Đểđánh giá sự suy giảm chức năng thể chất, test chức năng đánh giá hoạt độngthể chất đã chứng minh được vai trò trong chẩn đoán, theo dõi điều trị và tiênlượng, các test thường sử dụng n
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuổi thọ của dân số thế giới đang tăng lên Ước tính trong vòng 30 nămtới, tỉ lệ người cao tuổi (NCT) tăng gấp đôi Tại Việt Nam, theo dự báo dân
số của Tổng cục Thống kê, tỉ lệ NCT so với tổng dân số Việt Nam sẽ đạt con
số 10% vào năm 2017 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn dân số “giàhóa” Quá trình lão hóa đi kèm với giảm dần khả năng gắng sức và thay đổichức năng trong cơ thể, trong đó có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện cáccông việc hàng ngày và khả năng độc lập cá nhân
Sự suy giảm và hạn chế chức năng thể chất trên nhóm người NCT cóliên quan đến tăng tỉ lệ nhập viện, tiên lượng tử vong và giảm tuổi thọ Đểđánh giá sự suy giảm chức năng thể chất, test chức năng đánh giá hoạt độngthể chất đã chứng minh được vai trò trong chẩn đoán, theo dõi điều trị và tiênlượng, các test thường sử dụng như: Test đi bộ sáu phút (Six Minute WalkingTest - 6MWT), đo cơ lực tay (Grip test), thời gian đứng dậy và đi (Time Up
Go Test - TUG), test đi bộ 4 mét (4 meter walk test – 4MWT), nghiệm phápgắng sức…
6MWT có ưu điểm thực hiện đơn giản, rẻ tiền, được ứng dụng rộng rãitrong phục hồi chức năng và nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân, người khỏemạnh và NCT 6MWT là một test chức năng gắng sức rất an toàn, bệnh nhân
có thể tự dừng lại bất cứ khi nào thấy không thể và có thể làm lại nhiều lần Giá trị của 6MWT trên nhóm bệnh hô hấp, tim mạch mãn tính trong chẩnđoán, tiên lượng hoặc đánh giá sau quá trình điều trị đã được chứng minh quanhiều nghiên cứu
Trên NCT, quá trình lão hóa, suy giảm chức năng hô hấp, tuần hoàn,giảm khối lượng cơ, thoái hóa khớp, sự mất cân bằng về dinh dưỡng, nhữngtổn thương về thần kinh trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên khả năng di
Trang 2chuyển, tốc độ di chuyển, chức năng thăng bằng và những hoạt động gắngsức Quãng đường đi được trong 6 phút như một đánh giá chức năng khôngriêng một cơ quan, một thước đo giá trị tổng thể khả năng hoạt động thể lực,vận động gắng sức ở mức độ tương ứng với những nỗ lực thường xuyên trongcông việc hàng ngày, có giá trị kết hợp trong chẩn đoán, theo dõi điều trị, tiênlượng và dự đoán nguy cơ bất lợi về sức khỏe
Trên thế giới, những nghiên cứu, ứng dụng của 6MWT trên NCT rấtphổ biến Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có nhiều ứng dụng của 6MWT trên
NCT Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Giá trị trung bình của test đi bộ sáu phút và mối liên quan” với mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định giá trị trung bình test đi bộ sáu phút trên những người cao tuổi sinh sống tại cộng đồng.
2 Xác định giá trị trung bình của một số test chức năng khác và mối liên quan với test đi bộ sáu phút.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Người cao tuổi
1.1.1 Định nghĩa người cao tuổi
Theo quy ước chung của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, NCT là người 60 tuổitrở lên Trong đó, phân loại NCT theo nhóm tuổi :
+ Sơ lão từ 60 − 69 tuổi
+ Trung lão từ 70 − 79 tuổi
+ Đại lão từ ≥ 80 trở lên
Tại Việt Nam, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội về NCT (số:23/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/4/200) quy định NCT là người có độ tuổi
từ 60 trở lên
1.1.2 Xu hướng già hóa dân số.
1.1.2.1 Già hóa dân số trên thế giới
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, kiến thức và các dịch vụ y tế ,quần thể NCT ngày càng chiếm một tỷ lệ cao trong dân số, nhất là ở các nướcđang phát triển (8 -11% dân số) Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) năm 1950 trên thế giới có khoảng 214 triệu NCT, đến năm 1990 đã cókhoảng trên 500 triệu người Uớc tính đến 2025 sẽ có 1121 triệu NCT Sự giatăng dân số người NCT diễn ra rõ rệt nhất ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh Các châu lục này hiện nay có khoảng 250 NCT, nhưng đến 2025 sẽ tăngđến 800 triệu người
1.1.2.2 Già hóa dân số tại Việt Nam
Dân số cao tuổi Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và
tỷ lệ so với tổng dân số Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UNESCAP), dân số một nước sẽ bước
Trang 4-vào thời kỳ già hóa khi tỷ lệ NCT chiếm hơn 10% tổng dân số Theo dự báodân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ NCT so với tổng dân số ở ViệtNam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thứcbước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017.
Trong ba thập kỷ qua, Tỷ lệ NCT ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng do
ba yếu tố quan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng lên.Tổng tỷ suất sinh giảm từ 5,25 vào năm 1975 xuống 3,8 vào năm 1989 và2,03 vào năm 2009 Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi năm 2009 chỉ là 16‰,giảm 20 điểm phần nghìn so với năm 1999 Tuổi thọ trung bình của dân số là72,8 tuổi vào năm 2009, tăng 4,6 tuổi và 8 tuổi so với năm 1999 và 1989 Tốc
độ tăng dân số giảm từ mức trung bình 2,4%/năm giai đoạn 1975-1989 xuốngmức 1,7% giai đoạn 1989-1999 và 1,2% giai đoạn 1999-2009 Do đó, trongnhững thập kỷ qua, cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng:
tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động(15-59) tăng lên; và tỷ lệ NCT (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh Trong giaiđoạn 1979-2009, tổng dân số tăng 1,6 lần, dân số trẻ em giảm gần một nửa,dân số trong độ tuổi lao động tăng 2,08 lần, còn dân số cao tuổi tăng 2,12 lần.Như vậy, tỷ lệ NCT tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dân số khác tronggiai đoạn này Đây chính là đặc điểm đầu tiên, nổi bật nhất của quá trình giàhóa dân số ở Việt Nam
1.1.3 Đặc điểm về sức khỏe và bệnh tật của NCT
1.1.3.1 Đánh giá tình trạng sức khỏe của NCT theo tuổi
Phân theo lứa tuổi, nghiên cứu Evans và cộng sự (2007) cho thấy tìnhtrạng sức khỏe của NCT phụ thuộc rất nhiều vào tuổi tác, trong đó tuổi càngtăng thì tỷ lệ NCT có sức khỏe yếu càng cao, số bệnh mắc phải càng lớn vàthời gian nằm bệnh càng dài
Trang 5Bảng 1.1: Tình trạng sức khỏe của NCT theo lứa tuổi
1.1.3.3 Tỷ lệ mắc các hội chứng Lão khoa xu hướng tăng
Các hội chứng Lão khoa (trầm cảm, sa sút trí tuệ, ngã, rối loạn giấcngủ…) có xu hướng tăng và tỉ lệ NCT mắc các bệnh này tăng khi tuổi tănglên Theo nghiên cứu của Phạm Thắng và Đỗ Khánh Hỷ (2009) tỉ lệ mắc hộichứng sa sút tâm thần (3,9%) ở nhóm tuổi 60 – 74, tăng lên (9,8%) ở nhóm
≥75 tuổi, mắc hội chứng trầm cảm với tỷ lệ (0,8%) ở nhóm 60 – 74 tuổi, tănglên (2,3%) ở nhóm ≥75 tuổi
1.1.3.4 Mô hình bệnh tật chuyển từ bệnh lây nhiễm sang bệnh không lây nhiễm
Mô hình bệnh tật của NCT chuyển từ bệnh lây nhiễm sang bệnh mãntính, không lây nhiễm đang là thách thức lớn cho Việt Nam vì các bệnh khônglây nhiễm thường có thời gian tiềm tàng kéo dài với các tình trạng tiền bệnhnhư thừa cân, béo phì… Do không khám bệnh thường xuyên và nhiều thóiquen ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe (đặc biệt với nam giới cao tuổinhư hút thuốc, uống rượu…) nên đối với NCT ở Việt Nam thì bệnh không lây
Trang 6nhiễm lại càng trở nên nghiêm trọng và việc điều trị và chữa trị rất tốn kém dobệnh thường chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn.
