Biểu hiện bản chất bên trong của tài chính Tài chính là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá là hệ thống các quan hệkinh tê phát sinh trong quá trình phân phối sản phẩm xã hội t
Trang 1TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Chương 1: Tổng quan về tài chính trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Ngân sách nhà nước
Chương 3: Tài chính doanh nghiệp
Chương 4: Tín dụng
Chương 5: Tiền tệ và lưu thông tiền tệ
Chương 6: Tài chính quốc tế
Tài liệu tham khảo:
2 Giáo trình Tài chính doanh nghiệp- Học viện Tài chính- 2008
3 Giáo trình lý thuyết tài chính – Học viện tài chính- 2005
www.taichinhvietnam.com
………
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 8
TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
1.1.NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
1.1.1.TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ TỒN TẠI CỦA TÀI CHÍNH 8
1.1.1.1.SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA 8
1.1.1.2 SỰ XUẤT HIỆN CỦA NHÀ NƯỚC 8
1.1.2.BẢN CHẤT CỦA PHẠM TRÙ TÀI CHÍNH 9
1.1.2.1.BIỂU HIỆN BÊN NGOÀI 9
1.1.2.2 BIỂU HIỆN BẢN CHẤT BÊN TRONG CỦA TÀI CHÍNH 10
1.1.3 CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH 11
1.1.3.1 CHỨC NĂNG PHÂN PHỐI 11
1.1.3.2.CHỨC NĂNG GIÁM ĐỐC 13
1.2 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 14
1.2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 14
1.2.2.NHIỆM VỤ CỦA CÁC KHÂU TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 15
1.2.2.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 15
1.2.2.2 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 16
1.2.2.3 BẢO HIỂM 16
1.2.2.4 TÍN DỤNG 17
1.2.2.5 TÀI CHÍNH CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI 17
1.2.2.6 TÀI CHÍNH HỘ GIA ĐÌNH (DÂN CƯ) 18
1.3 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (TTTC) 18
1.3.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TTTC 18
1.3.1.1 KHÁI NIỆM TTTC 19
1.3.1.2 VAI TRÒ 19
1.3.2 PHÂN LOẠI TTTC 21
1.3.2.1 DỰA THEO PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH 21
1.3.2.2 CĂN CỨ VÀO SỰ LUÂN CHUYỂN CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH 22
1.3.2.3 CĂN CỨ VÀO TÍNH CHẤT PHÁP LÝ 22
1.3.3 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VỚI DOANH NGHIỆP 23
1.4.CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUỐC GIA 23
1.4.1 KHÁI NIỆM 23
1.4.2 MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUỐC GIA 24
Trang 3CHƯƠNG 2 26
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 26
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NSNN 26
2.1.1 KHÁI NIỆM NSNN 26
2.1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NSNN 26
2.1.3 VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 27
2.1.3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 27
2.1.3.2 VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 29
2.2 THU NSNN 30
2.2.1.KHÁI NIỆM 30
2.2.3 NỘI DUNG KINH TẾ CỦA THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 30
2.2.3.1.THU THƯỜNG XUYÊN 31
2.2.3.2.THU KHÔNG THƯỜNG XUYÊN 32
2.2.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NSNN 32
2.2.5 NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC HỆ THỐNG THU NSNN 33
2.3 CHI NSNN 34
2.3.1.KHÁI NIỆM CHI NSNN 34
2.3.2 ĐẶC ĐIỂM CHI NSNN 35
2.3.3 NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI CHI NSNN 36
2.3.3.1 NỘI DUNG CHI: 36
2.3.3.2 PHÂN LOẠI CHI NSNN 36
2.3.4 CÁC NHÂN TỐ HƯỞNG ĐẾN CHI NSNN 37
2.3.5 NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CHI NSNN 38
2.3.6 BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ 39
2.3.6.1.KHÁI NIỆM: 39
2.3.6.2 CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ: 39
2.4 TỔ CHỨC HỆ THỐNG NSNN 40
2.4.1 KHÁI NIỆM TỔ CHỨC HỆ THỐNG NSNN 40
2.4.2 CẤP NSNN 40
2.4.2.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CẤP NSNN: 40
2.4.2.2.NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC HỆ THỐNG NSNN 41
2.4.2.3 CÁC CẤP NGÂN SÁCH TRONG HỆ THỐNG NSNN 41
2.4.3 PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN 42
2.4.3.1 KHÁI NIỆM PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN 42
2.4.3.2 YÊU CẦU PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN 42
Trang 42.4.3.3 NỘI DUNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN 42
2.4.3.4 NGUYÊN TẮC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN 43
2.5 CHU TRÌNH QUẢN LÝ NSNN 44
2.5.1 KHÁI QUÁT VỀ CHU TRÌNH QUẢN LÝ NSNN 44
2.5.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHU TRÌNH QUẢN LÝ NSNN 44
2.5.2.1 LẬP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 44
2.5.2.2 CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 45
2.5.2.3 QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 45
CHƯƠNG 3 46
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 46
3.1.TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 46
3.1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ TÀI CHÍNH DN 46
3.1.1.1.KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP 46
3.1.1.2.QUAN HỆ TCDN 46
3.1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 48
3 1.3 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 49
3.2 TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 49
3.2.1.KHÁI NIỆM TỔ CHỨC TCDN 49
3.2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC TCDN 50
NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 51
3.3 VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 53
3.3.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VỐN KINH DOANH 53
3.3.1.1.KHÁI NIỆM VỐN KINH DOANH 53
3.3.1.2 ĐẶC TRƯNG CỦA VỐN KINH DOANH 53
3.3.1.3 PHÂN LOẠI VKD 54
3.3.2 ĐẦU TƯ VÔN KINH DOANH 55
3.3.2.1 KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ VKD 55
3.3.2.2 PHÂN LOẠI ĐẦU TƯ VKD 55
3.3.2.3 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ: 56
3.4 NGUỒN VỐN KINH DOANH VÀ CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG 58
3.4 1 NGUỒN VỐN KINH DOANH 58
3.4.1.1.NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 58
3.4.1.2.CÁC KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ 59
3.4.2 CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN 60
3.5 SỬ DỤNG VÀ BẢO TOÀN NGUỒN VỐN KINH DOANH 60
Trang 53.5.1 VỐN CỐ ĐỊNH 61
3.5.1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỐN CỐ ĐỊNH 61
3.5.1.2 ĐẶC ĐIỂM LUÂN CHUYỂN VÀ QUẢN LÝ VCĐ 61
3.5.1.3 HAO MÒN VÀ KHẤU HAO TSCĐ 62
3.5.1.4 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH 66
3.5.2 VỐN LƯU ĐỘNG 68
3.5.2.1.KHÁI NIỆM VỐN LƯU ĐỘNG 68
3.5.2.2 NỘI DUNG VỐN LƯU ĐỘNG 68
3.5.2.3 ĐẶC ĐIỂM VỐN LƯU ĐỘNG 69
3.5.2.4 PHÂN LOẠI VÀ KẾT CẤU TÀI SẢN LƯU ĐỘNG 69
3.5.2.5 XÁC ĐỊNH NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG 72
3.5.2.6 HIỆU SUẤT SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ 73
3.6 CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 76
3.6.1 CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH 76
3.6.1.1 KHÁI NIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH 76
3.6.1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH 76
3.6.2 GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 78
3.6.2.1 KHÁI NIỆM GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 78
3.6.2.2 PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 79
3.6.2.3 VAI TRÒ CỦA CHỈ TIÊU GIÁ THÀNH 79
3.6.2.4 HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 80
3.7 DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 82
3.7.1 DOANH THU 82
3.7.1.1 KHÁI NIỆM DOANH THU 82
3.7.1.2 NỘI DUNG DOANH THU 82
3.7.1.3 GẢI PHÁP TĂNG DOANH THU 82
3.7.2 LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 83
3.7.2.1 KHÁI NIỆM LỢI NHUẬN 83
3.7.2.2 VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN 83
3.7.2.3 PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN 84
3.7.2.4 MỘT SỐ LOẠI THUẾ CHỦ YẾU VỚI DOANH NGHIỆP 85
3.8 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 87 CHƯƠNG 3 89
TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ 89
Trang 63.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TIỀN TỆ 89
3.1.1 NGUỒN GỐC VÀ KHÁI NIỆM 89
3.1.2 CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ 90
3.2 QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ 90
3.3 LẠM PHÁT 91
3.3.1 KHÁI NIỆM 91
3.3.2 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT 91
3.3.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 92
3.3.4 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 92
3.4 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 93
3.4.1 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (NHTW) 93
3.4.1.1 KHÁI NIỆM : 93
3.4.1.2.CHỨC NĂNG 94
3.4.2 CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 95
3.4.2.1 KHÁI NIỆM: 95
3.4.2.2 CÁC MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 95
3.4.2.3 CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 96
CHƯƠNG 4 98
TÍN DỤNG 98
4.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA TÍN DỤNG 98
4.1.1 KHÁI NIỆM 98
4.1.2 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TÍN DỤNG 98
4.1.3 NGUYÊN NHÂN LÀM PHÁT SINH QUAN HỆ TÍN DỤNG 99
4.2 CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG 99
4.2.1 CĂN CỨ VÀO THỜI HẠN TÍN DỤNG: 99
CÓ 3 LOẠI 99
4.2.2 CĂN CỨ VÀO SỰ ĐẢM BẢO, 99
4.2.3 CĂN CỨ VÀO CHỦ THỂ CHO VAY VÀ KHÁCH THỂ NHẬN TIỀN VAY: 100
4.2.4 CĂN CỨ VÀO MỤC ĐÍCH CHO VAY, CÓ 2 LOẠI 100
4.2.5 CĂN CỨ VÀO LĨNH VỰC CHO VAY 100
4.2.6 CĂN CỨ VÀO TÍNH KẾ HOẠCH HÓA, 100
CÓ 2 LOẠI 100
4.2.7 CĂN CỨ VÀO LÃI SUẤT TÍN DỤNG, 100
4.3 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 100
Trang 74.3.1 HUY ĐỘNG VỐN 101
4.3.2 CHO VAY 101
4.4 LÃI SUẤT TÍN DỤNG 102
4.4.1 KHÁI NIỆM 102
4.4.2 Ý NGHĨA CỦA LÃI SUẤT 102
4.4.3 CÁC LOẠI LÃI SUẤT 102
CHƯƠNG 6 104
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 104
6.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 104
6.1.1 KHÁI NIỆM 104
