1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch Mai năm 2012 - 2016

86 117 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Y tế đã xâydựng kế hoạch và sử dụng nguồn kinh phí này cho việc đào tạo về chuyênmôn và quản lý hành chính Nhà nước và thành lập ban quản lý công tácĐTLT [6].Bộ Y tế cũng đã đánh giá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Quốc Anh

2 GS.TS Phạm Duy Tường

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cám ơn: Ban Giám hiệu,phòng Đào tạo sau đại học, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộngTrường Đại học Y Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quátrình học tập và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc bệnh viện Bạch Mai, Ban Giámđốc và các anh, chị, các bạn đồng nghiệp tại Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạotuyến đã tạo mọi điều kiện để tôi yên tâm học tập

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin cám ơn PGS.TS Nguyễn QuốcAnh và GS.TS Phạm Duy Tường, những người thầy đã hết lòng quan tâm,thông cảm và tận tình dạy bảo tôi về kiến thức chuyên môn cũng như trực tiếphướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đãcho tôi những ý kiến quý báu để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin gửi lời cám ơn tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên,giúp đỡ và ủng hộ tôi để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập cũngnhư quá trình hoàn thành luận văn của mình

Với những tình cảm đặc biệt nhất của mình, tôi xin dành tặng toàn thể giađình đã luôn động viên, ủng hộ và hết lòng vì tôi trong cuộc sống cũng nhưtrong học tập

Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm 2017

Người thực hiện

Bùi Ngọc Khanh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.Các kết quả, số liệu trong Luận văn là trung thực và chưa được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm 2017

Người thực hiện

Bùi Ngọc Khanh

Trang 5

ĐTLT : Đào tạo liên tục

CACMS : Ủy ban công nhận của trường Y tế Canada

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đào tạo liên tục 3

1.1.1 Quan niệm về đào tạo liên tục 3

1.1.2 Các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc quy đổi 3

1.1.3 Thời gian đào tạo liên tục 4

1.1.4 Tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục 4

1.1.5 Hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế 5

1.2.Vai trò của đào tạo liên tục 5

1.3 Đào tạo trong bệnh viện 8

1.3.1 Các loại hình đào tạo trong bệnh viện 8

1.3.2 Các văn bản hiện hành liên quan đến đào tạo trong bệnh viện 8

1.4 Xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục 9

1.5 Quản lý chương trình và tài liệu đào tạo liên tục 10

1.5.1 Chương trình đào tạo liên tục 10

1.5.2 Tài liệu đào tạo liên tục 12

1.6 Quản lý giảng viên trong đào tạo liên tục cán bộ y tế 12

1.6.1 Giảng viên 12

1.6.2 Đào tạo giảng viên 13

1.6.3 Nhiệm vụ của giảng viên 13

1.6.4 Quá trình quản lý giảng viên 13

1.7 Đánh giá chất lượng đào tạo 14

1.7.1 Khái niệm 14

1.7.2 Đánh giá chất lượng đào tạo 17

1.8 Hoạt động đào tạo liên tục tại bênh viện Bạch Mai 22

1.8.1 Bệnh viện Bạch Mai và nhiệm vụ đào tạo liên tục 22

1.8.2 Quản lý đào tạo tại bệnh viện Bạch Mai 24

1.9 Tình hình đào tạo liên tục 27

1.9.1 Trên thế giới 27

Trang 7

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36

2.2 Đối tượng nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 37

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 37

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu 37

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 39

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 39

2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin 39

2.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 39

2.7 Các sai số và cách khắc phục 40

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 40

Chương 3 42

KẾT QUẢ 42

3.1 Mô tả thực trạng đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch mai 42

giai đoạn 2012 – 2016 42

3.2 Kết quả đào tạo liên tục và một số yếu tố liên quan 52

52 Nhận xét: 57

Chương 4 59

BÀN LUẬN 59

4.1 Mô tả thực trạng đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch Mai giai đoạn năm 2012 - 2016 59

4.2 Kết quả đào tạo liên tục tại bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố liên quan giai đoạn năm 2012-2016 63

KẾT LUẬN 66

KIẾN NGHỊ 68

Trang 8

viện Bạch Mai cũng như các cơ sở đào tạo khác 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Lĩnh vực đào tạo chính tại bệnh viện Bạch Mai 24

Bảng 2.1 Mộ số biến số nghiên cứu 37

Bảng 3.1 Phân bố học viên theo giới tính và nhóm tuổi 42

Bảng 3.2 Lĩnh vực công tác chuyên môn của học viên 43

Bảng 3.3 Lý do học viên tham dự khoá đào tạo tại bệnh viện Bạch Mai 43 Bảng 3.4 Thực trạng đào tạo y khoa liên tục của học viên 44

Bảng 3.5 Phân bố học viên đã được đào tạo liên tục theo số năm công tác 44

Bảng 3.6 Những khó khăn của học viên trong công tác hàng ngày 44

Bảng 3.7 Thời gian tổ chức các lớp đào tạo y khoa liên tục 45

mà học viên mong muốn 45

Bảng 3.8 Địa điểm tổ chức các lớp đào tạo liên tục mà học viên mong muốn 46

Bảng 3.9 Phân bố giảng viên theo giới tính và nhóm tuổi 46

Bảng 3.10 Độ tuổi trung bình của giảng viên theo giới tính 47

Bảng 3.11 Lĩnh vực công tác chuyên môn của giảng viên 47

Bảng 3.12 Các phương pháp giảng dạy mà giảng viên thường áp dụng.49 Bảng 3.13 Mức độ tuân thủ theo các quy định hướng dẫn xây dựng chương trình ĐTLT tại thông tư 22/2013/TT-BYT của Bộ Y tế 50

Bảng 3.14 Phương pháp lượng giá học tập mà giảng viên thường áp dụng 51

Trang 9

Bảng 3.16 Học viên nhận định mức độ áp dụng được những kiến thức/kỹ năng sau học 53 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nhóm tuổi học viên và kết quả đánh giá về

7 nội dung thuộc hoạt động đào tạo liên tục 56 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa trình độ học viên và kết quả đánh giá về.57

7 nội dung thuộc hoạt động đào tạo liên tục 57

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của giảng viên 47 Biểu đồ 3.2 Xếp loại học tập cuối khoá của học viên 52 Biểu đồ 3.3 Đánh giá của học viên về toàn bộ hoạt động đào tạo liên tục 54 Biểu đồ 3.4 Đánh giá của học viên về 07 nội dung thuộc hoạt động đào tạo liên tục 54

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào tạo liên tục (ĐTLT) trong ngành y tế là một hình thức bảo đảm duytrì, cập nhật trình độ, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên y tế trong các

cơ sở y tế đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế, bảo đảm chất lượng dịch vụ y

tế Vai trò của đào tạo liên tục trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệthống chăm sóc y tế ngày càng trở nên quan trọng

Trong thời gian vừa qua Chính phủ đã ban hành một số văn bản quyphạm pháp luật quan trọng để đẩy mạnh công tác ĐTLT trong lĩnh vực y tế đólà: Nhằm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triển nguồnnhân lực y tế cho tuyến cơ sở, Bộ Y tế ban hành văn bản số 1915/BYT-K2ĐTngày 8/4/2013 hướng dẫn các cơ sở đào tạo nhân lực y tế triển khai thực hiệnThông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 của Bộ giáo dục và đàotạo quy định liên thông trình độ cao đẳng, đại học

