thế giới có rất nhiều nghiên cứu về điều trị trứng cá đỏ bởinhiều phương pháp như bôi tại chỗ: metronidazol 0,75% và1%; azelaic acid gel 15%, sodium sulfacetamide 10% với lưuhuỳnh 5%,..;
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng cá đỏ - rosacea là bệnh da tiến triển mạn tính, có tỷ
lệ mắc bệnh thay đổi từ 2,2% - 10% (tùy từng nghiên cứu) [1],[2]; thường gặp ở độ tuổi trung niên 30 - 50 tuổi Trứng cá đỏ
có biểu hiện lâm sàng đa dạng, đặc trưng bởi các biểu hiệnban đỏ, giãn mạch và sẩn mủ ở vùng trung tâm của mặt, tổnthương có thể xuất hiện một thời gian ngắn rồi hết, nhưngcũng có thể tái phát và tồn tại dai dẳng Tùy thuộc vào đặcđiểm lâm sàng được chia làm 4 thể: thể đỏ da giãn mạch, thểsẩn mủ, thể phì đại, thể mắt; một số bệnh nhân có thể phốihợp nhiều thể [3], [4], [5] Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vàotriệu chứng lâm sàng và không có một xét nghiệm nào có thểkhẳng định chắc chắn bệnh nên việc chẩn đoán còn gặpnhiều khó khăn, thường bị chẩn đoán nhầm với một số bệnhthường gặp khác như viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm da quanhmiệng, trứng cá thông thường, các tổn thương da do ánhsáng Hiện nay, căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của bệnhtrứng cá đỏ chưa được biết rõ, nhưng một số nghiên cứu đãchỉ ra được các yếu tố liên quan đến khởi phát và làm nặngbệnh như ánh sáng mặt trời, rượu, đồ ăn cay nóng, tập luyệnthể lực, thay đổi cảm xúc, Mặc dù bệnh trứng cá đỏ khônggây đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất lớn đến thẩm
mỹ và đặc biệt là ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sốngcủa bệnh nhân
Vì tính chất mạn tính, tiến triển từng đợt và hay tái phát,nên việc điều trị trứng cá đỏ còn gặp một số khó khăn Trên
Trang 2thế giới có rất nhiều nghiên cứu về điều trị trứng cá đỏ bởinhiều phương pháp như bôi tại chỗ: metronidazol 0,75% và1%; azelaic acid gel 15%, sodium sulfacetamide 10% với lưuhuỳnh 5%, ; sử dụng thuốc uống: isotretinoin, nhómtetracyclin (đặc biệt là doxycyclin), nhóm macrolide(azithromycin),… hay sử dụng laser, phẫu thuật trong một sốtrường hợp đặc biệt [3], [5]
Trong các phương pháp điều trị đó, sử dụng doxycyclinđường uống và metronidazol 1% bôi đều được Cục quản lýThực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận được sửdụng trong điều trị trứng cá đỏ Sử dụng phối hợp doxycyclinđường uống với metronidazol 1% bôi tại chỗ được đánh giá là
có hiệu quả nhanh, ít tác dụng phụ, dễ dung nạp và chi phíđiều trị hợp lý Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặcđiểm lâm sàng cũng như đánh giá hiệu quả điều trị trứng cá
đỏ bằng uống doxycyclin và metronidazol 1% tại chỗ, đơn độchoặc phối hợp với nhau, tuy nhiên ở Việt Nam còn thiếu các
dữ liệu, các nghiên cứu về bệnh trứng cá đỏ và đặc biệt là cácnghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Vì vậy chúng tôi
tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị trứng cá đỏ bằng uống doxycyclin và bôi metronidazol” với hai mục tiêu:
1. Khảo sát yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá đỏ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 09 -
2016 đến tháng 09 - 2017.
2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trứng cá đỏ thể sẩn mủ bằng uống doxycyclin và bôi metronidazol 1%.
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương
Trứng cá đỏ được mô tả lần đầu vào thế kỷ 14 bởi bác sỹGuy de Chauliac, một nhà ngoại khoa người Pháp, với đặcđiểm “tổn thương màu đỏ ở mặt, đặc biệt là mũi và má”, vàđược gọi là tình trạng “goutte rose” (giọt hồng) hoặc
“couperose” Ở thế kỷ XIX trứng cá đỏ vẫn được xếp vào mộtthể của bệnh trứng cá, đến năm 1891 bác sỹ Henri G Piffard,một chuyên gia về da liễu ở Mỹ đã chỉ ra các dấu hiệu đặcbiệt để phân biệt với bệnh trứng cá thông thường [6] Hiện nayhiểu biết về đặc điểm lâm sàng, các yếu tố liên quan và cơchế bệnh sinh đã rõ nét hơn
Trứng cá đỏ là bệnh lý mạn tính, biểu hiện xen kẽ nhữngđợt thuyên giảm và tái phát của bệnh Nhiều bệnh nhân cóthể nhận thấy được sự liên quan với các yếu tố khởi phát vàlàm nặng bệnh đặc biệt là đối với cơn nóng bừng mặt, nhưnhiệt độ, rượu, ánh sáng mặt trời, đồ uống nóng, căng thẳng,chu kỳ kinh nguyệt, thuốc và thức ăn
Trứng cá đỏ thường gặp nhiều hơn ở nữ, nhưng với thểphì đại thì lại gặp nhiều hơn ở nam, thường khởi phát sau tuổi
30, tuy nhiên có thể gặp ở trẻ nhỏ và người trẻ tuổi [3], [6], [7],
Trang 5[8]
Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi tùy theo từng nghiên cứu từ2,2% - 10% [1] , [2]; sở dĩ có sự khác biệt lớn như thế này đượcgiải thích là do thiếu sự định nghĩa rõ ràng về bệnh, dễ chẩnđoán nhầm với tổn thương do ánh sáng và do sự khác nhau vềcác vùng miền địa lý và chủng tộc [7]