6.1.2 CƠ SỞ CỦA CÁC QUAN HỆ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 104
6.1.3 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 105
6.2 CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU CỦA TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 105
6.2.1 ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TRỰC TIẾP (FDI) 105
6.2.2 TÍN DỤNG QUỐC TẾ 106
6.2.2.1.VAY THƯƠNG MẠI: 106
6.2.2.2 VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA): 107
6.2.3 Viện trợ quốc tế không hoàn lại 107
Trang 8Chương 1 Tổng quan về tài chính trong nền kinh tế thị trường
1.1.Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường
1.1.1.Tiền đề ra đời và tồn tại của tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế -lịch sử tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong nhữngđiều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế xã hội khách quan nhấtđịnh xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế-xã hội khách quan đó lànhững tiền đề quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính
Karl Marx trong tác phẩm nghiên cứu chính trị học đã chỉ ra: tài chính ra đời và tồn tạitrong những điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định khi mà ở đó xuất hiện nền sản xuấthàng hóa và nhà nước
1.1.1.1.Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa
Lịch sử xã hội loài người đã cho thấy rằng khi phân công lao động xã hội phát triển,chế độ tư hữu xuất hiện, sự ra đời của sản xuất, trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phát triểncủa các hình thái giá trị đã dẫn tới sự xuất hiện của tiền tệ
Phân công lao động xã hội phát triển, đặc biệt là sự phân công giữa nông nghiệp vàthủ công nghiệp đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế đồng thời làm nêncuộc cách mạng trong công nghệ phân phối: từ phân phối bằng hiện vật sang phân phối bằnggiá trị Trong nền kinh tế hàng hóa -tiền tệ, sản phẩm sản xuất ra để bán Sản phẩm được biếnđổi thành hàng hóa khi nó một mặt vừa có giả trị sử dụng và một mặt vừa có giá trị trao đổiHàng hóa khi trao đổi trên thị trường phải thông qua giá cả Như vậy, tiền tệ được coi là thước
đo giá trị của thế giới hàng hóa và khi thực hiện giá trị hàng hóa phải gắn liền với sự vận độngcủa tiền tệ đồng thời phát sinh thu nhập cho người sản xuất hàng hóa Các khoản thu nhập này
là nguồn hình thành những quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế Sự liên tục của quá trình sảnxuất hàng hóa luôn luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối, sử dụng và đâychính là xuất phát điểm làm nảy sinh các quan hệ phân phối tài chính Như vậy, chính trongđiều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã làm nảy sinh phạm trù tàichính
1.1.1.2 Sự xuất hiện của nhà nước
Trang 9Cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu phânchia thành các giai cấp và có sự đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội Chính sự xuất hiệnsản xuất và trao đổi hàng hoá và tiền tệ là một trong các nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy mạnh
mẽ sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuấthiện
Nhà nước ra đời, để duy trì quyền lực của mình, cần phải có sự đóng góp của các côngdân dưới hình thức thuế và công trái để tạo lập ra quỹ tiền tệ riêng - ngân sách Nhà nước vàcác quỹ tài chính khác phục vụ cho hoạt động của mình và thực hiện các nhiệm vụ phát triểnkinh tế-xã hội, hình thành lĩnh vực tài chínhNhà nước
Sự vận động độc lập của tiền tệ trong việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ không chỉ
là đặc trưng cho hoạt động của Nhà nước, mà là của tất cả các chủ thể trong xã bội: doanhnghiệp, các gia đình dân cư và các tổ chức xã hội Các quỹ tiền tệ chẳng những được hìnhthành và sử dụng cho những mục đích trực tiếp sản xuất hoặc tiêu dùng, mà còn được hìnhthành như những tụ điểm trung gian để cung ứng phương tiện tiền tệ cho những mục đích trựctiếp
Nhà nước bằng chính sách, cơ chế, luật pháp luôn luôn tác động, thúc đẩy kinh tế hànghóa- tiền tệ phát triển, tác động tới sự vận động độc lập của tiền tệ và tạo ra môi trường thuậnlợi cho sự hình thành và sứ dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong xã hôi Chính trongnhững điều kiên đó các quan hệ tài chính nảy sinh, tồn tại và phát triển và cung chính vì vậyngười ta cho rằng sự tồn tại của nền sân xuất hàng hóa- tiền tệ và nhà nước được coi là nhữngtiền đề phát sinh và phát triển của tài chính
Những phân tích kể trên lại cho nhận xét thêm rằng, trong 2 tiền đề kể trên thì sản xuấthàng hoá - tiền tệ là nhân tố mang tính chất khách quan có ý nghĩa quyết định đối với sự rađời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo rahành lang và điều tiết sự phát triển của tài chính
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN thìtài chính là một phạm trù kinh tế còn được tiêp tục tồn tại và phát triển
1.1.2.Bản chất của phạm trù tài chính
Tài chính, như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên ngoài (hiệntượng) và nội dung bên trong (bản chất) của nó
1.1.2.1.Biểu hiện bên ngoài
Khi quan sát thực tiễn các quá trình vận động kinh tế xã hội (ví dụ: doanh nghiệp nộpthuế bằng tiền cho Nhà nước; người dân mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp )cóthể nhận thấy các biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu
Trang 10vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội Nói cách kháchình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra như là sự vận động của vốn tiền tệ
Ở những hiện tượng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trước hết với chức năng phươngtiện thanh toán (ở người chi ra) và chức năng phương tiện cất trữ (ở người thu vào) Tiền tệđại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định và được gọi là nguồn tàichính (hay nguồn tài lực, nguồn lực tài chính)
Ở mỗi chủ thể kinh tế - xã hội, khi nguồn tài chính được tập trung lại (thu vào) là khicác quỹ tiền tệ được hình thành (tạo lập) và khi nguồn tài chính được phân tán ra (chia ra) làlúc các quỹ tiền tệ được sử dụng Quá trình vận động của các nguồn tài chính cũng chính làquá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Đó là quá trình các chủ thể kinh tế - xã hội thamgia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền
Như vậy, nguồn tài chính là khả năng tài chính hay tiền tệ mà các chủ thể trong xã hội
có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Nguồn tài chính có thể tồntại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất Sự vận động của các nguồn tài chínhphản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ) Nguồntài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Trong nền kinh tế thị trường mỗichủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định là đã nắm trong taymột sức mua để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhânlực nhất định phục vụ cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình Kết quả của quá trìnhphân phối các nguồn tài chính là sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định Trongthực tế nguồn tài chính được nói đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: tiền vốn, vốn tiền tệ,vốn bằng tiền, vốn kinh doanh, vốn tín dụng, vốn Ngân sách, vốn trong dân
Sự vận động các nguồn tài chính hình thành nên lĩnh vực tài chính và được đặc trưngbởi các quỹ tiền tệ
Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định các nguồn tài chính đã huy động được để sửdụng cho một mục đích nhất định
Các quỹ tiền tệ có các đặc điểm sau đây
+ Luôn luôn biểu hiện các quan hệ sở hữu
+ Bao giờ cũng thể hiện tính mục đích
+ Vận động thường xuyên, liên tục
1.1.2.2 Biểu hiện bản chất bên trong của tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá là hệ thống các quan hệkinh tê phát sinh trong quá trình phân phối sản phẩm xã hội trên cơ sở đó các quỹ tiền tệ đượchình thành phân phối và sử dụng để đáp ứng nhu cầu của hàng hoá và xã hội Như vậy, biểu
Trang 11hiện bên trong của tài chính là các quan hệ kinh tê giữa các chủ thể trong quá trình phân phốicác nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Các quan hệkinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bảnchất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính
Từ đó, có thể có khái niệm tổng quát về tài chính như sau:
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội
Nó phản ánh tổng hợp các môi quan hệ kinh tê nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính
thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau
của các chủ thể trong xã hội
1.1.3 Chức năng của tài chính
Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung củatài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính Chức năng của tài chính là khả năng bêntrong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhấtthiết của con người
1.1.3.1 Chức năng phân phối
- Ý nghĩa:
Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tàichính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phốicủa cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó tài chính được sử dụng với tư cách một công cụphân phối Từ đó có thể cho rằng:
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực đại diệncho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dùng chonhững mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xãhội
- Đối tượng phân phối
Là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có trong xãhội
Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính - mặt giá trị của của cải xã hội là đối tượng phânphối, bao gồm các bộ phận:
1 Bộ phận của cải xã hội mới được sáng tạo ra trong kỳ Đó là tổng sản phẩm trongnước (GDP)
2 Bộ phận của cải xã hội còn lại từ thời kỳ trước Đó là phần tích lũy quá khứ của xãhội và dân cư
Trang 123 Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nướcchuyển ra nước ngoài.