Hệ quả của sự thay đổi mô hình bệnh tật là các bệnh không lây nhiễmđang nhanh chóng trở thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phếcho NCT và xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra trong những thập niên tới Nguy
cơ khuyết tật của NCT ở Việt Nam cũng rất cao, trong đó khuyết tật thườnggặp là mất thị lực và thính lực Tình trạng này có thể khiến cho NCT tự ti vàgiảm giao tiếp xã hội Xét theo độ tuổi, kết quả từ Tổng Điều tra Dân số vàNhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ khuyết tật của NCT tăng lên khi tuổi cao hơn
1.2 Test đi bộ 6 phút
1.2.1 Đại cương
Test đi bộ 6 phút (6MWT) là một trắc nghiệm đánh giá hoạt động chứcnăng một cách khách quan bằng cách đo lường quãng đường đi được trongkhoảng thời gian 6 phút của người thực hiện trắc nghiệm
1.2.2 Lịch sử phát triển của 6MWT
Được phát triển từ một bài tập đơn giản của thể dục thể chất, năm 1960Kenneth H Cooper là người đầu tiên đưa ra thử nghiệm đi bộ 12 phút Năm
1976, C.R Macgavin và các đồng nghiệp đã bắt đầu sử dụng test đi bộ 12phút để đánh giá chức năng thể lực ở bệnh nhân viêm phế quản mạn tính Năm 1982 Butland và đồng nghiệp đã đưa ra nghiên cứu so sánh thử nghiệm
đi bộ với các khảng thời gian là 2, 6 và 12 phút và xác định rằng kết quả 6phút tương quan mạnh với 12 phút 6MWT được thay thế thử nghiệm đi bộ
12 phút trong đánh giá về khả năng hoạt động thể chất 6MWT đã được sửdụng rộng rãi trong nhiều trung tâm nghiên cứu và các phòng thí nghiệm trênquần thể bệnh nhân COPD, viêm phế quản mãn Năm 1985 lần đầu tiên được
sử dụng trên những bệnh nhân suy tim trong nghiên cứu của Guyatt, Lipkin
và cộng sự Khi thử nghiệm được sử dụng rộng rãi hơn các biến thể nhẹ trên
Trang 7các khía cạnh của thử nghiệm bắt đầu phát triển Đầu tiên, hình dạng vàkhoảng cách của thử nghiệm bắt đầu thay đổi, một số nhà nghiên cứu sử dụng
đi thẳng, một số khác sử dụng đi bộ hình tròn, hình bầu dục, hình chữ nhật.Những người sử dụng một đường thẳng trong thử nghiệm thường là một hànhlang, có sự thay đổi khoảng cách giữa điểm bắt đầu và điểm kết thúc 20, 30hoặc 50 mét Để giảm các biến thể và chuẩn hóa các bước sử dụng 6MWT,tháng ba năm 2002 Hội Lồng ngực Mỹ công bố một tài liệu tham khảo có giátrị cho các nhà khoa học quan tâm trong việc sử dụng 6MWT, hoàn chỉnh vớicác hướng dẫn cụ thể từng bước một
1.2.3 Ứng dụng 6MWT
Thử nghiệm này đo khoảng cách mà một người đi bộ nhanh nhất có thểtrên một bề mặt cứng phẳng trong thời gian 6 phút Nó đánh giá khả năng tíchhợp của tất cả các hệ thống cơ quan liên quan trong quá trình hoạt động, baogồm hệ tuần hoàn, hô hấp, huyết học, thần kinh cơ và chuyển hóa năng lượng
…Nó không cung cấp thông tin cụ thể về các chức năng của từng cơ quan và
hệ thống khác nhau tham gia vào tập thể dục hoặc cơ chế hạn chế tập thể dục.Ứng dụng lâm sàng 6MWT ban đầu chủ yếu là để đo lường chức năng thểchất ở bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, hô hấp, hoặc trên NCT
Trên các bệnh nhân tim mạch, 6MWT có giá trị đánh giá chức năng gắngsức, tiên lượng, theo dõi tiến triển bệnh, so sánh trước và sau điều trị
Đối với hệ hô hấp, thường trên nhóm bệnh nhân viêm phế quản mạntính hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) 6MWT đã được sử dụngthường xuyên để đánh giá những thay đổi trong trạng thái chức năng theo thờigian, sử dụng trước và sau can thiệp, điều trị hoặc các chương trình phục hồichức năng hô hấp ở bệnh nhân giảm thể tích phổi, ghép phổi
Trang 8NCT bị hạn chế về khả năng gắng sức do sự suy giảm chức năng ởnhiều cơ quan, 6MWT là một trong các thăm dò chức năng đánh giá khả chứcnăng thể chất và là yếu tố dự báo khuyết tật, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
1.2.4 Chống chỉ định :
Chống chỉ định tuyệt đối:
- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực không ổn định đã được chẩn đoán
- Tiền sử có NMCT hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định trong vòngmột tháng trước
- Suy hô hấp
Chống chỉ định tương đối:
- Nhịp tim lúc nghỉ ≥ 120 chu kỳ/ phút
- Huyết áp tâm thu ≥ 180 mmHg
- Huyết áp tâm trương ≥ 120 mmHg
- Đau thắt ngực không ổn định không phải là chống chỉ định tuyệt đối,nhưng với những bệnh nhân này nên cho dùng thuốc chống đau thắt ngực và
có sẵn nitrat trong hộp thuốc cấp cứu
- Kết quả điện tim nghỉ ngơi trong vòng 6 tháng gần đây nên được xemxét trước khi thử nghiệm
Một hành lang ngắn đòi hỏi đối tượng nghiên cứu mất nhiều thời gian
để điều chỉnh hướng di chuyển, vì vậy ảnh hưởng đến kết quả 6MWT
Trang 91.2.5.2 Các thiết bị bắt buộc.