1.3 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh chính xác của trứng cá đỏ chưa đượcbiết rõ Trứng cá đỏ có biểu hiện lâm sàng đa dạng với nhiềuthể khác nhau nên có thể có nhiều căn nguyên và cơ chếbệnh sinh khác nhau [3] Đã có nhiều giả thiết được đưa ra đểgiải thích cho cơ chế bệnh sinh của trứng cá đỏ
Bệnh thường gặp ở người da trắng - những người có type
da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, như type I và II theo phânloại của Fitzpatrick Có giả thiết được đưa ra có liên quan đến
sự biến đổi trong hệ gen, đặc biệt là các sai sót trong hệthống đáp ứng miễn dịch bẩm sinh, khoảng 10-20% bệnhnhân có yếu tố gia đình
Hệ thống miễn dịch bẩm sinh có hệ thống các receptor(TLR – toll like receptor, NLR - Nucleotide binding domain) cókhả năng nhận biết các kháng nguyên kích thích bên ngoàimôi trường như tia cực tím (Ultra Violet – UV), các vi sinh vật,các sang chấn vật lý và hóa học Từ đó kích hoạt đáp ứngmiễn dịch thông thường dẫn đến tăng cường sản xuất cácphân tử cytokine và phân tử kháng khuẩn trong da Một trongnhững chất kháng khuẩn đó là cathelicidin Hoạt chất nàyđược biết đến là chất duy nhất có khả năng đồng thời tác
Trang 6Sự sản xuất bất thường Kallikren 5 (men protease tại chỗ, chấtkiểm soát việc sản xuất cathelicidin ở thượng bì) cũng có vaitrò trong hoạt tính vận mạch và tiền viêm của cathelicidin Thửnghiệm tiêm cathelicidin bất thường này vào da chuột, kếtquả thu được đáp ứng viêm và thay đổi bệnh học như trongbệnh trứng cá đỏ [9], [10]
Đáp ứng của hệ thống miễn dịch bẩm sinh của da bìnhthường sẽ phát hiện các vi sinh vật, các tác nhân hủy hoại mônhư tia UV gây ra sự chết theo chương trình hoặc hủy hoạichất nền ngoại bào Trong bệnh trứng cá đỏ, các tác nhân nàytrở thành yếu tố kích hoạt bệnh, kích thích tính nhạy cảm của
da qua hệ thống miễn dịch bẩm sinh làm tăng sản xuấtcathelicidin và kalikrein 5
Với bệnh nhân có biểu hiện ban đỏ, giãn mạch, cơn nóngbừng mặt có sự thay đổi hoạt động vận mạch, tăng lưu lượngmáu có thể liên quan đến sự tiếp xúc với tia UV và một số yếu
tố kích hoạt bệnh như cảm xúc, căng thẳng, gia vị trong thức
ăn, đồ uống nóng, môi trường nóng bức và thời kỳ tiền mãn
Trang 7kinh Sự tiếp xúc với UVB được chỉ ra là làm tăng sự phát triểnmạch máu, tăng tiết các yếu tố tăng sinh mạch như là yếu tốtăng trưởng nội mô mạch máu (vascular endothelial growthfactor – VEGF) từ tế bào keratin, làm tăng sinh tế bào nội mạcmạch máu và tăng tính thấm thành mạch Ngoài ra, các phân
tử CD 31, D2-40 (dấu ấn tế bào nội mô bạch huyết) cũng đượcquan sát thấy ở bệnh nhân trứng cá đỏ Có các bằng chứng chothấy việc tiếp xúc với tia UV dẫn đến tạo ra các phản ứng oxyhóa, làm tăng sản xuất enzym metalloproteinases, từ đó làmtổn thương mạch máu và chất nền của trung bì [5]
Các dòng oxy nguyên tử hoạt động (reactive oxygenspecies – ROS) cũng có nồng độ cao hơn ở người bị bệnh ROSđược sản xuất sau khi phơi nhiễm với tia UV và hoạt hóa cáctín hiệu tế bào trong tế bào sừng ROS trung gian sản xuấtcytokine bằng TNF-α ở tế bào sừng và sản xuất chemokinethông qua kích thích TLR2 ở bạch cầu đơn nhân ROS cũngkích thích nguyên bào sợi và thay đổi biểu hiện của menprotease gắn kim loại trong chất nền ngoại bào (MMP) và yếu
tố mô ức chế men MMP Tăng hoạt động của ROS có thể kíchhoạt phản ứng viêm và thoái hóa collagen ở chất nền trung bì
Từ vai trò của ROS trong bệnh trứng cá đỏ, người ta giải thíchđược cơ chế hoạt động của các thuốc điều trị bệnh Đó là cácthuốc ức chế sản xuất ROS ở bạch cầu trung tính như nhómtetracycline [11], azelaic acid [12], metronidazol [13] và nhómretinoid [14] Erythromycin và azithromycin là những chất cóhoạt tính chống oxy hoá đã được chứng minh có hiệu quảtrong điều trị trứng cá đỏ [15]
Trang 8Một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnhsinh của trứng cá đỏ là tia UV UVB làm tăng sinh mạch ở dathông qua làm tăng bài tiết VEGF và FGF2 (yếu tố phát triểnnguyên bào sợi) từ chủ yếu là tế bào sừng của thượng bì từ đólàm tăng sinh mạch, gây ra biểu hiện chủ yếu là giãn mạch,cơn nóng bừng mặt Như đã nêu ra ở trên thì tia UV cũng làmtăng sản xuất ROS làm tăng vận mạch và hủy hoại chất nềnngoại bào thông qua hoạt hóa men Protease gắn kim loại, từ
đó làm tích tụ các chất trung gian viêm và kéo dài sự thu hútcác tế bào đáp ứng viêm Như vậy, tia UV là yếu tố khởi phátđáp ứng viêm nên gây ra hiện tượng đỏ da bằng cách tăngcường các yếu tố vận mạch và hủy hoại chất nền ngoại bào[10]
Một số quan điểm cho rằng vi sinh vật cũng đóng vai tròtrong cơ chế bệnh sinh mà hai tác nhân được cho là có liên
