơ sở y tế trên địa bàn Khi tiếp cận chương trình, ngoài việcnhận BKT miễn phí, người NCMT còn có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tếkhác như tư vấn, xét nghiệm HIV hay tư vấn điều trị methadone Đến hết năm

2015, chương trình bơm kim tiêm đã được triển khai tại 53/63 tỉnh/thành phố,tiếp cận gần 100.000 người nghiện chích ma túy Chương trình cung cấp vàtrao đổi BKT sạch đã góp phần làm giảm tỷ lệ dùng chung BKT trong nhóm

Trang 30

người NCMT Kết quả là tỷ lệ mới nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm rõ rệt

từ 29% năm 2001 xuống còn 9,3% năm 2015 [39] Tại Hà Nội, tính đến ngày30/09/2016, chương trình BKT đã phát miễn phí cho 14.247 người NCMT vàcác nhân viên tiếp cận cộng đồng đã giới thiệu, chuyển gửi được 11.908người có nguy cơ cao đi xét nghiệm HIV [16] Để đảm bảo hiệu quả chươngtrình BKT, việc tiếp cận với người NCMT đóng vai trò quan trọng Khoảngcách từ nơi cư trú đến nơi phát BKT có liên quan đến khả năng tiếp cận củangười NCMT [47] Bên cạnh đó, quan điểm ma túy là tệ nạn xã hội, sự kỳ thị

và phân biệt đối xử với người NCMT làm cho hoat động triển khai chươngtrình can thiệp giảm tác hại nói chung và chương trình cung cấp BKT sạch nóiriêng gặp nhiều khó khăn Trước đây, các chính sách pháp luật tập trung vàoquản lý, bắt giữ các đối tượng NCMT Nhiều địa phương vẫn còn tồn tại hiệntượng các đồng đẳng viên đi phát bơm kim tiêm bị công an bắt giữ hoặc theodõi để bắt các đối tượng NCMT Người NCMT sợ bị công an bắt và sợ bịngười thân phát hiện nên không tiếp cận nguồn BKT miễn phí Điều này cànglàm cho việc tiếp cận người NCMT gặp khó khăn và góp phần gia tăng tỷ lệdùng chung BKT ở nhóm đối tượng này Hiện nay, độ bao phủ của chươngtrình BKT còn hạn chế Tỷ lệ tiếp cận chương trình phân phát BKT ở quầnthể nam NCMT tại khu vực các tỉnh phía Nam giảm từ 72,7% năm 2010xuống 47,2% năm 2014 (p<0,001) [48] Hoạt động phân phát bơm kim tiêmsạch chủ yếu được hỗ trợ bởi các Tổ chức phi chính phủ và các chương trình

dự án khác Việc đảm bảo duy trì chương trình phân phát bơm kim tiêm gặpnhiều khó khăn khi các nguồn tài trợ đang cắt giảm mạnh Số lượng bơm kimtiêm cho hoạt động phân phát miễn phí giảm so với trước đây, chủ yếu từnguồn kết dư từ các năm trước [1]