- Đồng hồ đếm ngược
- Hai cột mốc hình nón nhỏ để đánh dấu điểm quay vòng
- Bút, giấy có sẵn bảng kiểm ghi kết quả
- Máy đo huyết áp
1.2.5.3 Chuẩn bị cho đối tượng nghiên cứu.
- Lựa chọn trang phục thoải mái
- Giày, dép thích hợp cho việc đi bộ
- Nên ăn sáng trước thời điểm kiểm tra vào sáng sớm, hoặc nên tiến hànhthử nghiệm vào đầu giờ chiều
- Nên tránh các hoạt động gắng sức trong vòng 2 giờ trước thử nghiệm
1.2.5.4 Quy trình tiến hành đo.
Lặp lại các thử nghiệm vào cùng một thời điểm để giảm thiểu sự biến đổitrong ngày của đối tượng nghiên cứu
Không nên khởi động trước khi thực hiện nghiệm pháp
Đối tượng nghiên cứu ngồi nghỉ ngơi trên ghế gần điểm xuất phát ít nhất
10 phút trước khi bắt đầu Trong thời gian này, kỹ thuật viên tiến hành đo nhịptim, huyết áp, kiểm tra trang phục đảm bảo hợp lý, điền thông tin vào bảng sốliệu
Cài đặt đồng hồ đếm ngược ở giá trị 6 phút
Hướng dẫn cho người thực hiện test như sau:
“ Mục tiêu của thử nghiệm này là ông/bà sẽ cố gắng đi bộ quãng đườngdài nhất có thể trong 6 phút Ông/bà sẽ đi bộ qua lại hành lang này, bắt đầu từđiểm xuất phát đến vị trí hình nón trên sau đó quay vòng trở lại Khoảng thờigian 6 phút là tương đối dài, có thể khiến ông/bà kiệt sức, vì vậy ông/bà có thể
đi chậm hoặc dừng lại để nghỉ ngơi khi cần thiết Ông/bà có thể tựa vào tường
Trang 10khi nghỉ ngơi nhưng tiếp tục đi bộ ngay khi có thể Nếu thấy không đủ sức đểtiếp tục đi bộ, ông/bà có thể dừng hẳn bất cứ lúc nào Ông/bà sẽ cần quay vònglại mỗi khi đến 2 đầu có cột mốc hình nón Tốc độ nhanh nhất có thể nhưngkhông được phép chạy Tôi sẽ theo dõi số lượng vòng ông/bà đi được Tôi sẽ đimột vòng để ông/bà dễ hình dung”.
Sau đó kỹ thuật viên sẽ đi bộ mẫu một vòng
Khi người thực hiện đứng vào vạch xuất phát, kỹ thuật viên cũng đứngngay gần đó Không được đi bộ cùng Bắt đầu bấm giờ hẹn 6 phút đếm ngượcngay khi đối tượng nghiên cứu bắt đầu thực hiện đi bộ
Không để đối tượng nghiên cứu nói chuyện với bất cứ ai trong quátrình đi bộ Tập trung theo dõi để đếm đúng số vòng đi được Sử dụng mộtgiọng thích hợp và ngôn ngữ chuẩn để khuyến khích, sau mỗi phút, nói vớiđối tượng thực hiện như sau:
o Sau phút đầu tiên: “Ông/bà đã làm tốt, ông/bà có 5 phút đểđi”
o Sau phút thứ hai: “Hãy tiếp tục đi bộ, ông/bà còn 4 phútnữa”
o Sau phút thứ ba: “Ông/bà đang làm tốt, đã hoàn thành một nửathời gian”
o Sau phút thứ tư: “Hãy tiếp tục đi bộ, ông/bà chỉ còn 2 phútnữa”
o Khi thời gian chỉ còn 1 phút: “Ông/bà đang làm tốt, chỉ có 1phút để đi”
o Khi đồng hồ báo còn 15 giây: “Sau 15 giây nữa, tôi sẽ báocho ông/bà biết để dừng lại Ông/bà chỉ cần đứng tại chỗ, tôi sẽ đến”
Trang 11Không dùng các ngôn từ khác để động viên hoặc ngôn ngữ cơ thể để cổ
vũ làm tăng tốc độ
Nếu đối tượng nghiên cứu ngừng lại trong khi đi bộ và còn một phầnthời gian, không được dừng đồng hồ đếm ngược, nói với đối tượng nghiêncứu: “Ông/bà có thể dựa vào tường, sau đó tiếp tục đi bộ bất cứ khi nàoông/bà cảm thấy có thể”
Nếu người thực hiện test quyết định dừng lại quá trình thử nghiệm, hoặc
kỹ thuật viên theo dõi quyết định không nên tiếp tục, mang ghế ngồi cho đốitượng nghiên cứu và lưu ý trên bảng khoảng cách, thời gian dừng lại và lý dodừng sớm
Tính quãng đường đi được trong 6 phút ra đơn vị mét, mỗi vòng đi đượcnhân với 60 mét cộng thêm số mét đi được của vòng cuối
Chúc mừng đối tượng nghiên cứu đã hoàn thành bài thử nghiệm
1.2.5.5 Các vấn đề an toàn khi thực hiện 6MWT.
Thử nghiệm thực hiện ở nơi thuận tiện trong việc đưa bệnh nhân đi cấpcứu trong những tình huống khẩn cấp
Vật tư có sẵn bao gồm: oxy, nitroglycerine dưới lưỡi, thuốc hạ áp nhanh.Một kỹ thuật viên có kiến thức và kỹ năng trong cấp cứu hồi sinh timphổi cơ bản
Nếu một bệnh nhân điều trị oxy mãn tính, nên để oxy ở mức tiêu chuẩncủa họ
Lý do lập tức dừng lại gồm một trong các triệu chứng sau: đau ngực, khó thở
từ mức độ vừa, chuột rút ở chân, toát mồ hôi, hoảng hốt, da nhợt hoặc tím tái.Hai nghiên cứu lớn trên hàng ngàn bệnh nhân cao tuổi của Roomi J(1996) và Enright PL (2003) đã không thấy một tai biến nào được ghi nhận Trong thử nghiệm, bệnh nhân sẽ tự điều chỉnh nhịp độ đi bộ của mình và cóthể dừng lại nghỉ bất cứ lúc nào và trở lại đi khi có thể hoặc dừng cuộc kiểm
Trang 12tra tại thời điểm đó nếu bệnh nhân thấy không thể tiếp tục hoặc nhân viêntheo dõi kiểm tra thấy có chống chỉ định.
Trang 131.2.6 Các yếu tố liên quan đến khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD).
1.2.6.1 Chiều cao, cân nặng, BMI.
Paul L Enright và Duane L Serrill (năm 1998) đã thiết lập phương trìnhtham khảo để dự đoán tổng quãng đường đi được trong 6 phút (6MWD) chongười trưởng thành khỏe mạnh trong một nghiên cứu trên 117 nam và 173 nữ
độ tuổi từ 40 – 80 Phương trình dựa trên chiều cao, cân nặng và tuổi được ghinhận như sau:
+ Nam giới: 6MWD = (7,57 x Chiều cao(cm)) – (5,02 x Tuổi) – (1,76 xCân nặng(kg)) – 309m
+ Nữ giới: 6MWD = (2,11 x Chiều cao(cm)) – (5,78 x Tuổi) – (2,29 x Cânnặng(kg)) + 667m
Hoặc ước tính theo chỉ số khối cơ thể (BMI, đơn vị kg/m2):
+ Nam: 6MWD = 1140m – (5,61 x BMI) – (6,94 x Tuổi)
+ Nữ: 6MWD = 1017m – (6,24 x BMI) – (5,83 x Tuổi)
Theo kết quả nghiên cứu, giá trị 6MWD trung bình của nam giới là576m và của nữ giới là 494m
Trong một nghiên cứu ở 328 trẻ em (54% nam) độ tuổi 4 – 11 ở Anh
do Lammers AE và cộng sự cho kết quả quãng đường đi được trong 6 phúttương quan với tuổi (r = 0,64; p < 0,0001), trọng lượng cơ thể (r = 0,51;p<0,0001) và chiều cao (r = 0,65; p < 0,0001) với khoảng cách trung bình
Trang 14Một nghiên cứu khác của Bernadine Camarri và đồng nghiệp tạiAustralia (2006) trên 70 tình nguyện viên khỏe mạnh độ tuổi từ 55 đến 75 (33nam và 37 nữ) Không có sự khác biệt đáng kể về chỉ số BMI, chiều dài chidưới, mức độ hoạt động thể lực hàng ngày và tiền sử hút thuốc lá giữa hainhóm đối tượng, kết quả 6MWD của cả hai nhóm trong 3 lần thử nghiệm lầnlượt là 626 ±63m, 645 ± 58m và 655 ± 61m Đối với nhóm 33 nam giới chokết quả cụ thể 3 lần test: 652 ± 58m, 669 ± 49m và 685 ± 49m, kết quả củanhóm nữ giới: 603±60m, 623 ± 57m, 628 ± 59m Khoảng cách trênh lệch là
59 mét giữa nam và nữ là có ý nghĩa thống kê với p<0,001
có thể kết luận tuổi có một ảnh hưởng lớn đến 6MWD, giảm đáng kể trongdân số độ tuổi cao hơn
