Cận thị làm cho không nhìn thấy vật ở xa và gây nhiều tác hại như: hạn chế sựphát triển toàn diện của học sinh; hạn chế các hoạt động thể dục thể thao nâng caosức khỏe; hạn chế sự lựa ch
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất cả vềthể chất và trí tuệ Lứa tuổi các em có mối liên quan chặt chẽ với những năm thángngồi học trên ghế nhà trường phổ thông Môi trường học tập, chế độ học tập, lao động,nghỉ ngơi và vui chơi ở trường và gia đình, các hoạt động ngoại khóa và việc chăm sócsức khỏe đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bệnh tật của các em [9]
Hiện nay, cận thị học đường chiếm tỷ lệ cao trong lứa tuổi học sinh và trởthành vấn đề sức khỏe của cộng đồng nhiều quốc gia trên thế giới [5]
Châu Á đang là nơi có tỷ lệ mắc cận thị học đường cao nhất thế giới Theo ướctính của Kovin Naidoo ở tổ chức ICEE (International Center for Eye CareEducation), đến năm 2020 tật khúc xạ và nhu cầu kính sẽ chiếm 70% dân số toàncầu (5,3 tỷ người) trong đó cận thị chiếm tỷ lệ 33% (3 tỷ người) [10]
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của nhiều nhà nghiên cứu, trong nhữngnăm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh và là nguyên nhân chính gây giảm thịlực học sinh Việt Nam [13] Theo nghiên cứu của Viện khoa học Giáo dục Việt Nam(2008), tỷ lệ mắc cận thị học đường trong các trường học rất cao là 26,14% trên tổng sốhọc sinh [21] Đến năm 2014, PGS.TS Đỗ Như Hơn, phó chủ tịch hội Nhãn Khoa ViệtNam, công bố tỷ lệ mắc tật khúc xạ học sinh ở nước ta là từ 10%-15% ở học sinh nôngthôn và từ 40% - 50% ở học sinh thành thị và ước tính cả nước hiện có khoảng 3 triệuhọc sinh cần đeo kính [15] Bệnh cận thị có số lượng học sinh mắc ngày càng nhiều và
độ tuổi mắc ngày càng nhỏ là điều rất đáng lo ngại
Cận thị làm cho không nhìn thấy vật ở xa và gây nhiều tác hại như: hạn chế sựphát triển toàn diện của học sinh; hạn chế các hoạt động thể dục thể thao nâng caosức khỏe; hạn chế sự lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống; hạn chế một số hoạtđộng sinh hoạt hàng ngày của học sinh và hạn chế một phần kết quả học tập do mắtchóng bị mỏi, do nhìn bảng không rõ, viết và đọc chậm; dễ bị tai nạn trong laođộng, sinh hoạt
Tuổi học sinh là giai đoạn hết sức quan trọng Ở giai đoạn này trẻ em dễ bị tácđộng rất nhiều bởi các yếu tố bất lợi Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường,nhu cầu của xã hội đòi hỏi con người phải có kiến thức cao, do đó học sinh cần tăngcường học tập cả về cường độ lẫn thời gian Các phương tiện học tập, làm việc cũng
Trang 2như giải trí ngày càng đa dạng phong phú hơn như tivi, máy tính, mạng Internet…đòi hỏi sử dụng mắt liên tục trong nhiều giờ ở cự ly gần đã làm cho tần suất mắc cáctật khúc xạ nói chung và bệnh cận thi nói riêng gia tăng [8].
Để hạn chế sự gia tăng của cận thị, việc xác định các yếu tố nguy cơ gây bệnh
là hết sức cần thiết Trong nhiều nghiên cứu, các tác giả trong nước và nước ngoài
đã đề cập và phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ với cận thị họcđường như cường độ học tập ngày càng lớn, việc thực hiện vệ sinh trong học tậpchưa tốt Các nhà nghiên cứu cũng chỉ rõ cần có sự can thiệp và phối hợp đồng bộgiữa các ngành Y tế - Giáo dục, các cấp các ngành khác có liên quan và gia đình đểhạn chế các yếu tố nguy cơ gây tật khúc xạ học đường đặc biệt là cận thị trong họcsinh phổ thông [30]
Trường Tiểu học Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội được biếtđến là trường có khối lượng học sinh đông nhất trong số các trường Tiểu học thuộcquận Hoàng Mai và cũng là một trong số trường có tỷ lệ học sinh mắc cận thị cao
Chính vì vậy, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng cận thị và một số yếu tố liên quan ở học sinh Tiểu học trường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2017” với 2 mục tiêu:
(1) Mô tả thực trạng cận thị học đường của học sinh trường Tiểu học Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội năm 2017.