1.3.2.3 Chương trình cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su

Chương trình cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su cũng được

Trang 31

triển khai mạnh mẽ từ năm 2004 tới nay với hai hình thức: phát miễn phí vàtiếp thị xã hội BCS Các nghiên cứu đã ghi nhận tác động của chương trìnhphát miễn phí bao cao su kết hợp với truyền thông thay đổi hành vi đã giúpgiảm các hành vi tình dục không an toàn, giảm tỷ lệ nhiễm HIV mới và cácbệnh lây qua đường tình dục khác Đến nay, chương trình này đã mở rộng63/63 tỉnh, thành phố và hầu hết các quận/huyện, xã/phường cả nước Chươngtrình này không chỉ đơn thuần là việc cung cấp BCS mà nó còn nâng cao nhậnthức của người dân trong phòng tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền quađường tình dục Mặc dù chương trình phân phát BCS được triển khai và mởrộng trên toàn quốc nhưng độ bao phủ của các chương trình còn rất thấp vàcác chương trình chưa đạt được ở mức có hiệu quả Tỷ lệ người NCMT nhậnđược bao cao su miễn phí không đồng đều giữa các tỉnh, đặc biệt có tỉnh cònrất thấp [49] Số liệu điều tra ở một số tỉnh nước ta cho thấy tỷ lệ ngườiNCMT nhận được BCS miễn phí trong 6 tháng qua rất thấp như Bắc Giang(7,7%); Lai châu (17,8%); Cần Thơ (56%) [41], [43], [50] Hiện nay, nguồnkinh phí cho hoạt động này từ các tổ chức phi chính phủ đang bị cắt giảm, sốlượng BCS miễn phí giảm đáng kể, chương trình bao cao su đang chuyểnhướng từ phân phát miễn phí sang tiếp thị xã hội BCS Trong 6 tháng đầunăm 2016, chỉ còn 26/63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc triển khai chươngtrình phân phát BCS miễn phí cho 105.000 người thuộc nhóm đối tượng nguy

cơ cao [1] Điều này khiến cho việc lây nhiễm HIV trên đối tượng nguy cơcao có thể diễn ra nhanh chóng nếu không có giải pháp phù hợp

1.3.2.4 Chương trình điều trị Methadone

Năm 2008, Việt Nam bắt đầu triển khai thí điểm chương trình “điều trịthay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone” Điều trịmethadone làm giảm các tác hại do nghiện các chất dạng thuốc phiện (bệnhlây nhiễm, vi phạm pháp luật, tử vong do quá liều…), giảm sử dụng các chất

Trang 32

ma túy bất hợp pháp, cải thiện sức khỏe và giúp người nghiện duy trì việclàm, ổn định cuộc sống, tái hòa nhập xã hội [51], [52] Chương trình điều trịmethadone đã được mở rộng và triển khai tại 58 tỉnh/thành phố Tính đến cuốitháng 3 năm 2017, cả nước có tổng cộng 280 cơ sở MMT, với 51.318 bệnhnhân điều trị, tuy nhiên số lượng bệnh nhân chưa đạt chỉ tiêu Chính phủ đãgiao [53] Tại Hà Nội, sau 5 năm triển khai, toàn thành phố có 17 cơ sở điềutrị Metahdone Tính đến 31/10/2016, số bệnh nhân được điều trị trên toànthành phố là 4.402 người, đạt 51,8% so với chỉ tiêu kế hoạch [16].

1.3.2.5 Chương trình tư vấn và xét nghiệm HIV

Mô hình tư vấn và xét nghiệm HIV nhằm phát hiện sớm các đối tượngnhiễm HIV trong cộng đồng để sớm đưa vào chương trình chăm sóc và điềutrị Tư vấn và xét nghiệm HIV nhằm mục đích cung cấp cơ hội cho kháchhàng tìm hiểu nguy cơ nhiễm HIV của bản thân và biết được kết quả xétnghiệm HIV, từ đó khuyến khích khách hàng thay đổi hành vi, thực hành cácbiện pháp dự phòng lây nhiễm HIV Khách hàng đến nhận dịch vụ, ngoài việcđược xét nghiệm, tư vấn trước và sau xét nghiệm, còn được hỗ trợ chuyển gửisang các dịch vụ chăm sóc và điều trị khác phù hợp Ở Việt Nam, có nhiều

mô hình tư vấn, xét nghiệm HIV khác nhau hiện đang được triển khai nhằmtăng khả năng tiếp cận của các nhóm đối tượng với dịch vụ này Trong đó,hình thức tư vấn xét nghiệm tự nguyện và tư vấn xét nghiệm do cán bộ y tế đềxuất là hai hình thức áp dụng phổ biến nhất Hiện tại, trên địa bàn thành phố

