1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HẰNG NGÀY của NGƯỜI CAO TUỔI và THỰC TRẠNG CHĂM sóc tại CỘNG ĐỒNG ở PHƯỜNG tân dân, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ năm 2017

99 160 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 828,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược mục tiêu là cải thiện chức năng chongười cao tuổi, làm sao để chức năng người cao tuổi độc lập càng cao càng tốt.Với những người cao tuổi suy giảm chức năng, bị hạn chế trong

Trang 1

PHAN TRỌNG ĐỨC

H¹N CHÕ HO¹T §éNG SINH HO¹T H»NG

NGµY CñA NG¦êI CAO TUæI Vµ THùC TR¹NG CH¡M

SãC T¹I CéNG §åNG ë PH¦êNG T¢N D¢N,

Trang 3

được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp vàcán bộ, người dân sinh sống tại phường Tân Dân.

Tôi bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Trần Khánh Toàn thầy

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, dành thời gian hướng dẫn, đưa ra các

ý kiến, đề xuất có giá trị, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận Những điềunày đã góp phần rất lớn để tôi hoàn thành bài luận văn của mình

Tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến:

- Thầy cô bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội, các thầy

cô đã nhiệt tình dạy bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

- Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, thư viện và các phòng banliên quan đã giúp tôi hoàn thành luận văn

- Chính quyền, cán bộ y tế, hội người cao tuổi tại phường Tân Dân,thành phố Việt Trì đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu thuận lợi

- Người dân sinh sống tại phường Tân Dân, thành phố Việt Trì đã nhiệttình trả lời bộ câu hỏi cũng như tiến hành cân đo để tôi có thể thu thập thôngtin và hoàn thành được khóa luận của mình

- Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viêntôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 13 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn Phan Trọng Đức

Trang 4

gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội, xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu của tôi, luận văn do tôi trực tiếp thực hiện

dưới sự hướng dẫn của TS Trần Khánh Toàn.

- Các số liệu trong luận văn là có thật, do tôi tiến hành thu thập và điều tratại phường Tân Dân, thành phố Việt Trì đã được xác nhận và chấp nhận củachính quyền nơi nghiên cứu cho phép lấy số liệu

- Nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công

bố ở Việt Nam

Trang 6

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi 3

1.2 Xu hướng già hóa dân số 4

1.3 Sức khoẻ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT 8

1.4 Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi 13

1.5 Một số nghiên cứu về hạn chế HĐSHHN và chăm sóc NCT 18

Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu 23

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.6 Biến số nghiên cứu 25

2.7 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 28

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 29

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 29

Chương III KẾT QUẢ 31

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Tình trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi 35

3.3 Thực trạng chăm sóc của NCT có hạn chế HĐSHHN 43

Chương 4 BÀN LUẬN 55

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 55

Trang 7

KẾT LUẬN 74 KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Số lượng người cao tuổi (NCT) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng đang có xu hướng tăng nhanh Năm 1950, thế giới chỉ mới có 205 triệungười từ 60 tuổi trở lên, đến năm 2012, tăng lên gần 810 triệu người và ướctính đến năm 2050 sẽ được tăng lên đến 2 tỷ người Tỷ lệ người cao tuổi ởnhiều nước châu Âu đã chiếm đến gần 30% dân số[ CITATION Quỹ12 \l

1033 ] Ở Việt Nam, số liệu gần đây cho thấy nước ta đã chính thức bước vàogiai đoạn già hóa dân số, với tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% năm

1999 lên 10,5% năm 2013 Tỉ lệ già hoá dân số (tổng số người trên 60 tuổi/100người dưới 15 tuổi) tăng nhanh từ 24,3% năm 1999 lên 43,5% năm 2013 Vớimức gia tăng tỷ lệ người cao tuổi như hiện nay, Việt Nam là một trong mườinước có tốc độ già hoá dân số cao nhất trên thế giới[ CITATION BộY15 \l

1033 ]

Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu quan trọng của loàingười Già hóa là kết quả của quá trình phát triển Con người sống lâu hơn nhờcác điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y

tế, giáo dục và đời sống kinh tế Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra nhữngthách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội

và cộng đồng trên toàn cầu Quá trình lão hoá gắn liền với sự suy giảm chứcnăng và gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính làm tăng nhu cầu chăm sócsức khoẻ Người cao tuổi thường mắc đồng thời nhiều bệnh, với nhiều bệnhmạn tính đòi hỏi chăm sóc lâu dài với chi phí lớn Người cao tuổi Việt Namhiện nay có tỷ lệ ốm đau cao, tuổi thọ khỏe mạnh thấp Trung bình mỗi ngườiphải chịu 14 năm bệnh tật trong tổng số 73 năm trong cuộc sống, chỉ có 4,8%người cao tuổi có sức khỏe tốt và rất tốt, 65,4% là yếu và rất yếu[ CITATIONHội12 \l 1033 ]

Trang 9

Trong bối cảnh kinh tế phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của ngườicao tuổi cũng ngày càng cao, không chỉ đơn thuần là điều trị bệnh mà còn phảinâng cao chất lượng cuộc sống Chiến lược mục tiêu là cải thiện chức năng chongười cao tuổi, làm sao để chức năng người cao tuổi độc lập càng cao càng tốt.Với những người cao tuổi suy giảm chức năng, bị hạn chế trong các hoạt độngsinh hoạt hàng ngày cần được sự chăm sóc hỗ trợ từ phía gia đình Ở các nướcphát triển, người cao tuổi không nhận được sự hỗ trợ từ phía gia đình sẽ đượcchăm sóc bởi nhân viên y tế tại viện dưỡng lão Ở Việt Nam chưa có nhàdưỡng lão thật sự đúng nghĩa, cũng như việc có nhân viên y tế thăm khámđịnh kì tại nhà là rất hạn chế, việc chăm sóc người già phụ thuộc, chủ yếu dựavào các thành viên trong gia đình

Trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Hạn chế hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi và thực trạng chăm sóc tại cộng đồng

ở phường Tân Dân, thành phố Việt Trì năm 2016’’ với hai mục tiêu chính:

1 Khảo sát tình hình hạn chế hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi tại phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

2 Mô tả thực trạng chăm sóc hỗ trợ người cao tuổi có hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày tại cộng đồng ở phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Trang 10

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi

1.1.1 Định nghĩa người cao tuổi

Người cao tuổi theo quy ước chung của Liên hiệp quốc là người từ 60tuổi trở lên [ CITATION LêV14 \l 1033 ] Trong những năm gần đây, trong xãhội đã sử dụng khái niệm “người cao tuổi” thay cho “người già” Do nhiềungười từ 60 tuổi trở lên vẫn còn hoạt động, cống hiến cho xã hội, đất nướcnên dùng cụm từ người cao tuổi bao hàm tính kính trọng hơn cụm từ ngườigià Tuy nhiên về khoa học thì về khoa học thì người già hay NCT đều đượcdùng với ý nghĩa như nhau Về bản chất, già vẫn là sự giảm từ từ, tuần tiếncủa khối chuyển hóa hoạt động, hết chuyển hóa, trao đổi chất thì cũng hết sựsống.[ CITATION Chí02 \l 1066 ][ CITATION Ủyb00 \l 1066 ]

1.1.2 Phân loại người cao tuổi

NCT không phải là đối tượng thuần nhất Trong dân số già, người tathường chia ra làm 3 loại: Nhóm rất già từ 80 tuổi trở đi (tương đương nhómđại lão trong dân gian), nhóm trung bình từ 70 đến 80 tuổi (tương đương vớitrung lão), nhóm các cụ còn còn năng động từ 60 – 70 (sơ lão) Tổ chức Y tếthế giới (WHO) thường phân chia từ 60 đến 74 là người có tuổi, từ 75 đến 89

là người già và từ 90 tuổi trở đi là người rất già Mọi sự phân chia đều có tínhchất ước lệ, có ý nghĩa tương đối vì đánh giá theo tuổi sinh học thường chínhxác hơn theo năm đã sống[ CITATION Đoà98 \l 1066 ]

Với đa số các nước phát triển thì NCT được coi là những người từ 65tuổi trở lên, cao hơn 5 tuổi so với quy định chung vì tuổi thọ cũng như sức

Trang 11

khỏe của đa số người dân ở nước phát triển nhìn chung cao hơn nhiều so vớicác nước đang phát triển.