quan đó là demodex folliculorum và helicobacter pylori (HP) Demodex folliculorum là ký sinh trùng sống trong nang lông
tuyến bã, là một trong những yếu tố kích hoạt bệnh, đặc biệtkhi số lượng trên 5 con/cm² Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng có
sự tăng mật độ của ký sinh trùng này ở nhóm bệnh nhân
trứng cá đỏ so với nhóm chứng [16] Vai trò của HP trong trứng
cá đỏ còn nhiều tranh cãi, nhiều nghiên cứu cho thấy huyết
thanh miễn dịch dương tính cao với HP ở nhóm bệnh nhân trứng cá đỏ và việc điều trị loét dạ dày có HP làm thuyên
giảm triệu chứng của bệnh [17]
Trang 9Cytokine/
Chemokine
Cathelicidin
TLRs/
phần củacácReceptornhận diện
Thâm nhiễm môbạch huyết, kết tậpbạch cầu trung tính
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ minh họa cơ chế bệnh sinh trong bệnh trứng cá đỏ
Thoái hoáCollagen
Trang 10- Thức ăn và đồ uống: phô mai, sô cô la, đồ cay, sản phẩm
từ sữa, rượu vang, đồ uống nóng, rượu, thuốc lá
- Thuốc toàn thân: niacin, nitroglycerin,…
- Một số thuốc bôi tại chỗ: corticosteroid, retinoid, mỹphẩm, acetone,…
- Các yếu tố môi trường: ánh nắng mặt trời, quá nóng,lạnh, gió mạnh, độ ẩm cao, tắm nước nóng, xông hơi,…
- Yếu tố cảm xúc: tức giận, căng thẳng, ngại ngùng
- Hoạt động thể lực mạnh, mãn kinh, ho mạn tính, cainghiện caffeine,…
1.5 Đặc điểm lâm sàng, phân loại bệnh trứng cá đỏ
Bệnh trứng cá đỏ có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, vớinhiều dạng tổn thương như: ban đỏ, giãn mạch, tổn thươngsẩn đỏ, mụn mủ, cơn nóng bừng ở vùng trung tâm của mặt,tổn thương phì đại vùng tuyến bã như mũi, tổn thương viêmkết mạc mắt, Các triệu chứng này có thể xuất hiện lần đầu,nhưng thường có tính chất mạn tính, tái phát từng đợt, và cónhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau
Năm 2002, Hội đồng chuyên gia thuộc Hiệp hội trứng
cá đỏ Hoa Kỳ (National Rosacea Society Expert Commite –NRSEC) đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại củabệnh trứng cá đỏ Đến năm 2004, NRSEC đã bổ sung thêm
và đưa ra cách đánh giá mức độ nặng của bệnh để thuận lợi
Trang 11cho sự đánh giá trên lâm sàng của bác sĩ điều trị cũng nhưcác nhà nghiên cứu [4], [20].
Trang 12là yếu tố bắt buộc để chẩn đoán.
- Subtype 2: Thể sẩn mủ (Papulopustular rosacea): bao gồmban đỏ dai dẳng ở vùng trung tâm của mặt cùng với sẩn,mụn mủ số lượng nhiều, kích thước nhỏ (< 3mm), hìnhvòm, một số tổn thương giống sẩn huyết thanh, rải rác ởvùng trung tâm của mặt Cảm giác bỏng rát và châm chích
có thể có Tổn thương thường kéo dài trong hai tuần, sau
đỏ giảm dần để lại ban đỏ lốm đốm và sau đó mất dần,không để lại sẹo
- Subtype 3: Thể phì đại (Phymatous rosacea): có thể baogồm dày da, bề mặt da xù xì, không đều và phì đại Biểuhiện phổ biến nhất là mũi sử tử (rhinophyma) nhưng có thểxảy ra ở bất kỳ vị trí nào, bao gồm: cằm, trán, má và tai.Rộng lỗ chân lông, giãn mạch có thể kèm theo
Phymatous rosacea gồm các dạng [5]:
Rhinophyma: khởi đầu là sự giãn rộng của lỗ chân lông ởđầu xa của mũi, khi rõ ràng hơn có thể dẫn tới biến dạngđường viền của mũi
Gnathophyma: hiếm gặp, vị trí điển hình là ở giữa cằm
Có thể gây tình trạng sưng nề bất đối xứng
Otophyma: thường gặp ở nửa dưới của vành tai và thùy
Trang 13 Mentophyma: khối sưng nề rắn chắc ở giữa trán
Blepharophyma: sưng nề mi mắt, có thể đi kèm thể sẩn
mủ nặng hoặc thể mắt
Trang 14- Subtype 4: Thể mắt (Ocular rosacea): Biểu hiện chảy nướcmắt, đỏ, sung huyết kết mạc, cảm giác có vật lạ trong mắt,bỏng rát hoặc châm chích, khô, ngứa, chói mắt, nhìn mờ,giãn mạch kết mạc và bờ mi hoặc mi và có ban đỏ xungquanh mắt Viêm kết mạc, viêm mí mắt, bờ mi không đồngđều có thể có Rối loạn chức năng tuyến Meibomius biểuhiện chắp mắt hoặc nhiễm trùng mạn tính đặc trưng bởi uhạt nhiễm trùng (lẹo mắt) Một số bệnh nhân có mất thị lực
do biến chứng tổn thương giác mạc (sẹo, loét giác mạc).Một bệnh nhân có thể có nhiều hơn một thể
Có các dạng biến thể của trứng cá đỏ không nằm trong 4 thểnói trên [5], [18]:
- Rosacea fulminans: đặc trưng bởi nhiều sẩn đỏ, mụn mủ, nốt
và các nang chảy mủ, đây là thể nặng của trứng cá đỏ Nó cóthể độc lập hoặc liên quan đến bệnh Crohn, viêm loét đạitràng, ung thư đại tràng tái phát và mang thai
- Granulomstous rosacea: giống như sarcoidosis hoặc lao da
Một số tác giả phân thêm một biến thể nữa là trứng cá
đỏ do corticoid: gặp ở những bệnh nhân sử dụng corticoid tạichỗ lâu dài, các triệu chứng của trứng cá đỏ, bùng phát khigiảm liều corticoid tại chỗ gây ra hiện tượng phụ thuộccorticoid [19]
Trang 16(Bảng 1.1) Đánh giá này giúp đỡ cho các bác sỹ lâm sàng
trong quá trình theo dõi tiến triển của bệnh nhân và cũng
Trang 17thuận tiện cho các nhà nghiên cứu [20].