Hà Nội có 14 phòng tư vấn xét nghiệm Tính đến 30/09/2016 công tác tư vấn,xét nghiệm đã tiến hành tư vấn trước xét nghiệm HIV cho 149.514 lượt kháchhàng, trong đó, số khách hàng đồng ý xét nghiệm là 102.212 người (đạt 68%),

và đã phát hiện được 780 trường hợp nhiễm HIV [16]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người NCMT có xét nghiệm HIV

và biết kết quả đều thay đổi trong thực hành các hành vi nguy cơ cao như

Trang 33

giảm dùng chung dụng cụ tiêm chích khi TCMT và quan hệ tình dục không

an toàn [54] Nghiên cứu tại ba tỉnh Bắc Cạn, Hòa Bình, Tuyên Quang năm

2014 cho thấy, hầu hết người NCMT biết nơi tư vấn và xét nghiệm HIV(92%) Tỷ lệ này ở một số tỉnh khác cũng khá cao như Lai Châu (87,5%); BắcGiang (64,3%) Tỷ lệ có xét nghiệm HIV gần nhất trong 6 tháng qua tại BắcCạn, Hòa Bình, Cần Thơ, tương ứng là 70,1%; 61%; và 57,5% Tỷ lệ này ởmột số tỉnh rất thấp như Tuyên Quang (15,5%), Nghệ An (12%), Lai Châu(24,7%), Bắc Giang (49,7%) Tỷ lệ xét nghiệm HIV và biết kết quả trong 12tháng qua ở nhóm NCMT của cả nước thấp, chỉ đạt 28% năm 2014, thấp hơnnhóm PNBD và MSM (38,4% và 39,4%) [33], [41], [43], [54] Nghiên cứucủa Nguyễn Anh Tuấn giai đoạn 2005-2013 chỉ ra rằng, tỷ lệ xét nghiệm HIV

và biết kết quả ở đa số các tỉnh trong nghiên cứu này có chiều hướng tăngnhưng không nhiều, đều thấp dưới 40% [22] Hạn chế tiếp cận với dịch vụ tưvấn và xét nghiệm HIV ở Việt Nam khiến rất ít người NCMT biết về tìnhtrạng HIV của họ và hầu hết các xét nghiệm đã được làm trong thời gian vừaqua là bắt buộc và gắn với giám sát trọng điểm Mô hình này vẫn chưa đượchưởng ứng là do thái độ kì thị với người HIV của xã hội và sự e ngại căn bệnhthế kỉ này của chính những người có nhu cầu xét nghiệm Các dịch vụ tư vấn

và xét nghiệm tự nguyện HIV là mô hình cần được khuyến khích nhân rộng

để giúp mọi người hiểu biết về tình trạng nhiễm HIV của mình và cho nhữngngười có kết quả dương tính biết về cách phòng chống lây nhiễm và lựa chọnđiều trị

1.3.2.6 Chương trình điều trị ARV

Tại Việt Nam, điều trị thuốc ARV cho người nhiễm HIV/AIDS đượctriển khai từ năm 1995 và các đầu mối chăm sóc y tế cho người nhiễmHIV/AIDS được đặt tại các phòng khám ngoại trú Tại các phòng khám ngoạitrú bệnh nhân sẽ được tiếp cận liệu pháp điều trị ARV, hỗ trợ điều trị dự

Trang 34

phòng nhiễm trùng cơ hội, khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, tư vấn, hỗ trợ vềcải thiện cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng Hiện nay, toàn quốc có 312phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phường; đangđiều trị ARV tại 23 trại giam và 33 Trung tâm 06 Hiện có 95.752 bệnh nhânđang điều trị ARV, trong đó 91.156 người lớn, 4.596 trẻ em Việc điều trịARV sớm có tác động rất mạnh trong việc giảm AIDS, giảm tử vong và giảmnhiễm HIV mới Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc bắt đầu ARV sớm không chỉmang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV sangngười khác nếu họ dùng chung kim hoặc có quan hệ tình dục không được bảo

vệ [55], [56] Để tiến tới mục tiêu “90-90-90” (90% người nhiễm HIV đượcchẩn đoán, 90% người chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị HIV, 90% ngườiđiều trị ARV ức chế virut thành công) vào năm 2020, các hoạt động can thiệpđược chú trọng hiện nay là tăng cường tiếp cận xét nghiệm HIV sớm và điềutrị ARV