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi

Giai đoạn cao tuổi gắn liền với quá trình già hoá một cách hệ thống củacác cơ quan trong cơ thể, đặc trưng bởi sự suy giảm nghiêm trọng về mặtchức năng cả về sinh lý lẫn trí tuệ, giảm khả năng đề kháng dẫn đến gia tăngnguy cơ ốm đau bệnh tật Bên cạnh đó, sự thay đổi về sinh lý cộng với nhữngthay đổi về môi trường xã hội thường dẫn đến những thay đổi tâm lý củangười cao tuổi Các đặc điểm tâm sinh lý chính của người cao tuổi bao gồm:

− Năng lực cảm nhận sút giảm do sự suy giảm chức năng các cơ quandẫn đến khả năng phản ứng chậm chạp với các thay đổi của bên ngoài

− Gặp khó khăn trong việc thích nghi, tinh thần luôn ở trạng thái dễ bịkích động dẫn đến những phản ứng tâm lý tiêu cực như mặc cảm tự ti, tâmtrạng sầu muộn, buồn chán

− Lòng tự trọng dễ bị tổn thương dẫn đến những phản ứng tâm lý cốchấp, thô bạo hoặc có thể trầm lặng, tiêu cực Phần lớn những thay đổi tâm lýcủa người cao tuổi thường diễn ra theo hướng tiêu cực và nếu kéo dài có thểdẫn đến các biến đổi bệnh lý[CITATION Trư04 \l 1066 ]

1.2 Xu hướng già hóa dân số

1.2.1 Tình hình già hóa dân số trên thế giới

Theo quy ước của Liên hiệp quốc, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ 10% trởlên thì quốc gia đó được gọi là dân số già Pháp đạt tỷ lệ này từ năm 1935,Thụy Điển năm 1950 Thời gian để một nước tăng tỷ lệ NCT từ 7% lên 10%đạt ngưỡng dân số già rất khác nhau, Pháp 70 năm (1865 - 1935), Mỹ 35 năm(1935 -1975), Nhật Bản chỉ có 15 năm (1970 - 1985) Như vậy, tốc độ già hóadân số song song với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ phát triển ở mỗi

Trang 12

quốc gia càng nhanh thì tốc độ già hóa dân số càng mạnh[ CITATIONWHO99 \l 1066 ] Năm 1995, tỷ lệ NCT trên toàn thế giới là 9% thì năm

2025 Quỹ dân số của Liên hiệp quốc dự báo sẽ là 14% Tại Nhật Bản, tỷ lệngười trên 65 tuổi chiếm tới 25% dân số (khoảng 32 triệu người) Trong khốiCộng đồng châu Âu (EU), số người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 16,5%năm 2005, năm 2010 tỷ lệ NCT là 18% [ CITATION Dươ10 \l 1066 ] Ở Iran,

tỷ lệ người cao tuổi đã tăng gấp đôi từ 3,9% năm 1956 lên 7,3% (5.121.043người) vào năm 2006[ CITATION Fer12 \l 1066 ] Ở Ấn Độ, tỷ lệ người caotuổi (trên 60 tuổi) đã cho thấy sự gia tăng từ 5,6% năm 1961 lên 7,5% trongnăm 2011 [ CITATION Amo12 \l 1066 ] Tại Thái Lan, tỷ lệ NCT trong tổngdân số dự kiến sẽ đạt 14% vào năm 2015, 19,8% vào năm 2025 và gần 30%vào năm 2050 Khoảng hai phần ba số NCT trên thế giới sống ở các nướcđang phát triển Đây sẽ là khu vực có tỉ lệ NCT tăng cao và nhanh nhất Theo

dự báo, số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới[CITATION Ngu \l 1066 ]

Trang 13

Biểu đồ 1.1 Số lượng NCT trên thế giới

1.2.2 Đặc điểm người cao tuổi ở Việt Nam

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trởlên năm 2010 là 9,3%, năm 2011 là 9,8% và dự báo tỷ lệ này là 20,7% vàonăm 2040 đến 24,8% vào năm 2049[ CITATION Ủyb12 \l 1033 ] Những chỉ

số này cho thấy Việt Nam đang trong “quá trình già hóa dân số”, đồng thờicũng ở thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” khi tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi ở mức dưới30%[ CITATION LêV14 \l 1033 ] Đây là thời kỳ tạo cơ hội cho sự phát triểncủa đất nước dựa trên nguồn nhân lực phong phú, nhưng cũng là thách thứctrong đối phó với tình trạng dân số già trong tương lai khi quá trình già hóadân số diễn ra trong bối cảnh Việt Nam mới được xếp vào nước có thu nhậptrung bình thấp Người cao tuổi vừa là chủ thể của sự già hóa, vừa là đốitượng chịu tác động của già hóa trên các phương diện về kinh tế và việc làm,tinh thần và xã hội, sức khỏe và chất lượng cuộc sống

Về điều kiện sống và việc làm, tỷ lệ NCT vẫn sống ở khu vực nông thônnăm 2009 là 72,5%[ CITATION Ủyb12 \l 1066 ] và năm 2012 là 68,2%[ CITATION Kết12 \l 1066 ] với công việc chủ yếu là làm nông nghiệp Hiệnvẫn có trên 59% số người từ 60 đến 69 tuổi và khoảng 41% người trên 70 tuổivẫn đang làm việc, 56,8% trong lĩnh vực nông nghiệp[ CITATION Hội12 \l

1066 ] Đáng chú ý là, có rất nhiều NCT, đặc biệt là người từ 60 - 69 tuổi, cónhu cầu làm việc, nhưng không có việc làm do không tìm được công việc phùhợp, do phải làm việc nhà và điều kiện về sức khỏe Do điều kiện lịch sử vànhững khó khăn hiện tại, khả năng tích lũy vật chất của NCT còn hạn chế Cótới 70% số NCT không có tích lũy vật chất, 18% số người thuộc hộ gia đìnhnghèo[ CITATION BộY13 \l 1066 ]

Người cao tuổi cũng đang chịu tác động của sự thay đổi cấu trúc gia đìnhkhi tỷ lệ hộ gia đình có cha mẹ sống chung với các con đã giảm rõ rệt, từ 80%

Trang 14

năm 1993 theo điều tra về mức sống dân cư xuống còn khoảng 69,5% năm2011[ CITATION Hội12 \l 1066 ] Thay vào đó là sự gia tăng số hộ gia đìnhchỉ có ông bà sống với các cháu (gọi là gia đình “khuyết thế hệ” có nguyênnhân từ sự di cư của người lao động trẻ tuổi từ nông thôn ra thành thị), từ6,8% đến 7,1% [ CITATION Hội12 \l 1066 ] Thực trạng này có thể làm chocuộc sống của NCT càng thêm khó khăn hơn, kể cả về kinh tế, xã hội và tâm

Người cao tuổi thường ít nhiều có rối loạn về tâm lý, hoặc có những ưu

tư, phiền muộn khi cuộc sống thay đổi, đôi khi có biểu hiện tự xa lánh ngườikhác Những trở ngại về tinh thần ở NCT thường biểu hiện bằng mặc cảm vềgiá trị của mình trong đời sống và mặc cảm về việc phải nhờ đến sự giúp đỡcủa người khác Kết quả một nghiên cứu cho thấy: số NCT trả lời có tâmtrạng thoải mái, đôi khi thấy cô đơn, thường xuyên thấy cô đơn với tỷ lệtương ứng là 52%, 31%, 17%[ CITATION Tổn06 \l 1066 ] Cũng theo kết quảcủa nghiên cứu này, có tới 87% số người nói rằng, gia đình, con cháu đối xửvới họ là tốt, trong đó có 48% cho rằng, đôi khi có những việc chưa hài lòngvới con cháu và có tới 6% số người thật sự không hài lòng với con cháu.Trong gia đình, khi có những câu chuyện cần chia sẻ, NCT thường tâm sự vớicon trai (45%), với vợ hoặc chồng (35%), với con gái (25%), với con dâu, con

rể (15%)

Người cao tuổi, do không còn tiếp tục làm công việc đã gắn bó trongnhiều năm, nên thường có cảm giác hẫng hụt, trống trải Với nhiều người,nghỉ hưu cũng đồng nghĩa với sự thay đổi về địa vị xã hội, về vai trò trong xãhội và có thể trong chính gia đình Lúc này, Hội Người cao tuổi là tổ chức gắn

bó mật thiết nhất của những NCT Hiện nay, 100% xã, phường, thị trấn có HộiNgười cao tuổi với 86% số người tham gia[CITATION Nam \l 1066 ] Tổchức hội tạo điều kiện cho NCT tham gia các hoạt động phát triển kinh tế, văn