1.2.6.4 Bệnh phổi mãn tính.
Thử nghiệm 12 phút đi bộ (tiền thân của 6MWT) đã lần đầu tiên đượcC.R Macgavin và các đồng nghiệp thử nghiệm trên những bệnh nhân viêmphế quản mãn tính (năm 1976) Kết quả cho thấy có mối tương quan chặt chẽgiữa khoảng cách đi bộ được trong 12 phút với chỉ số FEV1 (r=0,65; p < 0,01)
và FVC (r=0,67; p < 0,01) Điều này gợi ý rằng test đi bộ có thể được sử dụngnhư một thước đo khả năng hoạt động gắng sức trên những bệnh nhân viêmphế quản mãn tính Thử nghiệm đơn giản không cần máy móc và có thể ápdụng cho nhiều mức độ trầm trọng của bệnh Đã không có một tai biến lớn
Trang 15nào sau thử nghiệm được ghi nhận ngoài một vài trường hợp xuất hiện dấuhiệu chuột rút cơ chi dưới
Trong nhiều nghiên cứu sau này, chỉ định được mở rộng nhằm mụcđích đánh giá, tiên lượng, theo dõi điều trị và đưa ra phương pháp vật lý trịliệu cho những bệnh nhân COPD, viêm phổi, sau cắt bỏ một phần phổi hoặcghép phổi Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là các thử nghiệm trên bệnh nhânmắc bệnh COPD Trong nghiên cứu của Girard (năm 2015) trên 365 bệnhnhân COPD, thời gian theo dõi trung bình kéo dài 67 tháng, có 171 trườnghợp tử vong Kết quả so sánh giá trị 6MWD của nhóm tử vong (312±104m) làthấp hơn giá trị trung bình của nhóm còn lại ( 377 ± 95m) khác biệt có ýnghĩa thống kê với p<0,0001 Sự suy giảm 6MWD theo từng năm có tươngquan với mức độ diễn biến nặng lên của bệnh đánh giá qua FEV1
1.2.6.5 Bệnh lý tim mạch.
Từ những thập niên 80 của thế kỉ trước, các nhà nghiên cứu đã quantâm đến giá trị của test đi bộ 6 phút, so sánh với thử nghiệm gắng sức trênmáy chạy bộ trong ứng dụng chẩn đoán và theo dõi trên bệnh nhân có bệnh lýtim mạch mãn tính Năm 1985, GH Guyatt đã sử dụng 6MWT trong mộtnghiên cứu trên 18 bệnh nhân suy tim (5 bệnh nhân ở mức NYHA II, 12 bệnhnhân NYHA III và 1 bệnh nhân NYHA IV) và 25 bệnh nhân có bệnh phổimãn tính Các đối tượng được tiến hành thử nghiệm 6MWT 6 lần, cách 2 tuầnmột lần Qua đó tác giả đã nêu lên khuyến cáo sử dụng 6MWT với những ưuđiểm về tính an toàn, dễ thực hiện, bệnh nhân không mất thời gian làm quen
do thao tác như những hoạt động thường nhật và có giá trị thay thế nghiệmpháp gắng sức trên máy chạy bộ Kết quả tương tự với nghiên cứu củaPatrick Peeters và Tony Mets (năm 1996) đã chứng minh được quãng đường
đi được trong 6MWT tương quan với mức độ suy tim và tương quan vớikhoảng cách trên máy chạy bộ Chỉ định của 6MWT trên nhóm bệnh timmạch được mở rộng hơn sau nhiều nghiên cứu trên những bệnh nhân có bệnh
Trang 16mạch vành, sau phẫu thuật tim mạch, hội chứng eisenmenger… Một sốnghiên cứu đã báo cáo rằng 6MWT là một thử nghiệm đáng tin cậy để tiênlượng tỉ lệ tử vong trong số bệnh nhân tim mạch, với khảng cách dưới 300mét là một chỉ điểm rõ rệt tiên lượng xấu Một 6MWD dưới 350 mét có tỉ lệ
tử vong cao gấp 3,5 lần so với những bệnh nhân suy tim đi bộ được trên450m Với một 6MWD thấp gắn liền với tăng tỉ lệ nhập viện vì suy tim
1.2.6.6 Hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT).
Hội chứng dễ bị tổn thương là một trạng thái lâm sàng xảy ra do sự tích
tụ của quá trình suy giảm chức năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, đặctrưng bởi trạng thái dễ bị tổn thương với các yếu tố căng thẳng và dự đoán kếtquả bất lợi cho sức khỏe Fried và các đồng nghiệp đã mô tả HCDBTT vớicác tiêu chí khách quan nhằm tách biệt hội chứng này với tình trạng khuyết tật
và tình trạng nhiều bệnh kèm theo HCDBTT theo Fried được định nghĩa là
một hội chứng lâm sàng, gồm năm tiêu chí: giảm cân không chủ ý, tình trạng yếu đuối, sức bền và năng lượng kém, sự chậm chạp, mức hoạt động thể lực thấp Người cao tuổi có từ ba tiêu chí trở lên sẽ được chẩn đoán là có
HCDBTT
Tương quan của 6MWT và HCDBTT trên NCT đã được Rebecca Boxer
và cộng sự đề cập trong một nghiên cứu công bố năm 2010 Kết quả cho thấy6MWD và HCDBTT là 2 yếu tố độc lập tiên lượng tỉ lệ tử vong, 2 yếu tố này
có mối tương quan cao (r = -0,72), với một 6MWD < 300m như một tiêu chuẩnchẩn đoán HCDBTT trên NCT
1.3 Một số Test chức năng khác đánh giá hoạt động thể chất trên NCT.
1.3.1 Đo cơ lực tay (Grip test).