(2) Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng cận thị học đường của học sinh ở địa bàn nghiên cứu
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm chung về cận thị học đường
1.1.1 Một số khái niệm chung về cận thị học đường
Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác và chiếm một vị tríđáng kể trong nhóm tật về thị giác, đặc biệt ở học sinh và người lao động trẻ
Mắt cận thị là mắt mà ảnh của một vật ở vô cực hội tụ trước võng mạc Cận thịxảy ra khi không có sự cân bằng giữa lực hội tụ của mắt và chiều dài của trục nhãncầu, tức là cận thị có thể do độ hội tụ của hệ thống thấu kính của mắt quá lớn hoặc
do trục của nhãn cầu dài hơn bình thường (trường hợp này chiếm đa số) Điều nàykhiến cho người bị cận thị chỉ có thế nhìn được những vật ở gần mà không nhìn rõnhững vật ở xa [35]
Cận thị làm giảm sức nhìn, gây cản trở, khó khăn trong việc học tập và sinhhoạt hàng ngày Các em học sinh từ 7-16 tuổi rất dễ mắc chứng cận thị, và độ cậnthị tăng nhanh do mắt phải điều tiết nhiều [20]
Bệnh cận thị đã xuất hiện từ rất lâu và cận thị học đường cũng đã có từ rấtsớm Tuy nhiên, cận thị học đường mới chỉ bắt đầu gia tăng nhanh chóng vào đầuthế kỷ XX và tăng rất nhanh vào những thập kỷ gần đây [10]
1.1.2 Phân loại cận thị
Cận thị được chia làm 2 loại:
- Cận thị học đường: là loại cận thị mắc phải trong lứa tuổi đi học, độ cận thị
≤ - 6D, là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội
tụ của mắt làm cho ảnh của vật được hội tụ ở phía trước của võng mạc, nhưng chiềudài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt chỉ tăng ít và không kèm theo nhữngtổn thương bệnh lý khác [3]
- Ở mắt cận thị học đường, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa sau khi
bị khuất triết sẽ được hội tụ ở phía trước võng mạc bất kể mắt có điều tiết haykhông [1] Trên thực tế, sự điều tiết ở mắt cận thị học đường sẽ làm cho mắt bị mờhơn Cận thị học đường thường gặp do trục trước sau nhãn cầu quá dài hoặc cácthành phần khúc xạ quá mạnh [34]
Trang 4- Cận thị bệnh lý: là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của mắtvượt quá giới hạn bình thường Có thể gặp các loại cận thị bệnh lý như: cận thị cókèm theo những thoái hoá ở đĩa thị và hắc võng mạc và cận thị bệnh lý do biến dạnggiác mạc và thể thuỷ tinh: giác mạc hình chóp, thể thuỷ tinh hình cầu trong các hộichứng bẩm sinh [34].
1.2 Tình hình bệnh cận thị học đường hiện nay
1.2.1 Tình hình bệnh cận thị học đường trên thế giới
Việc nghiên cứu vấn đề cận thị trên học sinh chỉ được bắt đầu vào khoảngnhững năm 70 của thế kỷ XIX Trước đó, cận thị được coi là một bệnh di truyền,tiến triển và ác tính nên đối với cận thị, các nhà nghiên cứu coi như một bệnh rấtkhó phòng và chữa được [14]
Ngày nay, việc nghiên cứu, điều tra về cận thị học đường được rất nhiềunước trên thế giới quan tâm Ở khu vực Đông Nam Á, Tổ chức y tế thế giới phốihợp với Trường đại học Junten Do (Nhật Bản) đã tổ chức hội nghị liên Quốc gia vềphòng chống mù loà từ ngày 6 - 10 tháng 3 năm 2000 tại Hà Nội với chủ đề chính làtật khúc xạ Tại hội nghị này, các đại biểu đã đi sâu thảo luận vấn đề cận thị họcđường và đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh thống nhất [13]
Tổ chức Y tế thế giới WHO ước tính trên thế giới hiện nay có khoảng 2,3 tỷngười bị tật khúc xạ Do thời gian ảnh hưởng rất dài (cận thị thường bắt đầu từ 7tuổi) nên nếu tính theo “số người x năm bệnh” thì cận thị học đường là gây giảm thịlực và mù lòa cao nhất trong các bệnh về mắt (cao gấp 2 lần mù lòa do đục thủytinh thể) [26]
Châu Mỹ: Morgan (2005) khám 14.075 trẻ em tuổi từ nhà trẻ đến học sinh lớp 4của 70 trường trong 5 bang phía Tây Nam nước Mỹ thấy tỷ lệ cận thị là 4,5% [49] Châu Âu:
- Ba Lan: Czepita (2008) công bố tỷ lệ cận thị chung ở học sinh là 13,9% ởthành thị và 7,5% ở nông thôn [45]
- Bắc Ai Len: Amanda N Frencb (2012) công bố tỷ lệ cận thị ở học sinh từ
12 – 13 tuổi là 46,5% [42]
Châu Á được coi là khu vực có tỷ lệ cận thị vào loại cao nhất thế giới và có
xu hướng gia tăng
Trang 5- Australi: Ip J M (2008) nghiên cứu trên 2.353 học sinh từ 11 – 15 tuổitrong 21 trường trung học ở Sydney cho thấy tỷ lệ cận thị là 11,9% [47].
- Tại Trung Quốc: Lian Hong Pi (2010) có tỷ lệ cận thị ở lứa tuổi từ 6-15 tuổi
là 37,43 [48]
- Hồng Kông: Carly Siu – Yin Lan (2012) công bố tỷ lệ cận thị ở học sinh 12tuổi là 61,5% [44]
Châu Phi: tại Ethiopia theo nghiên cứu của Assefa W (2012) nghiên cứu trên
8 trường tiểu học tại thị trấn Gondar đã công bố tỷ lệ cận thị là 9,4% [43]
Tỷ lệ cận thị ở một số nước Đông nam Á như Singapore, Đài Loan chiếm tới
80 - 90% ở tuổi 17-18 [44]
Kết quả điều tra của nhiều nhà nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới chothấy, thực trạng mắc cận thị đang gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ mắc cận thị học đườngnăm sau cao hơn năm trước rất rõ rệt
1.2.2 Tình hình bệnh cận thị học đường tại Việt Nam
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của các nhà nghiên cứu tại nhiều tỉnh,thành phố thì trong những năm gần đây tỷ lệ cận thị gia tăng rất nhanh
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 tỉ lệ bị cận thị là 17,2% và đến năm
2006 tăng lên là 38,88% [36] Theo công bố của Lê Thị Thanh Xuyên (2006) chothấy tỷ lệ cận thị học đường tại thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng gia tăngmột cách đáng báo động [36]
Một nghiên cứu của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục & Đào tạo (2007) trên 5.536học sinh tiểu học và trung học cơ sở cũng cho thấy, tỷ lệ học sinh tiểu học bị cận thị
là 5,52%, ở trung học cơ sở là 14,38% [18]
Theo điều tra tại Hà Nội (2000) của Hà Huy Tiến, tỷ lệ cận thị của học sinhnội thành Hà Nội là 31,95%, ngoại thành là 11,75% [32] Hà Nội (2009), nghiêncứu của Trịnh Thị Bích Ngọc cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 18%;trung học cơ sở là 25,5% và trung học phổ thông là 49,7% [24] Tỷ lệ hiện mắc cậnthị ở học sinh tiểu học Hà Nội năm học 2011-2012 cao hơn so với năm học 2010-
2011 (27,8% so với 21,4%) [17]
Tại Trà Vinh, kết quả của nghiên cứu: “Thực trạng vệ sinh học đường vàbệnh, tật học đường tại trường tiểu học của huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh năm
Trang 62012” của Nguyễn Văn Lơ trên 1225 học sinh đã cho thấy tỉ lệ học sinh bị cận thịhọc đường là 7,08% [20].