4 Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn
- Chủ thể phân phối
Là tất cả các tổ chức kinh tế xã hội, chủ thể kinh tế xã hội như: Nhà nước (các tổ chức,
cơ quan nhà nước), các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá nhân dân cư.Chủ thể phân phối có thể xuất hiện trên một trong các tư cách là:
1 Chủ thể có quyền sở hữu các nguồn tài chính Chủ thể ở đây là những người chủ
"đích thực" của vốn tiền tệ Họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý chí chủ quan củamình
2 Chủ thể có quyền sử đụng các nguồn tài chính Chủ thể ở đây là những người không
có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ Nói khác đi, đó lànhững người đi vay và họ có quyền phân phối và sử dụng số vốn vay đó theo các mục đích đãđịnh
3 Chủ thể có quyền lực chính trị Chủ thể muốn nói ở đây là Nhà nước Nhà nướckhông phải với tư cách là người có quyền sở hữu hay quyền sử dụng các nguồn tài chính,nhưng Nhà nước vẫn có thể huy động vào tay mình các nguồn tài chính từ các tổ chức vàcông dân nhờ Nhà nước có quyền lực chính trị thông qua các quy định pháp luật (như thuế,phí, lệ phí )
4 Chủ thể tổ chức quan hệ của các nhóm thành viên xã hội Chủ thể muốn đề cập ởđây là các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, nghiệp đoàn Do có sựràng buộc của các quan hệ xã hội mà các tổ chức này là người chủ trì, các tổ chức này khôngphải với các lư cách kể trên (quyền sở hữu, quyền sử dụng nguồn tài chính, quyền lực chínhtrị) nhưng vẫn xuất hiện với tư cách chủ thể phân phối khi họ nhận được các khoản đóng góphội phí của các thành viên, các khoản ủng hộ, đóng góp tự nguyện
Như vậy: Lực lựợng chi phối chức năng này là: quyền sở hữu, quyền sử dụng của cácchủ thể KTXH đối với nguồn lực tài chính Ngoài ra còn có thể bị chi phối bởi các quan hệ xãhội, quyền lực xã hội trong cộng đồng dân tộc và quốc tế
- Kết quả của phân phối
Là sự hình thành (tạo lập) hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hộinhằm những mục đích đã định
Trong phân phối của cải xã hội, không những tài chính màcòn có những phạm trù kinh
tế khác được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối như thương mại, giá cả, tiền lương Mỗi công cụ đó được sử dụng theo các cách khác nhau và có những đặc điểm riêng
Trang 13- Đặc điểm phân phối tài chính
Phân phối của tài chính mang 3 đặc điểm sau đây:
+ Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo với sự thayđổi hình thái giá trị
+ Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhấtđịnh
+ Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liên tục bao gồm cả phânphôi lần đầu và phân phối lại
1.1.3.2.Chức năng giám đốc
- Ý nghĩa
Chức năng giám đốc của tài chính cũng là một khả năng khách quan khác của phạmtrù tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan này của tài chính để tổchức công tác kiểm tra tài chính Khi đó tài chính được sử dụng với tư cách là một công cụkiểm tra Đó là kiểm tra tài chính
Giám đốc – kiểm tra tài chính là giám đốc – kiểm tra đối với quá trình thực hiện chứcnăng phân phối của tài chính, đối với quá trình phân phối các nguồn tài chính Phân phối cácnguồn tài chính là phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, do đó giám đốc – kiểm tratài chính là giám đốc – kiểm tra bằng đồng tiền
Từ đó có thể cho rằng: Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đóviệc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn tàichính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
- Đôi tượng của giám đốc tài chính
Là quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹtiền tệ
- Chủ thể của giám đốc tài chính
Là các chủ thể phân phối Bởi vì, để cho các quá trình phân phối đạt tới tối đa tínhmục đích, tính hợp lý, tính hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải tiến hành kiểm traxem xét các quá trình phân phối đó
- Kết quả của giám đốc tài chính
Là phát hiện ra những mặt được và chưa được của quá trình phân phối, từ đó giúp tìm
ra các biện pháp hiệu chỉnh các quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình phânphối của cải xã hội theo các mục tiêu đã định nhằm đạt hiệu quả cao của việc tạo lập và sửdụng các quỹ tiền lệ
- Đặc điểm:
Trang 14- Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử dụng chứcnăng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong vận động của tiềnvốn để tiến hành giám đốc.
- Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua phântích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt động của xã hội
và của các doanh nghiệp
- Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự vận độngcủa tài nguyên trong xã hội
- Khái niệm về khâu tài chính (tụ điểm vốn):
Khâu tài chính là nơi hội tụ của các nguồn tài chính, nơi diễn ra việc tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể trong lĩnhvực hoạt động
Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chínhhợp thành Việc xác định chính xác có bao nhiêu mắt khâu tài chính của hệ thống đó lại tùythuộc vào việc chỉ ra một cách đúng đắn các căn cứ lý thuyết để xác định thế nào là một khâutài chính Có thể chỉ ra các tiêu thức chủ yếu của một khâu tài chính là (3):
- Thứ nhất, một khâu tài chính phải là một điểm hội tụ của các nguồn tài chính, là nơithực hiện việc "bơm" và "hút" các nguồn tài chính Nói cách khác, được coi là một khâu tàichính nếu ở đó có các quỹ tiền tệ đặc thù được tạo lập và được sử dụng
- Thứ hai, được coi là một khâu tài chính nếu ở đó các hoạt động tài chính, sự vậnđộng của các nguồn tài chính, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền với mộtchủ thể phân phối cụ thể, xác định Các hoạt động tài chính gắn với nhiều chủ thể, sự vậnđộng của các nguồn tài chính ở đó cung do nhiều chủ thể chi phối đều không được coi là mộtkhâu tài chính độc lập
- Thứ ba, được xếp vào cùng một khâu tài chính nếu các hoạt động tài chính có cùngtính chất, đặc điểm, vai trò, có tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính và tính mụcđích của quỹ tiền tệ trong lĩnh vực hoạt động Ví dụ: Có nhiều hình thức tín dụng nhưng tính
Trang 15chất chung của sự vận động của các nguồn tài chính ở đây là có thời hạn, có hoàn trả và có lợitức, do đó, các hoạt động tài chính ở khu vực này được xếp chung vào một khâu là Tín dụng.
Nhiệm vụ của Ngân sách nhà nước:
- Một là, động viên, tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ tiền tệ của Nhànước - quỹ Ngân sách Các nguồn tài chính từ các khâu tài chính khác được thu hút vào quỹNgân sách có thể dưới hình thức các khoản thu bắt buộc (thuế, phí, lệ phí), hoặc dưới hìnhthức các khoản đóng góp tự nguyện (như tín dụng nhà nước, vay nợ quốc tế, viện trợ quốc tê).Việc thu hút các nguồn tài chính đế tạo lập quỹ ngân sách có thể trực tiếp từ các khâu tàichính khác, có thể thông qua thị trường tài chính
- Hai là, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
- xã hội (như duy trì bộ máy nhà nước, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển văn hoá xã
Trang 16hội, phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư kinh tế ) Để đáp ứng nhiệm vụ này, quỹ ngân sáchđược tổ chức và được chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn, có mục đích chuyên dùng theo từngnhiệm vụ, từng lĩnh vực như đã kể trên Việc sử dụng quỹ ngân sách nhà nước có thể làm tăngnguồn tài chính ở khâu tài chính khác, cũng có thể đi vào sử dụng trực tiếp.
- Ba là, giám đốc, kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi hoạt động kinh
tế - xã hội gắn liền với quá trình thu, chi ngân sách Là khâu tài chính gắn liền với chủ thể làNhà nước, ngân sách nhà nước có mối liên hệ rộng rãi với mọi lĩnh vực hoạt động khác nhaucủa xã hội, với tất cả các khâu khác trong hệ thống tài chính, do đó nó có khả năng và cầnphải thực hiện việc kiểm tra đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính có quan hệ tớiviệc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách ở mọi khâu tài chính và mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế
- xã hội
Với vị trí và quy mô như thế, ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đốivới sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2.2.2 Tài chính doanh nghiệp
Đây là nơi nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời cũng là nơi thu hut trở lại các nguồntài chính quan trọng trong nền kinh tế Trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp đượccoi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính
Đặc trưng của bộ phận tài chính doanh nghiệp: gồm những quan hệ tài chính vận hànhtheo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao
Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp:
- Một là, bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất kinhdoanh
- Hai là, tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả
- Ba là, phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các quy định củaNhà nước
- Bốn là, kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp,đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó
Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tàichính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau Quan hệ giữa tàichính doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thôngqua thị trường tài chính
1.2.2.3 Bảo hiểm
Là một dịch vụ tài chính, Bảo hiểm có thể có nhiều hình thức và nhiều quỹ tiền tệkhác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập và sử
Trang 17dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tùy theo mụcđích của quỹ.
Quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của những người (pháp nhân hoặc thểnhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho họ khi họ gặprủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo nguyên tắc đặc thù là "lấy số đông bù cho số ít" Dotính chất dịch vụ chuyên nghiệp nên phần lớn các quỹ bảo hiểm kinh doanh được tạo lập và
sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận
Trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ bảo hiểm, trước hết bảo hiểm có quan hệtrực tiếp với các khâu tài chính khác qua việc thu phí bảo hiểm và chi bồi thường Đồng thời,
do khả năng tạm thời nhàn rỗi của các nguồn tài chính trong các quỹ bảo hiểm, các quỹ này
có thể được sử dụng tạm thời như các quỹ tín dụng và như vậy, bảo hiểm cũng có thể có quan
hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính Trên ý nghĩa này có thể coi bảo hiểm nhưmột khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính
1.2.2.4 Tín dụng
Tín dụng là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính thống nhất Tín dụng đượcxem là một khâu tài chính độc lập muốn đề cập ở đây là hoạt động của các tổ chức tín dụng cótính chất chuyên nghiệp Tính chất đặc biệt của sự vận động của các nguồn tài chính trongquan hệ tín dụng là có thời hạn Tín dụng chính là tụ điểm của các nguồn tài chính tạm thờinhàn rỗi Hoạt động tín dụng là một dịch vụ tài chính đặc biệt Dịch vụ này mang tính chấtthương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận
Nhiệm vụ của tín dụng:
- Một là: Thu hút nguồn lực tài chính tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả cóthời hạn và có lợi tức;
- Hai là cho vay để phát triển sản xuất kinh doanh và sinh hoạt;
- Ba là cung cấp nguồn lực tài chính nhàn rỗi cho thị trường tài chính
Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng, khâu tín dụng có quan hệ chặt chẽ vàtrực tiếp với các khâu khác của hệ thống tài chính Các tổ chức tín dụng cũng là các tổ chứchoạt động trên thị trường tài chính, là cầu nối giữa người có khả năng cung ứng và người cónhư cầu sử dụng tạm thời các nguồn tài chính Do đó, tín dụng không những có quan hệ vớicác khâu tài chính khác thông qua thị trường tài chính mà còn trở thành khâu tài chính trunggian quan trọng của hệ thống tài chính
1.2.2.5 Tài chính các tổ chức xã hội
Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các đoànthể xã hội, các hội nghề nghiệp Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ
Trang 18Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để bảo đảm hoạt động của mình Các quỹ tiền
tệ ở đây được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng như: đóng góp hội phí của các thành viêntham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, tặng, biếu của các tập thể và cá nhân; tài trợ từ nướcngoài; tài trợ của chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu của các tổ chức này Các quỹtiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng trong hoạt độngcủa các tổ chức đó Khi các quỹ chưa được sử dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham giathị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác (mua tín phiếu, tráiphiếu ) do đó trở thành 1 nguồn lực tài chính
1.2.2.6 Tài chính hộ gia đình (dân cư)
Trong dân cư (các hộ gia đình) các quỹ tiền tệ được hình thành từ tiền lương, tiềncông, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động hay sản xuất kinh doanh; từnguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình hay quan hệ xã hội
ở trong và từ ngoài nước; từ các nguồn khác như: lãi tiền gửi ngân hàng, lợi tức từ nhữngkhoản góp vốn, mua trái phiếu, cổ phiếu
Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của giađình Một phần nguồn tài chính của các quỹ này có thể tham gia vào quỹ ngân sách nhà nướcdưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các quỹ bảo hiểm theo các mục đích bảohiểm khác nhau (bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế );tham gia vào các quỹ tín đụng dưới hình thức gửi tiền tiết kiệm Nguồn tài chính tạm thờinhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanhtrong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổphần, mua cổ phiếu, trái phiếu , tín phiếu trở thành 1 nguồn lực tài chính Nếu có nhữngbiện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ giađình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần vào việc thực hiệncác chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà nước
Như vậy: các khâu trong hệ thống tài chính có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với nhau,thúc đẩy nhau cùng phát triển Toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc biệt quantrọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xã hội
1.3 Thị trường tài chính (TTTC)
1.3.1 Khái niệm và vai trò của TTTC
Thị trường tài chính không phải là một khâu tài chính mà nó là môi trường cho sự hoạtđộng của các khâu tài chính và cho sự vận động của các nguồn tài chính
Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện và tồntại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu
Trang 19cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế phát triển Trong nền kinh tế luôn tồn tạihai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn Mâuthuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung giantrong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn Khi kinh tế hàng hóa phát triểncao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơnvào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuấthiện các công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu củachính phủ - Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán Và từ đóxuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại chứngkhoán Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh
tế là thị trường tài chính
1.3.1.1 Khái niệm TTTC
Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử dụngnhững khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài chính nhất định.Thị trường tài chính là tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế
Đối tượng mua bán trên TTTC là quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn hoặcdài hạn
Giá cả của sự mua bán là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn trả cho ngườinhượng (bán) quyền sử dụng vốn Người mua và người bán có thể là tất cả các chủ thể đạidiện cho các khâu của hệ thống tài chính
Chủ thể tham gia TTTC: tất cả các chủ thể kinh tế xã hội đại diện cho các khâu của hệthống tài chính
1.3.1.2 Vai trò
Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển đồng vốn từnhà đầu tư đến nhà sản xuất Dòng vốn từ người cho vay - người tiết kiệm tới người vayngười chi tiêu qua hai con đường:
+ Tài chính trực tiếp
Người đi vay, vay vốn trực tiếp từ người cho vay bằng cách bán chứng khoán
+ Tài chính gián tiếp
Vốn được chuyển từ người cho vay tới người vay thông qua trung gian tài chính.Trung gian tài chính đứng giữa cho vay người tiết kiệm và người vay-người sử dụng và giúpchuyển vốn từ người này sang người kia
Trang 20Tài chính gián tiếp
Tài chính trực tiếp
Như vậy thị trường tài chính giúp cho việc chuyển vốn từ những người không có cơhội đầu tư sinh lợi tới những người có cơ hội đầu tư Thị trường tài chính là cơ chế tạo điềukiện thuận lợi cho người mua và người bán quyền sử dụng các nguồn tài chính, cho phép nângcao năng suất và hiệu quả các nguồn lực tài chính hiện có trong nền kinh tế cũng như một sốnguồn lực từ nước ngoài Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cáchgiúp họ thỏa mãn nhu cầu mua sắm trước khi tích lũy đủ tiền
Từ các hoạt động kể trên, thị trường tài chính có các vai trò cụ thể như sau:
- Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầuvốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Nếu không có thị trường tài chính thìviệc huy động vốn để xây dựng các cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương
sẽ bị hạn chế vì Ngân sách Chính phủ thường eo hẹp, không đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng vàchi tiêu Thêm vào đó, sức sản xuất xã hội ngày càng phát triển và quy mô sản xuất ngày càng
mở rộng thì nhu cầu tiền vốn ngày càng gia tăng Nếu chỉ để vào nguồn tích luỹ vốn của bảnthân hay qua con đường vay ngân hàng truyền thống thì không thể đáp ứng được về mặt thờigian và số lượng Vì vậy, nếu thị trường tài chính phát triển thì thông qua đó đơn vị sản xuất
và các địa phương có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu huy động nhanh chóng khốilượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu
- Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn Việc sử dụng vốn
có hiệu quả không chỉ đối với người đầu tư mà cả đối với người vay tiền để đầu tư Người cótiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi nhận thức rõ giá trị thời gian của đồng tiền mà họ đang nắm giữ.Đồng tiền sẽ không sinh lợi nếu để trong két sắt hoặc gối đầu giường, mà tiền chỉ sinh lời khi
Các trung giantài chính
Người cho vay (người tiết
Trang 21nó được gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần Thông thường lãi thu được qua đầu tư chứngkhoán cao hơn lãi trái phiếu Nhà nước hay lãi gửi tiết kiệm Do vậy, người đi vay vốn trên thịtrường tài chính cũng phải sử dụng vốn vay đó một cách hợp lý mới có thể trả lại được chongười cho vay, tạo thu nhập và tích luỹ cho chính mình
- Hoạt động thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách
mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ Thông qua thị trường tài chính việc phát hành tráiphiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, tạo điều kiện thu hút vôn đầu tư nước ngoài vào các ngànhsản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước Thị trường tài chính nhìn chung rất nhạy cảm đốivới các hoạt động kinh tế, thị trường tạo điều kiện thúc đẩ~7 kinh tế phát triển, đồng thời làthước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế Giá trịcổ phiếu của các công ty là một ví dụ điểnhình, thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với số lợi nhuận mà công ty đạt được Chỉ số chung của thịtrường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng của quốc gia đó trong thời gian ngắn, trung vàdài hạn
- Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, đổi tiền mặt, cho phépbán cổ phiếu, trái phiếu Thông qua TTTC, Ngân hàng trung ương có thể căn cứ vào nhu cầucủa từng thời kỳ, điều tiết hoạt động của thị trường mở để khống chế sự' co dãn cung cầu tiền
tệ, tiến tới không chết quy mô và hướng đầu tư tín dụng và tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy pháttriển kinh tế và ổn định giá trị đồng tiền
1.3.2 Phân loại TTTC
1.3.2.1 Dựa theo phương thức huy động nguồn tài chính
Thị trường tài chính được chia thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần
Ở thị trường nợ, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phương thức chungnhất là đưa ra một công cụ vay nợ Chúng là sự thỏa thuận có tính chất hợp đồng, trong đóngười vay phải thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố định trong những khoảngthời gian đều đặn cho tới thời điểm quy định trước là đợt thanh toán cuối cùng được thựchiện Lúc này người vay phải hoàn trả luôn cả vốn và phần lãi tiền vay còn lại cho người nắmgiữ công cụ Như vậy, trên thị trườngnợ, chủ thể huy động nguồn tài chính chỉ có thể sử dụngnguồn đó trong những khoảng thời gian cố định