Trang 15

hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và khởi xướng nhiều mô hình hoạt độngphong phú, phát huy vai trò NCT như Câu lạc bộ dưỡng sinh, Câu lạc bộ thơ,Nhóm vận động khuyến học, Hội Bảo thọ, v.v Các hội khác mà NCT thamgia (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân) cũng đóng vai tròquan trọng trong các hoạt động chăm sóc NCT và nhận được sự ủng hộ củacộng đồng, của những người trẻ tuổi, người tình nguyện Tham gia xã hội vàduy trì các mối quan hệ thân tình là một trong những nhu cầu rất chính đángcủa NCT Tuy nhiên, với các mối quan hệ ngoài gia đình, thân tộc, thì số NCTkhông có bạn bè thân thiết chiếm một tỷ lệ khá cao Có 30% số người không

có bạn thân, số người có từ 1 đến 2 và từ 3 đến 4 người bạn thân là 18% và20%

Trong các mối quan hệ, đa số NCT (82 %) cảm thấy hài lòng và đánh giákhá tốt về quan hệ xã hội của họ, trong khi số người cho rằng, mức độ quan

hệ xã hội kém là 18%[ CITATION Hoà \l 1066 ] Người cao tuổi cũng nhậnđược sự tôn kính, biết ơn của thế hệ trẻ và họ còn xem việc dành sự tôn trọngđối với thế hệ cha ông cũng chính là phương châm sống với những câu thànhngữ như “kính lão đắc thọ” hay “thương già, già để tuổi cho” Điều này cũngcho thấy truyền thống đạo đức, nền tảng gia đình, thuần phong mĩ tục củangười Việt Nam vẫn được bảo tồn và phát huy

1.3 Sức khoẻ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT

1.3.1 Đặc điểm về sức khoẻ, bệnh tật của người cao tuổi

Do sự lão hoá về tổ chức, sự rối loạn về chức năng và sự suy giảm khảnăng đề kháng nên người cao tuổi rất dễ bị mắc bệnh Các triệu chứng biểuhiện, diễn biến của bệnh, khả năng đáp ứng và hồi phục ở người cao tuổi cũng

có những đặc điểm khác biệt so với người trưởng thành Do sự thoái hoá vàsuy giảm chức năng của nhiều cơ quan khác nhau dẫn đến giảm sức đề kháng

và dễ tổn thương nên người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh đồng thời, trong

Trang 16

đó thường có một, hai bệnh chính có triệu chứng rõ rệt hơn và có mức độnguy hiểm cao hơn cần được ưu tiên điều trị trước Đặc biệt người cao tuổithường mắc nhiều bệnh mạn tính cùng lúc Bên cạnh các bệnh gây gánh nặng

tử vong lớn như tim mạch, ung thư, người cao tuổi có tỷ lệ mắc cao cácbệnh mạn tính do thoái hoá làm tăng gánh nặng do tàn tật ở người cao tuổi.Các bệnh lý này khiến cho người cao tuổi giảm khả năng thực hiện các hoạtđộng hằng ngày, tăng nguy cơ tàn phế, tăng mức độ phụ thuộc của người caotuổi Đặc biệt người cao tuổi rất hay gặp các bệnh lý thoái hoá thần kinh làmảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống[CITATION Trư04 \l 1066 ]

Các triệu chứng biểu hiện bệnh ở người cao tuổi thường không điển hình

do khả năng phản ứng với bệnh tật kém Một bệnh thường có triệu chứng sốtcao thì ở người cao tuổi có thể chỉ sốt nhẹ hoặc không sốt Việc có thể mắcnhiều bệnh cùng lúc cũng khiến cho các triệu chứng ở người cao tuổi dễ bị lu

mờ không điển hình hoặc xuất hiện những triệu chứng ít gặp ở người trẻ Do

hệ thống miễn dịch suy giảm nên khi mắc bệnh người cao tuổi thường dễ bịbội nhiễm Một trong những bội nhiễm hay gặp ở bệnh nhân cao tuổi là viêmphổi Bội nhiễm có thể làm nặng nề thêm các bệnh lý sẵn có ở người cao tuổi.Khi mắc bệnh, người cao tuổi cũng thường dễ bị các biến chứng và diễn biếnnặng nề hơn so với người trẻ Điều này bắt buộc người cao tuổi phải sử dụngnhiều loại thuốc hơn so với người trẻ, thời gian điều trị cũng thường kéo dàihơn Trong khi đó, khả năng đáp ứng điều trị của người cao tuổi cũng kémhơn nên nguy cơ gặp tai biến khi điều trị cũng cao hơn Bởi vậy, thầy thuốccần thận trọng hơn trong việc chỉ định phương pháp điều trị, lựa chọn thuốcđiều trị phù hợp cho người cao tuổi[CITATION Trư04 \l 1066 ]

1.3.2 Các vấn đề sức khoẻ hay gặp ở người cao tuổi

Các vấn đề sức khoẻ ở bệnh nhân cao tuổi có thể được chia thành 3nhóm: nhóm bệnh lý nội khoa bao gồm cả những bệnh đã được chẩn đoán và

Trang 17

cả những bệnh chưa rõ nguyên nhân, nhóm các rối loạn chức năng và nhómcác vấn đề về tâm lý xã hội Các vấn đề của bệnh nhân cao tuổi cần được liệt

kê đầy đủ qua khai thác tiền sử, khám thực thể và chỉ định làm các xét nghiệmcận lâm sàng Đây có thể là các vấn đề sức khoẻ hay gặp ở người cao tuổi trênlâm sàng như cholesterol máu cao, tăng huyết áp hay đôi khi chỉ là nhữngphàn nàn về các triệu chứng như mệt mỏi, táo bón Việc xử trí các vấn đề nàyngoài các biện pháp điều trị còn cần phải hướng tới mục đích phòng bệnh và

cả phục hồi chức nǎng Theo thống kê, các hội chứng hay gặp trong lão khoabao gồm: hội chứng dễ bị tổn thương, hội chứng giảm hoạt động chức năng,hội chứng suy dinh dưỡng protein năng lượng, hội chứng rối loạn dáng đi vàngã, hội chứng giảm vận động, hội chứng loét ở người cao tuổi, hội chứngmất nước, hội chứng trầm cảm, hội chứng giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ, hộichứng đau mạn tính, [CITATION Trư04 \l 1066 ]

Trên thực tế, rất khó có thể thǎm dò và xác định tất cá các vấn đề nộikhoa, tâm lý, xã hội, kinh tế và đời sống gia đình trong mỗi một lần khámbệnh Bệnh nhân cao tuổi có thể được quản lý, chăm sóc tốt hơn khi ngườithầy thuốc y học gia đình làm việc trong một nhóm và có mối liên hệ phốihợp chặt chẽ với các thành viên trong gia đình hoặc người chǎm sóc, với bạn

bè, hàng xóm của bệnh nhân[CITATION Trư99 \l 1066 ]

1.3.3 Hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày và chất lượng cuộc sống ở NCT

1.3.3.1 Khái niệm về hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày

Thuật ngữ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (Activities of daily living ADLs) được sử dụng trong chăm sóc sức khỏe để chỉ hoạt động tự chăm sóchàng ngày của con người Khái niệm về ADLs ban đầu được đề xuất vàonhững năm 1950 bởi Sidney Katz và cộng sự của ông tại Bệnh việnBenjamin Rose ở Cleveland, OH và đã được thêm vào và chỉnh sửa bởi nhiềunhà nghiên cứu kể từ thời điểm đó[ CITATION Noe \l 1033 ] Khái niệm nàyđược sử dụng đặc biệt cho những người bị chấn thương, người khuyết

Trang 18

-tật và người già [ CITATION Kri02 \l 1033 ] Các em nhỏ thường yêu cầu sựgiúp đỡ từ người lớn để thực hiện các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày, vìchúng chưa phát triển các kỹ năng cần thiết để thực hiện chúng một cách độclập.

Các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày được định nghĩa là những điềuchúng ta thường làm như: ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo, chải tóc, làm việc,làm việc nhà và giải trí

Hoạt động chức năng trong cuộc sống hàng ngày của người cao tuổiđược chia thành hai phần, hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản (Activities ofDaily Living - ADL’s) và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụngphương tiện (Instrumental Activities of Daily Living - IADL’s)

Hoạt động sinh hoạt hàng ngày cơ bản (ADL’s): Bao gồm các nhiệm

vụ tự chăm sóc cơ thể[CITATION Trư99 \l 1066 ]

− Đi lại: Có đi lại quanh nhà được không? Có khó khǎn gì khi đi lên cầuthang không? Có bị ngã không? Có thương tích không? Có phải dùng dụng cụ

hỗ trợ như gậy, người dìu?

− Ăn uống : Có ǎn kiêng hoặc ăn các thức ǎn đặc biệt không? Có gặpkhó khǎn khi ǎn hoặc gắp thức ǎn không? Có phải sử dụng các dụng cụ đặcbiệt để ǎn không?