Tại Đà Nẵng, theo công bố năm 2013 “Nghiên cứu tình hình tật khúc xạ vàcác yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”cho thấy tỉ lệ học sinh bị cận thị học đường cấp trung học cơ sở là 39,8% [19]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cận thị học đường hiện đang là một vấn đề y
tế công cộng ở nước ta vì có số lượng người mắc rất lớn Tỷ lệ mắc cận thị học đườngcao đã ảnh hưởng rất lớn đến học tập, phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống
1.3 Một số yếu tố liên quan đến cận thị học đường
Hiện nay, theo nhiều nghiên cứu các tác giả đều thống nhất có 2 nguyên nhânphát sinh bệnh chính là di truyền và yếu tố môi trường, lối sống Yếu tố môi trường,lối sống thường gặp là khoảng cách nhìn bị thu hẹp, quá ngắn, các điều kiện vệ sinhcho hoạt động thị giác không đảm bảo (sử dụng mắt nhìn gần quá nhiều, điều kiệnchiếu sáng không đảm bảo )
1.3.1 Các yếu tố nguy cơ có tính chất gia đình, bẩm sinh và di truyền
Cận thị liên quan đến nhiều cấu trúc giải phẫu của mắt nên di truyền cũng làmột trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của cận thị Nhiều nghiên cứu đã đưa ra
tỷ lệ: nếu cả cha và mẹ đều bị cận thị thì tỷ lệ trẻ mắc phải là 33-60% Nếu cha hoặc
mẹ bị cận thị thì tỷ lệ là 23-40% Hầu hết nghiên cứu chỉ ra rằng nếu cha mẹ không
bị cận thị thì chỉ có khoảng 6-15% khả năng con sẽ bị cận thị Có hơn 24 gen có liênquan đến việc tăng nguy cơ phát triển cận thị [7]
1.3.2 Các yếu tố nguy cơ do điều kiện vệ sinh trường học và thực hiện vệ sinh
trong học tập
Các nhà Giáo dục đã tính toán rằng, trong suốt quãng thời gian ngồi học trênghế nhà trường phổ thông lien tục từ lớp 1 đến lớp, học sinh phải ngồi trên ghế nhàtrường để học tập liên tục gần 15.000 giờ, nếu như trong suốt thời gian đó các emphải ngồi học trong những phòng học không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, thực hiện vệsinh trong học tập không tốt sẽ rất dễ phát sinh các bệnh như cận thị học đường,cong vẹo cột sống [6]
Trang 7Chiếu sáng có một vị trí quan trọng trong vệ sinh học đường Chiếu sángkhông đủ sẽ ảnh hưởng xấu tới các quá trình sinh học của cơ thể Một số nghiên cứucho thấy chiếu sáng tồi có khả năng dẫn tới giảm cường độ trao đổi chất Các chứcnăng thị giác tỷ lệ thuận với cường độ chiếu sáng như: thị lực (khả năng phân biệtcác vật của mắt), thời gian nhận biết (thời gian nhỏ nhất để nhận biết vật), cảm nhậnsáng tối (khả năng phân biệt giữa các cường độ chiếu sáng khác nhau).
Từ năm 2000, Bộ Y tế đã ban hành qui định về vệ sinh trường học, trong đóyêu cầu về chiếu sáng “phải đảm bảo độ chiếu sáng đồng đều không dưới 100 lux”[5], [17] Hiện nay, quy định về chiếu sáng tại phòng học của Bộ Khoa học và Côngnghệ (Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7114-1:2008) và của Bộ Xây dựng (Quy chuẩnxây dựng Việt nam QCXDVN 05 : 2008/BXD) là ≥ 300 lux [2]
Năm 2007, dự án chiếu sáng hiệu quả trường học đã khảo sát thực trạngchiếu sáng lớp học trước khi cải tạo 405 lớp học thuộc 135 trường tiểu học trên 27tỉnh thành Kết quả cho thấy 100% các phòng học được khảo sát đều không đủ sángtheo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7114: 2005 [29]
Theo một điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại HảiPhòng, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh về quy hoạch, thiết kế, xây dựngtrường học thì có từ 1/4 đến 3/4 các cơ sở trường học không đạt yêu cầu Tỷ lệ lớpkhông đạt yêu cầu về chiếu sáng tự nhiên là 32,1% và không đạt về chiếu sáng nhântạo là 27,6% [22]
Bàn ghế và tư thế ngồi học
Nhiều nghiên cứu cho thấy kích thước bàn ghế ở trường không phù hợp vớinhân trắc học sinh góp phần tạo lên tư thế xấu, gây đau mỏi lưng và tạo nên khoảngcách nhìn quá gần gây mệt mỏi cho thị giác
Tại Hà Nội, điều tra của nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Y Hà Nội
và Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội ở một số quận, huyện của Hà Nội trong năm học
2004 - 2005 cho thấy 100% bàn ghế của học sinh không đúng kích thước, bàn ghếcao hơn tiêu chuẩn cho phép và tình trạng này đều xảy ra ở ba cấp học từ tiểu họcđến trung học phổ thông [11]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả như Hà Huy Tiến (2000) ở Hà Nội [32]
Lê Thị Song Hương (2004) ở Hải Phòng cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ giữa cậnthị học đường với việc học sinh không thực hiện đúng vệ sinh trong học tập Trong
Trang 8đó, đặc biệt liên quan chặt chẽ với học sinh có thói quen cúi đầu thấp khi học, chơiđiện tử ≥ 2giờ/ ngày, có thời gian học ≥ 9giờ ngày, có thói quen thường xuyên nằmhọc ở nhà, không chơi thể thao và lớp học có cường độ chiếu sáng < 100 lux [16].