Suy giảm khối lượng cơ như một phần tự nhiên của quá trình lão hóa,phổ biến và nổi trội ở NCT, được gọi là “sarcopenia” Tỉ lệ này theo nhiềunghiên cứu dao động từ khoảng 18% - 60% trong nhóm dân số cao tuổi Dotốc độ phát triển nhanh chóng số lượng NCT trong xã hội chúng ta,
Trang 17“sarcopenia” sẽ trở thành một vấn đề sức khỏe phổ biến Giá trị của sứcmạnh cơ như một yếu tố dự báo sự suy giảm sức khỏe trong nhóm NCT, đosức mạnh cơ là một phần trong đánh giá lâm sàng của NCT Đo cơ lực tay đãđược sử dụng đại diện trong lượng giá sức mạnh cơ
Đo lực cơ tay được thực hiện bằng một lực kế cầm tay, người thực hiệndùng lực nắm bàn tay của mình nắm chặt vào lực kế Giá trị đo được tínhbằng đơn vị kilogam (kg), pound hoặc newton (N) Lực kế cầm tay được sửdụng phổ biến hiện nay là Jamar, có trọng lượng khoảng 0,75 kg, với 5 vị tríđặt tay cầm Hầu hết các nghiên cứu sử dụng vị trí tay cầm thứ 2 cho tất cảnhững người tham gia Mỗi đối tượng được thực hiện đo cơ lực tay 3 lần, kếtquả được ghi nhận ở lần có giá trị cao nhất
Hình 1.1 Lực kế Jamar
Nhiều nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học đã cho thấy cơ lực tay giảmliên quan đến tăng tỉ lệ tử vong, tỉ lệ mắc bệnh cấp tính và mãn tính Ở nhữngbệnh nhân suy giảm cơ lực tay là một chỉ số dự báo về sự gia tăng các biếnchứng sau phẫu thuật, tăng thời gian nằm viện, tỉ lệ tái nhập viện cao hơn vàgiảm tình trạng thể chất của cơ thể Ở NCT, cơ lực tay thấp báo trước tăng nguy
cơ hạn chế chức năng và tàn tật, tăng tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân
1.3.2 Thang điểm thăng bằng Berg (Berg Balance Scale - BBS).
Trang 18Khả năng thăng bằng là một chức năng quan trọng của cơ thể trongviệc hoạt động thể chất bình thường, suy giảm khả năng thăng bằng là yêu tốnguy cơ quan trọng đến tỉ lệ ngã ở NCT Xác định những người có nguy cơcao trong ngã tạo điều kiện cho việc cung cấp phương pháp điều trị phụchồi chức năng, giảm nguy cơ và các tác hại của ngã Thang điểm thăngbằng Berg (BBS) đã được phát triển như một đánh giá về lâm sàng khảnăng thăng bằng của cơ thể đặc biệt ở NCT Ứng dụng của BBS để so sánhchức năng thăng bằng giữa các nhóm người, mô tả khả năng thăng bằngtrong mỗi cá nhân, theo dõi tiến triển theo thời gian và đánh giá hiệu quảquá trình điều trị
BBS bao gồm 14 nhiệm vụ mà mỗi nhiệm vụ đánh giá trên thang điểm từ0-4, với tổng số tối đa có thể đạt đến điểm số 56, cho thấy không có khó khăn vềkhả năng thăng bằng Số điểm 0 được xác định nếu một người không thể thựchiện một nhiệm vụ và số điểm 4 là khi công việc được thực hiện độc lập
Bảng 1.2 14 nhiệm vụ trong BBS
1 Ngồi đứng
2 Đứng không được hỗ trợ trong 120 giây
3 Ngồi không được hỗ trợ trong 120 giây
4 Di chuyển
5 Đứng ngồi
6 Đứng, nhắm mắt trong 10 giây
7 Đứng với tư thế chụm hai chân trong 60 giây
8 Tiến về phía trước với một cánh tay dang
9 Cầm lấy một vật từ dưới đất
10 Quay lại nhìn phía sau
11 Quay 360 độ
12 Đặt luân phiên chân trên ghế
13 Đứng với một chân đưa về phía trước trong 30 giây
14 Đứng trên một chân trong 10 giây
1.3.3 Thời gian đứng dậy và đi (Time Up And Go Test -TUG - test).
Trang 19Quá trình lão hóa ở NCT, chẳng hạn như sự teo cơ, giảm khả năngthăng bằng, tổn thương thần kinh cơ dẫn đến hạn chế vận động và có thể làmngã hoặc gây khó khăn trong hoạt động hàng ngày Đánh giá khả năng diđộng cho phép các bác sỹ và nhà chăm sóc sức khỏe khác những thông tinthiết thực, mục tiêu đo lường được cho bệnh nhân của họ, xác định khả năngđộc lập và mức độ cần hỗ trợ trong các hoạt động sinh hoạt cá nhân Thửnghiệm này dựa theo các lỗ lực vận động của cuộc sống hàng ngày chứ khôngchỉ đánh giá thần kinh cơ đơn thuần ở NCT
Việc tính thời gian đứng dậy và đi là một phương pháp hiệu quả đánhgiá tính di động và định lượng khả năng vận động TUG – test có tính kháchquan, nhanh chóng và dễ dàng thực hiện, đòi hỏi mức độ tối thiểu về thiết bị,đào tạo và các chi phí Thử nghiệm bao gồm các kỹ năng vận động cơ bản,được mô tả bởi Podsiadlo và Richardson Bệnh nhân được quan sát và tínhthời gian từ thời điểm đứng dậy từ một chiếc ghế (chiều cao ghế 48cm, haibên tay vịn là 68cm), đi bộ khoảng cách 3 mét, sau đó vòng quanh mộtchướng ngại vật trên sàn nhà, trở lại và ngồi lên chiếc ghế đó Trang phụcđược lựa chọn là dễ chịu và thoái mái nhất cho thử nghiệm, được phép sửdụng cánh tay của ghế để đứng lên