− Vệ sinh cá nhân: Ông (bà) có gặp khó khǎn khi tắm không? Ông (bà)

có thể tự tắm được không? Ông (bà) có thể tự vào/ra khỏi vòi tắm hoặc bồntắm được không? Ông (bà) có thể tự đánh răng được không?

− Mặc quần áo: Có khó khǎn khi mặc quần áo như kéo khóa hoặc đigiầy không? Có cần sự giúp đỡ khi mặc hoặc lựa chọn quần áo không?

− Đi vệ sinh: Có gặp khó khǎn khi đi vệ sinh không? Nhà vệ sinh có gầnvới phòng ngủ không? Có phải sử dụng bô đặt cạnh giường không? Có gặpphải vấn đề trong kiềm chế đại tiểu tiện không?

Trang 19

Một cách để suy nghĩ về các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày cơ bản lànhững điều nhiều người làm khi họ thức dậy vào buổi sáng và sẵn sàng để đi rakhỏi nhà: ra khỏi giường, đi vào nhà vệ sinh, tắm, ăn uống, mặc quầnáo[ CITATION Wil14 \l 1033 ]

Hạn chế HĐSHHN cơ bản tức là không thể tự chăm sóc được bản thân,cần thiết phải được chăm sóc và phụ thuộc một phần hay hoàn toàn vào ngườichăm sóc Có nhiều bảng điểm để đo lường sự hạn chế HDSHHN cơ bản, ởđây chúng tôi dựa theo bảng điểm của Katz bao gồm 6 mục tình trạng chứcnăng như trên Từ bảng điểm này có thể phân chia theo tình trạng chức năngtốt (không bị hạn chế hoặc bị dưới hai hạn chế trong HĐSHHN) và tình trạngchức năng kém (bị ít nhất ba hạn chế trong HĐSHHN) Một số tác giả chiathành 4 loại: loại O (độc lập) không có bất kì hạn chế nào trong HĐSHHN;loại A (hạn chế mức độ nhẹ) hạn chế 1 hoặc 2 HĐSHHN; loại B (hạn chế mức

độ trung bình) hạn chế 3 hoặc 4 HĐSHHN và loại C (hạn chế mức độ nặng)hạn chế 5 hoặc 6 HĐSHHN[ CITATION Gil121 \l 1066 ]

H

oạt động sinh hoạt hàng ngày có sử dụng phương tiện (IADL’s ) :

không phải là những hoạt động cơ bản, nhưng là hoạt động để cho một cánhân sống độc lập trong một cộng đồng Chức năng HĐSHHN có sử dụngphương tiện được coi là phức tạp hơn và thường bị mất trước chức năngHĐSHHN cơ bản Đánh giá chức năng này hữu ích hơn trong việc xác địnhmột người đang hoạt động sinh hoạt ở hiện tại như thế nào, để xem người đóđược cải thiện hay bị suy giảm theo thời gian ra sao Có 8 lĩnh vực chức năng

để đo trong công cụ này[ CITATION Car07 \l 1066 ]

− Sử dụng phương tiện đi lại: Đi đến cơ quan bằng cách nào? Có phảilái xe? Có đi cả ban đêm? Có sử dụng các phương tiện đi lại công cộng như

xe buýt không? Có giấy xác nhận tàn tật không?

Trang 20

− Quản lý tiền: (Có thể đọc hoặc viết?) Ai trả tiền và quản lý tiền? Cónhận được các sự hỗ trợ đặc biệt về mặt tài chính hoặc từ tổ chức không?

− Nấu ǎn: Ai chuẩn bị bữa ǎn? Có được phát thức ǎn tận nơi không? Ai

là người mua bán thực phẩm? (Có ai sống cùng không và có đủ thức ǎn chotất cả mọi người không?)

− Làm công việc nhà: Ai làm công việc nội trợ? Ai giặt quần áo?

− Sử dụng điện thoại: Nhà có điện thoại không? Khi có hoả hoạn haycần cấp cứu thì gọi số nào? Trong trường hợp cấp cứu, sẽ gọi ai trong gia đìnhđến giúp đỡ? Số điện thoại nào?

− Sử dụng thuốc: Hàng ngày dùng thuốc gì? Uống như thế nào? Cóthuốc nào không do kê đơn không? Có để thuốc ở chỗ tránh trẻ con nghịchkhông? Có tủ thuốc không? Ai mua thuốc để cho vào tủ?

Phụ nữ được đánh giá trên cả 8 chức năng, với nam giới các lĩnh vực:nấu ăn, giặt quần áo, dọn nhà được loại trừ Điểm được tính theo mức cao nhấtcủa hoạt động trong lĩnh vực đó, dao động từ 0 (chức năng thấp, phụ thuộc) đến

8 (chức năng cao, độc lập) cho phụ nữ và từ 0 đến 5 cho nam giới[ CITATIONGil12 \l 1066 ]

1.3.3.2 Mối liên quan giữa HĐSHHN và chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống (CLCS): Theo WHOQOL (The World Health Organization Quality of Life) – Group 1998 thì CLCS là “sự hiểu biết của cá

nhân về vai trò của họ trong xã hội trong bối cảnh văn hóa và các giá trị của

hệ thống mà họ đang sống và trong mối quan hệ với các mục tiêu cuộc sống,

kỳ vọng, mong đợi, các tiêu chuẩn và các mối quan tâm[ CITATION MJa04 \l

1033 ]

Khái quát chung, CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể và sựhài lòng của một cá nhân trước tất cả các yếu tố đa dạng của cuộc sống Vìvậy, đo lường CLCS phải chú ý tới những đặc trưng về tính toàn diện, đa khía

Trang 21

Năng lực tốt và ổn định Suy giảm năng lực Suy giảm năng lực nghiêm trọng

Khả năng hoạt động

Năng lực nội tại

 

Dự phòng hoặc bảo đảm phát hiện sớm và kiểm soát các bệnh mạn tính

Hỗ trợ các hành vi giúp cải thiện năng lực

Bảo đảm nhân phẩm, chất lượng cuộc sống cuối đời

Thúc đẩy các hành vi giúp cải thiện năng lực

  Loại bỏ các rào cản đối với sự tham gia hoạt động Xã hội; hỗ trợ, bù đáp sự mất mát năng lực

cạnh, mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi đặc thù kinh tế-văn hóa-xãhội cụ thể[ CITATION Vươ13 \l 1033 ]

Người ta nhận thấy rằng chất lượng cuộc sống của NCT có liên quan vớichức năng hoạt động sinh hoạt hàng ngày Mặc dù không có bệnh nhưng cánhân người cao tuổi vẫn yêu cầu có một hoạt động sinh hoạt hàng ngày tốt đểduy trì tình trạng sức khỏe của họ Độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hằngngày là một yếu tố quan trọng trong chất lượng cuộc sống củaNCT[ CITATION YuN \l 1066 ]

1.4 Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

1.4.1 Chiến lược của WHO

Khung y tế - xã hội cho già hóa khỏe mạnh: cơ hội cho các can thiệp y tế - xã

hội (A health framework for Healthy Ageing: opportunities for health action) của World Report on Ageing and Health, WHO 2015.

public-1 Can thiệp về dịch vụ y tế: bao gồm các can thiệp cung cấp dịch vụ y tế dự

phòng, chẩn đoán sớm và kiểm soát bệnh mạn tính ở giai đoạn 1 của quátrình già hóa; đảo ngược, hoặc làm chậm sự suy giảm năng lực ở giai đoạn

2 và quản lý các bệnh mạn tính đã tiến triển ở giai đoạn cuối

2 Can thiệp chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi từ giữa giai đoạn 2 (giai

đoạn suy giảm năng lực): hỗ trợ người cao tuổi nâng cao năng lực, hành vi

và chăm sóc đảm bảo nhân phẩm cho người cao tuổi ở giai đoạn cuối vòngđời, khi năng lực đã bị suy giảm nghiêm trọng

3 Can thiệp vào môi trường văn hóa, xã hội: bao gồm các can thiệp nhằm

nâng cao năng lực, đẩy mạnh lối sống, hành vi lành mạnh cho sức khỏemột cách mạnh mẽ ngay từ giai đoạn đầu của vòng đời; hỗ trợ người caotuổi loại bỏ những rào cản trong tham gia hoạt động kinh tế, xã hội, bù đắp

sự mất mát về năng lực sống ở giai đoạn cuối

Trang 22

Hình 1.1: Khung phân tích về già hóa khỏe mạnh

Nguồn: World Report on Ageing and Health, WHO 2015.