Ở thị trường vốn cổ phần, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phươngthức phát hành cổ phiếu Khi bán được cổ phiếu, các công ty cổ phần có được nguồn tài chính
để hình thành, tăng thêm vốn tự có của mình Các công ty này có quyền sử dụng nguồn tàichính đó trong suốt thời gian tồn tại và hoạt động của công ty Các cổ đông (những người sởhữu cổ phiếu) sẽ là đồng sở hữu công ty cổ phần
Trang 221.3.2.2 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính
Dựa vào tiêu thức này, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và thịtrường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính trong đó việc phát hành mới một chứngkhoán được người huy động nguồn tài chính bán cho người đầu tiên mua nó Sự hoạt độngcủa thị trường sơ cấp huy động nguồn tài chính trong' xã hội chuyển thành vốn đầu tư cho nềnkinh tế Thông qua thị trường này, nguồn tài chính vận động từ người đầu tư sang chủ thểphát hành chứng khoán
- Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính trong đó thực hiện giao dịch các chứngkhoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Trên thị trường này diễn ra việc mua bánchứng khoán giữa các nhà đầu tư Nguồn tài chính thu được từ việc bán chứng khoán khôngvận động đến chủ thể phát' hành mà thuộc về nhà đầu tư đã bán lại chứng khoán cho nhà đầu
tư khác Thị trường thứ cấp làm thay đổi chủ sở hữu chứng khoán Thị trường tài chính thứcấp làm thay đổi chủ thể cung ứng nguồn tài chính không chỉ qua hoạt động mua bán lại cácchứng khoán giữa các nhà đầu tư mà còn thể hiện qua hoạt động mua bán nợ giữa các tổ chứctín dụng trên thị trường thứ cấp các tài sản có của hệ thống tổ chức tín dụng Một tổ chức tíndụng đã cho một chủ thể trong nền kinh tế vay một khoản vay dài hạn nhưng chưa đến kỳ hạnthanh toán mà tổ chức tín dụng lại rất cần nguồn tài chính, tổ chức tín dụng đó có thể bánkhoản đã cho vay đó cho tổ chức tín dụng khác
- Thị trường tài chính không chính thức là thị trường tài chính, ở đó các hoạt động huyđộng, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo sự thỏa thuận giữa ngườicung cấp nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính không theo nguyên tắc thể chế do Nhànước quy định
1.3.2.4 Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được
Dựa vào thời gian sử dụng nguồn tài chính, thị trường tàichính được phân thành thịtrường tiền tệ (thị trường tài chính ngắn hạn) và thị trường vốn (thị trường tài chính dài hạn)
Trang 23- Thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá trong việc chuyển giao quyền sử dụng cácnguồn tài chính ngắn hạn (<1năm) Trên thị trường này chỉ có các công cụ nợ ngắn hạn(thường kỳ hạn đến một năm) được mua bán Chủ thể huy động nguồn tài chính chỉ có quyền
sử dụng nguồn tài chính huy động được trong thời gian ngắn (tới một năm)
- Thị trường vốn được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao quyền
sử dụng dài hạn (lớn hơn một năm) Trên thị trường này có các công cụ vay nợ dài hạn và cổphiếu được mua bán Người huy động nguồn tài chính dài hạn được quyền sử dụng nguồn tàichính huy động được trong thời gian dài
Giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối quan hệ khăng khít với nhau Sự pháttriển mạnh mẽ của thị trường tiền tệ sẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn Các tổ chứctài chính trung gian trên thị trường tiền tệ có thể sử dụng kỹ thuật để chuyển đổi các nguồn tàichính có thời hạn sử dụng ngắn thành các nguồn tài chính có thời hạn sử dụng dài cung cấpcho thị trường vốn Sự phát triển của thị trường vốn sẽ kích thích thị trường liền tệ phát triển
1.3.3 Thị trường tài chính với doanh nghiệp
- Thị trường tài chính là nơi để các doanh nghiệp huy động nguồn ngân quỹ mới hayđầu tư những khoản tài chính nhàn rỗi tạm thời để tăng lợi nhuận Thông qua TTTC doanhnghiệp huy động được nguồn vốn lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thị trường tài chính là nơi xác lập giá trị của doanh nghiệp qua sự đánh giá củathị trường Từ đó thúc đẩy công ty không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh đểđạt hiệu quả cao hơn Sự biến động hàng ngày của thị trường tài chính đã trở thành những tintức hấp dẫn đến với các doanh nghiệp và những nhà đầu tư Đó là những thông tin quý giácho ban lãnh đạo doanh nghiệp có những quyết định tài chính đúng đắn
- Thị trường tài chính thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vàchuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần.Với nguyên tắccông khai, minh bạch, TTCK là nơi các doanh nghiệp niêm yết và công ty đại chúng thực hiệnkiểm toán, công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, góp phần cơ cấu lạidoanh nghiệp,
- Thị trường tài chính là nơi để Chính phủ tác động vào doanh nghiệp và nền kinh tếnói chung
1.4.Chính sách tài chính quốc gia
1.4.1 Khái niệm
Nghiên cứu về hệ thống tài chính chúng ta thấy rằng các quan hệ tài chính có tác dụngphức tạp và đa dạng Hoạt động tài chính tác động đến mọi lănh vực : kinh tế, xă hội; mọiphạm vi : vĩ mô và vi mô Tài chính có tác động trực tiếp và ảnh hưởng đối với sự phát triển
Trang 24của nền kinh tế quốc dân V́ì lẽ đó , để điều hành sự hoạt động thống nhất và có hiệu quả củatoàn bộ thống tài chính ở mỗi quốc gia, Chính phủ cần phải đề ra các chủ trương, chính sách,đường lối và biện pháp về tài chính trong một thời gian tương đối dài tức là cần phải hoạchđịnh và thực hiện chính sách Tài chính quốc gia.
Chính sách tài chính quốc gia là thái độ định hướng của nhà nước về sử dụng tàichính Chính sách tài chính quốc gia là chính sách điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế trongphân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị Nội dung của chính sách tài chính baogồm: chính sách về vốn, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách tài khoá, chính sáchtài chính đối ngoại, các chính sách về tín dụng, tiền tệ
Chính sách Tài chính quốc gia được xác định cụ thể trong từng thời kỳ Nó gắn với sựphát triển của hệ thống tài chính
1.4.2 Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia
Mục tiêu tổng quát của chính sách tài chính quốc gia là củng cố và tăng cường tiềmlực của nền tài chính quốc gia, trước hết là tiềm lực của ngân sách Nhà nước và tài chínhdoanh nghiệp; khôi phục vị trí của tàichính trong nền kinh tế, chuyển hoạt động tài chính sang
cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thoả mãn nhu cầu vốn cho nền kinh tế đi đôivới nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tích luỹ từ nền kinh tế quốc dân, thực hiện công bằng
xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội đã đặt ra Mục tiêu tổng quát đó được chi tiết hóa thành những mục tiêu cụ thể sauđây:
- Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước,đặc biệt tăng cường tiềm lực tài chính Nhà nước và tài chính doanh nghiệp Đảm bảo các nhucầu vốn đi đôi với nâng cao hiệu quả sử đụng vốn trong nước cũng như vốn vay nước ngoài.Phần đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ 7- 10%/năm) với cơ cấu kinh tế hợp lý, thúcđẩy mạnh mẽ tiến bộ khoa họe kỹ thuật, tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, cải thiện
rõ rệt cán cân thanh toán quốc tế
- Kiểm soát lạm phát Bằng việc thực hiện việc cải tổ cơ bản chính sách tài chính, đặcbiệt chính sách thuế và cơ cấu thu chi ngân sách, loại bỏ nguy cơ tái lạm phát tiến tới kiểmsoát được lạm phát, ổn định giá cả và sức mua của đồng tiền, tạo điều kiện, môi trường chosản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân
- Tạo công ăn việc làm cho người dân, mở rộng ngành nghề, giải quyết thoả đáng nạnthất nghiệp, nâng cao đời sung vất chất, văn hoá tinh thần của nhân dân để vượt qua ngưỡngcửa đói nghèo, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
Trang 25- Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thống nhất, phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế
và đáp ứng yêu cầu đổi mới các hoạt động kinh tế - xã hội
Hiện nay, tiến trình đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta diễn ra khá nhanh, trong bối cảnhnền kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn tài chính còn hạn hẹp nhưng lại phải chịu những tháchthức lớn và tất yếu của các yếu tố thời đại, nên chính sách tài chính quốc gia cần được xâydựng trên nền tảng của những nhận thức mới về kinh tế học, xã hội học và những tri thức mới
về quản lý tài chính, tiền tệ của loài người Sự thận trọng trong việc lựa chọn các hình thức tàichính thích hợp, các bước đi vùng chắc là rất cần thiết, nhưng phải kiên quyết chống lại mọichủ trương bảo thủ trì trệ hoặc tự do vô chính phủ, buông xuôi quản lý tài chính
Trang 26Chương 2 Ngân sách nhà nước
2.1 Những vấn đề chung về NSNN
2.1.1 Khái niệm NSNN
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trùlịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sửdụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhànước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theocác trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu Một số quan niệm phổ biến về khái niệm NSNN:
- NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời giannhất định, thường là một năm
- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhànước
- NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sửdụng các nguồn tài chính khác nhau
Như vậy, một cách tổng quát: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tê phát sinh gắn liềnvới quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nướctham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nướctrên cơ số luật định
2.1.2 Đặc điểm của NSNN
Trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như trong khu vực tài chính NN nói riêngNSNN đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn tài chính cho sự tồn tại cũng như hoạtđộng của NN NSNN bao gồm những quan hệ tài chính giữa Nhà nước với:
- Dân cư
- Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là với doanh nghiệp nhànước
- Các tổ chức xã hội
- Các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với tư cách là bên tham gia hình thành quỹ côngnhư quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ đầu tư
Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có đặc điểm sau đây (4):
Trang 27- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và việcthực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệnhất định Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản tài chính khác Cáckhoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính cấp phát ‘’khônghoàn trả trực tiếp’’ Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế-Xã hội, Nhànước đã sử dụng để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhânphải nộp một phần thu nhập của mình cho NN với tư cách là một chủ thể Các hoạt động thuchi NSNN đều tiến hành theo cơ sở nhất định đó là các luật thuế, chế độ thu chi…do NNbanhành, đồng thời các hoạt động luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan NN.