1.4 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của

cả nước Theo thống kê của ngành Lao động Thương binh Xã hội, mỗi năm

Hà Nội có khoảng gần 3 triệu người từ các tỉnh khác đến sinh sống, làm việc,

và học tập Hà Nội là nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, dạy nghề,các khu công nghiệp, khu chế xuất Trong những năm gần đây, cùng với sựtăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hóa, các hoạt động giao lưu thương mại,dịch vụ du lịch ngày càng phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó,

Hà Nội phải đối mặt với việc phát sinh các vấn đề xã hội phức tạp như tìnhhình buôn bán, sử dụng ma tuý, hoạt động mại dâm, và các tệ nạn xã hội khácrất phức tạp Điều đó cũng tạo điều kiện cho việc gia tăng tỷ lệ nhiễmHIV/AIDS liên quan đến ma túy và mại dâm tại Hà Nội Theo báo cáo năm

2015, Hà Nội có 842 ca phát hiện mới nhiễm HIV, 686 người chuyển sang

Trang 35

giai đoạn AIDS và 61 người tử vong do HIV Tính đến hết năm, lũy tích sốngười nhiễm HIV là 18.441, số người chuyển sang giai đoạn AIDS 8.684 và4.510 người tử vong do HIV Tất cả các quận/huyện thành phố Hà Nội đều cóngười nhiễm HIV; 93,8% xã/phường/thị trấn đã phát hiện người nhiễm HIV.Các quận có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất là quận Đống Đa, tiếp đến làquận Hai Bà Trưng và quận Long Biên Một số quận/huyện có tỷ lệ mớinhiễm tăng so với các năm trước như Ba Đình, Ba Vì, Hoàn Kiếm, HoàngMai, Tây Hồ, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Thạch Thất, Đan Phượng Trong số cáctrường hợp nhiễm HIV mới phát hiện, chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là nhóm đốitượng nghiện chích ma túy (53,67%) Tuy nhiên, các trường hợp mới pháthiện nhiễm HIV qua quan hệ tình dục đang có xu hướng gia tăng [39] Mặc

dù số người nhiễm HIV được phát hiện giảm liên tiếp trong các năm trở lạiđây nhưng chưa bền vững, vẫn còn nhiều yêu tố nguy cơ có thể gây lây landịch nhanh chóng nếu không tiếp tục có những can thiệp kịp thời và hiệu quả.Nhận thức được mối hiểm hoạ to lớn của đại dịch HIV/AIDS, nhằm ngănchặn sự lan truyền của HIV, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của dịch, trongnhững năm qua, tại Hà Nội, các chương trình giảm tác hại cùng nhiều hoạtđộng phòng chống HIV/AIDS đã được triển khai và đạt được những kết quảtích cực [16]

Hà Nội là một trong các tỉnh nằm trong danh sách các địa bàn Giám sáttrọng điểm HIV từ năm 1994 đến nay Tại Việt Nam, giám sát trọng điểm(GSTĐ) HIV được triển khai hàng năm để theo dõi tỷ lệ hiện nhiễm HIV tạitừng tỉnh và cả nước, trên 6 nhóm quần thể bao gồm NCMT, PNBD, MSM,bệnh nhân nam mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, phụ nữ mang thai vànam thanh niên khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự Tuy nhiên, hạn chế củaGSTĐ là chỉ đo lường và theo dõi tỷ lệ hiện nhiễm trong các nhóm quần thể

mà không đánh giá được mức độ hành vi nguy cơ trong các nhóm quần thể

Trang 36

này đặc biệt là trong các nhóm nguy cơ cao, do đó, thiếu thông tin để xâydựng các chiến lược can thiệp dự phòng lây nhiễm hiệu quả Năm 2014, giámsát hành vi lồng ghép vào GSTĐ HIV được triển khai tại 21 tỉnh với mục tiêu