1.4 Một số nghiên cứu về 6MWT trên NCT.
Trong một nghiên cứu trên nhóm đối tượng trên 70 tuổi của JamesLubitz và đồng nghiệp (2003) tìm mối tương quan giữa tình trạng sức khỏe, tuổithọ và chi phí y tế từ năm 70 tuổi đến khi chết Kết quả cho thấy nhóm đối tượngkhông có giới hạn chức năng ở tuổi 70 đã sống thêm được 14,3 năm và dự kiếnchi phí chăm sóc y tế cộng dồn khoảng 136,000 USD, và nhóm có giới hạn ítnhất một hoạt động của cuộc sống hàng ngày đã có tuổi thọ thêm được 11,6 năm
và chi phí tích lũy y tế vào khoảng 145,000 USD Vì vậy để tăng tuổi thọ của
Trang 20dân số, giảm chi phí y tế cho NCT, đòi hỏi các biện pháp giúp cải thiện mức
độ giới hạn chức năng các sinh hoạt thường ngày từ trước tuổi 70
Từ những đặc điểm về sức khỏe và bệnh tật nêu trên, cần có nhữngphương pháp để lượng giá quá trình lão hóa gây hạn chế các sinh hoạt thườngngày trên NCT Khả năng đi lại đã chứng minh ý nghĩa quan trọng trong việcbảo vệ chức năng cơ quan và hoạt động độc lập của cơ thể, là một thành phầnquan trọng trong đánh giá chất lượng cuộc sống Với tính chất đa bệnh lý, biểuhiện bệnh không điển hình trên nhóm NCT, 6MWT là một thử nghiệm đánh giámột cách tổng thể hệ Tim mạch, Hô hấp hay Thần kinh, khả năng hoạt độngđộc lập, khả năng gắng sức và tình trạng dinh dưỡng của cơ thể Khoảng cách6MWD thấp, là một trong những chỉ điểm về tiên lượng nguy cơ tử vong, nhậpviện trên NCT Sự thay đổi quãng đường đi được là một trong những tiêu chílượng giá quá trình điều trị và phục hồi chức năng
Trên NCT, 6MWD phụ thuộc nhiều vào tình trạng sức khỏe, không phụthuộc quá nhiều vào chỉ số BMI Đây là kết luận trong nghiên cứu trên 156người cao tuổi của Ivan Bautmans và đồng nghiệp (năm 2004) Được chia ralàm 4 nhóm đồi tượng từ (A đến D) theo tình trạng sức khỏe của họ Kết quảcho thấy chỉ số chiều cao, cân nặng và BMI chỉ dự báo được 6MWD trên nhómđối tượng hoàn toàn khỏe mạnh (nhóm A) Sự khác biệt đáng kể về quãngđường đi được tương quan với tình trạng sức khỏe của các nhóm nghiên cứucòn lại
Ở NCT, 6MWD phụ thuộc nhiều vào sinh lý và các yếu tố về sức khỏe.Như vậy, 6MWD cung cấp một thước đo chức năng thể chất trong các nhómdân số này chứ không chỉ đơn giản là một biện pháp tập thể dục Đây là kếtluận trong nghiên cứu trên 515 người ở độ luổi từ 62 đến 95 tuổi tại Australianăm 2002
Tình trạng giảm dinh dưỡng của NCT nhập viện đã được quan tâm vàđánh giá qua nhiều chỉ số xét nghiệm, theo dõi trọng lượng, khối lượng cơ
Trang 21Trong một nghiên cứu được công bố tháng 12 năm 2014 của Esther Ponce và đồng nghiệp trên 310 bệnh nhân nhập viện ở độ tuổi trên 60, nhằm
Martin-so sánh giá trị tiên lượng của các xét nghiệm đánh giá suy dinh dưỡng với cáctest chức năng của hệ thống cơ (bao gồm 6MWT và đo cơ lực tay Grip test).Kết quả cho thấy suy dinh dưỡng của các hệ thống cơ quan có liên quan đến
tỷ lệ tử vong, dự đoán tốt nhất cho tình trạng này là các test chức năng vật lý:6MWD thấp và cơ lực tay thấp Các test chức năng vật lý có tương quan chặtchẽ với nhau và tương quan với tình trạng dinh dưỡng
Nghiên cứu 6MWT trên nhóm NCT (65 – 89 tuổi) của Harada ND vàcộng sự (năm 1999) so sánh khoảng cách đi được giữa hai nhóm gồm 35người sống tại gia đình (quãng đường trung bình 901 feet = 274,6 m) và 51người sống tại các trung tâm dưỡng lão có mức độ hoạt động nhiều hơn nhómsinh hoạt tại gia đình (1629 feet = 496,5m) cho kết quả có sự khác biệt vớit=10,1; p < 0,0001 Trong một nghiên cứu khác gần đây (năm 2015) củaFujiko Someya và đồng nghiệp tại Nhật Bản, nhóm 1 với 13 người trẻ (tuổitrung bình 20,5 ± 0,7) và nhóm 2 gồm 26 NCT (trung bình 60,2±6,1) không
có sự khác biệt về giới tính, cân nặng và chỉ số BMI Kết quả cho thấy không
có sự khác biệt về 6MWD giữa hai nhóm tuổi: quãng đường trung bình điđược của nhóm 1 là (541 ± 46 m) và của nhóm 2 là (533 ± 78 m), sự khác biệtkhông có ý nghĩa thống kê với p = 0,68 trong khi cường độ tập thể dục củanhóm NCT lớn hơn nhóm trẻ tuổi (với p = 0,001) Từ kết luận của nghiêncứu này cho thấy 6MWD phụ thuộc trực tiếp vào cung lượng tim, mặc dùphản ứng thích nghi của hệ tim mạch ở NCT chậm hơn trong giới trẻ nhưng
do có cường độ tập thể dục cao hơn nên đã không có sự khác biệt về quãngđường đi được
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- NCT (tuổi ≥ 60) sinh sống tại 5 xã huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội: xãXuân Giang, xã Việt Long, xã Đức Hòa, xã Kim Lũ, xã Bắc Phú
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn
- Có tuổi ≥ 60 tuổi
- Đi bộ được không cần sự trợ giúp của người khác
- Có thể trả lời câu hỏi và làm theo hướng dẫn
- Trong quá trình thực hiện nghiệm pháp không có các bệnh lý cấp tínhnhư: sốt, viêm phổi, đợt cấp COPD, đau ngực, viêm khớp…
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có chống chỉ định 6MWT:
Suy hô hấp từ mức độ trung bình
Nhịp tim lúc nghỉ ≥ 120 chu kỳ/ phút
Huyết áp tâm thu ≥ 180 mmHg
Huyết áp tâm trương ≥ 120 mmHg
- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2016 đến tháng 09/2017
- Địa điểm: 5 xã Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.3.2 Cách chọn mẫu nghiên cứu
Trang 23Công thức tính cỡ mẫu cho xác định giá trị trung bình trong một quần thể
N = Z (1-α/2) 2 2
d 2
độ lệch chuẩn (Standard Deviation)
d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn (confident limit around the pointestimate)
Z(1-α/2) Z score tương ứng với mức ý nghĩa thống kê mong muốn,thường lấy 95% - 95% CI, 2-side test Z = 1,96
Quãng đường đi được trong 6 phút theo nghiên cứu của Vicent BenaVentCaBaller và đồng nghiệpở Valencia Tây Ban Nha cho giá trị độ lệch chuẩn
là 110,7 mét nên chúng tôi lấy = 110,7 mét Sai số mong muốn lấy theonghiên cứu của Esther Martin Ponce trên 310 bệnh nhân nhập viện ở độtuổi trên 60, kết quả thu được trên 115 bệnh nhân đi bộ được trên 150m là:
Cỡ mẫu thực tế 516 đối tượng nghiên cứu.
2.3.3 Quy trình thu thập thông tin
2.3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục 1)
- Các công cụ thực hiện test đi bộ 6 phút, test đi bộ 4 mét, thời gianđứng dậy và đi: đồng hồ đếm ngược, cột mốc, ghế, bút và giấy ghi kết quả
- Công cụ thực hiện đo cơ lực tay: lực kế Jamar 5030J1
2.3.3.2 Các bước thu thập số liệu
Trang 24Xây dựng và hình thành công cụ nghiên cứu
Phỏng vấn và thu thập số liệu, thực hiện 6MWT, test đi bộ 4 mét, thời gian
đứng dậy và đi, đo cơ lực tay
Xử lý số liệuLựa chọn NCT phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu.NCT đủ tiêu chuẩn nghiên cứu được phỏng vấn, thu thập số liệu vàthực hiện 6MWT, test đi bộ 4m, thời gian đứng dậy và đi và đo cơ lực taynhằm đánh giá khoảng cách đi bộ 6 phút và một số yếu tố liên quan
2.3.4 Các biến số, chỉ số và các tiêu chuẩn đánh giá
2.3.4.1.Thông tin chung về đối tượng
- Họ tên, giới
- Đối tượng được chia thành 3 nhóm theo tuổi: từ 60 đến 69 tuổi, 70 đến
79 tuổi và ≥ 80 tuổi
- Các chỉ số nhân trắc học: Chiều cao (cm), cân nặng (kg)
- Chỉ số khối cơ thể (BMI):
Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức:
Chỉ số khối cơ thể =
Cân nặng (kg)[Chiều cao(m)]2
- Đo chiều cao: Dùng thước đo có gắn với cân kết quả được tính bằngmét và sai số không quá 0,5cm
- Đo cân nặng: dùng cân bàn, cân được đặt ở vị trí ổn định và bằngphẳng, chỉnh cân về vị trí số 0 trước khi tiến hành cân Kết quả tính bằng kg
và sai số không quá 100g
Đánh giá chỉ số khối cơ thể theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới WHO
Bảng 2.1 Đánh giá chỉ số khối cơ thể theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới
Trang 25- Hai cột mốc bằng nhựa để đánh dấu điểm quay vòng.