Đặc biệt, ngày 9/8/2013, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số BYT, Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, thay cho Thông tư số07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008

22/2013/TT-Ngày 8/4/2014 Bộ Y tế đã ký Quyết định về việc ban hành Chiến lượcđào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đếnnăm 2030

Ngày 18/4/2014 Bộ Y tế đã ban hành công văn số 2034/BYT-K2ĐT vềviệc tăng cường chất lượng công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế

Hiện nay trên cả nước có nhiều cơ sở ĐTLT cho cán bộ y tế như tạitrong các trường đại học, tại các bệnh viện, tại các sở y tế và các đơn vị y tếkhác Trong đó Bệnh viện Bạch Mai không chỉ là nơi khám chữa bệnh đầungành của cả nước mà còn là một trong những cơ sở đào tạo y khoa tin cậy vàchất lượng

Trang 11

Theo báo cáo tổng kết chung từ năm 2000 - 2013, bệnh viện Bạch Mai

đã tổ chức thành công 1.903 khóa ĐTLT cho 79.757 lượt cán bộ y tế về hơn

40 lĩnh vực chuyên môn tại 28 tỉnh/thành phía Bắc và một số tỉnh/thành miềnTrung và miền Nam Tháng 02/2012, bệnh viện Bạch Mai chính thức được Bộ

Y tế cấp mã chứng nhận ĐTLT là B24 Như vậy, công tác ĐTLT của bệnhviện Bạch Mai là nhiệm vụ lớn, có mức độ ảnh hưởng rộng

Cho đến nay, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu tổng thể về thực trạngĐTLT cho các nhân viên y tế cũng như những yếu tố liên quan đến hoạt độngĐTLT của các cơ sở đào tạo nói chung và bệnh viện Bạch mai nói riêng

Vì những lý do trên và để góp phần nâng cao chất lượng ĐTLT trong hệ

thống y tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch Mai năm 2012 - 2016” với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch Mai từ năm 2012 - 2016.

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả đào tạo y khoa liên tục của bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn trên.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Đào tạo liên tục

1.1.1 Quan niệm về đào tạo liên tục

Hiện nay, Bộ y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày09/08/2013 của Bộ trưởng Bộ y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối

với cán bộ y tế, trong đó nêu rõ: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn

hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độthuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụchỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên mônnghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dụcquốc dân

1.1.2 Các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc quy đổi

- Tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên mônnghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trựctuyến (E-learning) được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận: thời giantham gia đào tạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo

- Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vựcchuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chươngtrình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm: thời gian tham gia đào tạo được tính chongười chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm

- Thực hiện nghiên cứu khoa học; hướng dẫn luận án, luận văn; viết bàibáo khoa học đã được công bố theo qui định: được tính tối đa 12 tiết học chongười hướng dẫn luận án, chủ trì/thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ; 8tiết học cho hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở (tính tạithời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt)

Trang 13

- Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính tối đa không quá 8 tiết đốivới 1 tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuất bản);cán bộ y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạyliên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế.

- Hình thức đào tạo liên tục qui định tại Khoản 1 Điều này phải cóchương trình và tài liệu đào tạo được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt.Các bác sĩ tìm thấy hoạt động đào tạo liên tục bằng nhiều cách khácnhau: bài giảng, hội thảo, các lớp học, cuộc họp, video, internet Các bác sĩcũng có thể tham gia đào tạo liên tục dựa trên đọc tạp chí khoa học (nhưJAMA) hoặc sách

1.1.3 Thời gian đào tạo liên tục

- Cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghềkhám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiếthọc trong 2 năm liên tiếp

- Cán bộ y tế không thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều này cónghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp,trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học

- Cán bộ y tế tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau đượccộng dồn để tính thời gian đào tạo liên tục

1.1.4 Tiêu chuẩn về đảm bảo chất lượng đào tạo y khoa liên tục

Nâng cao sức khỏe cho mọi người là mục tiêu cơ bản của giáo dục y học.Năm 1998, Liên đoàn giáo dục y học thế giới (WFME) với sự phối hợp củaWHO đã khởi xướng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học

Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập:

- Giáo dục y học cơ bản

- Giáo dục y học sau đại học

- Đào tạo liên tục/phát triển nghề nghiệp liên tục

Tiêu chuẩn quốc tế về đào tạo liên tục (CME/CPD) gồm 9 tiêu chuẩn với

36 tiêu chí:

Trang 14

Tiêu chuẩn 1 Nhiệm vụ và kết quả đầu ra, có 4 tiêu chí

Tiêu chuẩn 2 Các phương pháp học tập, có 6 tiêu chí

Tiêu chuẩn 3 Lập kế hoạch và dẫn chứng bằng tư liệu, có 2 tiêu chí

Tiêu chuẩn 4 Cá nhân người bác sĩ, có 4 tiêu chí

Tiêu chuẩn 5 Những người cung cấp CME/CPD, có 4 tiêu chí

Tiêu chuẩn 6 Ngữ cảnh học tập và nguồn lực, có 7 tiêu chí

Tiêu chuẩn 7 Đánh giá các phương pháp và năng lực, có 4 tiêu chí

Tiêu chuẩn 8 Tổ chức, có 4 tiêu chí

Tiêu chuẩn 9 Đổi mới liên tục, có 1 tiêu chí

1.1.5 Hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế

Sơ đồ hệ thống tổ chức cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế

1.2.Vai trò của đào tạo liên tục

SỞ Y TẾ (MÃ C)

Y TẾ CÁC BỘ, NGÀNH

TT kiểm nghiệm Dược phẩm

Chi cục Dân số và KHHGĐ tỉnh

Đơn vị Y

tế khác, …

Trang 15

Để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người cán bộ y tếphải được cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức

lý thuyết và tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiêncứu và quản lý Công tác ĐTLT nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệthống chăm sóc y tế ngày càng trở nên quan trọng, người thầy thuốc cần phảihọc tập suốt đời Vì vậy từ năm 1984, Liên đoàn giáo dục y học thế giới đãtriển khai rộng rãi chương trình hợp tác quốc tế nhằm thay đổi nhận thức vềgiáo dục y học Các mốc quan trọng của quá trình này bao gồm tuyên ngônEdinburgh năm 1988, nghị quyết của Đại hội đồng y học thế giới năm 1989,các khuyến nghị của Hội nghị thượng đỉnh về giáo dục y học thế giới năm

1993 và nghị quyết của Đại hội đồng y học thế giới năm 1995 với chủ đề:

“Thay đổi nhận thức về giáo dục y học và thực hành y học vì sức khỏe mọingười”

Năm 1998 trong tuyên ngôn Edinburgh về thay đổi hệ thống giáo dục yhọc có nhấn mạnh về công tác ĐTLT cán bộ y tế Năm 1993, Hội nghị thượngđỉnh giáo dục y học đưa ra khuyến nghị về ĐTLT và học tập suốt đời cho cán

bộ y tế Trên cơ sở khuyến cáo của tuyên ngôn Edinburgh, các nước trên thếgiới đã đẩy mạnh các hoạt động nhằm thay đổi giáo dục y học nói chung vàĐTLT nói riêng [6]