1.4.2 Chăm sóc sức khỏe toàn diện cho NCT và vai trò của bác sỹ gia đình

Đối với người cao tuổi, việc chăm sóc sức khoẻ không chỉ là chữa bệnh

mà còn phải giảm thiểu những thiệt thòi, hạn chế; phục hồi chức năng, đảmbảo sự ổn định về tinh thần, duy trì trạng thái dễ chịu, thoải mái và bảo đảmphẩm giá con người Điều này cũng phù hợp với 6 nguyên tắc và định hướng

cơ bản của mô hình bác sĩ gia đình Đặc biệt, hai nguyên tắc quan trọng đượcnhấn mạnh trong chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi là nguyên tắc toàndiện và liên tục Chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho người cao tuổi đòi hỏi phải

có sự đánh giá toàn diện về lão khoa với sự tham gia của thầy thuốc thuộcnhiều chuyên khoa khác nhau như bác sĩ lão khoa, bác sĩ gia đình, chuyên giadinh dưỡng, chuyên gia tâm lý, phục hồi chức năng, ; kết hợp giữa điều trị

Trang 23

bệnh, phục hồi chức năng, lao động liệu pháp, dinh dưỡng trị liệu, chăm sóctrong hoạt động hàng ngày cũng như chăm sóc về tâm lý xã hội, hoà nhậpcộng đồng[CITATION Trư99 \l 1066 ]

Nguyên tắc liên tục trong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi thể hiệntrong việc theo dõi, quản lý sức khoẻ, chăm sóc dự phòng khi còn khoẻ mạnhđến khi điều trị bệnh tật và các yếu tố nguy cơ sức khoẻ phát sinh Chăm sócliên tục còn được thể hiện cả việc chẩn đoán, điều trị các bệnh lý trong giaiđoạn cấp tính tại bệnh viện và các cơ sở y tế cho tới việc theo dõi, chăm sóctrong giai đoạn hồi phục, phục hồi chức năng cũng như chăm sóc điều trị dàingày trong giai đoạn cuối đời Chăm sóc liên tục còn có thể được thực hiệntrong các trại dưỡng lão, tại các hộ gia đình và trong cộng đồng Ngoài việc thămkhám và điều trị bệnh tật như đối với các lứa tuổi khác, việc chăm sóc sức khoẻcho người cao tuổi có những vấn đề đặc biệt cần được quan tâm nhiều hơn nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống trong những năm cuối đời Việc chăm sóc sứckhoẻ cho người cao tuổi cần quan tâm đến các vấn đề sau đây

1.4.2.1 Vấn đề ăn uống

Với người cao tuổi do chức năng tiêu hoá và hấp thu đã bị suy giảm cộngthêm với nhiều loại bệnh tật có liên quan đến chế độ ăn uống nên cần phảiquan tâm đầy đủ đến chế độ ăn uống Nhiều loại bệnh tật hay gặp ở người caotuổi đòi hỏi phải có chế độ ăn kiêng hợp lý như tăng huyết áp, đái tháo đường.Các bệnh này nhiều khi chưa cần phải dùng thuốc mà chỉ cần điều chỉnh chế

độ ăn phù hợp Các thói quen của người cao tuổi về ăn kiêng, uống rượu vàhút thuốc lá cũng cần được quan tâm thu thập để có tư vấn, hướng dẫn và điềuchỉnh hợp lý Việc sử dụng thuốc ở người cao tuổi cũng cần phải có sự quantâm đặc biệt, rà soát các loại thuốc đang được sử dụng, loại bỏ những loạithuốc không cần thiết hoặc có hại cho sức khoẻ của người cao tuổi

Trang 24

1.4.2.2 Dự phòng và nâng cao sức khoẻ

Đối với người cao tuổi, việc luyện tập thể dục có những lợi ích cho huyết

áp, hệ tim mạch, hằng định nội môi về glucose, tỷ trọng xương, có tác dụngtốt đối với toàn thân, chống mất ngủ, táo bón Tuy nhiên, khi tập luyện cầnloại bỏ những động tác quá mạnh với cột sống nhất là với những người loãngxương Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, người thầy thuốc gia đình cần tư vấnhướng dẫn cho người cao tuổi có các hoạt động tập luyện phù hợp Việc tậpluyện phục hồi chức năng nên có sự hướng dẫn của nhân viên vật lí trị liệu vàcần chú ý biện pháp đề phòng ngã gây tai nạn, chấn thương Có thể tạo miễndịch chủ động với một số bệnh: Cúm, viêm phổi do phế cầu khuẩn, uốn ván.Ngoài ra cần hạn chế việc sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá

1.4.2.3 Khám sàng lọc

Người cao tuổi cần được khám, kiểm tra sức khoẻ theo định kỳ Vớinhững người không có các dấu hiệu bất thường, cần được khám sức khoẻ tổngquát theo định kỳ hằng năm Với những người có các dấu hiệu bất thường,cần phải thực hiện việc khám sàng lọc ngay Ngoài việc sàng lọc việc thựchiện các chức năng chung, người cao tuổi cần được sàng lọc các yếu tố nguy

cơ và các tình trạng bệnh lý hay gặp Việc xây dựng kế hoạch khám sàng lọccần dựa trên mô hình bệnh tật của người cao tuổi nói chung cũng như các yếu

tố nguy cơ đối với từng cá thể Tuy nhiên, cần phải có sự thảo luận cân nhắcvới đối tượng cả về lợi ích, giá thành trước khi thực hiện các can thiệp sànglọc Một số các sàng lọc sau đây có thể được cân nhắc đối với người cao tuổi

− Sàng lọc phát hiện các suy giảm chức năng, đặc biệt là phát hiện sớmtình trạng sa sút trí tuệ

− Kiểm tra sàng lọc phát hiện tăng huyết áp, tình trạng tăng cholesterolmáu, khám sàng lọc đục thuỷ tinh thể, soi đại tràng để phát hiện ung thư ởnhóm nguy cơ cao cho cả nam và nữ

Trang 25

− Kiểm tra, sàng lọc các bệnh lý ung thư như ung thư gan, ung thư phổi,ung thư dạ dày, ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới; xét nghiệm ung thư cổ tửcung (test papanicolaou), khám vú, siêu âm vú định kỳ và chụp Xquang tuyến

vú cho phụ nữ có nguy cơ

− Việc định kỳ xét nghiệm đờm cũng có thể được cân nhắc cho nhữngngười có nguy cơ mắc lao cao

1.4.2.4 Quản lý bệnh tật

Một trong những biện pháp có giá trị nhất trong đề phòng bệnh tật, tránhtai biến cho người cao tuổi là nắm vững tình hình sức khỏe, tiền sử, bệnh sửcủa họ Thầy thuốc và người nhà phải chú ý tới vấn đề bệnh nhân than phiền,

cả những điều tưởng nhỏ nhặt, như: hay quên, lú lẫn, rối loạn tình dục, tiểutiện không tự chủ Chú ý những nguy cơ có thể có để tìm cách ngăn chặn, nhưđối với những người giảm nhận thức, hay hút thuốc lá có thể gây hỏa hoạn do

vô ý, hoặc người dùng nhiều thuốc ngủ có nguy cơ tắc ruột do ứ phân, mêsảng, lú lẫn Khi bệnh nhân có các dấu hiệu bệnh lý cần phải can thiệp sớm vàkip thời bởi các triệu chứng có thể không rõ ràng, rầm rộ như ở người trẻ

1.4.2.5 Hỗ trợ xã hội

Chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi còn cần phải quan tâm đến cácvấn đề công ăn việc làm phù hợp, nhà ở và môi trường, xây dựng các chươngtrình giáo dục, sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình và mạng lưới cộngđồng Người cao tuổi cần phải được tạo điều kiện để có thể tham gia hoà nhậpvới cộng đồng, cần được tôn trọng và tạo điều kiện để có những đóng góp phùhợp cho xã hội Làm tốt công tác an sinh xã hội và phấn đấu để người cao tuổi

có thể được chăm sóc toàn diện tại gia đình, cộng đồng là một trong nhữngmục tiêu phấn đấu của hệ thống y tế và cần được sự quan đầu tư của nhànước, gia đình và cộng đồng

1.5 Một số nghiên cứu về hạn chế HĐSHHN và chăm sóc NCT

Trang 26

1.5.1 Nghiên cứu về hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày của NCT

Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng suy giảm chức năng trong hoạt độngsinh hoạt hàng ngày là yếu tố nguy cơ của tình trạng phải nhập viện, sự phụthuộc, tăng chi phí chăm sóc và chất lượng cuộc sống giảm[ CITATIONYuN \l 1066 ]