Cường độ học tập, áp lực học tập
Trong chương trình học tập tại các trường phổ thông hiện nay, học sinh phảihọc cả 3 buổi, do đó mắt phải làm việc liên tục Thêm vào đó, thời gian biểu bố tríkhông hợp lý làm cho mắt trẻ phải làm việc bằng mắt trong tư thế nhìn gần quánhiều, thời gian hoạt động ngoài trời và nghỉ ngơi thư giãn cho mắt quá ít Nghiêncứu của Hà Huy Tiến và Nguyễn Thị Nhung tại Hà Nội (1998 - 1999) cho thấy thờigian học mỗi ngày của học sinh tiểu học là 522 phút (8,7 giờ), trung học cơ sở 636phút (10,6 giờ) và trung học phổ thông là 814 phút (13,6 giờ) [32]
Tiếp xúc nhiều với các trò chơi, giải trí
Hiện nay, thói quen giải trí bằng những trò chơi đòi hỏi mắt phải liên tục làmviệc nhìn gần như trò chơi điện tử làm mắt phải điều tiết nhiều khiến tình trạng trẻ
bị cận thị gia tăng Do hình ảnh di chuyển liên tục và các em phải ngồi gần mànhình máy tính nên độ cận thị càng tăng lên nhanh chóng Ngoài ra, nhiều loại sách
in cho trẻ em đọc như các loại truyện tranh, sách báo in chữ quá nhỏ cũng làm chomắt phải điều tiết liên tục gây tăng gánh nặng cho mắt Việc quá tải trong các hoạtđộng cần nhìn gần như học tập, làm việc, giải trí, máy tính đã góp phần làm cho tỷ
lệ cận thị trong học sinh gia tăng nhanh chóng [11], [18], [21]
Do công tác phòng chống cận thị học đường chưa tốt
Thực tế cho thấy hoạt động tuyên truyền về chăm sóc bảo vệ mắt trongtrường học chưa được quan tâm đúng mức Có tới 63,2% giáo viên được hỏi chobiết chưa hề dạy cho học sinh về nội dung này; 85,4% ý kiến giáo viên cho biếttrong trường học không hề tổ chức các hoạt động truyền thông về phòng chốngcận thị Thực tế trên đã dẫn tới tình trạng có nhiều học sinh không biết mình bịcận thị, tỷ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh là 80%, Đà Nẵng là 50%, Bắc Ninh
là hơn 80% [21]
Chất lượng hoạt động của y tế trường học chưa cao, học sinh bị mắc cận thịnhẹ chưa được phát hiện sớm để có chế độ điều trị thích hợp, chỉ đến khi học sinhnhìn quá kém thì bố mẹ và thầy cô giáo mới biết, khi đó đưa trẻ đi khám thì đã mắc
Trang 9Hiểu biết về cận thị của cha mẹ, học sinh và giáo viên cũng là vấn đề cần hếtsức lưu ý Kết quả nghiên cứu ở một số trường tiểu học Hà Nội (2003) cho thấy chỉ
có 21,2% học sinh, 25,3% cha mẹ học sinh và 33,3% giáo viên hiểu đúng về tác hạicủa cận thị [21]
Hầu như trong tất cả các trường học chưa có các phương tiện, tài liệu phục
vụ cho việc phát hiện sớm và tuyên truyền phòng chống các bệnh về mắt cho họcsinh [21] Nghiên cứu của Hoàng Văn Tiến (2006) cũng đã phân tích, một trongnhững nguyên nhân làm cho cận thị ở trẻ em ngày càng gia tăng là do chương trìnhhọc quá nặng và phải chịu sức ép về thành tích cho nên giáo viên chỉ lo hoàn thànhchương trình và kết quả học văn hóa, chưa quan tâm đến việc phòng chống cận thịcho học sinh [33] Các bậc cha mẹ thường chỉ quan tâm đến kết quả học tập củacon, ít quan tâm đến việc rèn luyện sức khỏe ở nhà và ở trường vì vậy chưa có sựphối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc phòng chống cận thị cho trẻ
Các khó khăn, tồn tại nêu trên đã dẫn đến sự gia tăng các bệnh ở lứa tuổi họcđường như cận thị, cong vẹo cột sống và đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển vềthể chất, tinh thần và đến việc học tập rèn luyện của học sinh
1.4 Một số giải pháp phòng chống cận thị học đường
Đã có nhiều nghiên cứu và sử dụng các giải pháp phòng chống cận thị họcđường trên thế giới và ở Việt Nam Trước thực trạng đáng báo động về sự gia tăngnhanh chóng của cận thị học đường, trong những năm gần đây việc nghiên cứu vàtìm ra những giải pháp hữu hiệu để phòng chống cận thị học đường đã trở thành cấpthiết và được các ngành, các cấp và toàn xã hội rất quan tâm Tuy nhiên, trong 3giai đoạn của chương trình can thiệp phòng chống cận thị học đường, ở hầu hết cácđịa phương ở nước ta mới chỉ đang tiến hành ở giai đoạn 1 Hiện nay, ngành MắtViệt Nam đang tích cực triển khai những hoạt động ở giai đoạn 2 của chương trìnhcan thiệp khúc xạ Nhiều tỉnh đã tích cực thực hiện các hoạt động phòng chống cậnthị học đường như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, NinhBình, Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Hà Tĩnh … Những hoạt động này đã nhận được
sự ủng hộ và tạo điều kiện của các Bộ, ngành và toàn xã hội [18]
Nhiều cuộc hội thảo quốc gia về chăm sóc mắt học đường và phòng chốngcận thị học đường đã được tổ chức Các cuộc hội thảo đã đưa ra nhiều khuyến cáo
và thống nhất, để góp phần nhanh chóng hạn chế sự gia tăng nhanh chóng của cận
Trang 10thị học đường hiện nay, cần sự quan tâm vào cuộc không chỉ của ngành Mắt mà rấtcần sự tham gia tích cực của các cấp, các ban, ngành có liên quan và của toàn xãhội, cần gấp rút triển khai các dự án can thiệp phòng chống cận thị học đường tạicộng đồng [4].