Theo Ronald M Cervero và Julie K Gaines (2014), từ những năm 1960các chuyên gia y tế đã có những tiến hành thử nghiệm với một mô hình dựatrên thực tế của ĐTLT Những thập niên tiếp theo đã cho thấy sự mở rộng hơn

và đầu tư công phu hơn của mô hình ĐTLT và dẫn tới hàng trăm nghiên cứunhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa ĐTLT và hiệu năng bác sĩ cũng như sức khỏebệnh nhân Từ năm 1977 đến năm 2002 đã có 31 đánh giá có hệ thống về cácnghiên cứu của cá nhân về các thiết kế có hiệu quả của ĐTLT Song song vớicác nghiên cứu này, phong trào cải cách đào tạo liên tục có tăng nhanh hơn.Các nghiên cứu từ 2003 đến nay đều có kết luận tương tự như các nghiên cứu

Trang 16

trước đó: ĐTLT có tác động tích cực về hoạt động của bác sĩ và kết quả sứckhỏe của bệnh nhân Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: ĐTLT dẫn đến cảithiện hiệu quả làm việc của bác sĩ và kết quả sức khỏe bệnh nhân nếu nótương tác nhiều hơn, sử dụng nhiều phương pháp hơn, tập trung vào kết quả

mà các bác sĩ xem là quan trọng [7]

ĐTLT, phát triển chuyên môn liên tục hay học tập suốt đời có cùng ýnghĩa tham chiếu đến một quá trình giáo dục và đào tạo, là hoạt động thiếtyếu chính cho một tổ chức để đi đến thành công Có nhiều lý do tồn tại để chỉ

ra nhu cầu học tập suốt đời trong thế kỷ 21 như: sự tăng cường tiếp cận thôngtin, công nghệ thay đổi nhanh chóng, nâng cao tương tác toàn cầu, các yêucầu về mặt kỹ năng [8]

Thực tế tại Việt Nam, từ những năm 1960, Bộ Y tế đã quan tâm mở cáclớp học ngắn hạn về chuyên môn và quản lý tại Trường bổ túc cán bộ y tếtrung ương (nay là trường Đại học y tế công cộng) Các lớp bổ túc ngắn hạnđược tiến hành song song với đào tạo mới cán bộ y tế nhưng với số lượng rấthạn chế Từ cuối năm 1989, Dự án TSSA-03/SIDA (Training System SupportArea) do Bộ Y tế quản lý dưới sự hỗ trợ của Thụy Điển, công tác đào tạo lại

và ĐTLT đã được đề cập và hình thành có hệ thống được triển khai toàn quốc.Dưới sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và tài chính của Dự án TSSA-03/SIDA, tháng8/1990, Bộ Y tế có công văn số 3674/K2ĐT gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh vềchủ trương tăng cường công tác đào tạo lại và bổ túc cán bộ cho toàn ngànhnhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế Nhiệm vụ của công tác đàotạo ngành y tế bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại

Song song với các hoạt động từ các dự án viện trợ quốc tế, Bộ Y tế chủđộng xây dựng kế hoạch đào tạo và phân bổ kinh phí cho các đơn vị trựcthuộc để triển khai công tác này Theo thống kê của Vụ Khoa học và Đào tạo -

Bộ Y tế (nay là Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo), từ năm 1991 đến năm

2003, Vụ đã tổ chức được 198 lớp đào tạo lại cho gần 6000 học viên là cán bộ

Trang 17

y tế bằng nguồn ngân sách nhà nước Từ năm 1994, Nhà nước đã đưa côngtác đào tạo lại cán bộ công chức thành trọng tâm công tác của ngành và chínhthức đưa vào kế hoạch đào tạo của các Bộ Ngành, địa phương Bộ Y tế đã xâydựng kế hoạch và sử dụng nguồn kinh phí này cho việc đào tạo về chuyênmôn và quản lý hành chính Nhà nước và thành lập ban quản lý công tácĐTLT [6].

Bộ Y tế cũng đã đánh giá cao vai trò của đào tạo liên tục trong pháttriển nhân lực y tế bằng những kế hoạch dài hạn về đổi mới toàn diện hệthống đào tạo nhân lực y tế, xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng đàotạo nhân lực y tế cũng như kiểm chuẩn chất lượng đầu ra, tổ chức thực hiệntốt thông tư số 22/2013/TT-BYT về đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, ưutiên xây dựng kế hoạch và thực hiện đào tạo liên tục cập nhật kiến thức chocán bộ y tế huyện, xã [9]

Với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật, mặt khác

do theo thời gian một số kiến thức đã học có phần rơi rụng nên khoảng cáchkiến thức của cán bộ và kiến thức hiện đại của y học ngày càng xa, kiến thứcchuyên môn cần được bồi dưỡng và cập nhật, do vậy, vai trò ĐTLT về chuyênmôn cho cán bộ y tế là rất lớn

1.3 Đào tạo trong bệnh viện

1.3.1 Các loại hình đào tạo trong bệnh viện

- Hướng dẫn thực hành cho học sinh, sinh viên các trường nghề, trungcấp, cao đẳng, đại học

- Hướng dẫn thực hành sau tốt nghiệp và xác nhận quá trình thực hành

- Đào tạo liên tục/ đào tạo phát triển nghề nghiệp/ cập nhật kiến thức ykhoa liên tục

1.3.2 Các văn bản hiện hành liên quan đến đào tạo trong bệnh viện

- Đề án các bệnh viện vệ tinh

- Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 về Hướng dẫn việc đào tạoliên tục cho cán bộ y tế

Trang 18

- Công văn số 2034/BYT-5K2ĐT năm 2014 tăng cường chất lượng côngtác đào tạo liên tục cán bộ y tế do Bộ y tế ban hành.

1.4 Xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục

Công tác đào tạo liên tục tuy đã triển khai trong ngành khá lâu, tuy nhiênkhó khăn chủ yếu nhất là cách tổ chức đào tạo và đặc biệt là vấn đề kinh phícho đào tạo liên tục, do vậy Thông tư số 22/2013/TT-BYT cũng đã chỉ ra để

có thể triển khai tốt công tác này thì cần phải xây dựng kế hoạch Trên cơ sở

đó mới có nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực cho công tác đào tạoliên tục

*Quy trình xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục

a) Kế hoạch đào tạo liên tục 5 năm đối với bệnh viện trực thuộc Sở Y tế

Đào tạo liên tục thường là thời gian ngắn (dưới 1 năm) nên kế hoạch đàotạo liên tục của các bệnh viện có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến thường là kế hoạch 5năm và cần trình Sở Y tế phê duyệt, vì vậy quy trình xây dựng và phê duyệtđòi hỏi có đủ thời gian để xem xét và báo cáo các cơ quan có thẩm quyền Nhànước đưa vào kế hoạch kinh phí cho năm sau Sau đó Sở y tế sẽ tập hợp báocáo tỉnh để đưa vào kế hoạch chung của tỉnh/thành phố

b) Kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm

Kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm của bệnh viện được xây dựng dựatrên kế hoạch 5 năm đã được phê duyệt Kế hoạch đào tạo liên tục của bệnhviện là bộ phận của kế hoạch chung hàng năm Kế hoạch chung của bệnhviện trình cấp thẩm quyền phê duyệt cần có dòng kinh phí dành cho đào tạoliên tục