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi íchcông cộng Hoạt động thu – chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội củaNhà nước Là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phốicác nguồn tài chính quốc gia, lợi ích của Nhà nước (lợi ích chung của quốc gia) thể hiện cảtrong phân phối thu nhập của các doanh nghiệp, của dân cư, phân phối GDP, GNP và cả trongphân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng củaquốc gia
- NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét riêng biệt của NSNNvới tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ, cótác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã địnhtrước
- Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp làchủ yếu Ví dụ: thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rút ngắnkhoản cách giữa người giàu và nghèo để công bằng xã hội, các khoản trợ cấp cho gia đìnhchính sách, thương binh…
Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN không những cho phép tìm được phương thức
và phương pháp quản lý NSNN hiệu quả hơn, mà còn giúp ta nhận thức và phát huy tốt hơncác chức năng, vai trò của Ngân sách nhà nước
2.1.3 Vai trò của Ngân sách nhà nước
2.1.3.1 Đặc điểm của nền kinh tế thị trường
Mọi hệ thống kinh tế đều được tổ chức theo cách này hay cách khác để huy động tối
đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả nguồn lực đó nhằm sản xuất ra các hànghoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu của xã hiội Việc sản xuất ra những loại hàng hoá gì, đượctiến hành theo phương pháp nào là tốt nhất, việc phân phối hàng hoá được sản xuất ra đáp ứngtốt cho nhu cầu của xã hội, đó là vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế, xã hội Lực lượng nào
Trang 28quyết định những vấn đề cơ bản đó? Trong nền kinh tế mà người ta gọi là Kinh tế chỉ huy, cácvấn đề cơ bản đó được cơ quan của Nhà nước quyết định Còn trong nền kinh tế mà vấn đề cơbản của nó do thị trường quyết định được gọi là Kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao cùng cácquy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật lưu thông tiền tệ Cơ chế thi trường bao gồmcác nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trường Nhìn chung kinh tế thị trường nó có các
ưu điểm cơ bản sau:
- Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo đIều kiệnthuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, pháthuy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế
- Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất cóthể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và số lượng hànghoá
- Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và
cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể thoả mãn nhu cầu tiêudùng của cá nhân và sản xuất về các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác nhau
- Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường Bên cạnh thị trườnghàng hoá đã xuất hiện các thị trường về vốn, lao động… phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệthống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trường là cơ chếđiều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao Song, cơ chế thị trường không phải làhiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong nó nhiều nhược điểm
- Sự xuất hiện độc quyền trong nền kinh tế, độc quyền làm cho giá cả không phản ánhđược quan hệ cung cầu đích thực, hạn chế sản xuất hàng hoá, từ đó dẫn đến các hiện tượng xãhội như thất nghiệp làm cho cung cầu lao động mất cân đối
- Trong kinh tế thị trường, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận Chạy theo lợi nhuận dẫnđến việc sử dụng tài nguyên lãng phí, gây ô nhiễm môi trường
- Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũng không thể đạtđược Sự tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo, tác động xấu đếnđạo đức và tình người
- Tự phát cũng là căn bệnh của kinh tế thị trường dẫn đến cơ cấu kinh tế mất cân đối.Bản thân nền kinh tế không thể khắc phục được các khuyết tật đó, cần có sự can thiệpcủa Nhà nước Nhà nước đưa nền kinh tế tăng trưởng, tạo đầy đủ công ăn việc làm, ổn định
Trang 29giá cả, hạn chế lạm phát Sự can thiệp của Nhà nước là sự can thiệp gián tiếp, thông qua cáccông cụ chủ yếu như: Pháp luật, Kế hoạch, Tổ chức, Tài chính, Tiền tệ
Trong các công cụ đó, ngân sách Nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất củaNhà nước
2.1.3.2 Vai trò của Ngân sách Nhà nước
- Ngân sách có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhànước và thực hiện sự cân đối thu - chi tài chính của Nhà nước Đây là vai trò lịch sử củaNSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội và
cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước đểkhắc phục những khuyết tật của nền KTTT thể hiện trên các mặt: kinh tế, xã hội, thị trường
.+ Về mặt kinh tế :
Nhà nước định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo màchính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển ổn định và bền vững
Thông qua các công cụ thuế và thuế suất, Nhà nước kích thích sản xuất phát triển,thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu
tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
+ Về mặt xã hôi:
NSNN giữ vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Trợ giúptrực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp
xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí
để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt
Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế cũngđược sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Việc kếthợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừa làm tăng các khoản thu cho ngân sáchNhà nước, mặt khác vữa nhằm điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao, điềutiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của các tầng lớp người lao động
+ Về mặt thi trường:
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào cung cầuhàng hoá trên thị trường Do đó, để ổn định giá cả, Chính phủ có thể tác động vào cung hoặccầu hàng hoá trên thị trường
Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả vàkiềm chế lạm phát Nhà nước điều tiết giá cả những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng
Trang 30mang tính chất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuấtnhập khẩu, dự trữ quốc gia Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợpNSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ để kiềm chếlạm phát.
2.2 Thu NSNN
2.2.1.Khái niệm
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hìnhthức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộcdân phải đóng góp Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay củadân là những hình thức không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng
có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhànước dùng quyền lực chính trị của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân phải đóng gópmột phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất đểhuy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước vớicác chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mặt lợiích kinh tế
Nguồn tài chính quốc gia là kết quả độ lao động sản xuất trong nước tạo ra được thểhiện được hình thức tiền tệ (GDP)
2.2.2 Đặc điểm:
- Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảysinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị tập trung một phần nguồn tài chínhquốc gia (GDP) hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Mọi khoản thu của nhà nướcđều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
- Thu ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào thực trạng kinh tế và sự vận động của cácphạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạngcủa nền kinh tế là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), quyết định mức động viên của thuNgân sách Nhà nước
2.2.3 Nội dung kinh tế của thu ngân sách Nhà nước
Phân loại thu NSNN
Căn cứ vào phạm vi phát sinh:
+ Thu trong nước (thu từ SXKD, cung cấp dịch vụ, bán và cho thuê tài sảnquốc gia,…)
+ Thu ngoài nước (thu từ xuất khẩu lao động, viện trợ, vay nước ngoài)
Trang 31 Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế:
+ Thu thường xuyên (thu từ thuế, phí, lệ phí) + Thu không thường xuyên (thu hoạt động kinh tế,sự nghiệp, vay, vtrợ,…)
Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào NSNN
+ Thu trong cân đối NS (thu từ thuế, phí, lệ phí, từ các hoạt động ktế ) + Thu bù đắp thiếu hụt NS (thu từ vay)
Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu Ngân sách Nhà nước gồm cáckhoản thu chủ yếu sau:
2.2.3.1.Thu thường xuyên
Thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh thường xuyên cùng với nhịp độ hoạtđộng của nền kinh tế, có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí với nhiều hình thức cụ thể doluật định
- Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc được thể hiện bằng luật do pháp nhân và thểnhân đóng góp cho Nhà nước (thể nhân là cá nhân có đăng ký kinh doanh) Trong nền kinh tếthị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thuquan trọng chủ yếu cua ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triểnkinh tế, thể hiện cụ thể như sau:
+ Thuế góp phần thúc đẩy sự tích lũy tư bản để ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triểnkinh tế
+ Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng tiết kiệm trong khu vực tư nhân
và đảm bảo sự công bằng của xã hội
+ Thuế là một trong những biện pháp chế ngự lạm phát
Dựa vào tính chất chuyển giao của thuế, chia thuế ra 2 loại:
Loại 1: Thuế trực thu đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịuthuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Loai 2: Thuế gián thu là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hoá
và dịch vụ (người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất), ( thuế giá trị gia tăng, thuếtiêu thụ đặc biệt)
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều loại thuế mang tính chất lưỡng tính như: thuế nôngnghiệp, thuế xuất nhập khẩu
Phí và lệ phí: là một khoản thu nhằm bù đắp một phần chi phí của các cơ quan
sự nghiệp đã bỏ ra để cung cấp dịch vụ công
Trang 32Thực chất phí và lệ phí là khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởngthụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn Phígắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụcông cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp cácdịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.