1.4.1 Can thiệp vào các yếu tố nguy cơ gây cận thị học đường
Chính vì việc can thiệp vào nguyên nhân gây cận thị học đường rất khó khăn
và chưa tìm được những can thiệp có hiệu quả rõ ràng nên nhiều tác giả trên thế giớinghiên cứu và tập trung can thiệp vào các yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ vớicận thị học đường
Việc can thiệp để đảm bảo các yếu tố vệ sinh trường lớp học cũng đượcnhiều nhà nghiên cứu tiến hành Trong đó, việc thực hiện đúng các tiêu chuẩn 27 vệsinh về diện tích trường, lớp, chiếu sáng lớp học, chiều cao bàn ghế phù hợp với họcsinh là việc rất quan trọng trong phòng ngừa các bệnh trường học nói chung vàcận thị học đường nói riêng
Thực hiện tốt các tiêu chuẩn vệ sinh trường lớp và các yếu tố vệ sinh tronghọc tập: việc đưa ra những tiêu chuẩn vệ sinh trong học tập và các biện pháp giúphọc sinh thực hiện đúng vệ sinh trong học tập cũng mang lại những hiệu quả tíchcực trong phòng chống cận thị học đường Khi ngồi học ở trường và ở nhà, nhiều
em có thói quen cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc, viết và thậmchí nằm học nên việc thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở
là rất cần thiết Học sinh cần thực hiện đúng tư thế ngồi học như góc cúi của đầu sovới phương thẳng đứng là 25 độ, góc giữa đầu và thân là 35 độ, góc giữa thân vàđường thẳng đứng là 10 độ, góc khuỷu tay là 90 độ, góc thân đùi là 115 độ Khi họcngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-
15 độ Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểuhọc, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông [35]
Can thiệp tránh để mắt nhìn ở khoảng cách gần kéo dài, tăng các hoạt độngnhìn xa và hoạt động ngoài trời:trong nhiều nghiên cứu, việc hạn chế để mắt làmviệc trong tư thế nhìn gần trong thời gian dài liên tục gây điều tiết quá mức cho mắt
và tăng cường các hoạt động ngoài trời như ngoại khóa, tích cực rèn luyện thể dục
Trang 111.4.2 Can thiệp điều trị bệnh cận thị học đường
- Tăng cường dinh dưỡng cho mắt: Chế độ ăn cần thay đổi đa dạng đảm bảođầy đủ chất dinh dưỡng, tăng cường các thức ăn giàu vitamin A, vitamin C như rauxanh, hoa quả có màu vàng đỏ, gan động vật, trứng… Đồng thời bổ sung nhữngthuốc và vi chất cần thiết cho mắt như vitamin A, vitamin B2, vitamin C, vitamin E,kẽm, selen, luteine và zeaxanthine …
- Nghỉ ngơi, thư giãn cho mắt: không đọc sách hoặc làm việc bằng mắt ởkhoảng cách gần liên tục quá lâu Sau khoảng 45 - 60 phút học bài, đọc sách hoặc
sử dụng máy vi tính cần cho mắt nghỉ ngơi 5 - 10 phút bằng cách nhắm mắt, xoanhẹ vùng mi mắt và nhìn ra xa với khoảng cách trên 5m
- Đeo kính: khi bị cận thị, thị lực giảm sẽ làm cho các hoạt động học tập, rènluyện và sinh hoạt của học sinh gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc đeo kính phân kỳ
là một giải pháp cực kỳ quan trọng để giúp các học sinh cận thị có được thị lực tốtđảm bảo chủ động và tự tin tham gia tốt chương trình học tập và các hoạt động kháctại nhà trường, xã hội và gia đình
- Điều trị bằng phẫu thuật: đã có rất nhiều nghiên cứu về phẫu thuật để điềutrị cận thị trên thế giới Ở Việt Nam hiện nay đã áp dụng nhiều phương pháp phẫuthuật điều trị cận thị Người bị cận thị có thể được phẫu thuật để khỏi mang kính,tuy nhiên phẫu thuật chỉ được thực hiện cho những người từ 18 tuổi trở lên
1.4.3 Truyền thông, giáo dục sức khỏe học đường
Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe học đường có vai trò rất quan trọngtrong phòng chống cận thị học đường Việc áp dụng truyền thông giáo dục sức khỏehọc đường đến nhiều đối tượng đã bước đầu đem lại hiệu quả trong phòng chốngcận thị học đường
Tại nước ta, mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe học đường tập trungvào một số nội dung chủ yếu sau: Tuyên truyền giáo dục sức khỏe về các bệnhthường gặp tại trường học của học sinh, cung cấp kiến thức phòng chống cận thịhọc đường Phân tích thực trạng vệ sinh trường học và kiến nghị lãnh đạo các cấp
có thẩm quyền thực hiện đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh học đường đã quy định.Vận động phụ huynh tích cực quan tâm chăm sóc sức khoẻ học sinh Nghiên cứu và
đề xuất cụ thể các tiêu chuẩn mua sắm, sửa chữa bàn ghế; bố trí ánh sáng, bảng Tìm hiểu, phân tích các yếu tố nguy cơ và đưa ra những biện pháp can thiệp phòngchống cận thị học đường [11],[ 38]
Trang 13CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh tiểu học từ khối 2 đến khối 5 của trường Tiểu học Định Công, quậnHoàng Mai, Thành phố Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính một tỉ lệ trong quần thể
n = Z2 (1-α/2)α/2)
p(1-α/2)p)
d2n: là cỡ mẫu cần điều tra
p: là tỷ lệ đối tượng mắc cận thị học đường là 22,2% (theo ngiên cứu của ChuVăn Thăng cùng các cộng sự về thực trạng cận thị học đường ở học sinh thành phố
Đà Lạt và huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng năm 2012-2013) [28]
Trang 14+ Điều chỉnh và hoàn thiện bộ công cụ: chỉnh sửa, bổ sung nội dung và hoàn thiện.