Quy trình cũng tương tự như xây dựng kế hoạch 5 năm, đầu mối xâydựng kế hoạch đào tạo là đơn vị phụ trách đào tạo liên tục, phòng kế hoạchtổng hợp sẽ tổng hợp trong kế hoạch chung

Trang 19

1.5 Quản lý chương trình và tài liệu đào tạo liên tục

1.5.1 Chương trình đào tạo liên tục

Xây dựng chương trình đào tạo là công đoạn quan trọng nhất của quytrình dạy học Chương trình đào tạo tốt thì sản phẩm đào tạo sẽ tốt và ngượclại Một chương trình đào tạo tốt sẽ giúp người học tiếp nhận được các nộidung cần thiết nhất phục vụ cho nghề nghiệp của họ Chương trình không tốt

sẽ làm lãng phí thời gian của người học và lãng phí các nguồn lực phục vụcho công tác đào tạo

Chương trình đào tạo liên tục cán bộ y tế cần lưu ý các nội dung sau:

- Đào tạo cập nhật các năng lực cần thiết trong hoạt động chuyên môn vàthực hành nghề nghiệp thường xuyên của người học

- Chương trình hướng về cộng đồng để góp phần giải quyết các vấn đềsức khỏe trong cộng đồng

- Dạy – học lấy việc học, lấy người học là trung tâm Đào tạo theo nhómnhỏ, cá thể hóa trong đào tạo

Yêu cầu của chương trình đào tạo liên tục:

- Thể hiện các mục tiêu đào tạo mong muốn

- Quy định được chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, thái độ

- Cấu trúc nội dung đào tạo phù hợp với mục tiêu

- Lựa chọn phương pháp, hình thức hực hiện chương trình thích hợp

- Cách đánh giá kết quả rõ ràng, khách quan

- Chương trình đào tạo liên tục phải được cập nhật liên tục để bảo đảmtính khoa học, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, trong thời gian tối đa 5 nămphải được xem xét, chỉnh sửa và bổ sung

Các nội dung của việc quản lý chương trình đào tạo liên tục

a) Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo liên tục

- Tập huấn triển khai thực hiện chương trình đào tạo liên tục nhằm làmcho cả người dạy, người học và nhà quản lý hiểu đúng, đầy đủ nội dungchương trình mới xây dựng và thống nhất thực hiện

- Chuẩn bị đủ điều kiện để triển khai đại trà chương trình đào tạo mới

Trang 20

- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chương trình đào tạo

- Đánh giá chương trình đào tạo sau một thời gian thực hiện

b) Quản lý chương trình đảm bảo chất lượng

- Quản lý mục tiêu đào tạo: một chương trình đào tạo khi thực hiệnchúng ta phải kiểm soát chất lượng bằng cách xem chương trình đó có đạtmục tiêu đưa ra ban đầu hay không

- Quản lý nội dung chương trình đào tạo: xem tất cả các nội dung trongchương trình có được giảng dạy và học tập đầy đủ hay không, cả lý thuyết vàthực hành, đặc biệt là thực hành lâm sàng Việc đánh giá thực hiện chươngtrình phải đầy đủ, khách quan có giá trị

- Quản lý kế hoạch thực hiện chương trình bao gồm quản lý kế hoạchgiảng dạy từng bài học, quản lý kế hoạch toàn khóa học Các kế hoạch đóphải được thực hiện đầy đủ, trôi chảy, các khó khăn vướng mắc đều được giảiquyết hợp lý không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Kế hoạch dạy học làtài liệu quan trọng nhất khi triển khai chương trình đào tạo liên tục

- Quản lý phương pháp lượng giá và kết quả lượng giá học viên Phươngpháp lượng giá có ý nghĩa đối với tính giá trị và độ tin cậy của kết quả lượnggiá Mọi kết quả lượng giá học viên đều được ghi nhận và phản ánh toàn diệnquá trình học tập của học viên

- Quản lý chỉ tiêu thực hành tay nghề Đây là nội đung đã được đề cậpnhiều nhưng lại ít được quan tâm đúng mức Đối với cán bộ y tế, mọi khóađào tạo liên tục phải có chỉ tiêu thực hành tay nghề, nhất là các môn lâm sàng.Chỉ tiêu thực hành được dùng để lượng giá khi kết thúc khóa học

- Quản lý kế hoạch dạy - học: Mỗi giảng viên khi lên lớp đều phải có kếhoạch dạy-học Kế hoạch dạy học là văn bản pháp lý đánh giá chất lượnggiảng dạy của giảng viên Kế hoạch dạy - học cần thường xuyên cập nhậtthông tin mới, sinh động

Trang 21

1.5.2 Tài liệu đào tạo liên tục

Quản lý tài liệu dạy học trong đào tạo liên tục:

- Tài liệu theo sát chương trình: tài liệu mới biên soạn hay sử dụng tàiliệu có sẵn đều cần căn cứ vào chương trình đã phê duyệt để có tài liệu phùhợp, sát chương trình, nội dung cần cô đọng, chỉ nên đưa ra những nội dung

mà chúng ta thường nói phải học, rất hạn chế những nội dung mà giảng viênthích thú nhưng không phải cốt lõi và tuyệt đối không đưa vào tài liệu các nộidung biết thì tốt Vì là đào tạo liên tục nên nội dung phải là cập nhật nhưngphải đảm bảo chính xác, khoa học

- Lưu trữ tài liệu Việc lưu trữ tài liệu rất quan trọng để đảm bảo cáckhóa đào tạo liên tục thực hiện đúng các hướng dẫn của Bộ Y tế, việc lưutrữ còn phục vụ cho việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý giáo dụcsau này

1.6 Quản lý giảng viên trong đào tạo liên tục cán bộ y tế

về phương pháp giảng dạy lâm sàng

Quản lý giảng viên, trợ giảng của một lớp học cũng như việc quản lý độingũ giảng viên, trợ giảng của một cơ sở đào tạo liên tục thuộc đơn vị, địaphương trong ngành y tế là một hoạt động quan trọng để thực hiện những điều

Trang 22

kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của một lớp đào tạo cũng như toàn bộ côngtác đào tạo của đơn vị, địa phương.

1.6.2 Đào tạo giảng viên

Thực hiện theo các văn bản sau:

- Công văn số 2585/BYT-K2ĐT ngày 27/4/2010 về ban hành chương trìnhđào tạo sư phạm y học cơ bản cho giảng viên đào tạo liên tục với 80 tiết học

- Công văn số 689/BYT-K2ĐT về ban hành chương trình giảng dạy lâmsàng với 40 tiết học

1.6.3 Nhiệm vụ của giảng viên

- Lượng giá nhu cầu đào tạo của học viên của mỗi khóa/lớp đào tạo liên tục

- Điều chỉnh chương trình, nội dung lớp đào tạo cho phù hợp với kết quảlượng giá nhu cầu đào tạo

- Giảng dạy, hướng dẫn học viên về lý thuyết và thực hành các kỹ thuật

- Chuẩn bị người bệnh, khách hàng, phương tiện dụng cụ, địa điểm,…cho các buổi dạy lý thuyết và thực hành

- Tiến hành lượng giá, đánh giá kết quả học tập của học viên

- Giám sát các hoạt động hậu cần để tổ chức lớp đào tạo liên tục tại đơn

vị (địa điểm học, phương tiện, dụng cụ, tài liệu học tập…)