Việc thăm dò khả nǎng trong sinh hoạt hàng ngày là cần thiết để đánh giákhả nǎng đối phó với môi trường đang sống hiện tại của bệnh nhân Khả nănghoạt động hàng ngày như đi lại và vệ sinh cá nhân sẽ cung cấp các thông tinquan trọng về sự ảnh hưởng của các bệnh mạn tính như viêm khớp, sa sút trítuệ, bệnh mạch máu não ở bệnh nhân cao tuổi Ngoài việc khai thác lịch sửbệnh tật trong gia đình cần chú trọng tới sự tồn tại và tính ổn định của khảnăng hỗ trợ của các thành viên Nó có thể giúp cho người thầy thuốc nhận biếtđược ai là thành viên quan trọng trong gia đình[CITATION Trư99 \l 1066 ]

Đã có nhiều nghiên cứu về hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày củaNCT ở các quốc gia Nghiên cứu về sự hòa nhập xã hội và độc lập trong cáchoạt động hàng ngày trên 375 người ở độ tuổi 65 trở lên tại vùng thành thị củaTây Ban Nha: có 36,3 % bị phụ thuộc ở mức độ trung bình trở lên, 63,7 %không phụ thuộc[ CITATION Phạ11 \l 1066 ] Nghiên cứu về tỉ lệ nhập việncủa 125 NCT tại một thị trấn ở Thụy Điển thấy có 31% HĐSHHN còn tốt,69% HĐSHHN là xấu[ CITATION Gil12 \l 1066 ] Một nghiên cứu ở ĐàiLoan đánh giá tình trạng chức năng của 500 người trên 65 tuổi vùng Miaolinhận thấy hạn chế thường gặp nhất trong các HĐSHHN cơ bản là di chuyển(9,3%) và HĐSHHN có sử dụng phương tiện là sử dụng phương tiện giaothông (24,7%)[ CITATION YuN \l 1066 ]

Nghiên cứu 875 NCT Trung Quốc được sinh ra tại bệnh viện trường Đạihọc Y Bắc Kinh vào thời gian 1921 đến 1941 cho thấy tỉ lệ bị hạn chế sinhhoạt hàng ngày là 11,5%[ CITATION Phạ11 \l 1033 ] Tại Đông Nam Á, Tỉ lệ

Trang 27

NCT phụ thuộc ở Indonesia là 5,6%, Thái Lan là 7,6%, Campuchia là 23% và

ở Mianma là 10,5%[ CITATION Phạ11 \l 1033 ]

Tại Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào nói về tỉ lệ hạn chếtrong hoạt động hàng ngày của NCT nói chung trong cả nước Nhưng đã cómột vài nghiên cứu được thực hiện ở quy mô xã/phường Trong nghiên cứucủa tác giả Trần Trọng Đàm về tình trạng phụ thuộc ở NCT tại Quận 8, thànhphố Hồ Chí Minh năm 2001, tỉ lệ NCT phải phụ thuộc là 11,92% trong sốnày tỉ lệ phụ thuộc 1 phần là 33,5 %, phụ thuộc hoàn toàn là 33,9%[ CITATION Trầ05 \l 1066 ] Kết quả một nghiên cứu khác ở Long An năm

2004 của tác giả Hoàng Thị Phụng, tỉ lệ NCT phải phụ thuộc là 7,7%[ CITATION Phụ04 \l 1066 ] Theo một nghiên cứu ở NCT huyện Từ Liêm,

Hà Nội có 16% các cụ gặp khó khăn khi đi lại và tỉ lệ không tự đi lại được là1,5% Theo nghiên cứu của Đỗ Xuân Tin ở 1 huyện ngoại thành Hải Phòng tỉ

lệ cần trợ giúp trong các hoạt động hàng ngày như sau: ăn uống 2,7%, mặcquần áo 2,5%, đi bộ 6%, ra vào giường 2,2%, tắm rửa 6,4%[ CITATIONPhạ11 \l 1033 ]

Theo nghiên cứu của Phạm Ngân Giang năm 2011, tỉ lệ NCT phụ thuộcchung cho 4 tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây, Huế, Cần Thơ là 8,8 %, trong đó 3%

là phụ thuộc hoàn toàn, phụ thuộc ở mức độ trung bình là 1,9%, và 3,9% làphụ thuộc mức độ nhẹ[ CITATION Phạ11 \l 1033 ] Cũng theo nghiên cứunày năm 2008 tỉ lệ phụ thuộc là 5,6%, trong đó 4,3% phụ thuộc hoàn toàn và1,3 % phụ thuộc một phần[ CITATION Phạ08 \l 1033 ]

1.5.2 Nhu cầu chăm sóc và sử dụng dịch vụ y tế của NCT

Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), phần lớn NCT trên thế giớigặp phải khó khăn để có thể tiếp cận và sử dụng được những DVYT có chấtlượng và thuận tiện Mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhómdân số cao tuổi rất khác nhau, trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núihoặc là dân tộc thiểu số có mức độ tiếp cận với các DVYT có chất lượng cònthấp[ CITATION Quỹ11 \l 1033 ] Báo cáo tóm tắt Già hóa trong thế kỷ 21 -

Trang 28

Thành tựu và thách thức cũng chỉ ra rằng có 34% NCT trên thế giới cho biết

họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc sử dụng được DVYT (trong đó

có dịch vụ khám chữa bệnh) khi họ cần[ CITATION Quỹ12 \l 1033 ]

Cho tới nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đề cập sử dụng dịch

vụ y tế của NCT đến mặc dù NCT có nhu cầu CSSK nhiều hơn và chi phíchăm sóc NCT cao gấp 7 – 8 lần so với chăm sóc trẻ em [ CITATIONQuỹ11 \l 1033 ], [ CITATION Việ06 \l 1033 ] Thêm vào đó, trong bối cảnhhiện nay, tỷ lệ NCT mắc các bệnh mạn tính rất cao thì nhu cầu được chăm sóc

y tế tại tuyến cơ sở càng trở nên cấp thiết[ CITATION Hội11 \l 1033 ] Hìnhthức tự điều trị và KCB tại các cơ sở y tế tư nhân là những lựa chọn chủ yếutrong hành vi tìm kiếm DVYT của NCT[ CITATION Ngu07 \l 1066 ] Nghiêncứu theo dõi điểm tại 28 xã nông thôn Việt Nam trong 2 năm 2000 – 2001 củađơn vị Chính sách Bộ y tế về tình hình cung cấp và sử dụng DVYT tại TYT

xã cho thấy, cách chữa trị bằng cách tự mua thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất(37,7%), tiếp đến là y tế tư nhân [ CITATION Đơn01 \l 1033 ] Tỷ lệ nàytương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập và cộng sự (2004) quanghiên cứu 5.579 hộ gia đình trên toàn quốc: khoảng 14,7% NCT lựa chọnTYT xã; 34,6% muốn tự chữa; 24,6% đến y tế tư nhân và một tỷ lệ rất ít đến y

tế thôn và phòng khám khu vực [ CITATION Ngu04 \l 1033 ] Theo Điều traQuốc gia về NCT năm 2011, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh và bệnh việntrung ương là các địa điểm được NCT tìm đến điều trị nhiều nhất khi bị đau

ốm hoặc chấn thương trong vòng 12 tháng qua Tỷ lệ này lần lượt là 25,8%;19,1% và 15,1% Trong khi đó, tỷ lệ NCT điều trị khi bị đau ốm hoặc chấnthương tại TYT xã chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ vào khoảng 10% [ CITATIONHội11 \l 1033 ]

Việc sử dụng DVYT là một quá trình tương tác của nhiều yếu tố Theonhà nhân chủng học George Foster thì con người luôn tự chọn quyết định cho

Trang 29

bản thân và mỗi người sẽ lựa chọn phương pháp chữa trị hợp lý nhất cho bảnthân Ông cũng cho rằng sự khỏi bệnh là động cơ chú ý để con người tìm đếncác CSYT mà họ cho là đáng tin cậy Theo ông các yếu tố quyết định hành vitìm kiếm và sử dụng DVYT bao gồm: bản thân người sử dụng dịch vụ, môitrường xã hội, yếu tố từ phía người cung cấp DVYT, nhu cầu sử dụng dịch vụ

và mức độ ốm đau của người dân [ CITATION Wof \l 1033 ]