- Quy trình thu thập thông tin
+ Giới thiệu, giải thích cho đối tượng nghiên cứu về nội dung nghiên cứu.+ Thu thập đầy đủ thông tin nghiên cứu dựa theo phiếu phỏng vấn được thiết
kế sẵn
+ Kiểm tra đầy đủ thông tin được thu thập trước khi chào hỏi và cảm ơn đốitượng nghiên cứu
Trang 15Bảng 2.1 Biến số, chỉ số nghiên cứu
Công cụ
Tỷ lệ % đối tượng mắc cận thị theo giới, khối
<6 tuổi và ≥6 tuổiMức độ cận thị Tỷ lệ % mức độ cận
thị mắt trái, mắt phảiTình trạng cận thị
thành viên tronggia đình
Tỷ lệ % đối tượng có thành viên trong gia đình bị cận
Yếu tố vệ sinh trường học, học tập:
Mối liên quan giữa tình trạng chiếu sáng (đủ sáng/ thiếu sáng);kích thước bàn ghế (thấp/ cao/ phù hợp); tư thế ngồi học (đúng
tư thế/ sai tư thế); biểu hiện sau khi học (mờ mắt/ mỏi mắt/ mỏivai/ bình thường) và việc thầy cô giáo nhắc nhở với cận thị họcđường
Yếu tố học tập tại nhà:
Mối liên quan giữa tình trạng góc học tập riêng (có/ không cógóc học riêng); nguồn chiếu sáng để học tại nhà; tình trạng bànghế học tập tại nhà; cường độ tự học tại nhà và việc bố mẹ nhắcnhở với cận thị học đường
Trang 16Công cụ
- Mối liên quan giữa hoạt động cần nhìn xa với cận thị họcđường ( tần suất và thời gian hoạt động thể lực, giải trí ngoàitrời)
Yếu tố liên quan hiểu biết, thực hành:
- Mối liên quan giữa kiến thức của ĐTNC với cận thị học đường(sự hiểu biết về biểu hiện, nguyên nhân, tác hại và cách phòng chống cận thị)
- Mối liên quan giữa thực hành của ĐTNC với cận thị học đường ( có ý thức báo bố mẹ khi thấy mờ mắt, khám mắt định
kỳ, bổ sug dưỡng chất cho mắt)
Trang 171 Sai số nhớ lại khi trả lời câu hỏi Chỉ hỏi thông tin trong vòng 6 tháng trở
lại
2
Sai số kỹ thuật trong cách đặt câu
hỏi và phỏng vấn của người thu
thập số liệu
Thống nhất về cách hỏi giữa nhữngngười thu thập số liệu để có được kết quảđồng đều, chính xác nhất
3 Sai số trong phân tích, nhập số
liệu Tạo bản check, kiểm tra lại sau khi nhập
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được
Nhập liệu: xây dựng bộ nhập liệu và nhập toàn bộ số liệu thu thập đượcbằng phần mềm epi data 3.1
Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằngcách xem xét lại toàn bộ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu
Phân tích số liệu: Các số liệu sau khi thu thập, được tổng hợp và phân tíchbằng phần mềm StataSE 12
Các thuật toán thống kê Y học được sử dụng:
+ Mô tả:
Biến định lượng: Trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị min-max
Biến định tính: Tần suất và tỷ lệ %
+ Kiểm định và so sánh:
Kiểm định với biến định tính: Test 2 được sử dụng để so sánh tỷ lệ %, các
so sánh có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (Sử dụng test khi bình phương có hiệuchỉnh khi các giá trị mong đợi đều lớn hơn 5)
+ Các yếu tố liên quan được đánh giá thông qua sử dụng phân tích hồi quylogistic đơn biến và tính tỷ suất chênh OR với khoảng tin cậy 95% (95% CI) Mức ýnghĩa thống kê p < 0,05 được sử dụng để đánh giá mối liên quan có ý nghĩa trongthống kê phân tích
- Số liệu được trình bày bằng bảng và biểu đồ minh họa
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Các đối tượng tham gia vào nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mụcđích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
Trang 18- Bộ câu hỏi không bao gồm các câu hỏi mang tính riêng tư, các vấn đề nhạycảm nên không ảnh hưởng gì đến tâm lý hay sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu.