- Bút, giấy có sẵn bảng kiểm ghi kết quả
- Máy đo huyết áp
Quy trình tiến hành đo
Không khởi động trước khi thực hiện nghiệm pháp
Đối tượng nghiên cứu ngồi nghỉ ngơi trên ghế gần điểm xuất phát ítnhất 10 phút trước khi bắt đầu Trong thời gian này, kỹ thuật viên tiến hành đonhịp tim, huyết áp, kiểm tra trang phục đảm bảo hợp lý, điền thông tin vàobảng số liệu
Cài đặt đồng hồ đếm ngược ở giá trị 6 phút
Hướng dẫn cho đối tượng nghiên cứu như sau:
“ Mục tiêu của thử nghiệm này là ông/bà sẽ cố gắng đi bộ quãng đườngdài nhất có thể trong 6 phút Ông/bà sẽ đi bộ qua lại hành lang này, bắt đầu từđiểm xuất phát đến vị trí cột mốc trên sau đó quay vòng trở lại Khoảng thờigian 6 phút là tương đối dài, có thể khiến ông/bà kiệt sức, vì vậy ông/bà có thể
đi chậm hoặc dừng lại để nghỉ ngơi khi cần thiết Ông/bà có thể tựa vào tường
Trang 26khi nghỉ ngơi nhưng tiếp tục đi bộ ngay khi có thể Nếu thấy không đủ sức đểtiếp tục đi tiếp, ông/bà có thể dừng hẳn bất cứ lúc nào Ông/bà sẽ cần quayvòng lại mỗi khi đến 2 đầu có cột mốc hình nón Tốc độ là nhanh nhưng khôngđược phép chạy Tôi sẽ theo dõi số lượng vòng ông/bà đi được Tôi sẽ đi mộtvòng để ông/bà dễ hình dung”.
Sau đó kỹ thuật viên sẽ đi bộ một vòng làm mẫu
Khi đối tượng nghiên cứu đứng vào vạch xuất phát, kỹ thuật viên đứngngay gần và chuẩn bị bấm giờ Hướng dẫn đối tượng nghiên cứu không nóichuyện trong quá trình đi bộ Bắt đầu bấm giờ hẹn 6 phút đếm ngược ngaykhi bắt đầu thực hiện test
Kỹ thuật viên tập trung theo dõi để đếm đúng số vòng đi được Sử dụngngôn ngữ chuẩn để khuyến khích Sau mỗi phút, nói với đối tượng nghiên cứunhư sau:
o Sau phút đầu tiên: “Ông/bà đã làm tốt, ông/bà có 5 phút đểđi”
o Sau phút thứ hai: “Hãy tiếp tục đi bộ, ông/bà còn 4 phútnữa”
o Sau phút thứ ba: “Ông/bà đang làm tốt, đã hoàn thành mộtnửa thời gian”
o Sau phút thứ tư: “Hãy tiếp tục đi bộ, ông/bà chỉ còn 2 phútnữa”
o Khi thời gian chỉ còn 1 phút: “Ông/bà đang làm tốt, chỉ có 1phút để đi”
Khi đồng hồ báo còn 15 giây: “Sau 15 giây nữa, tôi sẽ báo cho ông/bàbiết để dừng lại Ông/bà chỉ cần đứng tại chỗ, tôi sẽ đến”
Không dùng các ngôn từ khác để động viên hoặc ngôn ngữ cơ thể để cổ
vũ làm tăng tốc độ
Trang 27Nếu đối tượng nghiên cứu ngừng lại trong khi đi bộ và còn một phầnthời gian, không được dừng đồng hồ đếm ngược, nói với đối tượng nghiêncứu: “Ông/bà có thể dựa vào tường, sau đó tiếp tục đi bộ bất cứ khi nàoông/bà cảm thấy có thể”.
Nếu đối tượng nghiên cứu quyết định dừng lại quá trình thử nghiệm, hoặc
kỹ thuật viên theo dõi quyết định không nên tiếp tục, mang ghế ngồi cho đốitượng nghiên cứu và ghi lại khoảng cách, thời gian dừng lại và lý do dừng sớm
Đánh giá: Tính quãng đường đi được trong 6 phút (đơn vị mét), mỗi vòng đi được nhân với 60 mét cộng thêm số mét đi được của vòng cuối.
Hình 2.1 Test đi bộ 6 phút 2.3.4.3 Các yếu tố liên quan đến 6MWT
Tuổi:
Trang 28Đối tượng được chia thành 3 nhóm tuổi: 60 đến 69 tuổi, 70 đến 79tuổi và trên 80 tuổi.
Giới:
Chia thành 2 nhóm nam và nữ
Chỉ số khối cơ thể (BMI):
Chia thành nhóm đối tượng: Thiếu cân, bình thường, thừa cân và béo phì
Đánh giá: Thời gian đi bộ 4m tính theo đơn vị giây.
Thời gian đứng dậy và đi (TUG-Test):
- Vị trí: Hành lang trạm y tế xã
- Thiết bị tiến hành: Đồng hồ bấm giờ, cột mốc nhựa, ghế
- Chuẩn bị thực hiện: Ghế được đặt trước vạch xuất phát, cột mốcnhựa đặt ở vạch 3 mét tính từ vạch xuất phát
- Hướng dẫn thực hiện: Đối tượng nghiên cứu ngồi trên ghế Kỹ thuậtviên nói “sẵn sàng, bắt đầu” và tính thời gian khi đối tượng nghiên cứu bắtđầu động tác đứng dậy từ ghế và đi bộ Thời gian được tính đến khi đối tượngnghiên cứu đi đến cột mốc, quay lại và ngồi lại trên ghế
Đánh giá: Tính thời gian đứng dậy và đi theo đơn vị giây.
Đo cơ lực tay (Grip test):
- Thiết bị tiến hành: Lực kế cầm tay Jamar 5030J1.
- Hướng dẫn thực hiện: Nghiên cứu viên sẽ cho đối tượng nghiên cứungồi thẳng, vai khép, cẳng tay để thoải mái, khuỷu tay gập 900 so với cẳngtay, hướng dẫn đối tượng nghiên cứu bóp thật mạnh vào tay nắm của máy đo
Trang 29lực kế, trong quá trình bóp động viên đối tượng nghiên cứu cố gắng bóp hếtsức có thể Thực hiện đo cơ lực mỗi tay hai lần.
- Đánh giá: Lựa chọn kết quả cao nhất trong các lần thực hiện Đơn vị là kilogam (kg).
Hình 2.2 Đo cơ lực tay bằng lực kế cầm tay Jamar 5030J1.
2.3.5 Sơ đồ nghiên cứu
Trang 302.4 Phân tích và xử lí số liệu.
- Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData.
- Các số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 13
- Xác định các tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn
Đối tượng nghiên cứu 60 tuổi trở lên, sinh sống tại 2
xã của huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 31- So sánh sự khác biệt của các tỷ lệ % theo test Khi bình phương và sosánh giá trị trung bình của các nhóm theo T-test với mức khác biệt có ý nghĩathống kê với p < 0,05.