- Thảo luận với trợ giảng, giáo viên kiêm chức để giải quyết các vấn đềliên quan đến đào tạo và thông báo kết quả và những vấn đề chưa giải quyếtđược đến lãnh đạo đơn vị

1.6.4 Quá trình quản lý giảng viên

Theo sơ đồ sau:

Lựa chọn giảng viên

Bồi dưỡng giảng viên

Giám sát hỗ trợ giảng viên

Đánh giá giảng viên

Trang 23

1.7 Đánh giá chất lượng đào tạo

1.7.1 Khái niệm

1.7.1.1.Đánh giá: là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết

quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếuvới những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết địnhthích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh năng cao chất lượng và hiệu quảcông việc [11]

Đánh giá còn được định nghĩa là đo lường kết quả đạt được và xem xét

giá trị kết quả đạt được của một hoạt động hay một chương trình y tế trongmột giai đoạn nhất định nào đó, nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm và cungcấp thông tin cho người quản lý, những người thực hiện chương trình haynhững người có liên quan để đưa ra các quyết định đúng đắn cho chươngtrình hay hoạt động tiếp theo [12]

Đánh giá trong đào tạo theo đúng nghĩa là phải đánh giá tất cả các

khâu trong quy trình đào tạo Nghĩa là phải đánh giá các lĩnh vực:

- Mục tiêu đào tạo

- Chương trình đào tạo

- Giáo trình đào tạo/Tài liệu đào tạo

Trang 24

- Lãnh đạo, quản lý và tổ chức triển khai đào tạo.

- Đáp ứng nhu cầu xã hội của sản phẩm do trường đào tạo [10].Theo Black và Wiliam (1998b) định nghĩa đánh giá theo nghĩa rộngbao gồm tất cả các hoạt động mà giảng viên và học viên đã thực hiện để thuthập thông tin Những thông tin này có thể được sử dụng theo nghĩa chẩnđoán để điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập Theo định nghĩa này, đánhgiá bao gồm các quan sát của giảng viên, thảo luận trong lớp học, phân tíchcác việc làm của học viên, chẳng hạn như bài tập về nhà và các bài kiểm tra.Việc đánh giá trở thành quá trình khi thông tin được sử dụng để điều chỉnhviệc giảng dạy và học tập sao cho đáp ứng được các nhu cầu của học viên

Black và Wiliam (1998a) đã thực hiện một nghiên cứu một loạt 250 bàibáo và chương sách được sàng lọc trong một phạm vi rộng hơn để quyết địnhxem liệu đánh giá quá trình có làm tăng các tiêu chuẩn học thuật trong lớphọc hay không Họ đã kết luận rằng các nỗ lực tăng cường đánh giá quá trìnhtạo ra những thành tích học tập có ý nghĩa

Các phản hồi được xem như một phần của đánh giá quá trình giúp chongười học nhận thức được các lỗ hổng về kiến thức, hiểu biết hay kỹ năng mà

họ đang có so với mục tiêu được mong đợi của họ và đánh giá quá trìnhhướng dẫn họ thực hiện các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu(Ramaprasad, 1983; Sadler, 1989)

Trong khi phản hồi nhìn chung khởi nguồn từ giảng viên, thì người họccũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong đánh giá quá trình thông quaviệc tự đánh giá Hai nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng những học viênhiểu được các mục tiêu học tập và các tiêu chuẩn đánh giá và có cơ hội đểnhìn nhận lại việc làm của mình thể hiện sự tiến bộ nhiều hơn những học viênkhông hiểu được các mục tiêu học tập và các tiêu chuẩn đánh giá (Fontana

&Fernandes, 1994; Frederikson &White, 1997) [13]

Trang 25

1.7.1.2 Chất lượng

Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từnhững thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiềutranh cãi Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau.Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định vàyêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượngđược so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chiphí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cáchhiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau

Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000,

đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính

của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan" Ơ đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi

được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán Từ định nghĩa trên rút ramột số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:

-Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý

do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượngkém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại.Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chínhsách, chiến lược kinh doanh của mình

-Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luônbiến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, khônggian, điều kiện sử dụng

-Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đếnmọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan,

ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội

-Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu

Trang 26

chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sửdụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúngtrong quá trình sử dụng.

-Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà tavẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quátrình [14]

Chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là một khái niệmrộng lớn khó định nghĩa, khó đo lường và có nhiều cách hiểu khác nhau Đốivới chính phủ, chất lượng được đánh giá trước hết dựa vào tỷ lệ đậu/rớt,những người bỏ học và thời gian học tập Đối với đội ngũ cán bộ giảng dạy,chất lượng được hiểu là đào tạo tốt trên cơ sở chuyển giao kiến thức tốt, môitrường học tập tốt và quan hệ tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu Đối với cácđơn vị sử dụng “sản phẩm” của quá trình đào tạo, khi nói về chất lượng sẽquan tâm đến kiến thức, kỹ năng và đạo đức Đối với người học, là nhữngngười “thụ hưởng” trực tiếp quá trình đào tạo, họ sẽ quan tâm đến việc đónggóp vào sự phát triển cá nhân và việc chuẩn bị cho một vị trí xã hội Như vậy,giáo dục có chất lượng thì phải đảm bảo kết nối với mối quan tâm của họcviên và của xã hội [15]

1.7.2 Đánh giá chất lượng đào tạo

1.7.2.1 Đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam

Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhàtrường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của LuậtGiáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinhtế-xã hội của địa phương và cả nước

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu

Trang 27

cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêuchuẩn chất lượng giáo dục.

Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giáchất lượng giáo dục trường đại học, sửa đổi bổ sung năm 2012, bao gồm 10tiêu chuẩn về các nội dung, tóm tắt như sau:

Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học Sứ mạng đượcxác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, các nguồn lực và định hướng pháttriển của nhà trường; phù hợp và gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế-xãhội của địa phương và cả nước Mục tiêu phù hợp Luật giáo dục và sứ mạng

đã tuyên bố

Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý Cơ cấu tổ chức được cụ thể hóatrong quy chế về tổ chức và hoạt động; có hệ thống văn bản để tổ chức, quảnlý; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân định rõ ràng; có tổ chức đảmbảo chất lượng; có chiến lược và kế hoạch phát triển phù hợp định hướng và

sứ mạng; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo và lưu trữ

Tiêu chuẩn 3: Chương trình đào tạo Chương trình đào tạo được xâydựng với sự tham gia của giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện các tổ chức, hộinghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định; chương trình đàotạo có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được định kỳ bổ sung, đánhgiá, cải tiến chất lượng dựa trên kết quả

Tiêu chuẩn 4: Hoạt động đào tạo Đa dạng hóa các hình thức đào tạo,đáp ứng yêu cầu người học theo quy định; công nhận kết quả học tập củangười học; phương pháp, quy trình kiểm tra đánh giá được đa dạng hóa đảmbảo nghiêm túc, khách quan, công bằng; kết quả học tập được thông báo kịpthời, lưu trữ đầy đủ

Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên Có kếhoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ; đảm bảo các quyềndân chủ, có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý chuyên môn; có đủ sốlượng, đảm bảo trình độ

Tiêu chuẩn 6: Người học Người học được hướng dẫn đầy đủ, hỗ trợ

Trang 28

hiệu quả; được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo trước tốt nghiệp.

Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyểngiao công nghệ Xây dựng và triển khai phù hợp với sự mạng nghiên cứu vàphát triển; có các đề tài, dự án được nghiệm thu theo kế hoạch; có nhữngđóng góp mới cho khoa học, có giá trị ứng dụng thực tế

Tiêu chuẩn 8: Hoạt động hợp tác quốc tế thực hiện theo quy định củaNhà nước Hợp tác quốc tế về đào tạo có hiệu quả, thể hiện qua các chươngtrình hợp tác đào tạo, trao đổi học thuật; hoạt động hợp tác quốc tế về nghiêncứu khoa học có hiệu quả

Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác.Thư viện có đầy đủ sách và giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếngnước ngoài; có thư viện điện tử; có đủ số giảng đường phục vụ giảng dạy vànghiên cứu; có đủ trang thiết bị dạy học; có đủ phòng làm việc cho cán bộnhân viên

Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính Có những giải pháp vàkếhoạch tự chủ về tài chính, tạo được các nguồn thu tài chính hợp pháp, đápứngcác hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác; lập kếhoạch và quản lý tài chính công khai minh bạch [16], [17]

1.7.2.2 Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Hệ thống Đại học ASEAN (ASEAN University Network - AUN)

AUN được thành lập tháng 11/1995 bởi các nước thành viên ASEANbao gồm 13 trường đại học, đến nay đã lên tới 30 trường đại học thuộc 10nước thành viên Nhằm đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng bên trong cáctrường đại học trong khu vực, ANU đã đưa ra sáng kiến đánh giá chất lượnggiáo dục đại học theo những tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng chung của khuvực ASEAN

Theo AUN (2011), mô hình đánh giá chương trình đào tạo gồm 15 tiêuchuẩn về các nội dung:

Trang 29

- Tiêu chuẩn 1: Kết quả học tập mong đợi.

- Tiêu chuẩn 2: Chương trình chi tiết

- Tiêu chuẩn 3: Nội dung và cấu trúc chương trình

- Tiêu chuẩn 4: Chiến lược giảng dạy và học tập

- Tiêu chuẩn 5: Đánh giá sinh viên

- Tiêu chuẩn 6: Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy

- Tiêu chuẩn 7: Chất lượng cán bộ hỗ trợ

- Tiêu chuẩn 8: Chất lượng sinh viên

- Tiêu chuẩn 9: Hỗ trợ và tư vấn sinh viên

- Tiêu chuẩn 10: Trang thiết bị và cơ sở hạ tầng

- Tiêu chuẩn 11: Đảm bảo chất lượng quá trình giảng dạy và học tập

- Tiêu chuẩn 12: Hoạt động phát triển đội ngũ cán bộ

- Tiêu chuẩn 13: Lấy ý kiến phản hồi của các bên liên quan

- Tiêu chuẩn 14: Đầu ra

- Tiêu chuẩn 15: Sự hài lòng của các bên liên quan [18]

1.7.2.3 Một số mô hình lý thuyết về đánh giá chất lượng trong đào tạo khác

Mô hình 4 cấp độ đánh giá đào tạo (Donald Kirkpatrick, 1998):

Cấp độ 1- Phản ứng: Đánh giá ở cấp độ này chủ yếu tìm hiểu phản ứngcủa học viên đối với khóa học tham dự thông qua phiếu thăm dò thường đượcphát vào cuối khóa học, học viên sẽ bày tỏ ý kiến của mình về những khíacạnh khác nhau của khóa học

Cấp độ 2 - Kết quả học tập: Cấp độ thứ hai trong hệ thống đánh giá liênquan đến kết quả học tập của học viên Kết quả học tập được xác định dựatrên lượng kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học viên tiếp thu đuợc từ khoá học.Cấp độ này có thể tiến hành trong suốt khoá học và sử dụng nhiều phươngpháp đánh giá khác nhau bao gồm bảng câu hỏi thăm dò ý kiến, khảo sát,quan sát, kiểm tra lý thuyết trên giấy, kiểm tra thực hành, đánh giá theo nhóm,

tự đánh giá

Cấp độ 3-Ứng dụng: Khả năng và mức độ ứng dụng những kiến thức và

kỹ năng học viên đạt được được từ khoá học vào công việc của họ là đối

Trang 30

tượng đánh giá chủ yếu của cấp độ 3 Đánh giá ở cấp độ này tương đối phứctạp và khó thực hiện.

Cấp độ 4-Kết quả: Là đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua ảnh hưởngcủa nó với kết quả công việc.Cấp độ này không tập trung vào ảnh hưởng củađào tạo đối với từng cá nhân mà nó tập trung vào ảnh hưởng chung của đàotạo đối với toàn bộ tổ chức Cấp độ 4 là cấp độ khó thực hiện nhất, mất nhiềuthời gian và đòi hỏi nhiều kinh phí nhất để thu thập, sắp xếp và phân tích các

Phương pháp Kaplan & Norton ra đời năm 1992 được sử dụng chủ yếu

ở các tổ chức kinh tế có lợi nhuận và về sau được cải tiến để sử dụng trongcác cơ sở giáo dục Phương pháp này chủ yếu đánh giá mối quan hệ giữa sứmạng/ mục tiêu của trường học với hoạt động và thành quả của nó ở bốn nộidung: tài chính; khách hàng; môi trường - quá trình phát triển nhà trường; họctập - các cải tiến

Phương pháp Barnett: đánh giá chủ yếu vào người học ở bốn hoạtđộng: xây dựng môn học và chương trình học, mối tương tác giữa dạy vàhọc, đánh giá người học, đánh giá đội ngũ giảng dạy

Phương pháp ISO 9000: 2000 được sử dụng để kiểm tra chất lượng trongsản xuất từ năm 1987 và được điều chỉnh để sử dụng trong lĩnh vực giáo dục từnhững năm 90 (hiện nay là ISO 9001: 2000) Phương pháp này dựa trên 21 tiêuchí đánh giá trong bốn lĩnh vực: trách nhiệm của nhà quản lý, quản lý các nguồnlực, đánh giá thành phẩm, đo lường - phân tích và cải tiến [19]

Trang 31

1.8 Hoạt động đào tạo liên tục tại bênh viện Bạch Mai

1.8.1 Bệnh viện Bạch Mai và nhiệm vụ đào tạo liên tục

Giới thiệu chung

Bệnh viện Bạch Mai tiền thân là bệnh viện Lây Cống Vọng, được thànhlập năm 1911 bởi nhà chức trách Pháp nhằm mục đích điều trị cho nhữngbệnh nhân mắc bệnh lây ở Cống Vọng thuộc tỉnh Hà Đông cũ (nay là thànhphố Hà Nội); Đến năm 1929, bệnh viện được mở rộng và đặt tên là Bệnh việnRobin vừa khám chữa bệnh cho người Việt Nam, vừa là cơ sở thực hành củatrường Y Dược Đông Dương Ngày 09/3/1945, sau đảo chính Nhật-Pháp,bệnh viện chính thức mang tên là bệnh viện Bạch Mai [1]