- Các số liệu này chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu nhằm góp phầnbảo vệ, nâng cao sức khỏe cộng đồng, không sử dụng cho các mục đích khác
- Nghiên cứu thực hiện thông qua Bộ môn Y tế công cộng trường Đại họcThăng Long và sự cho phép của trường Tiểu học Định Công
- Bảo mật thông tin cá nhân cho đối tượng nghiên cứu
2.8 Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu mô tả cắt ngang, đó là tất
cả các yếu tố nghiên cứu đều được xác định cùng tại một thời điểm, khó xác địnhchính xác yếu tố căn nguyên
- Thông tin thu thập dựa trên phiếu điều tra do vậy phụ thuộc vào nhiều yếu tố cánhân người trả lời nên có thể có sai số
Trang 19CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N=265)
Tỷ lệ đối tượng nam nữ gần như tương đương nhau (49,8% và 50,2%)
Tỷ lệ đối tượng hầu như giảm theo cấp học, cao nhất ở đối tượng khối 2(30,2%); thấp nhất ở khối 5 (17,7%)
3.1 Thực trạng mắc cận thị của đối tượng nghiên cứu
26.80%
73.20%
Có Không
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 20ỷ lệ (%)
S ố lượng (n)
T
ỷ lệ (%)
S ố lượng (n )
T
ỷ lệ (%)
3
16,3
67
83,8
80
30,2
0,043
0
30,3
46
69,7
66
24,9
6
36,1
46
63,9
72
27,2
2
25,5
35
74,5
47
17,7
T
ổng
7 1
2 6,8
1 94
7 3,2
2 65
1 00
*: Test khi bình phương Nhận xét: Tỷ lệ mắc cận thị cao nhất ở đối tượng học sinh khối 4 (36,1%),
thấp nhất ở khối 2 (16,3%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 3.4 Tuổi chuẩn đoán mắc cận thị (n=71) Chẩn đoán Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Trang 21Mắt phải Mắt trái 0
Trang 223.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng cận thị
3.2.1 Các yếu tố tại trường học ảnh hưởng đến cận thị
Bảng 3.6 Một số yếu tố tại trường học (N=265)
- Đối với tình trạng chiếu sáng trong lớp học: vẫn còn 16,6% đối tượng thấy
hơi thiếu ánh sáng/tối
- Tình trạng bị chói mắt khi nhìn lên bảng: 30,6% đối tượng thỉnh
thoảng/thường xuyên bị mắc phải tình trạng này
- 4,5% đối tượng đánh giá tình trạng bàn ghế chưa phù hợp với chiều cao của cơ
thể
- 22,3% đối tượng ngồi sai tư thế, 11,7% đối tượng cảm thấy mỏi mắt/ mờ
mắt sau khi học xong
- 21,5% đối tượng không được thầy cô giáo nhắc nhở về việc ngồi đúng tư
thế; 36,6% đối tượng không được thầy cô giáo nhắc nhở về thực trạng cận thị họcđường
Trang 23Bảng 3.7 Mối liên quan giữa các yếu tố tại trường học và tình trạng cận thị
(N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
(n=81)
1
Hiếm khi(n=25)
(0,6-3,68) 0,38Không bao giờ
1
Phù hợp(n=253)
1
0,02
Ngồi thẳng lưngkhông cúi sát(khoảng cách từmắt đến sách 25-30cm) (n=206)
48 23,3 158 76,7
0,48 (0,26-0,88)
(n=31)
(0,64-3,78) 0,33Bình thường
(n=171)
(0,32-1,17) 0,14Thầy cô
nhắc nhở về
việc ngồi
học đúng tư
Có(n=208)
56 26,9 152 73,1
Không(n=57)
(0,5-1,89)
Trang 24Đặc điểm
Có cận (n=71)
1
0,57Không
(n=97)
24 24,7 73 75,3
0,85(0,48-1,5)
Nhận xét:
Nguy cơ mắc cận thị ở đối tượng thấy tình trạng chiếu sáng tại lớp học làthiếu sáng/ tối bằng 2,47 lần (95%CI: 1,26-4,84) so với đối tượng cảm thấy tình trạngchiếu sáng là phù hợp, mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Nguy cơ mắc cận thị ở đối tượng không bao giờ có hiện tượng chói mắt khinhìn lên bảng chỉ bằng 0,25 lần (95%CI: 0,13-0,46) so với đối tượng thường xuyên/thỉnh thoảng cảm thấy bị chói mắt khi nhìn lên bảng, mối liên quan có ý nghĩa thống
kê với p<0,05
Nguy cơ mắc cận thị ở đối tượng ngồi đúng tư thế chỉ bằng 0,48 lần(95%CI: 0,26-0,88) so với đối tượng ngồi sai tư thế, mối liên quan có ý nghĩathống kê với p<0,05
Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị và tình trạng bàn ghếngồi học tại lớp; các biểu hiện sau khi học; thầy cô nhắc nhở về việc ngồi đúng tư thế
Trang 25 Có 5,3% đối tượng không có góc học tập riêng tại nhà
15,1% đối tượng sử dụng đèn trần; 84,9% sử dụng đèn bàn tại nơi học tập cá nhân
Đa số đối tượng sử dụng bàn ghế rời khi học tập tại nhà (73,6%)
21,5 đối tượng không được bố mẹ nhắc nhở về việc ngồi đúng tư thế; 29,4%đối tượng không được bố mẹ nhắc nhở về tình trạng cận thị học đường
Thời gian trung bình tự học/ngày tại nhà là 1,6 ± 0,5 giờ/ngày Tỷ lệ đốitượng dành ≥2 giờ để tự học ở nhà cao hơn với 54,7%
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa các yếu tố học tại nhà và tình trạng cận thị (N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
Trang 26Đặc điểm
Có cận (n=71)
Không cận (n=194) (95%CI) OR p
1Bàn ghế liền
(n=40)
(0,21-1,23) 0,13Bàn ghế tự
đóng (n=30)
0,74(0,3-1,81) 0,5Thời gian
0,76(0,38-1,52)
(0,22-0,87) Nhận xét:
- Nguy cơ mắc cận thị ở đối tượng không được bố mẹ nhắc nhở về tình trạngcận thị chỉ bằng 0,44 lần (95%CI: 0,22-0,87) so với đối tượng được nhắc nhở, mối liênquan có ý nghĩa thống kê với p<0,05
- Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị và tình trạng có góchọc tập riêng; nguồn chiếu sáng được sử dụng; loại bàn ghế phục vụ cho việc học;thời gian trung bình tự học/ngày; được bố mẹ nhắc nhở về việc ngồi đúng tư thế.p>0,05
3.2.3 Các yếu tố học thêm ảnh hưởng đến cận thị
>2 giờ - 3 giờ 27 17,6
Trang 27(2 – 6h)
Nhận xét:
_ Có 57,7% đối tượng học thêm bên ngoài.