2.2.3.2.Thu không thường xuyên
Thu không thường xuyên là những khoản thu chỉ phát sinh vào thời điểm, vào nhữngkhoảng thời gian nhất định, không phát sinh liên tục như thu từ hoạt động kinh tế của Nhànước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước…
Thu lơi tức cổ Phần của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện hình thức đầu tư vốn vào hoạt độngsản xuất kinh doanh bằng hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần Khoản tiền đó sẽ sinh lờidưới hình thức lợi tức cổ phần của Nhà nước Khoản thu này sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong ngânsách Nhà nước khi Nhà nước thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
Thu tiền bán hàng hoặc thu tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước
Là khoản thu mang tính chất thu hồi vốn và có một phần tính chất phân phối lại Vừa
có tác dụng nâng cao nguồn thu cho ngân sách NN, vừa có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng tàisản quốc gia
Khoản thu này chia làm 2 loại:
+ Loại 1: thu về tiền cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên
+ Loại 2: Tiền bán TS thuộc sở hữu nhà nước như bán hoặc cổ phần hóa DNNN cho
tư nhân
Tiền thu về hợp tác lao động với nước ngoài
Là khoản tiền thu hồi của quốc gia do đã bỏ ra chi phí ban đầu để nuôi dưỡng rènluyện tầng lớp lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích một phần tiền côngcủa mình đóng góp cho đất nước
Ngoài các khoản trên còn có các khoản thu về vay, viện trợ để cân đối NSNN
và các khoản thu khác
2.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN
Vấn đề cốt lõi trong thu NSNN là xác định mức động viên và lĩnh vực động viên.Việc xác định đúng đắn mức động viên và lĩnh vực động viên không chỉ có ảnh hưởngđến số thu ngân sách, mà còn ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội vàchịu sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng sau đây:
- Thu nhập GDP bình quân đầu người
Trang 33Chỉ tiêu thu nhập GDP bình quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triểncủa một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước, là nhân tốquyết định khách quan đến mức động viên của Ngân sách Nhà nước Khi GDP/người mà caothì thu ngân sách nhà nước sẽ cao Ngược lại, khi GDP/người thấp thì thu ngân sách nhà nước
sẽ thấp
- Khả năng xuất khâu dâu mỏ và khoáng sản
Nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến số thu ngân sách Nếu tỷ trọng xuât khẩu dầu
mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu ngân sách Nhà nước sẽcao và có khả năng tăng nhanh Ở nước ta, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷtrọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến việcnâng cao tỷ suất thu của Ngân sách Nhà nước
- Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế (= LN*100%/ VSX)
Tỷ suất doanh lợi phản ánh hiệu quả của nền kinh tế, do đó Tỷ suất doanh lợi trongnền kinh tế càng lớn thì thu ngân sách nhà nước càng lớn Ngoài ra, nếu dựa vào tỷ suất doanhlợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu ngân sách nhà nước sẽ tránh được việc động viênvào ngân sách nhà nước gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế
- Mức độ trang trải các khoản CF của nhà nước (tiết kiệm, bộ máy gọn nhẹ, hoạt độnghiệu quả
- Tổ chức bộ máy thu nộp: gọn nhẹ, có hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn,lậuthuế sẽ là nhân tố tích cực làm tăng thu ngân sách nhà nước Ngược lại, tổ chức bộ máy thunộp cồng kềnh, cán bộ quản lý thu nộp thiếu trách nhiệm, cố ý làm sai sẽ là những nguyênnhân gây giảm thu của ngân sách nhà nước
2.2.5 Nguyên tắc tổ chức hệ thống thu NSNN
- Nguyên tắc ổn định lâu dài:
Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định cácsắc thuế, không được gây xáo trộn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngânsách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và pháttriển nguồn thu Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóangân sách nhà nước và tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Nguyên tắc đảm bảo công bằng:
Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế,không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế Do đó việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu
Trang 34dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằngtrong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu.
- Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải
rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế Các từ ngữ được sửdụng của văn
bản phải thông dụng, dễ hiểu không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đềuhiểu được và chấp hành giống nhau.Đảm bảo nguyên tắc này giúp cho việc tổ chức chấp hànhluật thống nhất,
tránh được tình trạng lách luật, trốn lậu thuế
-Nguyên tắc giản đơn:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõmục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế Có như vậy mới tạo điềukiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêucực trong thu thuế
-Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế:
Theo nguyên tắc này thiết lập hệ thống thuế phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc
tế về đối tượng tính thuế, phương thức thu nộp thuế suất Đồng thời phải thực hiện đầy đủ cáccam kết mang tính chất quốc tế
2.3 Chi NSNN
2.3.1.Khái niệm chi NSNN
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chứcnăng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN
và đưa chúng đến mục đích sử dụng Vì thế, chi NSNN là những việc cụ thể, không chỉ dừnglại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việcthuộc chức năng của Nhà nước
Chi NSNN bao gồm 2 quá trình:
Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loạiquỹ trước khi đưa vào sử dụng
Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN màkhông trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Ví dụ: việc chi dùngquỹ NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản, hoặc các chương trình kinh tế có mục tiêu
Trang 35- Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhấtquyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ nguồn vốn ngân sách cho các mụctiêu quan trọng nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xãhội của quốc gia Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoảnchi NSNN.
- Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó đượcxem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng dựa vào việchoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng mà các khoản chi Ngân sáchđảm nhận
Tuy nhiên, điều đó không bác bỏ trong đầu tư phải chú ý tới hiệu quả kinh tế, nhất làcác khoản vay nợ để đầu tư
- Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp Các khoản cấp phát từNSNN cho các ngành, các cấp cho các hoạt động văn hoá, xã hội, giúp đỡ người nghèo không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước Đặc điểm này giúp phân biệt các khoản chiNSNN với các khoản tín dụng Tuy nhiên, NSNN cũng có những khoản chi cho việc thựchiện chương trình mục tiêu mà thực chất là cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấphoặc không có lãi (chi giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo )
- Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sựvận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỷ giá hối đoái Chi NSNN có quy mô lớn, phức tạp, có tác động mạnh mẽ đến môi trường tài chính vĩ mô,đến tổng cung, tổng cầu về vốn tiền tệ Nếu thu, chi NSNN cân đối được, về cơ bản tổng cungtổng cầu về hàng hoá, dịch vụ của xã hội sẽ ổn định
Trang 362.3.3 Nội dung và phân loại chi NSNN
2.3.3.1 Nội dung chi:
Do tính đa dạng và phức tạp nên chi NSNN có rất nhiều khoản mục khác nhau, baogồm:
- Chi đầu tư phát triển: bao gồm các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; chicho các chương trình, mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhànước, góp vốn liên doanh, liên kết; chi bổ sung dự trữ nhà nước
- Chi sự nghiệp kinh tế;
- Chi cho y tế;
- Chi cho giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học;
- Chi cho văn hoá, thể dục thể thao;
- Chi về xã hội;
- Chi quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể;
- Chi cho an ninh, quốc phòng;
-Chi khác: như chi viện trợ, cho vay, trả nợ gốc và lãi
2.3.3.2 Phân loại chi NSNN
Nhằm phân tích, đánh giá việc quản lý và định hướng các khoản chi cần phải tiến hànhphân loại chi NSNN Phân loại chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN có cùng tínhchất, cùng mục đích thành các loại chi Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNNtheo những mục tiêu quản lý nhất định Sau đây là một số tiêu thức phân loại chủ yếu:
- Căn cứ vào mục đích chi tiêu, nội dung chi NSNN được chia thành hai nhóm:
+ Chi cho đầu tư phát triển SX của NSNN là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất
và tiềm lực cho nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế, là các khoản chi đầu tư phát triển
và các khoản chi tích lũy khác
+ Chi tiêu dùng của NSNN là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêudùng trong tương lai, mà dùng cho tiêu dùng hiện tạiđối với từng cá thể, từng bộ phận, baogồm: chi cho các hoạt động sự nghiệp, chi quản lý hành chính nhà nước, chi quốc phòng, anninh và chi tiêu dùng khác
- Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý NSNN nội dung chi NSNNđược chia thành bốn nhóm như sau:
+ Nhóm chi thường xuyên, bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thườngxuyên của nhà nước Về cơ bản, nó mang tính chất chi tiêu dùng Chi thường xuyên khôngđược chiếm hết số thu từ thuế và phí của NSNN, vì NSNN hàng năm còn phải dành một phầnthu từ thuế và phí cho đầu tư phát triển
Trang 37+ Nhóm chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi làm tăng cơ sở vật chất của đấtnước và góp phần làm tăng trưởng kinh tế Nó là các khoản chi mang tính chất chi tích lũynhư chi đầu tư CSHT, chi hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, chi các dự án chương trình quốc gia.