Bảng 1.1: Bảng đánh giá triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân
Nếu mạn tính Pitting Nonpitting
Biểu hiện ở mắt Không có Nhẹ Trung
bình Nặng
Vị trí ngoại vi: Không có Hiện có
bình
Nặng
Trang 18- Với các triệu chứng nguyên phát:
• Cơn nóng bừng mặt - ban đỏ thoáng qua: Đánh giá sựxuất hiện hay không xuất hiện tổn thương dựa vào hỏibệnh, hỏi về tần số, thời gian, mức độ lan rộng và mức
độ nặng, lưu ý có đi kèm triệu chứng vã mồ hôi haykhông Không được tính ở quanh thời kì mãn kinh chođến khi nó kèm theo các triệu chứng khác của trứng cá
đỏ Có thể chia thành các mức độ từ 0-3 dựa vào độmạnh và tần số
• Ban đỏ dai dẳng: chia làm các mức độ từ 0-3 Mặc dùtình trạng viêm hoặc khô da làm che mờ mức độ củatriệu chứng này, nền ban đỏ nên được đánh giá khi tìnhtrạng viêm hay khô da giảm
• Sẩn và mụn mủ: Đánh giá dựa vào số lượng sẩn mủ, cóthể kèm theo tổn thương dạng mảng do các tổn thươngtập trung lại Tổn thương được chia thành các mức độ:+ Nhẹ: có ít hoặc một vài sẩn mủ (không kèm tổnthương dạng mảng)
+ Trung bình: có một vài -nhiều sẩn mủ (không kèm tổnthương mảng)
+ Nặng: có nhiều tổn thương - hoặc tổn thương sẩn mủlan rộng, có thể kèm theo tổn thương dạng mảng
• Giãn mạch: Mức độ 0-3 Triệu chứng giãn mạch có thể
Trang 19không phân mức độ rõ ràng được khi có kèm theo triệuchứng ban đỏ nặng Một mình triệu chứng giãn mạch màkhông đi kèm bất kỳ triệu chứng nguyên phát khác thìkhông đủ để chẩn đoán Nên đếm số lượng ban đỏ giãnmạch và ghi rõ khu vực có tổn thương.
- Tổn thương thứ phát:
• Bỏng rát hoặc châm chích: triệu chứng cơ năng
• Mảng được định nghĩa là sự hợp nhất của các khu vực cótổn thương viêm, vùng đỏ lớn hơn sẩn và mụn mủ màkhông kèm thay đổi thượng bì ở vùng xung quanh
• Khô da: da khô, thô ráp
• Phù nề: chú ý và ghi rõ khu vực (quanh mắt, giữa 2 lôngmày, gò má), phát hiện qua hỏi bệnh và thăm khám.Nếu hiện có lưu ý là cấp tính, mạn tính tái phát hay mạntính dai dẳng Nếu mạn tính, đánh giá rõ lõm hay khônglõm Mức độ từ 0 - 3 phụ thuộc vào sự lan rộng và mức
độ sưng nề
• Biểu hiện mắt: có các mức độ:
+ Nhẹ: ảnh hưởng đến bờ mắt và tuyến meibomius
+ Trung bình: ảnh hưởng đến trong mi mắt, bề mặt giácmạc, tiết dịch
Trang 20+ Trung bình: thay đổi đường nét nhưng không có cáckhối, u cục
+ Nặng: thay đổi đường nét và có các khối u cục
- Đánh giá toàn thể của bác sỹ dựa vào thể bệnh:
Mỗi thể chia làm các mức độ 0-3 dựa vào sự hợp lại của
các dấu hiệu và triệu chứng (Bảng 1.2)
- Đánh giá của bệnh nhân: Chia làm các mức độ từ 0-3 dựa trên
sự ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân: tâm
lý, xã hội và công việc
+ Nhẹ: Bệnh nhân biết đến hoặc nhận ra tình trạng bệnhnhưng không ảnh hưởng đến tâm lý và hoạt động xã hội củabệnh nhân
+ Trung bình: Bệnh nhân luôn luôn nhận thấy về bệnh trongsuốt các hoạt động xã hội và thường xuyên thấy xấu hổ
+ Nặng: Bệnh nhân luôn nghĩ về bệnh và luôn tránh cáctương tác xã hội
Bảng 1.2: Bảnh đánh giá của bác sỹ về mức độ nặng theo thể
2
Vài sẩn hoặc mụn mủ ban đỏdai dẳng mức độ trung bình,không có mảng
P Da dày với lỗ chân 1 Đối với mũi sư tử: sự phình lên
Trang 21trước, sau hay đồng
thời tổn thương da
3
Đau, nhạy cảm ánh sáng, hoặcnhìn mờ, sự thay đổi của bờ minặng, kèm theo mất lông mi.Viêm kết mạc nặng, tổnthương giác mạc với mất thịlực, viêm màng bồ đào, viêmmàng cứng của mắt
*Trong đó: 1: Mức độ nhẹ; 2: Mức độ trung bình; 3: Mức độ nặng.
Hình 1.5: Trứng cá đỏ thể đỏ da giãn mạch A: nhẹ; B: trung bình;
C: nặng [20]
Hình 1.6: Trứng cá đỏ thể sẩn mủ A: nhẹ; B: trung bình; C:
nặng [20]
Trang 22Ngoài cách đánh giá mức độ nặng của bệnh đã nêu ởtrên, còn có một cách đánh giá mức độ nặng khác, trong đóbệnh trứng cá đỏ được chia làm bốn giai đoạn [21]:
- Giai đoạn I: còn được gọi là tiền trứng cá đỏ (Pre-rosacea).
Giai đoạn này đặc trưng bởi chứng đỏ mặt thường xuyên,đặc biệt ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh trứng cá
đỏ Chứng mặt đỏ là triệu chứng có thể bắt đầu từ thời thơ ấu,mặc dù tuổi khởi phát trứng cá đỏ thường gặp từ sau tuổi 30.Cơn nóng bừng mặt có thể tăng lên hoặc đỏ mặt, có cảm giác
Trang 23châm chích khi sử dụng các sản phẩm chăm sóc da phổ biếnhoặc các liệu pháp điều trị bệnh trứng cá thông thường.