_ Thời gian trung bình học thêm/tuần là 3,4 ± 1,1giờ/tuần; phần lớn đối tượng
có thời gian học thêm >3 giờ/tuần với 52,3%
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tình trạng học thêm và tình trạng cận thị (N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
Không cận (n=194) (95%CI) OR p
>3 giờ
0,85(0,39-1,84) 0,68
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị với tình trạng
đi học thêm và thời gian trung bình học thêm/tuần
3.2.4 Các yếu tố sử dụng mắt cho các hoạt động nhìn gần (xem tivi, đọc sách truyện,
sử dụng máy tính/ điện thoại, chơi điện tử)
Bảng 3.12 Tần suất, thời gian xem tivi của ĐTNC (N=265)
Trang 28- Thời gian xem Tivi/ngày 1,3 ± 0,5 giờ/ngày; phần lớn đối tượng có thời gian
xem Tivi 1 giờ/ngày với 68,4%
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng xem Tivi và tình trạng cận thị (N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
26 27,7 68 72,3
1Thỉnh thoảng
(n=112)
(0,44-1,55) 0,56Hiếm khi
(n=44)
(0,38-1,98) 0,74Không
(n=15)
(0,75-6,95) 0,14Thời gian xem
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị với tần suất và
thời gian xem Tivi (giờ/ngày)
Bảng 3.14 Tình trạng đọc sách/ báo/ truyện của ĐTNC (N=265)
Trang 29khi đọc
23,8 ± 7cm
Nhận xét:
- Có 34,7% đối tượng đọc sách/ báo/ truyện ở mức độ thường xuyên.
- Đa số các đối tượng hay đọc trong tư thế ngồi (73,9%).
- Thời gian đọc sách, truyện trung bình là 1,2 ± 0,4 giờ/ngày ; phần lớn đối
tượng có thời gian đọc sách/ báo/ truyện mỗi ngày 1 giờ với 71,1%
- Khoảng cách trung bình từ mắt đến sách 23,8±7cm; đa số các đối tượng đọc
sách với khoảng cách đến mắt ≥25 cm (58,5%)
Trang 30Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tình trạng đọc sách/ báo/ truyện và tình trạng cận thị
(N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
1Thỉnh thoảng
(n=124)
(0,69-2,35) 0,43Hiếm khi (n=37) 8 21,6 29 78,4 0,83
(0,33-2,06) 0,69Không
46 24,6 141 75,4
1Nằm
(n=59)
(0,64-2,39) 0,52Khác (Lúc ngồi
54 27,7 141 72,3
1
≥2 giờ (n=58)
(0,42-1,64) 0,6Khoảng cách trung
bình từ mắt đến
sách khi đọc
<25cm (n=107)
29 27,1 78 72,9
1
0,94
≥25cm (n=146)
- Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị với tần suất đọc, thời gian trung bình đọc mỗi ngày và khoảng cách từ mắt đến sách khi đọc
Bảng 3.16 Tình trạng sử dụng máy tính/ điện thoại của ĐTNC (N=265)
Trang 31Mỏi mắt, mờmắt
- Có 12,8% đối tượng cảm thấy mờ mắt sau khi sử dụng mấy tính/ điện thoại.
- 15,7% đối tượng còn sử dụng máy tính/điện thoại sau 22 giờ
Trang 32Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tình trạng sử dụng máy tính/ điện thoại và tình
trạng cận thị (N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
12 27,9 31 72,1
1Thỉnh thoảng
(n=121)
(0,37-1,79) 0,6Hiếm khi (n=78) 23 29,5 55 70,5 1,08
(0,47-2,47) 0,85Không bao giờ
(n=23)
(0,37-3,43) 0,83Thời gian TB 1
ngày sử dụng
máy tính/điện
thoại
1 giờ (n=206)
48 23,3 158 76,7
1
0,01
≥2 giờ (n=26)
37 20,6 143 79,4
1Nhức đầu, mỏi
vai, gáy (n=31)
(0,94-4,83) 0,07Mỏi mắt, mờ
Nhận xét:
- Nguy cơ mắc cận thị ở đối tượng có thời gian trung bình một ngày sử dụngmáy tính/ điện thoại ≥2 giờ cao gấp 2,63 lần (95%CI: 1,27 – 5,48) so với những đốitượng có thời gian trung bình sử dụng máy tính/ điện thoại 1 giờ/ ngày, mối liên quan
có ý nghĩa thống kê với p<0,05
- Nguy cơ mắc cận thị học đường ở đối tượng có biểu hiện mỏi mắt, mờ mắt saukhi sử dụng máy tính/ điện thoại cao gấp 4,12 lần (95%CI: 1,87 – 9,1) so với nhữngđối tượng cảm thấy vẫn bình thường sau khi sử dụng máy tính/ điện thoại
- Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị với tần suất sử dụngmáy tính/ điện thoại và tình trạng sử dụng máy tính/ điện thoại sau 22 giờ.p>0,05
Bảng 3.18 Tình trạng chơi game của các ĐTNC (N=265)
Trang 34Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tình trạng chơi game và tình trạng cận thị (N=265)
Đặc điểm
Có cận (n=71)
(n=135)
(0,4-1,47) 0,42Thường xuyên
22 29,3 53 70,7
1
Điện thoại/ máytính bảng(n=145)
39 26,9 106 73,1
0,89(0,48-1,64)
Nhận xét: Chưa tìm thấy mối liên quan giữa nguy cơ mắc cận thị với tần suất
chơi game, phương tiện chơi game và thời gian trung bình chơi game/ ngày
3.2.5 Các yếu tố sử dụng mắt cho các hoạt động nhìn xa (hoạt động thể lực, giải trí
ngoài trời)
Bảng 3.20 Tình trạng hoạt động thể lực, giải trí ngoài trời của các ĐTNC
Trang 35- Có 32,8% đối tượng thường xuyên tập thể thao, giải trí ngoài trời.
- Thời gian thể thao, giải trí ngoài trời trung bình/ ngày là 21,9±16,2 phút, phần
lớn các đối tượng thường dành 15-30 phút là 55,9%