đo lường tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các chỉ số hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV

và độ bao phủ các chương đình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV ở nhómNCMT, PNBD và MSM Việc lồng ghép các câu hỏi hành vi vào giám sátthường quy đã góp phần cung cấp số liệu thiết yếu cho theo dõi dự báo sớmtình hình dịch HIV cũng như xây dựng và triển khai các can thiệp phù hợp

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Thời gian

Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2016

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5/2017 đến tháng 11/2017

Trang 38

tháng 12 năm 2015, Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 12quận, 17 huyện, 1 thị xã và 584 đơn vị hành chính cấp xã gồm 386 xã, 177phường và 21 thị trấn Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, dân số Hà Nội là7.558.956 người Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km².Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trongkhi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, ỨngHòa mật độ dưới 1.000 người/km² Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng

4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% [57]

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Người nghiện chích ma túy trên địa bàn Hà Nội, đảm bảo các tiêu chuẩn:

- Nam giới, 16 tuổi trở lên;

- Có tiêm chích ma túy ít nhất một lần trong vòng 1 tháng trước thờiđiểm thu thập số liệu;

- Được quản lý tại địa bàn nghiên cứu;

- Đồng ý và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi;

- Hiện đang ở trong các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xãhội, trại giam, trại tạm giam

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 39

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt trong nghiên cứu

- Z1-α/2: Hệ số giới hạn tin cậy, phụ thuộc vào mức ý nghĩa thống kêcủa a, trong nghiên cứu này chọn a = 0,05 ứng với giá trị Z1- a/2=1,96 (thuđược từ bảng Z)

- p: Là tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm người nghiện chích ma túy tại Hà Nộinăm 2013 theo điều tra của IBBS, chọn p=0,26 [23]

- d: là sai số tuyệt đối, chọn d=0,05

Thay vào công thức trên, tính toán theo lý thuyết ta được n=295, làm tròn

số được cỡ mẫu là 300 người

Kết quả nghiên cứu đã tiếp cận và mời được 300 người đồng ý tham giavào nghiên cứu

2.3.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn theo Giám sát trọngđiểm lồng ghép câu hỏi hành vi được quy định tại Thông tư số 09/TT-BYTngày 24/05/2012 của Bộ Y tế về Hướng dẫn Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS

và giám sát các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục [58]

- Chọn quận/huyện:

Sắp xếp các quận/huyện theo thứ tự giảm dần về số lượng người NCMTthuộc quản lý của các quận/huyện, chọn 3 quận/huyện có số lượng người nam

Trang 40

nghiện chích ma túy cao nhất tham gia vào nghiên cứu Các quận/huyện này baogồm: Đống Đa, Long Biên, Hai Bà Trưng.

Phân bổ cỡ mẫu tỷ lệ thuận với số lượng nam NCMT tại mỗi huyện:

- Chọn người nghiện chích ma túy:

Tại các đơn vị chọn mẫu được lựa chọn, dựa vào nhóm nhân viên tiếpcận cộng đồng hoặc thông qua những người NCMT để vận động tất cả nhữngngười NCMT đang cư trú tại địa bàn xã tham gia vào điều tra Tiếp tục thựchiện lần lượt tại các xã trong danh sách cho đến khi đủ cỡ mẫu được phân bổcho huyện đó

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Các biến số được thu thập dựa trên mục tiêu nghiên cứu và chia thànhcác nhóm biến số, chỉ số như sau:

Ngày đăng: 22/09/2019, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w