2.5 Khía cạnh đạo đức của đề tài
- Đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích rõ về mục tiêunghiên cứu và tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Thông tin thu thập được giữ bí mật
- Nghiên cứu chỉ nhằm giúp đảm bảo sức khỏe cho đối tượng nghiên cứuchứ không có mục đích khác
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (n=516)
Đặc điểm (n) Số lượng (n=516) Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi
Trang 33Trong tổng số 516 đối tượng tham gia nghiên cứu có 362 là nữ giới chiếm70,16%, cao hơn so với 154 nam giới chiếm 29,84% Tỉ lệ nữ/nam là 2,35.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 69,8 ± 8,22, thấp nhất là
60 tuổi, cao nhất là 99 tuổi Nhóm nữ giới có tuổi trung bình là 68,81±7,95,thấp hơn so với tuổi trung bình của các đối tượng nam giới là 72,12±8,38
Nhóm 60-69 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (58,91%) với 304 đối tượngnghiên cứu, nhóm 70-79 tuổi có 128 đối tượng nghiên cứu chiếm 24,81%, cònlại 84 người thuộc nhóm ≥80 tuổi chiếm 16,28%
Nghề nghiệp phổ biến của đối tượng nghiên cứu là hưu trí và làmruộng Trong đó hưu trí chiếm 49,81%, làm ruộng chiếm 43,41%
Đối tượng nghiên cứu ở tình trạng kết hôn là 326 người chiếm 63,18%.Còn lại 190 người sống độc thân
Phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu có bệnh mãn tính (87,21%),nhóm không có bệnh mãn tính chiếm 12,79%
Trong 516 đối tượng tham gia nghiên cứu, phần lớn có chỉ số khối cơ thể (BMI) thuộc nhóm bình thường (77,52%) Nhóm thừa cân chiếm 12,79%, chí có 3 người thuộc nhóm béo phì (0,58%)
Bảng 3.2: Một số triệu chứng lâm sàng sau thực hiện test đi bộ sáu phút
Một số triệu chứng lâm sàng
sau khi thực hiện 6MWT.
Số lượng(n=516)
Đau ngực
Trang 343.2 Quãng đường trung bình đi được trong 6 phút của các nhóm đối tượng nghiên cứu.
Trang 35Biểu đồ 3.1: Quãng đường trung bình đi được trong sáu phút của nhóm
đối tượng nghiên cứu phân theo giới tính (đơn vị mét).
Nhận xét:
Theo kết quả nghiên cứu quãng đường trung bình đi được của 516 đốitượng nghiên cứu là 384,05±83,56m, nữ giới đi được quãng đường trung bình378,42±81,37m, thấp hơn 18,87m so với giá trị trung bình quãng đường điđược của nam giới là 397,29±86,55m, khác biệt là có ý nghĩa thống kê vớip<0,01
Trang 36Biểu đồ 3.2: Quãng đường trung bình đi được trong sáu phút của nhóm
đối tượng nghiên cứu phân theo nhóm tuổi (đơn vị mét)
Nhận xét:
Nhóm tuổi 60-69 đi được quãng đường trung bình lớn nhất 409,97 ± 69,17m,sau đó đến nhóm 70-79 tuổi đi được quãng đường trung bình 372,65 ± 79,81m.Nhóm ≥80 tuổi đi được quãng đường trung bình thấp nhất là 307,61 ± 81,83m Sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01
Trang 37Biểu đồ 3.3 Quãng đường trung bình đi được trong sáu phút của nhóm
đối tượng nghiên cứu phân theo chỉ số BMI
(đơn vị mét).
Nhận xét:
Nhóm thừa cân đi bộ được quãng đường trung bình trong sáu phút lớnnhất (391,24±82,96m) Tiếp theo là nhóm có chỉ số BMI bình thường đi bộđược quãng đường trung bình là 387,97±80,4m Nhóm thiếu cân đi đượcquãng đường trung bình 347,15±93,34m Thấp nhất là nhóm béo phì đi bộđược quãng đường trung bình 281,67±197,06m Sự khác biệt giữa các nhóm
là có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Trang 383.3 Giá trị trung bình của một số test chức năng khác yếu tố liên quan với test đi bộ sáu phút.
3.3.1 Giá trị trung bình của một số test chức năng khác.
Bảng 3.3: Giá trị trung bình của test chức năng khác.
Đặc điểm Grips test Time up go test Test đi bộ 4m Nhóm tuổi Mean(SD)(kg) Mean(SD)(giây) Mean(SD)(giây)
60-69 22.63 (±6.81) 10.49 (±2.51) 4.29 (±0.8)70-79 20.83 (±6.74) 12.35 (±3.88) 4.93 (±1.98)
Đo cơ lực tay (Grips test): 516 đối tượng nghiên cứu thực hiện đo cơ
lực tay, mỗi bên 2 lần, lấy giá trị cao nhất cho kết quả trung bình 23,35 ± 6,48(kg) Nhóm nam giới cho kết quả 27,37 ± 7,05 (kg) cao hơn 8,59 kg so vớinhóm nữ giới (18,78 ± 4,86 kg) Nhóm tuổi 60-69 thực hiện đo cơ lực tay chokết quả cao nhất (22,63 ± 6,81 kg), tiếp theo là nhóm 70-79 tuổi cho kết quả20,83 ± 6,74 kg, thấp nhất là nhóm ≥ 80 tuổi (17,61 ± 5,58 kg) Sự khác biệtgiữa các nhóm đối tượng có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Thời gian đứng dậy và đi (TUG – test): Thời gian đứng dậy và đi
trung bình cả mẫu nghiên cứu là 11,58 ± 3,43 giây, nhóm nam cho kết quả11,25 ± 3,08 giây, nhanh hơn so với nhóm nữ 0,46 giây ( 11,71 ± 3,56 giây),tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,1479 Xét theotuổi, nhóm thực hiện TUG-test nhanh nhất là nhóm 60-69 tuổi cho kết quả10,49 ± 2,51 giây, tiếp theo là nhóm 70-79 tuổi (12,35 ± 3,88 giây), nhóm ≥
Trang 3980 tuổi cho kết quả 14,25 ± 3,73 giây Sự khác biệt về thời gian đứng dậy và
đi giữa các nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Test đi bộ 4 mét: 516 đối tượng nghiên cứu thực hiện test đi bộ 4 mét
cho kết quả trung bình là 4,65 ± 1,38 giây, nhóm nam cho kết quả 4,44 ± 1,11giây, thấp hơn 0,31 giây so với nhóm nữ (4,75 ± 1,47 giây) Nhóm tuổi 60-69thực hiện nhanh nhất với kết quả trung bình 4,29 ± 0,8 giây, tiếp theo là nhóm70-79 tuổi cho kết quả 4,93 ± 1,98 giây, nhóm ≥ 80 tuổi thực hiện chậm nhấtvới kết quả trung bình 5,52 ± 1,44 giây Sự khác biệt giữa các nhóm có ýnghĩa thống kê với p < 0,01
3.3.3 6MWD với tuổi
N = 516
P < 0,01
R = -0,479
Trang 40Biểu đồ 3.4: 6MWD tương quan với tuổi Nhận xét:
6MWD có tương quan tỉ lệ nghịch mức độ trung bình với tuổi Tuổi càngtăng, quãng đường đi được giảm dần, với hệ số tương quan r=-0,479, có ýnghĩa thống kê với p<0,01 Phương trình tương quan được thiết lập: