Bà mẹ và trẻ em chiếm đa số trong tổng dân số nước ta 60-70%, nếu sức khỏe phụ nữ mang thai, bà mẹ và trẻ em được nâng cao có nghĩa là sức khỏe của xã hội được bảo vệ [1].Ngày nay, với s
Trang 1BỆNH VIỆN BẠCH MAI
TÌM HIỂU KIÊN THỨC DINH DƯỠNG
THAI KỲ VÀ SAU SINH CỦA SẢN PHỤ TẠI KHOA
PHỤ - SẢN, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
ĐỀ TÀI CƠ SỞ
Chủ nhiệm đề tài PGS TS PHẠM BÁ NHA
Trang 2BMI : Body Mass Index-Chỉ số khối cơ thể
WHO : World Health Organization – Tổ chức y tế thế
giới
Trang 3PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chiến lược mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng 2001-2010, phụ nữmang thai, bà mẹ và trẻ em được quan tâm hàng đầu Bà mẹ và trẻ em chiếm
đa số trong tổng dân số nước ta (60-70%), nếu sức khỏe phụ nữ mang thai, bà
mẹ và trẻ em được nâng cao có nghĩa là sức khỏe của xã hội được bảo vệ [1].Ngày nay, với sự kết hợp của các chương trình chăm sóc sức khỏe(CSSK) sinh sản và sự phát triển của hệ thống y tế Việt Nam,các thông tin từmạng xã hội,sách báo,truyền thông, phát thanh… đã góp phần không nhỏtrong việc tìm hiểu về các điều cần biết đối với thai phụ thời kỳ mang thai.Mặc dù với những nguồn kiến thức sẵn có như vậy nhưng chưa phải sản phụnào cũng quan tâm, tìm hiều và thực hiện đúng…Phải chăng còn phụ thuộcvào trình độ văn hóa (TDVH), điều kiện kinh tế,vùng miền…đã dẫn đếnnhững sự khác nhau trong công tác chăm sóc trong thời kỳ mang thai và sausinh, đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng thai kỳ và sau sinh Theo kết quả nghiêncứu của Viện nghiên cứu gia đình và giới năm 2010, ở các vùng nông thôn vềnhận thức và thực hành về chế độ dinh dưỡng (CDDD) khi mang thai sausinh Nhiều nơi, phụ nữ khi mang thai không có chế độ bồi dưỡng, một số phụ
nữ cho rằng con to khó đẻ, trong quá trình mang thai chế độ làm việc và nghỉngơi chưa hợp lý, tinh thần chưa được thoải mái [1] CDDD, cách sinh hoạtcủa bà mẹ trong thời kỳ mang thai không đúng sẽ đề lại hậu quả nặng nề nhưthai lưu, đẻ non, sảy thai, sinh con thiếu cân…Tất cả những hậu quả trên là doquá trình chăm sóc cho bà mẹ trong thời kỳ mang thai chưa tốt Tổng điều tranăm 2000 cho thấy, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (BMI<18.5) của phụ
nữ độ tuổi từ 20-49 trong cả nước là 26.5%, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai(PNCT) là 32.2% [2], [3] Theo nghiên cứu của Tô Thanh Hương và cộng sự(1994) tỷ lệ trẻ sơ sinh thấp cân tại một số địa phương: Hà Nội là 3.5%, thànhphố Nam Định là 5%, một số vùng nông thôn ở Hà Tây, Hà Nam là 11% [4]
Trang 6Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về dinh dưỡng cho sản phụ trong thời
kỳ mang thai và sau sinh Nhưng để tìm hiểu về thực trạng hiện nay chúng tôi thực hiện đề tài:
“Tìm hiểu kiến thức dinh dưỡng thai kỳ và sau sinh của sản phụ tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai”.
Trang 7CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1. Một vài nét về thay đổi sinh lý ở PNCT[5]
1.1.1. Thay đổi trong hệ tuần hoàn
Trong khi có thai khối lượng máu tăng lên khoảng 50% Bình thườngngười phụ nữ ngoài thời kỳ thai nghén có khoảng 4 lít máu thì khi có thai cóthể tăng lên tới 6 lít Khối lượng máu bắt đầu trong 3 tháng đầu, tăng nhanhlên trong 3 tháng giữa và cao nhất vào tháng thứ 7 của thai nghén Sau đókhối lượng máu hằng định ở những tuần lễ cuối của thai nghén Sau đẻ khốilượng máu giảm nhanh và dần dần trở lại bình thường
Do khối lượng huyết tương tăng nhiều hơn huyết cầu nên số lượng hồng cầutrong máu hơi giảm đi
Thay đổi fibrinogen, các yếu tố đông máu, số lượng bạch cầu
Protid 60-70 g/l, tỷ lệ serin/globulin giảm
Calci và sắt huyết thanh giảm
Dự trữ kiềm giảm
1.1.2 Thay đổi về tiêu hóa
Trong 3 tháng đầu, thai phụ hay bị buồn nôn, nôn và thích các thức ăn lạ,được gọi là nghén Tăng tiết nước bọt nên thai phụ hay nhổ vặt, có trường hợptiết tới 1l/ngày Do đó, trong những ngày này thai phụ ăn uống kém Từ thángthứ 4 trở đi, các triệu chứng nghén mất đi, thai phụ trở lại ăn uống bìnhthường
Khi thai phát triển, dạ dày và ruột bị thay đổi vị trí do tử cung to lên Dohậu quả của việc thay đổi vị trí nội tạng, các triệu chứng của một số bệnh có
Trang 8thể thay đổi Ví dụ, ruột thừa thường bị đẩy cao lên, một đôi khi bị đẩy sangbên khi tử cung cao lên.
Hiện tượng ợ hơi nóng thường gặp khi có thai Nguyên nhân là do chảyngược dịch dạ dày vào đoạn dưới của thực quản do trương lực cơ thắt thựcquản ở phần dưới bị giảm xuống và áp lực dạ dày tăng lên khi có thai Ởnhững tháng cuối của thai nghén có thể gặp các cơn đau dạ dày, đôi khi cócảm giác bỏng rát, vị trí và cường độ đau thay đổi Đôi khi chẩn đoán nhầmvới các bệnh của dạ dày, tụy hoặc mật, nguyên nhân chưa rõ ràng
Ruột non và đại tràng giảm nhu động do bị chèn ép và giảm trương lựcnên hay gây ra táo bón
Thai nghén gây ra tình trạng mất calci hóa của răng và tạo điều kiện gâysâu răng Niêm mạc lợi dày lên và tăng sinh tuần hoàn Các triệu chứng nàymất dần đi sau đẻ
1.1.3 Thay đổi về tiết niệu
Một thay đổi bất thường trong chức năng bài tiết của thận trong khi cóthai là hiện tượng mất các chất dinh dưỡng trong nước tiểu Các acid amin vàcác vitamin tan trong nước được tìm thấy trong nước tiểu của người PNCTnhiều hơn so với người không có thai Nồng độ ure và creatinin trong huyếtthanh của người PNCT giảm do tăng tốc độ lọc máu ở cầu thận
Trong khi có thai, trong nước tiểu có đường (glucosuria) có thể không làhiện tượng bất thường do tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng và khả năng tái hấpthu đường ở ống thận không tốt Tuy nhiên cần phải cảnh giác với đái tháođường trong khi có thai
1.1.4 Thay đổi về thần kinh
Người phụ nữ có những thay đổi về tâm lý, cảm xúc hay cáu gắt, dễ thayđổi tính tình, trí nhớ giảm sút khi có thai Ngoài ra, còn có những thay đổi về
hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm Những triệu chứng buồn nôn,
Trang 9kém ăn, mất ngủ trong những tháng đầu có thể do nguyên nhân về thần kinhgây ra Tuy nhiên, những thay đổi về thần kinh đều có liên quan mật thiết vớithay đổi về nội tiết.
1.1.5 Thay đổi về toàn thân
1.1.5.2 Thay đổi về chuyển hóa
Chuyển hóa nước: Tăng giữ nước ở ngoài tế bào và huyết tương Khi thai đủtháng, lượng nước có trong thai nhi, bánh rau và nước ối khoảng 3.5 lít Ngoài
ra còn có khoảng 3 lít nước nữa do tăng khối lượng máu mẹ, ở trong tử cung
và vú Như vậy, tổng lượng mức ngoài tế bào của một PNCT khoảng 6.5 lít
- Các muối khoáng: Khi có thai nhu cầu về sắt vượt quá nguồn sắt mà cơthể người phụ nữ có Nồng độ calci và magie giảm xuống trong khi cóthai
- Chuyển hóa lipit: Nồng độ lipit, lipoprotein và apoliprotein trong huyếtthanh tăng lên rõ ràng trong khi có thai
- Chuyển hóa protein: Tăng lên trong khi có thai
- Chuyển hóa carbohydrat cũng tăng lên với các đặc điểm: Hạ đườnghuyết khi nhịn ăn vừa phải, tăng đường huyết sau bữa ăn và tăng insulinmáu
1.2. Chế độ dinh dưỡng khi mang thai
1.2.1. Hậu quả của thiếu, thừa dinh dưỡng trong quá trình mang thai
Người PNCT phải đáp ứng đủ những yêu cầu về dinh dưỡng trong quá trìnhmang thai không sẽ làm tăng nguy cơ tình trạng đẻ nhẹ cân, chậm phát triểnthể lực, trí tuệ, còi xương, SDD… Một nghiên cứu về phụ nữ tuổi tiền hônnhân ở Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (2005) cho thấy 15.5% số phụ nữ có cân nặng
Trang 10trước khi mang thai dưới 39kg và 11.5% số phụ nữ có cân nặng trước khimang thai dưới 41kg sinh ra trẻ có cân nặng sơ sinh thấp [6], yếu tố này liênquan đến việc tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh [7].
PNCT tăng quá nhiều có thể xảy ra cho sức khỏe của mẹ và em bé như:Tình trạng béo phì của mẹ sau khi sinh và những khó khăn khi sinh do con tonhư chuyển dạ kéo dài, khó sinh do vai em bé to, sinh mổ, chấn thương, hoặcngạt khi sinh…Trong nghiên cứu của VDD năm 2010, cho thấy rằng nhữngPNCT tăng cân quá mức quy định có nguy cơ nhiễm bệnh tiểu đường cao gấpđôi những phụ nữ tăng cân bình thường
1.2.2. Khám thai định kỳ trong quá trình mang thai
Chăm sóc bà mẹ có thai nhằm đảm bảo một cuộc thai nghén bình thường [8].Thai nghén đối với người phụ nữ là hiện tượng sinh lý mang nhiều tính chấtđặc biệt và dễ chuyển thành bệnh lý Với phụ nữ ngoài thời kỳ thai nghén,mỗi năm khám sức khỏe, kiểm tra định kỳ một đến hai lần là đủ nhưng riêngngười có thai trong vòng hơn 9 tháng thai nghén cần phải đi khám nhiều lần[9] Trong thời gian mang thai người mẹ nên thực hiện khám thai định kỳ đềuđặn Lần đầu tiên khám thai khi thai được 12 tuần mỗi tháng nên khám mộtlần cho tới khi thai được 28 tuần,sau đó cứ 2 tuần khám một lần cho tới khithai được 36 tuần và từ khi thai được 36 tuần đến khi sinh thì mỗi tuần mộtlần [10], [3] Theo Tô Thanh Hương và các cộng sự thì tỷ lệ đẻ con thấp cân ởcác bà mẹ không được khám thai là 14%,tỷ lệ này giảm dần theo số lần khámthai [4].Nghiên cứu của Trần Việt Anh phản ánh chất lượng khám thai PNCTtại Đông Anh còn nhiều tồn tại: Chỉ có 66.7% số phụ nữ được cân khi khámthai, 58.8% được thử nước tiểu và 48% được đo huyết áp, có 21% phụ nữkhông được khám một nội dung nào [11] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhâmtại 2 xã của Yên Bái (2005) cho thấy tỷ lệ khám thai vào 3 tháng đầu là64.2%, khám trên 3 lần ở các PNCT 3 tháng cuối là 51.0% vẫn còn thấp [12].Trong thời kỳ có thai, đảm bảo chế độ ăn uống hợp lý là rất quan trọng vì nóảnh hưởng tới sức khoẻ của cả mẹ và con [13] Nếu được nuôi dưỡng kém bà
mẹ dễ mắc bệnh, con có thể bị đẻ non tháng, nhẹ cân, sau đẻ mẹ thường thiếusữa cho con bú [14] Vì vậy việc dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai là rất
Trang 11quan trọng Việc bồi bổ phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thai nhi mớiđạt hiệu quả cao.
Dinh dưỡng trong thời gian mang thai thường chia làm 3 giai đoạn:
Ở giai đoạn đầu mang thai (3 tháng đầu): Thai nhi phát triển tương đối
chậm do vậy nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng chỉ cần đáp ứng giống vớitrước khi mang thai,nghĩa là đủ dinh dưỡng hợp lý cung cấp cho người mẹ cả
về đạm, đường, mỡ và các yếu tố vi lượng như chất khoáng và các vitamin.Tuy nhiên ở giai đoạn này, bà mẹ có những triệu chứng thai nghén như nôn,buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, hoặc có những người chỉ thích ăn một lại thức ăn
mà thôi Chính vì vậy mà những thức ăn trong giai đoạn 3 tháng đầu này phảigiàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa Thai phụ nên chia nhiều bữa nhỏ để tránh gâybuồn nôn, đặc biệt với những người bị nghén
Ở thời kỳ giữa mang thai (3 tháng tiếp): Giai đoạn này thai nhi phát triển
mạnh do đó đòi hỏi về nhu cầu các chất dinh dưỡng tăng lên rất cao Nếu nhưkhông đáp ứng lượng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết sẽ xuất hiện nhiều vấn đềnhư: Thiếu máu, chuột rút…
Trong thời kỳ này người mẹ cần ăn nhiều các thức ăn giàu chất dinh dưỡngnhư: Trứng, thịt nạc, đậu sữa, rau xanh và trái cây đề tăng cường đạm, đường,các chất khoáng, đặc biệt là sắt và calci, kẽm, iod, acid folic, selen…cácvitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B(B1, B6, B12) , vitamin C, A, D, E; ăn
ít mỡ; nhưng cần ăn cá nhiều để hấp thu calci, acid béo và omega-3
Khi mang thai ở tuần thứ 15, mỗi ngày nên uống 2g calci để huyết áp luôn giữ
ở mức bình thường trong suốt quá trình mang thai
Ở thời kỳ cuối (3 tháng cuối): Thai nhi phát triển nhanh hơn, song lượng
dinh dưỡng cần được tích trữ trong thai nhi cũng cao nhất ở giai đoạn này Vìvậy, người mẹ phải ăn nhiều loại thức ăn khác nhau giàu chất dinh dưỡng đểđảm bảo sự phát triển của thai nhi, hạn chế các chất béo động vật để ngănngừa các chứng bệnh cho mẹ và thai nhi
1.2.3 Mức tăng cân của thai phụ
Theo các nhà nghiên cứu thì mức tăng cân của thai phụ dựa vào thểtrạng(BMI), thai phụ cần biết cách tính mức tăng cân của mình để tăng cânhợp lý, không dẫn tới thừa cân béo phì sau khi sinh
Trang 12Hầu hết mức tăng cân trung bình của các thai phụ trong cả thời kỳ mangthai khoảng 15%-25% trọng lượng cơ thể tức khoảng 10-12kg [15].Người phụ
nữ có thai tăng cân không đủ, đứa trẻ sinh ra có cân nặng thấp và đứa trẻ sinh
ra có cân nặng thấp sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng sau này Nghiên cứucủa Nguyễn Thị Kim Hưng và cs năm (1999) ở trẻ dưới 5 tuổi tại Thành Phố
Hồ Chí Minh cho thấy, tình trạng dinh dưỡng của PNCT có liên quan chặt chẽvới cân nặng lúc sinh Trẻ có cân nặng lúc sinh <2500g có tỷ lệ SDD là 38.7%cao hơn so với 16.5% ở nhóm trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh ≥ 2500g, trẻ cócân nặng sơ sinh cao hơn sẽ ăn được tốt hơn và ít mắc bệnh hơn [16].Theonghiên cứu của Phạm Duy Tường (2002) bà mẹ khi mang thai tăng trên 9kgthì con có cân nặng sơ sinh trung bình là 3270g, trong khi đó bà mẹ tăng cândưới 9kg thì cân nặng của con trung bình chỉ có 2970g [17]
1.2.4. Nhu cầu năng lượng của người trưởng thành, PNCT
Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, năng lượng hàng ngày choPNCT 3 tháng cuối cần tăng thêm 350kcal/ngày [19]
1.2.5. Nhu cầu các chất dinh dưỡng
1.2.5.1.Nhu cầu protein
Trong suốt quá trình mang thai người mẹ phải tiêu thụ đầy đủ protein đểđáp ứng nhu cầu cần thiết cho sự phát triển của thai nhi Những khuyến nghị
về nhu cầu protein cho PNCT cần chú ý:Để xây dựng bào thai, nhau thai, các
mô của cơ thể người mẹ người PNCT cần 80g protein/ngày, nhiều hơn 15g sovới người phụ nữ bình thường không mang thai Protein chiếm 20% trong chế
độ ăn bình thường của người PNCT [35]
1.2.5.2.Nhu cầu lipit
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy acid béo thiết yếu lineoloic vàalpha-linolenic (một trong ba acid béo) đóng vai trò quan trọng đối với thainghén Những acid béo này cần cho sự phát triển thần kinh và thị giác ở thainhi và giúp giảm nguy cơ đẻ non Những thức ăn chứa acid béo này gồm dầuthực vật, dầu đậu nành và dầu cá, ví dụ như: Cá hồi…
Ngược lại với các acid béo thiết yếu, các trans acid được tạo ra khi dầutực vật hydrogen hóa lại có tác dụng không có lợi cho sức khỏe, PNCT nên
Trang 13tránh Có một số bằng chứng cho thấy các trans acid giảm cân nặng thai nhi
và vòng đầu
PNCT cần hướng tới việc đảm bảo khẩu phần chất béo vào khoảng 20%tổng calo
1.2.5.3Nhu cầu glucid
Nhu cầu glucid chiếm tới 60-70% trong khẩu phần ăn, khuyến nghị nhucầu glucid cho PNCT cũng như bình thường là 18-20 g/ngày
Thực phẩm chứa nhiều calci như: Sữa, các sản phẩm từ sữa như sữachua, phomai, cá, đậu, rau xanh, tôm đồng…
Tuy nhiên một số thực phẩm có chứa oxalat và các loại hạt ngũ cốc chứaphytat, cả hai loại này gắn kết với calci và sắt làm hạn chế một phần sự hấpthu của hai loại khoáng chất này Vì thế cũng như sắt thì nên uống calci xabữa ăn để tránh hiện tượng này
- Sắt và acid folic
Một trong các vi chất mà nhu cầu tăng nhiều trong thời kỳ mang thai làsắt Do tỷ lệ thiếu máu ở các PNCT hiện nay là quá cao từ 30-50% và cũng vìnhững hậu quả không tốt của thiếu máu như: Kết quả thai kỳ kém, trẻ sinh ranhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh lý nhiễm trùng và tỷ lệ tử vong cao ở cả mẹ lẫncon nên sắt là vi chất duy nhất mà tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên bổsung ở dạng thuốc cho tất cả các thai phụ trong suốt thời kỳ mang thai.Trongnghiên cứu của Đặng Thị Hà và cộng sự (2011) tại Việt Nam có 62.5% PNCT
bị thiếu máu (Hb trung bình của 10.9g/dl) [36].Nghiên cứu của Nguyễn Xuân
Trang 14Ninh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thành Hưng (2006) tại Hà Nội, tỷ lệ thiếumáu dinh dưỡng vẫn phổ biến ở mức vừa và nặng, thiếu máu tăng dần theotuổi thai: Ở PNCT 3 tháng đầu là 16.7%, từ 4- 6 tháng là 35.5% và 7- 9 tháng
là 53.4% [37]
Sắt có nhiều trong các loại thịt, huyết, gan, lòng đỏ trứng gà, các loại rauxanh đậm… bữa ăn nhiều vitamin C (có nhiều rau, trái cây có vị chua) sẽ giúpruột hấp thu tốt chất sắt Đối với người bình thường chỉ cần chú ý ăn đa dạngthực phẩm là có thể nhận đủ lượng sắt cho cơ thể, riêng đối với PNCT do nhucầu tăng cao và để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con, cần được bổ sug 30-60mg chất sắt hàng ngày ở dạng thuốc uống ngay khi từ lúc có thai cho đếnkhi chấm dứt thai kỳ(suốt 8-9 tháng)
Vi chất sắt trong viên uống bổ sung sẽ được hấp thụ tốt nhất khi dạ dàytrống rỗng (ngủ dậy sau một giấc ngủ đêm) nhưng khi mang thai, dạ dàythường rất khó chấp nhận "chuyện này" Vậy nên bạn có thể uống bổ sungviên sắt 1 tiếng trước khi ăn
Lưu ý: Là không uống bổ sung viên sắt cùng thời điểm với canxi bổ sung hay
các loại axit amin vì chúng sẽ làm giảm khả năng hấp thụ sắt của cơ thể
Có thể uống ngay từ khi biết có thai
Nếu uống phòng ngừa ngày uống 1 viên
Nếu có thiếu máu tăng mức uống 2-3 viên/ngày
Tối thiểu cần uống 90 ngày trước đẻ và 42 ngày sau đẻ
- Kẽm
Rất cần thiết trong việc tạo ra các enzyme để chuyển hóa lipit, glucid,protein, acid nucleic Việc thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới hoocmon tăng trưởng,gây chuyển dạ kéo dài hoặc chảy máu lúc sổ rau do có thể làm quá trình tổnghợp chất prostaglandins bị suy giảm Thiếu kẽm cũng có thể gây xảy thai tựnhiên do bong rau non, dị dạng bẩm sinh và gây SDD bào thai, thai vô sọ, nứtđốt sống
Nhu cầu kẽm cho PNCT là 18mg/ngày Bên cạnh việc dùng thuốc có thể
bổ sung kẽm bằng thực phẩm thông qua chế độ ăn, những thực phẩm chứanhiều kẽm như là: thịt gà, thịt cóc, nhộng tằm, thịt bò và hải sản… Chỉ sửdụng thuốc bổ sung kẽm khi có chỉ định của bác sĩ
- Iod
Trang 15Thiếu iod đã là một trong những vấn đề sức khỏe đáng quan tâm trọngnhững năm về trước Thiếu iod sẽ giảm khả năng tổng hợp của tuyến giáp bàothai và trẻ mới sinh.Năm 1995, Vermiglio Fvà cộng sự đã theo dõi trong số50% các bà mẹ có mang ở vùng thiếu iod và nhận thấy có tỷ lệ cao trẻ sơ sinh
bị chết khi đẻ hoặc thai chết lưu,sẩy thai,dị tật bẩm sinh,bướu cổ,rối loạn chứcnăng não,đần độn và thiểu năng tuyến giáp cho tới lúc trưởng thành[20](nữ có
tỷ lệ cao hơn nam) Rất cần được bổ sung đủ lượng muối iod trong các khẩuphần ăn của PNCT bằng các sản phẩm chế biến,có sử dụng muối iod bằng bộtgia vị,bánh mỳ,mỳ ăn liền,thịt cá
1.2.5.5Vitamin
- Nhu cầu vitamin A
Ở PNCT là 800mcg/ngày, ở phụ nữ cho con bú là 1300mcg/ngày Khôngđược dùng vitamin A liều cao trên 15.000 UI/ngày có liên quan đến dị dạngthai nhi
- Nhu cầu vitamin D
Ở PNCT là 10µg/ngày (400 IU/ngày), nhu cầu này gấp đôi so với lúcphụ nữ không có thai Nhu cầu đó đảm bảo cho vitamin D đi qua nhauthaitham gia vào quá trình chuyển hóa xây dựng xương của thai nhi
Vitamin D là loại tan trong chất béo và được thấy có trong nhiều sảnphẩm sữa của nhiều quốc gia Chuyển hóa vitamin D cần được thực hiện dướitia cực tím (tia nắng mặt trời)
- Vitamin B1
Là loại B tổng hợp tan trong nước liên quan tới việc giải phóng nănglượng khỏi tế bào Vitamin B1 có trong sữa và hạt thô.Nhu cầu hàng ngày là1.1mg Trong thời gian mang thai và cho con bú, nhu cầu tăng lên1.5mg/ngày
- Vitamin B12 (riboflavin)
Là loại B tổng hợp hòa tan trong nước, cũng liên quan tới việc giảiphóng năng lượng khỏi tế bào Nguồn B2 bao gồm rau xanh, sữa trứng,phomat, cá… Nhu cầu hàng ngày cần 1.3mg Nhu cầu giai đoạn mang thaităng tới 1.6 mg/ngày và giai đoạn cho bú là 1.8 mg/ngày
- Vitamin C
Trang 16Nhu cầu về vitamin C còn khác nhau giữa các nước Nhu cầu vitamin C
ở PNCT cần tăng thêm 10 mg/ngày, ở phụ nữ cho con bú cần tăng thêm 30mg/ngày(theo WHO) Vitamin C tan trong nước và có nhiều chức năng baogồm giảm các gốc tự do và hỗ trợ việc hình thành procollagen Vitamin C cótrong hoa quả và rau tươi.Thiếu vitamin mạn tính sẽ ảnh hưởng tới quá trìnhtổng hợp collagen và dẫn tới bệnh scobut.Nhu cầu hàng ngày là 60mg Thời
kỳ thai nghén cần 70mg/ngày và tăng tới 95mg/ngày giai đoạn cho con bú
- Folat
Là B tổng hợp hòa tan trong nước, đóng vai trò quan trọng trong việctổng hợp AND và nhân tế bào, có trong các loại hạt, đậu khô và rau có lá.Thiếu folat trong khi mang thai có liên quan tới những dị tật ống thần kinh ởthai nhi Những phụ nữ không mang thai cần 0.2mg/ngày, còn PNCT cần gấpđôi 0.4mg/ngày và giảm xuống còn 0.2mg/ngày gai đoạn cho con bú
Vào năm 1998, FDA Hoa Kỳ chuẩn y sử dụng các loại hạt giàu folattrong thực phẩm
Làm giàu ngũ cốc đã giảm 25% tỷ lệ hiện mắc dị tật ống thần kinh(CDC, 2004) Tuy vậy lượng acid folic vẫn không được cung cấp đủ trongkhẩu phần ăn trung bình của người dân Mỹ và hàng ngày cần bổ sung thêm0.4mg cho phụ nữ khỏe mạnh.Folat cần được cung cấp 3 tháng trước khimang thai và trong suốt thai kỳ thứ nhất Nếu phụ nữ đã từng có con bị dị tậtống thần kinh, việc bổ sung folat cho lần mang thai tiếp theo lên tới4mg/ngày
1.2.5.6 Nước
Nước là chất khoáng thể thiếu trong việc phát triển các tế bào của thainhi,ngoài ra chúng còn giúp duy trì lượng máu trong cơ thể và hấp thu nhiềuchất dinh dưỡng khác Nước cũng giúp ngăn chặn sự nhiễm trùng của đườngtiết niệu,tiêu chảy.PNCT nên cung cấp nhiều nước,ăn nhiều hoa quả…
Đặc biệt cần tránh sử dụng những chất có cồn,kích thích như: Rượu,càphê, thuốc lá… Bởi vì rượu có thể gây nguy hại không chỉ cho sức khỏengười mẹ mà còn ảnh hưởng tới thai nhi Các nghiên cứu khoa học cũng đãchứng minh, chỉ cần một lượng rượu nhỏ mà mẹ uống vào trong thời kỳ mangthai cũng có thể gây dị tật ở trẻ sơ sinh, sinh non,sảy thai
Trang 171.3. Dinh dưỡng sau sinh
Trong thời kỳ này, nhất là trong 6 tháng đầu tiên sau khi sinh, người mẹphải ăn nhiều, đa dạng hơn mới có đủ sữa với chất lượng tốt để nuôi con Do
đó năng lượng cần tăng thêm Nhu cầu cụ thể tùy theo tình trạng ăn uống củacác bà mẹ trước và trong thời kỳ mang thai
Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ luôn là thức ăn tốt nhất cho bé Chất lượng sữa mẹ trong 6 thángđầu luôn đủ thành phần và chất lượng tốt hơn sữa bò và sữa công thức chếbiến từ đậu tương do có đặc tính miễn dịch cao và thành phần chất dinhdưỡng phù hợp với lứa tuổi của trẻ Lượng protein 1.5% dưới dạnglactalbumin, casein rất dễ tiêu: 3.5% lượng chất béo ở dạng giọt rất nhỏ vàlượng glucid 7% ở dạng lactose Tất cả các thành phần vi lượng khoáng vàvitamin đều khá cân đối
Chất đạm và chất béo trong sữa mẹ dề tiêu hóa và dễ hấp thu, có men lipasegiúp tiêu hóa chất mỡ
Đường lactose trong sữa mẹ nhiều hơn các loại sữa khác Đó là chất thiết yếucho sự phát triển của trẻ
Chất sắt trong sữa mẹ dễ hấp thu nên bé bú mẹ không sợ thiếu máu do thiếtsắt
Sữa mẹ có đầy đủ các vitamin và lượng nước cần thiết cho bé Nếu bé được
bú mẹ hoàn toàn, không cần bổ sung thêm nước, vitamin hoặc nước trái câytrong vòng 4 tháng đầu
Sữa mẹ chứa đủ lượng canxi và photphat giúp trẻ phát triển tốt
Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não tối ưu.Trẻ được bú sữa mẹ đạt chỉ số pháttriển trí tuệ MDI=108
Sữa mẹ giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn
Tiện lợi và tích kiệm: Sữa mẹ có sẵn và ít tốn kém hơn khi nuôi trẻ bằng sữangoài
Gắn kết tình cảm giữa mẹ và con
Giúp mẹ co hồi tử cung sớm sau sinh
Vóc dáng người mẹ nhanh chóng trở về bình thường
Giảm nguy cơ ung thư vú và ưng thư buồng trứng ở người mẹ
Giảm khả năng thụ thai trở lại của người mẹ
Trang 181.3.2 Bảo vệ nguồn sữa mẹ-là thức ăn tốt nhất cho con
Muốn có sữa cho con bú thì ngay trong thời kỳ có thai người mẹ phải có chế
độ ăn hợp lý đầy đủ các chất dinh dưỡng,chế độ nghỉ ngơi,lao động hợplý,tinh thần thoải mái giúp người mẹ tăng cân tốt-đó là nguồn dự trữ mới đểsản xuất sữa sau sinh
Trong thời gian cho con bú, người mẹ phải ăn đủ,uống đủ,nghỉ ngơi đủ Khẩuphần ăn cao hơn mức bình thường Nên ăn thêm nhiều rau quả để cung cấp đủvitamin Hạn chế các thức ăn gia vị như ớt, hành,tỏi… gây mùi khó chịu làmtrẻ dễ bỏ bú Khi cho con bú bà mẹ nên chú ý tới việc dùng thuốc vì một sốthuốc có thể qua sữa gây ngộ độc cho trẻ và giảm tiết sữa
Người mẹ cho con bú nên uống nhiều nước mỗi ngày(1.5-2.5 lít)
Vì sữa được tiết theo cơ chế phản xạ cho nên tinh thần người mẹ phải thoảimái, tự tin tránh những căng thẳng,lo âu, buồn phiền,mất ngủ Chế độ nghỉngơi,lao động có ảnh hưởng tới sự tiết sữa sau khi sinh
Điều quan trọng để tạo nhiều sữa là người mẹ phải cho con bú thườngxuyên,bú đúng cách
1.3.3 Chế độ ăn của người mẹ
Sau sinh nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần cao hơn cả khimang thai để cơ thể mẹ tạo ra nhiều sữa cho con bú Theo khuyến nghị củaVDD, năng lượng hàng ngày trong 6 tháng đầu ở phụ nữ cho con bú cần tăngthêm 550kcal/ngày [18]
Nhu cầu các chất dinh dưỡngcho bà mẹ thời gian sau sinh
-Protein:Nhu cầu protein cho con bú trong 6 tháng đầu tăng lên so với
người bình thường là 28g/ngày
-Lipit:Riêng phụ nữ có thai và bà mẹ đang cho con bú cần năng lượng
lipid ở mức 20-25%, tối đa có thể tăng lên tới 30% năng lượng của khẩu phần
-Glucid: từ 18-20g/ngày.
Các chất khoáng:
- Calci: Phụ nữ cho con bú (trong suốt cả thời kỳ cho bú) là 1.000mg/ ngày
- Phospho: cần cung cấp 700mg/ngày, cũng giống như bình thường và trongthời gian cho con bú
- Magie: Bà mẹ đang cho con bú cần cũng cấp 250mg/ngày, cao hơn hẳn sovới trong thời gian mang thai là 205mg/ngày
Trang 19Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng:
- Sắt: Nhu cầu sắt của phụ nữ trong thời gian cho con bú thấp hơn thời kỳ mangthai Theo bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam, nhucầu sắt cho phụ nữ cho con bú 6 tháng đầu là 24mg/ngày
- Iod: Nhu cầu iod đối với phụ nữ cho con bú cũng giống như trong thời gianmang thai là 200mg/ngày
Nhu cầu vitamin:
- Vitamin A: Bà mẹ đang cho con bú cần cung cấp 850 mcg/ngày cao hơn trongthời gian cho con bú
- Vitamin C, E, K, B cũng tương tự như trong thời gian mang thai
Sau sinh, người mẹ cần ăn uống đầy đủ và cân đối, không nên kiêngkhem quá mức vì sợ không giữ được vóc dáng như ban đầu
* Những thực phẩm cần tránh:
Cafe, thuốc lá, rượu, bia
Thức ăn nhiều gia vị: Ớt, hành, tỏi, tiêu…
Không lao động quá mức
Tránh lo lắng, buồn phiền
*Một vài nghiên cứu
Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2000 của Viện dinh dưỡng , tỷ lệ thiếunăng lượng trường diễn (BMI<18.5) ở phụ nữ từ 20-49 tuổi đã giảm từ 33.1%năm 1990 xuống còn 26.3% năm (2000) Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn
ở nông thôn cao hơn thành phố (28.3% và 20.5%) [33]
Nghiên cứu của Lê Bạch Mai (2003) trên 300 phụ nữ sinh con tại HưngYên: Phụ nữ có chiều cao <145cm có nguy cơ sinh ra những đứa trẻ bị SDDbào thai gấp 4.5 lần và sinh ra những đứa trẻ bị thiếu máu sơ sinh gấp 1.8 lần
so với bà mẹ có chiều cao >145cm.Tỷ lệ bà mẹ có uống viên sắt trong thờigian có thai 47.06%.Năng lượng bình quân của phụ nữ có thai đạt1945kcal/người/ngày đáp ứng 83% nhu cầu khuyến nghị, tỷ lệ các chất sinh
Trang 20nhiệt P: L: G =12.6: 8.26: 69.14; khẩu phần còn thiếu về năng lượng và chấtbéo [29].
Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huy, Lê Thị Hợp và cs tại 4 xã miền núi,tỉnh Bắc Giang năm 2003-2004, mức tăng cân của bà mẹ trong 9 tháng mangthai là 8.4 kg [6]
Nguyễn Thị Xuân Mai (2004) -Thực trạng chăm sóc sức khỏe dinhdưỡng của các bà mẹ mang thai ở huyện Kiến Thụy, Hải Phòng Tỷ lệ thiếunăng lượng trường diễn của bà mẹ trước có thai ởrất cao 38.2%, mức tăng cântrong thời gian mang thai đạt 8.9 kg [25]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhâm tại 2 xã của Yên Bái (2005): Tỷ lệkhám thai vào 3 tháng đầu là 64.2%, khám trên 3 lần ở các PNMT 3 thángcuối là 51.0% vẫn còn thấp [12]
Nghiên cứu của Dương Thị Hồng (2002) ở Lương Sơn, Hoà Bình: SốPNCT uống viên sắt đạt 70.8%, trong đó số uống viên sắt ngay từ đầu khi cóthai đạt 52.2%, uống thường xuyên đạt 60.5% [38]
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn ThànhHưng (2006) tại Hà Nội: Tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng vẫn phổ biến ở mức vừa
và nặng, thiếu máu tăng dần theo tuổi thai ở PNCT 3 tháng đầu là 16.7%, từ4- 6 tháng là 35.5% và 7- 9 tháng là 53.4% [37]
Nghiên cứu của Phạm Duy Tường (2002) về khẩu phần thực tế của phụ
nữ mang thai cho thấy: Khẩu phần thực tế của PNCT mới chỉ xấp xỉ đạt nhucầu năng lượng đề nghị, các chất khoáng như canxi chỉ đạt từ 57 – 65% đặcbiệt là sắt khẩu phần đáp ứng dưới 50%, vitamin B2 chỉ đạt 30 – 40% nhu cầu
đề nghị Tỷ lệ cân đối giữa calci và phospho chỉ đạt nửa so với yêu cầu [17]
Trang 22ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- 231 sản phụ sau sinh tại khoa Phụ-Sản, bệnh viện Bạch Mai
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Sản phụ sau sinh (bao gồm cả đẻ thường và mổ đẻ)
+ Người Việt, đọc hiểu được tiếng Việt
+ Tình trạng tinh thần bình thường
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+Những sản phụ không tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
+Những sản phụ mắc bệnh lý nặng toàn thân: Sản giật, tiền sản giật… + Những sản phụ mắc bệnh về rối loạn tâm thần, rối loạn trí nhớ
2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ 15/12/2014 đến 15/04/2015
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Tại khoa Phụ - Sản, bệnh viên Bạch Mai
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngang.2.4.2. Chọn mẫu
Phỏng vấn những thai phụ sau sinh tại khoa Phụ-Sản, bệnh viện BạchMai có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
2.4.3. Các biến số thu thập số liệu
Trang 23• Kiến thức về dinh dưỡng và thực hành trong thời gian mang thai
- Khám thai và quản lý thai nghén
- Kiến thức về chế độăn uống khi mang thai: Dựa vào chế độ ăn uốngtrong thời gian mang thai so với mức khuyến nghị