- Giai đoạn II: là giai đoạn tổn thương mạch
Trong giai đoạn này, các ban đỏ thoáng qua ở vùng trungtâm của mặt, cũng như các tổn thương giãn mạch nhẹ đã trởnên rõ nét hơn
- Giai đoạn III:
Các ban đỏ, cơn nóng bừng mặt trở nên sâu và dai dẳnghơn Các tổn thương giãn mạch tăng lên, sẩn và mụn mủ bắtđầu phát triển Trong suốt giai đoạn này, sự thay đổi ở mắtnhư viêm kết mạc, viêm bờ mi có thể phát triển Sẩn phù cóthể xuất hiện ở khu vực trên rãnh mũi má
- Giai đoạn IV:
Tình trạng viêm ở da và mắt tiếp tục xuất hiện và tăng lên.Tổn thương mắt có thể phát triển đến giác mạc và có thể gâyảnh hưởng đến thị lực Nhiều tổn thương ban đỏ có thể đượcnhìn thấy ở khu vực cạnh mũi Bắt đầu có sự tăng sinh mô sợi
và phì đại tuyến bã ở da, có thể làm phì đại mũi (mũi sư tử).Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi sử dụng phânloại theo 4 thể bệnh: thể đỏ da giãn mạch, thể sẩn mủ, thểphì đại và thể mắt
Trang 24Trong thể đỏ da giãn mạch, mô bệnh học có hình ảnhthâm nhiễm viêm một vài bạch cầu lympho và mô bào xungquanh các mạch máu kèm theo là hiện tượng phù, giãn cácmạch máu và bạch mạch ở trung bì Đôi khi có thể nhìn thấythoái hoá sợi chun rất nhiều Các đặc điểm mô học tương tựđược nhìn thấy trong các thể sẩn mủ nhưng thâm nhiễm viêmchỉ nhìn thấy ở xung quanh nang lông và tuyến bã
Trứng cá đỏ thể phì đại đặc trưng bởi thoái hoá sợi chun,
xơ hóa, thâm nhiễm viêm ở trung bì, tăng sản và phì đại nanglông của tuyến bã Quá trình tái tạo biểu mô trong lòng ống(có thể trong vùng cổ nang lông hoặc tại lòng ống tuyến bã)làm suy yếu sự tăng sản của mô và xuất hiện nhiều các thành
phần viêm Trứng của demodex folliculorum có thể được nhìn
thấy ở trong tất cả các thể của trứng cá đỏ ở tại cổ của nanglông hoặc tại lòng ống của tuyến bã Trứng có thể nở luônhoặc có thể lưu trú kéo dài [3], [22]
Xét nghiệm tìm demodex có thể cần thiết trong trường hợp nghi ngờ, có thể tìm thấy demodex ở nang lông, khi số
lượng trên 5 con/cm² cần cân nhắc điều trị
1.8 Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán xác định trứng cá đỏ chủ yếu dựa vào triệuchứng lâm sàng của bệnh nhân Không có xét nghiệm cận lâmsàng nào có thể dùng để khẳng định chẩn đoán Mô bệnh họcchỉ có giá trị để loại trừ các bệnh lý khác trong trường hợpnghi ngờ, không có giá trị để khẳng định chẩn đoán
Chẩn đoán xác định bệnh dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoáncủa Hội đồng chuyên gia thuộc Hiệp hội trứng cá đỏ Hoa Kỳ
Trang 25(NRSEC) [4], [20].
+ Chẩn đoán xác định bệnh trứng cá đỏ khi:
- Có ít nhất một triệu chứng nguyên phát điển hình ở vùng trungtâm của mặt gồm: cơn nóng bừng mặt, ban đỏ dai dẳng, sẩnmụn mủ, có thể kèm giãn mạch
- Có thể có một hoặc nhiều hơn các triệu chứng thứ phát sau:bỏng rát, châm chích, mảng đỏ, khô da, phù nề/ sẩn phù, biểuhiện ở mắt, các thay đổi phì đại
+ Chẩn đoán các thể của bệnh trứng cá đỏ:
- Thể đỏ da giãn mạch (subtype 1): Bệnh nhân có cơn nóngbừng và/ hoặc ban đỏ dai dẳng ở vùng trung tâm của mặt,
có thể kèm theo giãn mạch
- Thể sẩn mủ (subtype 2): Bệnh nhân có tổn thương sẩn, mụn
mủ ở vùng trung tâm của mặt Không có tổn thươngcomedon
- Thể phì đại (subtype 3): Da dày, bề mặt không đều, có cục/khối sần sùi và phì đại, có thể làm biến dạng vùng tổnthương, thường gặp ở mũi, cằn, trán, má hoặc tai Ở cácvùng phì đại có thẩy thấy lỗ chân lông mở rộng và biểu lộrõ
- Thể mắt (subtype 4): Mắt chảy nước hoặc sung huyết kếtmạc, cảm giác có vật lạ trong mắt, châm chích, bỏng rát,khô, ngứa, tăng nhạy cảm ánh sáng, nhìn mờ, giãn mạch ởkết mạc hoặc mi mắt, ban đỏ ở vùng quanh mắt Có thể có
Trang 26viêm kết mạc, viêm bờ mi, chắp mắt do viêm mạn tính tuyếnsụn mi
Một bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều thể bệnh
1.9 Chẩn đoán phân biệt
Trên lâm sàng, bệnh trứng cá đỏ cần đặt ra chẩn đoánphân biệt với nhiều bệnh như: trứng cá thông thường, trứng cá
đỏ do corticoid, viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm datiếp xúc, viêm da do ánh sáng, lupus ban đỏ,…
Trang 27Bảng 1.3: Chẩn đoán phân biệt với bệnh trứng cá đỏ [18]
- Comedones
- Khởi phát sớm
- Không bị giới hạn ở phầntrung tâm của mặt
- Không có giãn mạch hoặccơn nóng bừng mặt
Viêm da
tiếp xúc
- Ban đỏ, sẩn,mụn mủ
- Cảm giácbỏng, châmchích
- Thường phân bố theo kíchthước và vị trí tiếp xúc
- Thay đổi theo mùa
- Thường bị ở vùng ngoài củamặt
Lupus ban
đỏ
- Ban đỏ vùngmặt
- Phân bố thường gặp là banhình cánh bướm
- Nhạy cảm ánh sáng
- Có thể kèm các triệu chứngkhác như đau khớp, rụng tóc,loét miệng,…
Trang 28- Xét nghiệm miễn dịch đặchiệu
1.10 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị bệnh
trứng cá đỏ
Trứng cá đỏ là bệnh có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm
lý, xã hội của bệnh nhân Bệnh gây ra tình trạng lo lắng, bốirối, tự ti và có xu hướng tránh né các hoạt động xã hội Trongcác nghiên cứu thì điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhântrứng cá đỏ thấp hơn và ở nhóm đối tượng này có sự gia tăngbệnh trầm cảm Bệnh đặt ra một gánh nặng đáng kể đối vớichất lượng cuộc sống của bệnh nhân, gánh nặng này khôngchỉ từ vấn đề ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà còn do sự khó chịu,kích thích, châm chích từ các triệu chứng của bệnh [23], [24]
Có nhiều thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống củabệnh nhân bị bệnh trứng cá đỏ như DLQI, Skindex – 29,RosaQoI Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụngDermatology Life Quality Index – DLQI DLQI được hình thành
và sử dụng lần đầu tiên tại nước Anh vào năm 1994 bởiA.Y.Finlay và G.K.Khan [25], là thang điểm về chất lượng cuộcsống đầu tiên được dùng và có tính đặc thù cho chuyên ngành
da liễu, dễ sử dụng, có độ tin cậy và độ nhạy cao DLQI gồm
10 câu hỏi về triệu chứng bệnh, cảm xúc, hoạt động hàngngày, giải trí, công việc, luyện tập, học tập, các mối quan hệ
và về vấn đề điều trị (bảng 1.4) DLQI được dùng phổ biếntrong chuyên ngành da liễu, đánh giá cho hơn 30 tình trạngbệnh lý về da [25], [26], [27]
Trang 30Bảng 1.4: Bộ câu hỏi của DLQI
m
1. Trong tuần qua, da của anh/chị có bị tình trạng ngứa,
nhức, đau hoặc châm chích nhiều không?
2. Trong tuần qua, anh/chị có xấu hổ hay mặc cảm vì
bệnh của mình không?
3. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng
đến việc mua sắm, chăm sóc nhà cửa, vườn tược
không?
4. Trong tuần qua, bệnh của anh/chị có làm ảnh hưởng
đến việc lựa chọn quần áo để mặc nhiều không?
5. Trong tuần qua, bệnh có ảnh hưởng đến hoạt động xã
hội và giải trí của anh/chị nhiều không?
6. Trong tuần qua, bệnh có gây khó khăn trong việc chơi
thể thao không?
7. Trong tuần qua, anh/chị có không thể học tập/ làm
việc vì bệnh của mình không?
- Nếu “Có”: 3 điểm
- Nếu “Không”, trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn
đề gì trong công việc/ học tập không? (Nhiều / Một
ít / Không)
8. Trong tuần qua, bệnh có gây ra vấn đề gì đến mối
quan hệ với vợ/chồng, người yêu, bạn thân hay họ
hàng của anh/chị không?
9. Trong tuần qua, bệnh có gây ảnh hưởng nhiều đến
đời sống tình dục của anh/chị không?
10. Trong tuần qua, việc điều trị bệnh có gây ra khó
khăn nhiều cho anh/ chị không? Ví dụ: nhà cửa bề
bộn, mất thời gian,…
Tổng điểm
Trong đó điểm cho từng câu hỏi được đánh giá như sau:Rất nhiều: 3; Nhiều: 2; Một ít: 1; Không/ Không liên quan: 0.Tổng điểm từ 0 – 30, sau đó dựa vào tổng điểm cuối cùng,DLQI được chia thành 5 mức độ với 5 mức ảnh hưởng đếnchất lượng cuộc sống khác nhau:
Trang 31Bảng 1.5: Phân nhóm mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống của
Điều quan trọng đầu tiên trong điều trị bệnh trứng cá đỏ
là tư vấn cho bệnh nhân về tính chất mạn tính, tái phát củabệnh và cần được điều trị và theo dõi lâu dài Tránh các yếu tốkhởi phát hoặc làm nặng bệnh như rượu, đồ ăn cay, nóng,tránh căng thẳng, tia UV, nhiệt độ nóng hoặc lạnh, gió, tậpluyện thể dục, tránh sử dụng các mỹ phẩm, sản phẩm chămsóc da có chứa các chất gây kích ứng như toners, methol,camphor và sodium lauryl sulfate… Có thể sử dụng kemdưỡng ẩm, kem chống nắng, các chất tẩy rửa không chứa xàphòng Các yếu tố khởi phát hoặc làm nặng bệnh là đặc hiệuvới từng cá nhân, và những tác nhân phổ biến không phải tácđộng đến tất cả bệnh nhân, vì vậy, việc hỏi bệnh kỹ lưỡng để
Trang 32ở đa số bệnh nhân
1.11.1 Điều trị tại chỗ
Các thuốc điều trị tại chỗ đã được FDA công nhận trongđiều trị trứng cá đỏ là azelaic acid gel 15%, metronidazol 1%(dạng kem, gel và lotion), sodium sulfacetamide 10% với lưuhuỳnh 5% [18] Sử dụng các thuốc này một lần/ ngày đượcchứng minh là làm giảm tổn thương sẩn viêm và mụn mủ vàgiảm ban đỏ Các thuốc này có thể cân nhắc sử dụng hai lần/ngày hoặc phối hợp phương pháp khác nếu điều trị đơn độckhông có hiệu quả Metronidazol và azelaic acid được khuyếncáo ở mức độ B khi dùng cho phụ nữ có thai, trong khi đósodium sulfacetamide và lưu huỳnh là mức độ C [3]
Một số các thuốc tại chỗ khác như benzoyl peroxide,clindamycin, erythromycin, ức chế kênh calcineurin (tacrolimus,pimecrolimus), ivermectin và retinoid, brimonidine tartrategel,… cũng đã được chứng minh có hiệu quả ở một số nghiêncứu, tuy nhiên các thuốc này chưa được FDA công nhận trongđiều trị bệnh trứng cá đỏ
1.11.2 Điều trị đường uống
Sử dụng thuốc tại chỗ nhìn chung được ưa thích hơn sovới các thuốc đường uống, đặc biệt là cân nhắc hậu quả đến
Trang 33sự kháng kháng sinh và các nguy cơ liên quan đến việc sửdụng lâu dài các kháng sinh đường uống Hơn nữa, ánh nắngmặt trời là một trong những yếu tố khởi phát và làm nặngbệnh đã được chứng minh, nên sử dụng các thuốc nhạy cảmánh sáng ở những đối tượng này cần phải thận trọng Cáckháng sinh đường uống được sử dụng ngắn ngày để đạt đượckiểm soát nhanh các triệu chứng, và nên điều trị duy trì lâudài bằng các thuốc tại chỗ để làm giảm được tỷ lệ tái phátcủa bệnh
Hiện nay, trong các thuốc điều trị toàn thân chỉ có duynhất doxycyclin USP 40mg (chứa 30 mg giải phóng nhanh và10mg giải phóng chậm) được FDA công nhận để điều trị trứng
cá đỏ [29]
Với cơn nóng bừng hoặc ban đỏ mức độ trung bình đếnnặng, việc sử dụng thuốc uống ngắn ngày (2-4 tháng) vớinhóm cyclin hoặc isotretinoin có thể có hiệu quả kiểm soátbệnh ban đầu Tetracyclines làm giảm nhanh hơn các tổnthương sẩn đỏ, mụn mủ và ban đỏ khi so sánh với isotretinoin,
và kể từ những năm 1950, trứng cá đỏ đã được sử dụng điềutrị duy trì bằng nhóm tetracycline (với cả liều kháng khuẩn vàliều dưới kháng khuẩn) Tỷ lệ tái phát khoảng ¼ sau khingừng tetracycline 1 tháng, và hơn ½ tái phát sau 6 tháng kể
từ khi ngừng điều trị Vì vậy, điều trị duy trì bằng thuốc bôiđược bổ sung vào chiến lược điều trị Nhóm cyclin đường uốngkhông dùng cho phụ nữ có thai, chuẩn bị có thai và đang chocon bú [3]