Theo tác giả Annette L Fitzpatrick, một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng trựctiếp đến việc sử dụng dịch vụ KCB của NCT như: khoảng cách từ nơi cư trúđến CSYT, chi phí KCB, chất lượng KCB của y tế các tuyến, thu nhập giađình, trình độ học vấn, tuổi, giới và mức độ bao phủ của BHYT Ngoài ra,theo Ronald Andersen, khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB tại CSYTcòn phụ thuộc vào sự sẵn có của dịch vụ KCB tại CSYT đó, đặc thù địa lý,văn hóa của địa phương [ CITATION LuA74 \l 1033 ] Việc lựa chọn nơicung cấp dịch vụ KCB (y tế tư nhân, TYT xã, bệnh viện huyện/tỉnh/TW…)phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội, trình độ học vấn, văn hóa, phong tụctập quán, chính sách, tình trạng bệnh tật của người dân và tính chất của hệthống y tế [ CITATION Bab05 \l 1033 ] NCT thường gặp khó khăn về đi lại

do thể lực yếu và phụ thuộc nhiều vào con cái, do vậy sự thuận tiện về khoảngcách là lý do chính trong lựa chọn loại hình dịch vụ KCB của NCT[ CITATION Đàm07 \l 1033 ]

Trang 30

Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu dự kiến được thực hiện trong thời gian từ tháng 10 năm 2016đến tháng 9 năm 2017 tại phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.Phường Tân Dân được chọn vì đây là một phường có quy mô dân số trungbình, có các đặc điểm kinh tế xã hội tương đối đặc trưng ở thành phố Việt Trì,

và đặc biệt là Trạm Y tế Tân Dân đã có bác sĩ được đào tạo về Y học gia đình,làm cơ sở cho các nghiên cứu về vai trò của BSGĐ trong CSSK người caotuổi sau này

*Sơ lược về phường Tân Dân, Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ

Tân Dân là một phường thuộc thành phố Việt Trì, tỉnhPhú Thọ, Việt Nam

Là trung tâm chính trị - văn hóa của tỉnh Phú Thọ nói chung và thànhphố Việt Trì nói riêng, phường Tân Dân nằm ở trung tâm thành phố Việt Trì,

có diện tích tự nhiên 134,28 ha Phường có 9 khu hành chính, với 54 tổ dânphố, phường hiện có 8.827 người, với 2.875 hộ, trong đó 85% là cán bộ, côngnhân viên nhà nước, trình độ dân trí cao.Mật độ dân số đạt 6578 người/km² Phường Tân Dân là nơi tập trung các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp vàcác trường học của trung ương cũng như của tỉnh [ CITATION htt \l 1066 ]

Y tế: Số người cao tuổi khoảng 880 người Trên địa bàn phường Tân Dân

có nhiều cơ sở y tế phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân:

− Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ: Quy mô 1.300 giường bệnh

− Bệnh viên Công An tỉnh Phú Thọ

− Trạm y tế phường Tân Dân

− Phòng khám đa khoa tư nhân Việt Đức

− Phòng tiêm vacxin dịch vụ

Trang 31

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Người trên cao tuổi và người chăm sóc chính của người cao tuổi đangsinh sống trên địa bàn phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Tiêu chuẩn:

Tuổi từ 60 trở lên tính theo năm dương lịch;

Hiện đang sống trên địa bàn được lựa chọn;

Đồng ý tham gia nghiên cứu

* Ghi chú: Nếu NCT có rối loạn tâm thần đã được chẩn đoán, hoặc NCT

không còn khả năng giao tiếp như câm điếc sẽ phỏng vấn qua người chăm sóc

- Cán bộ y tế tại Trạm Y tế phường, những người có tham gia vào côngtác CSSKBĐ, trong đó có hoạt động quản lý, CSSK người cao tuổi

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng, thông quađiều tra phỏng vấn NCT và phương pháp định tính, thông qua thảo luận nhómvới người cao tuổi, người chăm sóc cho NCT và các cán bộ trạm y tế phường

2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu

Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ người cao tuổi trên địa bànphường Tân Dân Với dân số 8.827 người, dự kiến sẽ có khoảng 880 người(10% dân số) là người cao tuổi Số lượng người cao tuổi nghiên cứu đáp ứng

cỡ mẫu tối thiểu theo công thức tính cỡ mẫu mô tả cắt ngang xác định một tỷ

lệ phụ thuộc ở người cao tuổi:

p pZ

2

) 1

2 ) 2 1

Trong đó:

Trang 32

Z(1-α/2) = 1,96 (α=0,05);

p = 0,09 (tỉ lệ người cao tuổi có hạn chế HĐSHHN chung cho 4 tỉnh TháiNguyên, Hà Tây, Huế, Cần Thơ, là những tỉnh có điều kiện kinh tế tương đươngvới Phú Thọ năm 2011 theo báo cáo của Phạm Ngân Giang[ CITATION Phạ11 \l

1066 ]);

d (sai số tối đa cho phép)=ε.p; lấy ε = 0,2 => d=0,02

n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết = 787 người

Toàn bộ NCT trên địa bàn phường sẽ được mời tham gia nghiên cứu địnhlượng, trong số những người cao tuổi có hạn chế hoạt động sinh hoạt hằng ngày sẽlựa chọn có chủ đích 6-8 người chăm sóc tham gia cuộc thảo luận nhóm

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng bộ câu hỏi phỏng vấn cấutrúc với 3 phần (Phụ lục)

Phần A là các câu hỏi về thông tin chung của NCT và người chăm sóc

chính, bao gồm các câu hỏi về nhân khẩu, kinh tế xã hội của người cao tuổi vàngười chăm sóc, tự đánh giá tình trạng sức khỏe của NCT

Phần B là các câu hỏi để sàng lọc về khả năng hoạt động sinh hoạt

hàng ngày của người cao tuổi dựa theo hai bảng điểm: Katz Index ofIndependence in Activities of Daily Living và Lawton – Brody IntrumentalActivities of Daily Living scale Để liền mạch khi phỏng vấn, với mỗi hoạtđộng, bổ sung thêm các câu hỏi về mức độ hỗ trợ mà người cao tuổi gặp khókhăn nhận được từ người chăm sóc (cho phần C)

Phần C là các câu hỏi về thực trạng chăm sóc và hỗ trợ từ phía gia

đình và nhân viên y tế dành cho người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạtđộng sinh hoạt hằng ngày

Trang 33

Nghiên cứu định tính sẽ được thực hiện với 2 cuộc thảo luận nhóm với 2đối tượng là người chăm sóc chính và cán bộ trạm y tế phường Mỗi cuộc cókhoảng 6-8 người tham gia Người chăm sóc chính sẽ được chọn từ các hộ giađình khác nhau, trong số những người cao tuổi có hạn chế hoạt động sinh hoạthằng ngày ở các độ tuổi khác nhau có các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.Các cuộc thảo luận nhóm này sẽ được thực hiện theo bản hướng dẫn thảo luậnnhóm với các câu hỏi sẽ được phát triển dần trong quá trình thảo luận.

2.5.2 Các bước điều tra thu thập thông tin

 Học viên làm việc với TYT và liên hệ với cán bộ dân số trong phường

để phát giấy mời đến từng NCT giới thiệu về nghiên cứu và nếu đồng ý thamgia thì mời người cao tuổi và người chăm sóc đến trạm y tế phường vào mộtngày cố định để tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi

 Trường hợp NCT không đến được, học viên sẽ cùng nhân viên y tếhoặc cộng tác viên dân số theo địa chỉ đến nhà phỏng vấn

 Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức tại TYT sau khi hoàn thànhviệc điều tra bằng bộ câu hỏi cấu trúc và có kết quá phân tích sơ bộ

2.6 Biến số nghiên cứu

 Nhóm biến số liên quan đến thông tin chung của NCT: tuổi, giới tính,nghề nghiệp, nơi ở, học vấn, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh sống; tự đánh giácủa người cao tuổi về tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống

 Nhóm biến số đánh giá khả năng hoạt động sinh hoạt hằng ngày (cơbản và có sử dụng phương tiện) của người cao tuổi theo thang điểm của Katz

và Lawton: Vệ sinh cá nhân, mặc áo quần, đi vệ sinh, di chuyển, đại tiểu tiện

tự chủ, ăn uống, sử dụng điện thoại, nấu ăn, mua bán, dọn dẹp nhà cửa, giặtquần áo, sử dụng phương tiện giao thông, sử dụng thuốc, quản lí chi tiêu

 Nhóm biến số về thực trạng và nhu cầu chăm sóc hỗ trợ đối với ngườicao tuổi và người chăm sóc: đối tượng chăm sóc chính; mức độ đáp ứng so

Trang 34

với yêu cầu chăm sóc của người cao tuổi; hỗ trợ từ phía gia đình và nhân viên

y tế đối với người cao tuổi và người chăm sóc chính

Bảng 2.1 Tóm tắt nội dung các biến số nghiên cứu

thu thập

A Thông tin chung của NCT

1 Tuổi Là tuổi tính theo năm dương lịch

tính đến thời điểm nghiên cứu

Rời rạc

Bộ câu hỏi phỏng vấn

2 Giới tính Đối tượng là nam hay nữ Nhị phân

3 Nghề nghiệp Công việc mà đối tượng dành

nhiều thời gian nhất Phân loại

4 Trình độ học vấn Bậc học cao nhất mà đối tượng

5 Tình trạng hôn

nhân

Tình trạng hôn nhân hiện tại của

6 Người sống cùng Người sống cùng với NCT trong

cuộc sống hàng ngày Phân loại

7 Điều kiện kinh tế Gia đình có thuộc diện hộ nghèo

theo phân loại của địa phương Nhị phân

8 Tình trạng BHYT Có thẻ BHYT hay không Nhị phân

9 Tình trạng mắc

bệnh mạn tính

NCT đã được cán bộ y tế chẩn đoán mắc một bệnh mạn tính nào đó

Định danh

10 Tự đánh giá về

sức khoẻ bản than

Tự đánh giá tình trạng sức khoẻ theo thang điểm với 5 mức Thứ hạng

11 So sánh sức khoẻ

với người khác

Tự đánh giá sức khoẻ bản than

so với người cùng tuổi, giới theo

13 Vệ sinh cá nhân Các hoạt động tự chăm sóc bản

thân như: đánh răng, rửa mặt, chải tóc, tắm rửa…

Thứ hạng

Trang 35

Bảng kiểm

14 Mặc áo quần Đưa quần áo vào đúng các bộ

phận của cơ thể Thứ hạng

15 Đi vệ sinh

Khả năng vào nhà vệ sinh, làm sạch sau khi đi vệ sinh và ra khỏi nhà vệ sinh

Thứ hạng

16 Di chuyển

Khả năng di chuyển cơ thể từ nơi này đến nơi khác: đi bộ, vào hoặc ra khỏi giường…

Thứ hạng

17 Đại tiểu tiện tự

chủ

Khả năng tự nhận biết chất thải:

phân, nước tiểu ra khỏi cơ thể Thứ hạng

18 Ăn uống Khả năng cho thức ăn, đồ uống

21 Nấu ăn Khả năng chế biến, làm chín

thức ăn theo ý muốn Thứ hạng

22 Dọn dẹp nhà cửa

Khả năng dọn dẹp, làm sạch nhà cửa sử dụng chổi hoặc các dụng

cụ khác

Thứ hạng

23 Giặt giũ quần áo Khả năng tự giặt quần áo sử

dụng máy giặt hoặc giặt tay Thứ hạng

24 Sử dụng phương

tiện giao thong

Khả năng dùng các phương tiện giao thông: oto, taxi, xe bus, để

Người dành nhiều thời gian nhất

để chăm sóc NCT trong các hoạt

Danh mục Bộ câu hỏi

phỏng vấn

Trang 36

động sinh hoạt hằng ngày

30 Mức độ hỗ trợ

nhận được

Mức độ hỗ trợ nhận được từ người chăm sóc chính cho từng hoạt động sinh hoạt hằng ngày

2.7 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

100% các phiếu điều tra được đọc, kiểm tra trước khi được mã hóa và nhậpvào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 Số liệu được làm sạch trước khi đưavào phân tích bằng phần mềm STATA phiên bản 14.0 ở mức ý nghĩa thống kêα=0,05 và khoảng tin cậy 95% Test χ2 được sử dụng để so sánh giữa các tỷ lệ, test

t và test ANOVA được sử dụng để so sánh giữa các giá trị trung bình Các yếu tốliên quan được phân tích theo mô hình hồi quy đơn và đa biến

Các cuộc thảo luận nhóm được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo phươngpháp phân tích nội dung

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua hình thức phỏng vấn, không gây ảnhhưởng đến tâm lý, sức khỏe của người tham gia nghiên cứu Trước khi tham gia

Trang 37

nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu,hoàn toàn có quyền quyết định tự nguyện tham gia vào nghiên cứu hay không, cóthể từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào và có quyền quyết định rút lui khỏi nghiêncứu tại bất cứ thời điểm nào.

Các thông tin cá nhân sẽ được bảo mật bằng cách mã hóa và chỉ nghiên cứuviên và người nhập tin có khả năng tiếp cận thông tin Số liệu điều tra được phântích và trình bày dưới dạng vô danh và chỉ phục vụ cho mục đích học tập vànghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu có thể được công bố trong các bài báokhoa học và có thể được cung cấp cho các nhà quản lý phục vụ công tác lập kếhoạch y tế tại địa phương

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên quy mô nhỏ trên địa bàn một thành phốtrực thuộc tỉnh nên khả năng ngoại suy bị hạn chế Hơn nữa, đây là nghiêncứu cắt ngang nên không thể kết luận được mối quan hệ nhân quả trong sốcác yếu tố liên quan

2.9.2 Các sai số có thể gặp trong nghiên cứu và biện pháp khắc phục

Trang 38

Sai số hệ thống do không hiểu rõ

nội dung câu hỏi

Tiến hành điều tra thử để chính sửa bộcâu hỏi cho phù hợp trước khi áp dụng để

thu thập thông tin chính thứcSai số do quá trình thu thập số

liệu

100% phiếu điều tra được đọc lại trước

khi nhập số liệu

Trang 39

Chương III KẾT QUẢ

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Một số thông tin về đặc điểm cá nhân của người cao tuổi

Bảng 3.1 Một số thông tin về nhân khẩu của người cao tuổi

- Tỉ lệ nam và nữ là tương đương nhau ( Nam: 48,4% và nữ: 51,6%)

- Trình độ văn hóa của NCT trong phường chủ yếu từ trung học, caođẳng, đại học trở lên chiếm 85,2% Tỉ lệ mù chữ và tiểu học trở xuống rất ít

- Nghề nghiệp trước đây của NCT chủ yếu là cán bộ viên chức chiếmgần 60%

Bảng 3.2 Công việc hiện nay và bảo hiểm y tế của người cao tuổi

Ngày đăng: 22/09/2019, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Bộ Y tế (2013). Báo cáo kết quả hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về già hóa dân số. Hà Nội Khác
17. Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (2006). Tạp chí Dân số và Phát triển Khác
18. Hội Người cao tuổi Việt Nam (2012). Báo cáo về người cao tuổi 2006 - 2011 Khác
19. Hoàng Mộc Lan (2011). Đời sống tinh thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Báo cáo tại Hội thảo Văn hóa trong toàn cầu hóa - thách thức và phát triển Khác
20. Trường Đại học Y Hà Nội (1999). Y học gia đình, sách dịch. Hà Nội. Nhà xuất bản Y học Khác
21. Noelker, Linda; Browdie, Richard. Sidney Katz, MD (1996) A New Paradigm for Chronic Illness and Long-Term Care Khác
22. Kristine Krapp(2002). Activities of Daily Living Evaluation Khác
23. Williams B. Consideration of Function & Functional Decline (2014). Current Diagnosis and Treatment: Geriatrics, Second Edition. New York Khác
24. Gilberte Van Rensbergen and Jozef Pacolet (2012). Instrumental Activities of Daily Living (I-ADL) trigger an urgent request for nursing home admission Khác
25. Graf C (2007). The Lawton Instrumental Activities of Daily Living (IADL) Scale Khác
26. Gilberte Van Rensbergen and Jozef Pacolet (2012). Instrumental Activities of Daily Living (I-ADL) trigger an urgent request for nursing home admission Khác
27. M Jan Nilsson & et al (2004). Assessing Health - Related Quality of Life Among Older People in Rural Bangladesh. Jounal of Transcultural Nursing.pp:298-307 Khác
28. Vương Thị Trang (2013). Thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, năm. Hà Nội năm 2013. Trường Đại học YTCC Khác
29. Yu- Ning, Gwo- Chi Hsu (2011). Assessment of Individual Activities of Daily Living and its Association with Self- Rateed Health in Elderly People of Taiwan Khác
31. Phạm Ngân Giang (2011). Nghiên cứu thực trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt Khác
33. Nguyễn Thị Hoàng Phụng (2004). Mức độ hoạt động thể lực, hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi tại xã Thanh Phú-Bến Lức-Long An Khác
34. Phạm Ngân Giang (2008). Tỉ lệ hạn chế sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng Khác
35. Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (2011). Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách Khác
36. Nguyễn Quốc Anh, Phạm Minh Sơn và Phạm Vũ Hoàng (2007). Người cao tuổi Việt Nam. Nhà xuất bản Hồng Đức Khác
37. Viện Lão khoa (2006). Điều tra khảo sát các cơ sở y tế thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w