- Hiểu biết về số cân nặng cần tăng trong quá trình mang thai:Dựa vàomức tăng cân của phụ nữ mang thai so với mức tăng cân khuyến nghịcủa viện dinh dưỡng và tổ chức y tế thế giới
- Bổ sung viên sắt, calci, vitamin trong thời gian mang thai
• Kiến thức về dinh dưỡng và thực hành sau khi sinh của các bà mẹ
- Chế độ ăn sau khi sinh
- Về chế độ ăn kiêng
- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
- Vấn đề bổ sung sắt, calci tiếp sau khi sinh
2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu, khống chế sai số, phân tích, sử lý số liệu
2.5.1. Kỹ thuật thu thập số liệu
Dùng phương pháp phỏng vấn có phiếu thăm dò để thu thập thông tin về
sự hiểu biết của sản phụ về dinh dưỡng thai kỳ và sau sinh
2.5.2. Khống chế sai số
- Bộ câu hỏi được dùng theo ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu
- Quá trình nhập số liệu từ bộ câu hỏi được nhập 2 lần một cách tỷ mỉ,chính xác
2.5.3. Phân tích số liệu
Tất cả các thông tin của phiếu trả lời phỏng vấn được sử lý bằng phầnmềm SPSS 20.0 và các test thống kê thường được dùng trong nghiên cứu
y học
2.6. Đạo đức nghiên cứu
- Các sản phụ tình nguyện tham gia trả lời phỏng vấn
- Giải thích rõ về mục tiêu cần nghiên cứu
- Sẵn sàng tư vấn cho các sản phụ nếu cần
- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến sức khỏe của thai phụ, các thông tin chỉphục vụ cho nghiên cứu không nhằm mục đích nào khác
Trang 24CHƯƠNG III KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Tuổi của các sản phụ trong quá trình nghiên cứu (n=231)
Nhận xét:
Trong 231 người được phỏng vấn thì nhóm tuổi ≤20 tuổi là 4.3%; nhómtuổi 21-24 tuổi là 16.1%; chiếm nhiều nhất là nhóm tuổi 25-29 tuổi 35.1%;30-34 tuổi là 33.7%; 35-39 tuổi là 8.6%; ít nhất là nhóm tuổi ≥40 là 2.2%
Biểu đồ 3.2 Địa chỉ của sản phụ
Nhận xét:
Các sản phụ tới sinh tại khoa Phụ-Sản, bệnh viện Bạch Mai gồm nộithành Hà Nội chiếm đa số 56.3%; tiếp đến là ngoại thành Hà Nội 24.2%; cáctỉnh khác là 19.5%
Bảng 3.1 Dân tộc và tôn giáo
Trang 25Nhận xét:
Trong 231 sản phụ được phỏng vấn thì chủ yếu là dân tộc kinh (99.6%)
và không theo tôn giáo nào chiếm 96.1%
Biểu đồ 3.3 Trình độ văn hóa (n=231)
Nhận xét:
Số thai phụ trình độ đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất 57.1%;tốt nghiệp cấp 3 xếp thứ 2 là 20.8%; tiếp đến là tốt nghiệp THCS là 13.9%;TDVH trung cấp, cao đẳng chiếm tỷ lệ ít nhất 8.2%
Biểu đồ 3.4 Nghề nghiệp của các sản phụ nghiên cứu (n=231)
Nhận xét:
Trong số các bà mẹ được phỏng vấn thì tỷ lệ cán bộ, viên chức chiếm tỷ
lệ cao nhất là 60.2%, nội trợ chiếm 21.2%, nghề nghiệp khác là 14.7%, nôngdân và cuối cùng là sinh viên chiếm ít nhất 1.3%
Biểu đồ 3.4.Lần sinh con thứ (n=231)
Nhận xét:
Trong 231 sản phụ được phỏng vấn thì chủ yếu là những sản phụ sinhcon lần đầu là 48.9%,sinh con lần 2 là 41.1%, sản phụ sinh con lần 3 là8.2%,tỷ lệ số phụ nữ sinh con lần thứ 3 trở lên là 1.8%
3.2 Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng trong thời gian mang thai
Trang 26Nhận xét:
Trong 231 bà mẹ được phỏng vấn, số thai phụ khám thai ≥3 lần chiếm
tỷ lệ nhiều nhất là 92.7%; khám thai <3 lần chiếm 7.3%
Bảng 3 3 Hiểu biết của sản phụ đi khám thai trong thời gian mang thai
Bảng 3.4 Mối tương quan giữa số lần khám thai và TDVH
Trang 273.2.2 Mức tăng cân của thai phụ
Bảng 3.2.Hiểu biết của PNCT về tăng cân trong quá trình mang thai
Mức tăng cân trong quá trình mang thai Tấn số (n) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.5 Mối tương quan giữa BMI trước khi có thai và sự tăng cân
trong khi mang thai của các sản phụ
Trang 283.2.3 Chế độ dinh dưỡng trong thời gian mang thai
Bảng 3.6 Hiểu biết về mức ăn uống trong thời gian mang thai
Mức ăn uống trong thời gian mang
Bảng 3.7 Thực hành về mức ăn uống trong thời gian mang thai
Mức ăn uống trong khi mang thai Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tăng chế độ ăn hơn so với trước khi mang
Nhận xét:
Trên thực tế thì có 59.3% số thai phụ tăng chế độ ăn, 40.7% PNCT vẫn
ăn chế độ ăn bình thường
Biểu đồ 3.5 Mối tương quan giữa TDVH và việc thay đổi chế độ ăn trong
khi mang thai
Nhận xét:
Trong 231 đối tượng nghiên cứu, sản phụ có TDVH đại học, sau đại học
có tỷ lệ thực hành thay đổi chế độ ăn tốt nhất trong thời gian mang thai là95/231 người
Trang 29Bảng 3.8.Ăn gấp 2 lần cho cả mẹ và con
Bảng 3.9 Kiến thức của thai phụ về uống viên sắt
Cách uống viên săt Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trang 30Số thai phụ biết về cách uống viên sắt là 72.3%; không biết cách uốngviên sắt là 27.7%.
Biểu đồ 3.8 Thực hành uống viên sắt trong khi mang thai
Nhận xét:
59.7% sản phụ uống viên sắt ngay sau bữa ăn; 40.3% số sản phụ uốngviên sắt trước ăn khoảng 1 giờ
3.3 Kiến thức về dinh dưỡng sau sinh
3.3.1 Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 3.10 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