Trải qua hàng trăm năm xây dựng và phát triển, đến nay, bệnh viện BạchMai đã trở thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt đầu tiên trên cảnước với 7 nhiệm vụ chính: khám chữa bệnh, cấp cứu tuyến cuối; đào tạo;nghiên cứu khoa học; chỉ đạo tuyến; phòng bệnh; hợp tác quốc tế; quản lýkinh tế y tế Trong số đó, nhiệm vụ đào tạo là một trong những nhiệm vụ rấtquan trọng của bệnh viện

Bệnh viện Bạch Mai gồm 7 chức năng, nhiệm vụ chính:

• Khám chữa bệnh, cấp cứu tuyến cuối

Trang 32

ĐTLT cán bộ y tế

Đào tạo chính quy sau đại học hệ thực hành: chuyên khoa cấp I,chuyên khoa cấp II và bác sĩ nội trú bệnh viện

Đào tạo bậc trung học và cao đẳng điều dưỡng, kỹ thuật viên xét nghiệm

Đào tạo luân vòng cho cán bộ y tế mới tốt nghiệp, mới được tuyển dụng

Phối hợp với các trường cao đẳng, đại học Y, Dược trong đào tạo thực hành

Đào tạo thực hành cho sinh viên đại học, học viên sau đại học nước ngoài

Đào tạo theo nhu cầu khác (đào tạo kỹ năng )

Trang 33

Bảng 1.1 Lĩnh vực đào tạo chính tại bệnh viện Bạch Mai

11 Nội Thận tiết niệu 31 Tai mũi họng

12 Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng 32 Măt

13 Y học hạt nhân và Ung bướu 33 Dược lâm sàng

14 Phục hồi chức năng 34 Dinh dưỡng lâm sàng

15 Truyền nhiễm 35 Điều dưỡng, Kỹ thuật viên y

16 Kiểm soát nhiễm khuẩn 36 Quản lý bệnh viện

17 Chẩn đoán hình ảnh 37 Truyền thông giáo dục sức khỏe

1.8.2 Quản lý đào tạo tại bệnh viện Bạch Mai

Trên cơ sở tham khảo một số quy trình đào tạo trên thế giới, căn cứ vàotình hình thực tế, Bệnh viện Bạch Mai đã xây dựng quy trình đào tạo gồm 6bước, bắt đầu từ đánh giá nhu cầu đào tạo, tiếp theo là lập kế hoạch, tổ chứcthực hiện, giám sát và đánh giá kết quả đào tạo Quy trình đào tạo được ápdụng với hầu hết các khóa đào tạo do Bệnh viện Bạch Mai tổ chức Nhữngtrường hợp đào tạo theo hình thức kèm cặp hoặc gửi đi đào tạo tại các cơ sởkhác sẽ vận dụng linh hoạt các bước của quy trình

Quản lý đào tạo y khoa liên tục theo khoá đào tạo tại Bệnh viện BạchMai được thể hiện theo sơ đồ dưới đây [20]

Trang 34

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý đào tạo

Nhiệm vụ đào tạo của bệnh viện Bạch Mai bao gồm: đào tạo hệ trungcấp và cao đẳng y khoa, đào tạo chính quy sau đại học hệ thực hành (bác sĩnội trú, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II), ĐTLT, đồng thời là cơ sở đàotạo thực hành chính của trường Đại học Y Hà Nội và nhiều trường Cao đẳng

Trang 35

và Đại học y, dược trên địa bàn Hà Nội Thực hiện các chủ trương về giáo dục

y khoa của Bộ y tế và nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về nâng cao chất lượngnguồn nhân lực y tế, những năm gần đây hoạt động ĐTLT trở thành một trongnhững trọng tâm của hoạt động đào tạo của bệnh viện

Trang 36

1.9 Tình hình đào tạo liên tục

1.9.1 Trên thế giới

Một nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của đào tạo liên tục y khoa thuthập kết quả trên 248 bài báo đánh giá về đào tạo liên tục, trong đó 13% cácbài báo mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chỉ có 7% tất cả các bài báo và20% các thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của đào tạo liên tục trênbệnh nhân Những nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng đàotạo liên tục có thể cải thiện hành vi của bác sĩ

Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả chiến lược đào tạo liên tục y khoatrong việc thay đổi hiệu quả làm việc của bác sĩ thực hiện bởi David A Davis

và cộng sự cho thấy trên 99 cuộc thử nghiệm với 160 can thiệp theo tiêu chuẩncủa nghiên cứu Gần hai phần ba trong số những can thiệp (101/160) thể hiện

sự cải thiện: 70% biểu hiện sự thay đổi trong hoạt động của bác sĩ và 48% cáccan thiệp cho thấy có sự thay đổi tích cực trong chăm sóc sức khỏe Bên cạnh

đó cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả tích cực của đào tạo liên tục trongchăm sóc sức khỏe, nhưng nếu không thực hiện đúng lại làm giảm chất lượngchăm sóc bệnh nhân và tăng chi phí , , , , ,

Mặc dù các bác sĩ báo cáo họ phải chi tiêu một số tiền và thời gianđáng kể cho việc đào tạo liên tục, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra một sự khácbiệt lớn giữa hiệu quả thực tế và lý tưởng của CME Dave Davis và cộng sự(1999) thực hiện trên 14 nghiên cứu với 17 can thiệp cho kết quả: 9 thay đổitích cực trong hành nghề, ¾ can thiệp làm thay đổi tích cực việc chăm sóc sứckhỏe

Tuy nhiên theo một nghiên cứu Maliheh Mansouri và cộng sự cho thấymức độ ảnh hưởng của đào tạo liên tục trên hiệu quả làm việc của bác sĩ vàtrên bệnh nhân là không cao, có một mối tương quan tích cực giữa mức độhiệu quả của đào tạo liên tục và khoảng thời gian can thiệp (r=0,33)

Trang 37

Theo một khảo sát của American Hospital Association (AHA) trên cáchọc viên về đánh giá giá trị và hiệu quả tổng thể của đào tạo liên tục y khoatrên 6 năng lực cốt lõi: tính chuyên môn, chăm sóc và quy trình làm việc vớibệnh nhân, kiến thức y học, học tập và nâng cao thực hành cơ bản, kỹ nănggiao tiếp và mối quan hệ giữa các đồng nghiệp, hệ thống thực hành cơ bản.Các kết quả chỉ ra rằng các học viên nhận thấy được giá trị của đào tạo liêntục (4.2 điểm trên thang điểm 5), nhưng phần lớn họ đồng ý với kết quả nàytrong việc giải quyết những kiến thức y học và việc chăm sóc bệnh nhân Cácđối tượng tham gia phản hồi rằng đào tạo liên tục là cách hiệu quả nhất đểnâng cao kiến thức y học và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, nhưng

nó lại kém hiệu quả nhất trong việc cải thiện các thực hành của bác sĩ, khuyếnkhích cung cấp các cách chăm sóc bệnh và thông tin liên lạc được thông suốt,thúc đẩy chăm sóc theo nhóm và tăng cường sự tham gia của các bác sĩ trong