Isotretinoin đường uống cũng là một trong những chỉ
Trang 34định đối với trứng cá đỏ thể nặng Isotretinoin không chỉ làmgiảm kích thước tuyến bã, làm giảm sản xuất chất bã nhờn vàcòn có tác dụng chống viêm, miễn dịch và chống lại sự tăngsinh của tổ chức [30] Ở một nghiên cứu nhỏ, người ta nhậnthấy khi sử dụng isotretinoin (30mg × 2 lần/ ngày trong 10tuần) để điều trị làm giảm có ý nghĩa lưu lượng dòng chảy củamạch máu ở da mặt (đo bằng máy laser – Doppler), trong khi
đó sử dụng tetracycline (250mg 2 lần/ ngày trong 10 tuần) thìkhông có sự khác biệt Liều thấp isotretinoin (10-40mg/ ngàyhoặc ít hơn 0,5mg/kg/ngày) cũng đạt được hiệu quả và dungnạp tốt hơn ở bệnh nhân trứng cá đỏ Vì isotretinoin đi quarau thai nên cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ trong lứatuổi sinh đẻ
Các thuốc khác sử dụng để điều trị trứng cá đỏ bao gồm:nhóm macrolide, metronidazol, tác nhân kháng androgenic(thuốc tránh thai, spironolactone, và cyproterone acetate),chẹn β giao cảm, cloidine, naloxone, và các chất ức chế tái hấpthu serotonin chọn lọc Ở bệnh nhân có tiền sử trứng cá hoặcoverlap giữa trứng cá thông thường và trứng cá đỏ,spironolacton liều thấp (25-50 mg/ ngày) và/hoặc thuốc tránhthai tỏ ra có hiệu quả
Khi xét nghiệm thấy demodex với số lượng lớn, hoặc ở
những trường hợp kháng trị với nhóm cyclin, có thể sử dụngivermectin thêm vào hoặc sử dụng đơn độc với liều 0,2mg/kg/lần; lặp lại hàng tuần hoặc hàng tháng đến khi kiểmsoát được triệu chứng [3]
1.11.3 Điều trị bằng laser hoặc IPL
Laser mạch máu và Intense pulsed light (IPL) có thể được
Trang 35sử dụng hỗ trợ với điều trị tại chỗ và đường uống để kiểm soáttriệu chứng nhanh hơn và triệt để hơn Phương pháp này cóthể loại bỏ được các tổn thương giãn mạch, làm giảm hoặcloại bỏ được tổn thương ban đỏ, giảm số lượng sẩn, mụn mủ
và kéo dài thời gian tái phát [24] Nhược điểm của phươngpháp này là chi phí điều trị đắt, có các tác dụng phụ như: ban
đỏ thoáng qua, sưng nề, xuất huyết, bọng nước, bỏng rát và
có thể có hiện tượng bong vảy
Laser (đặc biệt là PDL) và IPL có hiệu quả chủ yếu trongđiều trị làm giảm giãn mạch và ban đỏ trong bệnh trứng cá đỏ[3], [31]
1.11.4 Điều trị một số thể đặc biệt
Điều trị thể phì đại:
Uống isotretinoin đơn độc hiệu quả trong trường hợp thayđổi vùng tuyến bã nhẹ hoặc trung bình Phì đại thể nặng cóthể sử dụng phẫu thuật, laser Co2 để đảm báo tính thẩm mỹcho bệnh nhân [24], [32]
Điều trị thể mắt:
Với viêm bờ mi thể nhẹ có thể điều trị tại chỗ bằng cácdung dịch rửa nhẹ hoặc natri sulfacetamide/lưu huỳnh, dùngmột hoặc hai lần/ngày Thuốc mỡ tra mắt sodiumsulfacetamide 10% cũng có hiệu quả Một số nghiên cứu mớiđây sử dụng Cyclosporin A tại chỗ cũng cho hiệu quả tốt đốivới điều trị trứng cá đỏ thể mắt [33] Khi điều trị tại chỗ đápứng kém, sử dụng nhóm cyclin uống thường có hiệu quả [34]
1.12 Điều trị bệnh trứng cá đỏ bằng phối hợp Doxycyclin uống và Metronidazol bôi
1.12.1 Metronidazol tại chỗ
Trang 361988 [36] Về sau có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả điềutrị bệnh trứng cá đỏ bằng metronidazol tại chỗ
Cơ chế hoạt động của metronidazol trong trứng cá đỏchưa được làm rõ Hiệu quả của kháng sinh phổ rộng nàyđược cho là do tính kháng khuẩn và chống viêm của nó Trongnghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng metronidazol làm giảm sựgiải phóng các phân tử oxygen hoạt hóa – chất gây tổnthương mô tại vùng bị viêm từ bạch cầu đa nhân trung tính.Hoạt tính chống oxy hóa này có thể là cơ sở tác dụng chốngviêm trong bệnh trứng cá đỏ [10]
Hai công thức được sử dụng rộng rãi là metronidazol0,75% và 1% Dahl và cộng sự (2001) đã tiến hành nghiêncứu đa trung tâm so sánh giữa hai nhóm điều trị bằng kemmetronidazol 0,75% và 1% sử dụng tại chỗ một lần/ngày, tiếnhành trên 72 bệnh nhân trứng cá đỏ mức độ trung bình vànặng Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhómsau 12 tuần điều trị về sự giảm số lượng tổn thương, ban đỏ,mức độ nặng của bệnh theo đánh giá của bác sỹ, mức độ khô
da và độ an toàn khi sử dụng thuốc [37] Nghiên cứu này cũngchỉ ra rằng metronidazol tại chỗ dung nạp tốt, tác dụng phụthường gặp là bề mặt da khô và bong vảy (chiếm 25-28%),viêm da tiếp xúc, nặng hơn tình trạng trứng cá đỏ (6-14%)
Trang 37Tuy nhiên, các tác dụng phụ này giảm đi sau khi giảm lượngthuốc bôi