+ Nhóm chi trả nợ và viện trợ, bao gồm các khoản chi để Nhà nước thực hiện nghĩa vụtrả nợ các khoản đã vay trong nước và vay nước ngoài khi đến hạn (bao gồm cả nợ gốc và lãi)
và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế
+ Chi dự trữ, là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước, quỹ dự trữtài chính
- Căn cứ vào lĩnh vực chi: Chi NSNN chia thành: chi cho ytế, giáo dục, phúc lợi, quản
lý nhà nước, đầu tư kinh tế
- Căn cứ vào chức năng của Nhà nước: Chi NSNN chia thành: chi nghiệp vụ, chi pháttriển
2.3.4 Các nhân tố hưởng đến chi NSNN
Nội dung, cơ cấu các khoản chi NSNN là sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chínhtrị, xã hội của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử và luôn biến động theo tình hình kinh tế
xã hội, chính trị Vì thế, cần đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN
- Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng quyết định đến nội dung cơ cấu chiNSNN, nói lên bản chất xã hội
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhân tố vừa tạo ra khả năng và điều kiện choviệc hình thành nội dung, cơ cấu chi một cách hợp lý vừa đặt ra yêu cầu thay đồi nội dung, cơcấu chi trong từng thời kỳ nhất định
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế, nhân tố này càng lớn thì khả năng chi đầu tư pháttriển kinh tế càng lớn Tuy nhiên, việc chi NSNN cho đầu tư phát triển còn tùy thuộc ở khảnăng tập trung nguồn tích lũy vào NSNN và chính sách chi của NSNN trong từng giai đoạnlịch sử
- Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước, và những nhiệm vụ kinh tê, xã hội mà Nhànước đảm nhận trong từng thời kỳ
Ngoài những nhân tố kể trên, nội dung, cơ cấu chi NSNN của mỗi quốc gia trong từnggiai đoạn còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như biến động kinh tế, chính trị, xã hội,giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi NSNN có ý nghĩa quantrọng trong việc bố trí nội dung và cơ cấu chi tiêu của NSNN một cách khách quan, phù hợpvới yêu cầu của tình hình kinh tế, chính trị trong từng giai đoạn lịch sử
Trang 38- Nguyên tắc thử nhất: gắn chặt khoản thu để bố trí các khoản chi.
Chi NSNN phải dựa trên cơ sở có nguồn thu thực tế từ nền kinh tế Nó đòi hỏi mức độchi và cơ cấu các khoản chi phải dựa vào khả năng tăng trưởng GDP của đất nước Nếu viphạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng bội chi NSNN, một nguyên nhân dẫn đến khả năngbùng nổ lạm phát, gây mất ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội
- Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí cáckhoản chi tiêu của NSNN Các khoản chi NSNN nói chung có đặc điểm là bao cấp với khốilượng chi thường lớn Vả lại trong thực tế, trải qua một thời gian dài với quan điểm chi vớibất cứ giá nào đã gây nên tình trạng lãng phí, kém hiệu quả trong việc sử dụng các khoản chiNSNN, đặc biệt là các khoản chi XDCB Do vậy, cần phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm vàhiệu quả trong các -khoản chi NSNN
Để đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong chi NSNN cần phải sắp xếp bố trícác khoản chi NSNN với một cơ cấu hợp lý, phải dựa trên các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu
có căn cứ khoa học và thực tiễn, tổ chức các khoản chi theo các chương trình có mục tiêu
- Nguyên tắc thứ ba: tập trung có trọng điểm Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổnguồn vốn NSNN phải căn cứ vào chương trình trọng điểm của Nhà nước, vì việc thực hiệnthành công các chương trình này có tác động dây chuyền, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vựcphát triển Thực hiện đúng nguyên tắc này mới đảm bảo tính mục đích và khả năng tiết kiệmcác khoản chi NSNN
- Nguyên tắc thứ tư phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chínhquyền theo luật định để bố trí các khoản chi cho thích hợp áp dụng nguyên tắc này tránhđược việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra, giám sát' nâng cao trách nhiệm vàtính chủ động của các cấp
- Nguyên tắc thứ năm: tổ chức chi NSNN trong sự phối hợp chặt chẽ với khối lượngtiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái để tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến các vấn đề củakinh tế vĩ mô
- Nguyên tắc 6: Tuân thủ nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trícác khoản chi của NSNN nhất là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội
Trang 39Chi NSNN là công cụ quan trọng không chỉ đáp ứng các khoản chi phí của nhà nước
mà có ảnh hưởng lớn đến điều tiết vĩ mô của nhà nước Khi bố trí các khoản chi NSNN cán có
sự cân nhắc, nghiên cứu thận trọng dựa trên các nguyên tắc chi NSNN
2.3.6 Bội chi ngân sách nhà nước và các giải pháp xử lý
2.3.6.1.Khái niệm:
Thăng bằng giữa thu và chi NSNN, cân đối NSNN, là nguyên tắc quản lý NSNN xuấtphát từ yêu cầu khách quan của ổn định tiền tệ, ổn định sản xuất, đời sống và nó còn là điềukiện để tạo dựng môi trường tài chính vĩ mô ổn định Vì vậy thăng bằng thu, chi NSNN phảiđược coi trọng và giữ vững
Tuy nhiên, số thu NSNN có hạn, trong khi đó, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lạikhông ngừng tăng lên, dẫn đến sự mất cân bằng giữa thu và chi, bội chi NSNN xảy ra
Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN (thu từ thuế, phí và lệ phí)trong một năm
Nguyên nhân: bội chi ngân sách có thể xảy ra do:
Các nguyên nhân khách quan:
Do nền kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ
2.3.6.2 Các giải pháp xử lý:
Bội chi NSNN trên quy mô lớn, tốc độ cao được coi là một nguyên nhân trực tiếp vàquyết định gây ra lạm phát, tác hại đến sự phát triển kinh tế, đến đời sống của dân cư Trongđiều kiện ngân sách nhà nước còn bội chi, Nhà nước phải tìm giải pháp khống chế bội chi tìmnguồn trang trải bù đắp bội chi Các giải pháp từng được sử dụng là:
- Tăng thu, giảm chi NSNN
- Vay nợ trong và ngoài nước để bù đắp bội chi
- Phát hành tiền giấy để bù chi
Phát hành tiền giấy để chi tiêu ngân sách vượt quá yêu cầu của lưu thông tiền tệ sẽ nảysinh cầu lớn hơn cung, giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ lên cao, lạm phát xảy ra
Trang 40Vay nợ trong nước và nước ngoài có thể tránh được phát hành tiền giấy Nhưng vay
nợ thì phải trả nợ và một khi không trả được nợ đến hạn, phải tăng thuế Nếu không tăng đượcthuế lại phải vay nợ mới để trả nợ cũ và nguy cơ khủng hoảng tài chính tiềm ẩn trong cáckhoản nợ chưa trả được đó Vấn đề quan trọng được đặt ra là vay nợ đến mức nào để đảm bảo
sự an toàn, tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ và nhất là tiền vay nợ phải được sử dụng cóhiệu quả cao để có khả năng trả nợ đúng hạn và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
Hiện nay, để xử lý bội chi NSNN, bên cạnh biện pháp tăng thu, giảm chi, hầu hết cácnước đều sử dụng đến biện pháp vay nợ
Để tiến hành vay nợ trong nước, cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ vấn đề mứcsống của dân cư, khả năng thu nhập, vấn đề lãi suất huy động, thời hạn hoàn trả
Để thực hiện việc vay nợ nước ngoài, điều quan trọng là phải nghiên cứu hiệu quả sửdụng tiền vay, sự biến động lãi suất, lựa chọn hình thức vay, cũng như việc cải thiện môitrường kinh tế, chính trị của đất nước, tạo sự ổn định để thu hút vốn vay
Xử lý bội chi NSNN bằng giải pháp nào cũng phải có sự trả giá, vấn đề là phải lựachọn sao cho sự trả giá ít nhất và có lợi nhất cho đất nước
mà các địa phương có khả năng xử lý có hiệu quả
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp Ngân sách Bất cứ nước nào, muốn xây dựng hệthống NSNN phải căn cứ Vào hiến pháp của nước đó Trên cơ sở các nguyên tắc của hiếnpháp luật NSNN cụ thể hoá hệ thống NSNN
2.4.2 Cấp NSNN
2.4.2.1 Điều kiện hình thành cấp NSNN:
- Cấp NS được hình thành trên cở cấp chính quyền
- Nhiệm vụ của cấp chính quyền được giao phó phải tương đối toàn diện, nghĩa là cấpchính quyền đó không chỉ có nhiệm vụ phát triển hành chính xã hội mà còn có nhiệm vụ tổchức quản lý và phát triển kinh tế trên vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó cai quản