tổ chức của họ

Theo WHO, các chương trình đào tạo liên tục (CME) được tổ chức tạiBelgaum, Mangalore, Madurai, Manipal, Tirunelveli ở phía Nam, Dharamshala,Aligarh và Muzaffarnagar ở phía Bắc, Bhopal, Nagpur và Jaipur ở phía tây vàCuttack, Patna và Guwahati ở phía Đông, tuy nhiên các bác sĩ ở nhiều khu vựcnông thôn vẫn còn đang bỏ lỡ các khóa học do họ ít hoặc không có khả năngtiếp cận với các khóa học này Theo một nghiên cứu “Thúc đẩy tỷ lệ sử dụngthuốc” công bố vào tháng 9 năm 2002 của danh mục các thuốc thiết yếu củaWHO và Vụ chính sách thuốc cho thấy CME là một yêu cầu cho việc đăng kýcủa các chuyên gia y tế tại nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, nhưng các cơhội đào tạo liên tục lại bị giới hạn tại các nước đang phát triển vì còn thiếu cácvăn bản quy phạm pháp luật, các biện pháp khuyến khích Hội đồng Y khoacủa Ấn Độ thành lập một quy định rằng các thành viên phải hoàn thành 30 giờđào tạo liên tục mỗi năm để nhận được chứng chỉ hành nghề như bác sĩ,nhưng chỉ có 20% bác sĩ của Ấn Độ làm theo vì quy định này không mangtính ràng buộc về mặt pháp lý

Trang 38

Theo một vài nghiên cứu, đào tạo trực tuyến được thực hiện để bổ sungkiến thức cho các chủ đề không gây tranh cãi hoặc không phức tạp, còn cácchủ đề có nhiều tranh cãi hoặc có nguy cơ áp dụng sai hoặc có nhiều lợi ích từ

sự tương tác và thảo luận Một nghiên cứu cho rằng “Đào tạo liên tục (CME)trực tiếp thích hợp cho các nội dung mới và gây nhiều tranh luận và CME trựctuyến thích hợp để lấp đầy khoảng trống về kiến thức” ,

Bên cạnh đó những nhà lãnh đạo y tế, cần có sự thay đổi qua quá trìnhđào tạo liên tục là cần thiết, đặc biệt là đối với những người làm việc tại cácphòng ban chức năng quản lý Các nhà nghiên cứu đã thấy việc can thiệp vàohành chính đã tạo một không khí thay đổi trong toàn tổ chức y tế

Vai trò lãnh đạo của các bác sĩ là cần thiết trong việc thiết kế và cung cấpcác giáo trình đào tạo liên tục, đây cũng chính là một lĩnh vực của các nghiêncứu, “các bác sĩ tìm hiểu thông qua sự tương tác với các đồng nghiệp trong cácbuổi đào tạo theo nhóm nhỏ, chính thức hoặc không chính thức”

Trong số 239 đơn vị đủ điều kiện giảng dạy đào tạo liên tục trong bệnhviện Mỹ và tại Mỹ, và 184 (77%) các trường y tế Canada trả lời khảo sát.Trong số này, khoảng 94% của Mỹ và 6% trụ sở tại Canada Trong đó, tại Mỹ

có 127 đơn vị (chiếm 79%) được công nhận bởi ACCME và 22 (14%) do các

cơ quan kiểm định nhà nước Tại Canada chỉ có 12 đơn vị (chiếm 6%) đượccông nhận bởi Ủy ban công nhận của trường Y tế Canada (CACMS) Tỷ lệđáp ứng cho 3 đơn vị: các Trường y khoa Canada, các trường y khoa Mỹ vàcác bệnh viện giảng dạy của Mỹ

1.9.2 Tại Việt Nam

a) Thực trạng và tầm quan trọng của công tác đào tạo liên tục trong ngành Y tếNghề Y có đặc thù quan trọng do gắn liền với tính mạng và sức khỏecủa con người, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chếtối thiểu những sai sót chuyên môn là một nhiệm vụ bắt buộc với mọi ngườihành nghề Trên thế giới đào tạo y khoa liên tục luôn gắn với lịch sử ra đời vàphát triển của nghề Y Trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của

Trang 39

khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việcđào tạo liên tục càng trở nên cấp thiết.

Ở nước ta, đào tạo liên tục nhân lực y tế đã được triển khai thông quacác hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hộinghị, giao ban chuyên môn bệnh viện,…Nghị quyết số 46/NQ-TW của BộChính trị đã chỉ rõ “nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đàotạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt nêubật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực y tế

Các luật cán bộ, công chức; viên chức; giáo dục; giáo dục đại học đều

đề cập đến chất lượng nhân lực y tế nói riêng Luật khám bệnh, chữa bệnh đãquy định nghĩa vụ học tập cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên hànhnghề khám chữa bệnh và chỉ rõ những người không tham gia cập nhật kiếnthức y khoa liên tục trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề

Trong vòng 10 năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liênquan đến đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ y tế: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW”; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo bồi dưỡng công chức đã quyđịnh nghĩa vụ học tập của mọi công chức; Nghị định 29/2012/NĐ-CP vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức có hướng dẫn thực hiện bắt buộccập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành…

Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT hướngdẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế Bộ y tế quy định tất cả cán

bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cậpnhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ củamình Tuy nhiên, việc triển khai đào tạo liên tục nhân lực y tế theo luật khámbệnh chữa bệnh và Thông tư về đạo tạo liên tục còn khá chậm, nhiều đơn vị y

tế vẫn còn thụ động, trông chơ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậy việc

Trang 40

đào tạo liên tục nhân lực y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu như mong muốn Đếnnay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưngchưa hoàn chỉnh Những chế độ chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộkhiến việc triển khai thực hiện đào tạo liên tục gặp nhiều khó khăn Chấtlượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởngđến công tác chuyên môn của ngành

Theo báo cáo đánh giá năng lực của các cơ sở đào tạo nhân lực y tế tạiViệt Nam, chương trình đào tạo mới và đào tạo liên tục vẫn chưa được chútrọng Phần lớn các ý kiến cho rằng chương trình đào tạo cần dành nhiều thờigian hơn cho thực hành kỹ năng, tập trung hơn nữa để tăng cường kỹ nănglâm sàng cho sinh viên, kỹ năng y tế công cộng cũng như kỹ năng mềm Thờigian dành cho học lâm sàng chỉ chiếm bằng 1/3 tổng số chương trình giảngdạy Phương pháp dạy học phổ biến tại các trường vẫn là học lý thuyết trêngiảng đường

b) Một số định hướng đào tạo liên tục ở Việt Nam

Trước đây việc đào tạo liên tục giao cho các trường y đảm nhận, hiệnnay do quá tải về số lượng tuyển sinh mới nên việc đào tạo liên tục ở cáctrường y còn hạn chế Mọi cán bộ y tế cần được đào tạo liên tục thường xuyên

để nâng cao trình độ chuyên môn nên số lượng người tham gia học tập là rấtlớn, với số lượng trên 500.000 cán bộ y tế đang làm việc trong hệ thống y tế thìcác trường y không có khả năng đảm nhận, mặt khác thực tế cho thấy cán bộ y tếđược đào tạo tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàng ngày có kết quả hơn là cứđưa họ về các trường để học tập, do vậy Bộ y tế chủ trương giao cho các Sở y tế,các đơn vị y tế trung ương cùng với các trường phải tham gia công tác tổ chứcđào tạo liên tục Do vậy cơ sở đào tạo liên tục hiện nay bao gồm:

Ngày đăng: 22/09/2019, 07:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w