Nghiên cứu của Joseph L Jorizzo và cộng sự (1998) tiếnhành trên 277 bệnh nhân trứng cá đỏ, chia thành bốnnhóm điều trị: sử dụng metronidazol 1% bôi một lần/ ngày;metronidazol 1% bôi hai lần/ ngày; nhóm giả dược bôi mộtlần/ ngày, và nhóm giả dược bôi hai lần/ ngày Kết quả chothấy việc sử dụng metronidazol 1% bôi tại chỗ có hiệu quảlàm giảm nhanh tổn thương sẩn, mụn mủ và ban đỏ hơn sovới nhóm được dùng giả dược (sự khác biệt có ý nghĩa thốngkê) Và khi so sánh giữa hai nhóm dùng metronidazol 1% bôitại chỗ một lần/ngày và hai lần/ngày có tác dụng làm giảmtriệu chứng sẩn, mụn mủ không có sự khác biệt [38] Sựthuyên giảm của các tổn thương viêm có thể xảy ra sau ítnhất 2 - 4 tuần điều trị, nhưng để đạt được hiệu quả tối đathường xảy ra sau 8 - 9 tuần điều trị Sự tái phát có thể xảy rasau khi ngừng điều trị, vì vậy điều trị duy trì sau đó cũng đóngvai trò quan trọng [39]
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mù đôi, đa trung tâmcủa Karl Beutner và cộng sự (2005) đã so sánh điều trị trứng
cá đỏ bằng metronidazol 1% dạng kem, metronidazol 1%dạng gel và giả dược Kết quả cho thấy, sau 10 tuần điều trị,
số lượng tổn thương viêm giảm 66,7% ở nhóm sử dụng dạnggel; 58,3% ở nhóm sử dụng dạng kem và 46,2% ở nhóm giảdược (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001) Và sựkhác biệt này bắt đầu có ở tuần thứ 4 và tiếp tục đến khi kết
Trang 38thúc nghiên cứu Trong đó các tác dụng phụ tại chỗ giữa 3nhóm không có sự khác biệt [40]
1.12.2 Doxycylin đường uống
Doxycyclin là thuốc thế hệ thứ hai trong nhóm Cyclin, vàkhi so sánh với thế hệ đầu thì doxycyclin đã cải thiện được tácdụng sinh học, có thời gian bán thải dài hơn và có thể dùngcùng với thức ăn hoặc sữa, chính vì thế có tác dụng phụ lêntiêu hóa ít hơn [41] Năm 2006, FDA công nhận dùng
doxycyclin USP 40mg trong điều trị trứng cá đỏ Tuy nhiên,
hiện tại chế phẩm này chưa có mặt tại Việt Nam Mặc dù chưađược FDA công nhận, nhưng sử dụng doxycyclin với liềukháng khuẩn 100 – 200 mg/ ngày cũng đã được chứng minh
có hiệu quả và sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh trứng cá
đỏ, đặc biệt là trứng cá đỏ thể sẩn mủ [18], [42]
Hình 1.9: Cấu trúc hóa học của doxycyclin.
1.12.2.1 Dược lý và cơ chế tác dụng, dược động học [43]
- Doxycyclin là kháng sinh phổ rộng, có tác dụng kìmkhuẩn Thuốc ức chế vi khuẩn tổng hợp protein do gắnvào tiểu đơn vị 30S và có thể cả với 50S của ribosom vi
Trang 39khuẩn nhạy cảm, thuốc cũng có thể gây thay đổi ởmàng bào tương.
- Doxycyclin được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa (95% liều uống); hấpthu giảm khi dùng đồng thời chế phầm sữa Thuốc có thời gian bánthải từ 16-18 giờ Thuốc phân bố rộng trong cơ thể vào các mô và dịchtiết Thuốc tích lũy trong các tế bào lưới – nội mô của gan, lách và tủyxương, trong xương, ngà răng, men răng chưa mọc
- Phần lớn được thải trừ qua phân (qua gan), ít hơn qua nước tiều (quathận), và không tích lũy nhiều như các tetracyclin khác ở người suythận, do đó doxycyclin là một trong những thuốc nhóm tetracyclin antoàn (đặc biệt đối với người suy thận)
- Phụ nữ có thai, cho con bú
Một số lưu ý khi dùng thuốc:
- Ở trẻ em dưới 8 tuổi, doxycyclin gây biến màu răng vĩnh viễn,giảm sản men răng, và giảm tốc độ phát triển chiều dài của bộxương Do đó không dùng doxycyclin cho người bệnh ở nhómtuổi này trừ khi những thuốc kháng khuẩn khác chắc chắnkhông có hiệu quả hoặc bị chống chỉ định
- Phải tránh dùng doxycyclin trong thời gian kéo dài vì nguy cơkháng thuốc và gây bội nhiễm
- Tránh phơi nắng kéo dài vì có thể mẫn cảm với ánh sáng khidùng doxycyclin
- Phải uống viên nén với tối thiểu một cốc nước đầy, và ở
tư thế đứng, để tránh loét thực quản hoặc để giảm kich ứng
Trang 40và với warfarin, có thể làm tăng tác dụng của thuốc chốngđông.
1.12.2.4 Tác dụng không mong muốn
Các nghiên cứu điều trị bệnh trứng cá đỏ bằng doxycyclinđường uống (với liều kháng khuẩn hay dưới kháng khuẩn) đềucho thấy thuốc dung nạp tốt, các tác dụng phụ xuất hiện rất ít
và thường phục hồi sau khi ngừng thuốc Trong đó các tác dụngphụ có thể gặp khi sử dụng liều kháng khuẩn là [29], [43]:
Hệ thống tiêu hóa: trợt/loét thực quản, ợ hơi, ợ chua,nôn/buồn nôn, đau thượng vị
Da: nhạy cảm ánh sáng, photo-onycholysis, ngứa, triệuchứng dị ứng và có thể gặp các hình thái dị ứng thuốc như:
dị ứng thuốc thể phát ban mụn mủ cấp tính, Johnson, trứng cá, …
Stevens- Hệ thống thần kinh trung ương: tăng áp lực nội sọ, chóngmặt
Hệ thống sinh dục: viêm âm đạo, viêm âm đạo do Candida,