1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần á châu – chi nhánh đà nẵng theo basel II

113 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vẫn chưa thể hoàn thiện được việc áp dụng hiệp ước Basel II trong công tácquản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng.Xuất phát từ thực tế về yêu cầu ứng dụng hiệp ước Basel II trong hoạtđộng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI VŨ BẢO TRUNG

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

THEO BASEL II

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÙI VŨ BẢO TRUNG

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Bùi Vũ Bảo Trung

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO TIÊU CHUẨN BASEL II 10

1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10

1.1.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 10

1.1.2 Các nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng của NHTM 12

1.1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với NHTM 14

1.1.4 Tiêu chí cơ bản đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 15

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM 19

1.2.1 Tổng quan quản trị rủi ro tín dụng của NHTM 19

1.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II 26

1.3 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO TIÊU CHUẨN BASEL II TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC NHTM VIỆT NAM 36

1.3.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II tại một số ngân hàng trên thế giới 36

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về việc quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II cho Ngân hàng TMCP Á Châu – CN Đà Nẵng. 39

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO TIÊU CHUẨN BASEL II TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU – CN ĐÀ

NẴNG 42

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU – CN ĐÀ NẴNG (ACB ĐÀ NẴNG) 42

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ACB Đà Nẵng 42

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ACB Đà Nẵng 42

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB Đà Nẵng 44

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL II TẠI ACB ĐÀ NẴNG 44

2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB 45

2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng 47

2.2.4 Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng 51

2.2.5 Thực trạng chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng theo Basel II 60

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO NÓI CHUNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NÓI RIÊNG THEO TIÊU CHUẨN BASEL II TẠI ACB ĐÀ NẴNG 64

2.3.1 Những kết quả đạt được 64

2.3.2 Những hạn chế 66

2.3.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II của ACB Đà Nẵng 69

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO TIÊU CHUẨN BASEL II TẠI ACB – ĐÀ NẴNG 73

3.1 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA ACB – CN ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 73

Trang 6

đoạn 2018 - 2020 73

3.1.2 Định hướng công tác quản trị rủi ro tín dụng của ACB – CN Đà Nẵng theo Basel II trong giai đoạn 2018 - 2020 76

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO TIÊU CHUẨN BASEL II TẠI ACB – CN ĐÀ NẴNG 80

3.2.1 Tăng cường hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong quản trị rủi ro tín dụng 80

3.2.2 Đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng 84

3.2.3 Áp dụng mô hình đánh giá để lượng hóa rủi ro tín dụng theo quy định của Hiệp ước Basel II 85

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống thông tin 87

3.2.5 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin 89

3.2.6 Cải tiến công tác quản trị rủi ro tín dụng phù hợp với các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II 90

3.2.7 Đẩy mạnh công tác quản trị nhân lực và tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ 92

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 94

3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 94

3.3.2 Kiến nghị với Hiệp hội ngân hàng 99

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 7

ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

ROA Tỷ số lợi nhuận trên tài sản

ROE Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

Số hiệu Tên bảng Trang bảng

2.1 Kết quả hoạt động chủ yếu của ACB Đà Nẵng giai 44

Trang 9

Số hiệu Tên hình vẽ Trang hình vẽ

1.1 Các tuyến kiểm soát RRTD ở ngân hàng 211.2 Các bước của quy trình quản trị RRTD 25

2.1 Biểu đồ tổng tài sản và tổng nguồn vốn huy động 45

ACB Đà Nẵng giai đoạn 2014-2017

2.2 Biểu đồ cấu trúc tài sản ACB 2017 462.3 Biểu đồ tổng dư nợ và nợ quá hạn tại ACB Đà 48

Nẵng giai đoạn 2014-2017

2.4 Mô hình tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại ACB 50

Đà Nẵng

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO và đang trong tiến trình hộinhập quốc tế Với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá mạnh mẽ này, hoạtđộng kinh doanh Ngân hàng được xem là một trong những lĩnh vực hết sứcnhạy cảm, phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết quốc tế Trongbối cảnh chung đó, việc các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhữngthách thức như thế nào, tận dụng cơ hội ra sao và bằng cách nào để có thểbiến thách thức thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế của bản thân,muốn thế thì toàn bộ các thành viên trong hệ thống NHTM Việt Nam phải chủđộng nhận thức để tham gia vào quá trình hội nhập Một trong những điềuước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan tâm chính là hiệpước quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng – còn được biết thôngdụng với tên gọi Hiệp ước Basel Ra đời cách đây hơn 20 năm, hiệp ước nàyđược rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng làm chuẩn mực để đánh giá vàgiám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng nước mình Hiệp ước này hiệnnay đã có phiên bản mới với tên gọi The New Basel Capital Accord, cập nhật,đổi mới một số nội dung hơn so với phiên bản thứ nhất trước đó Riêng đốivới Việt Nam, việc ứng dụng hiệp ước Basel này trong công tác giám sát vàquản trị rủi ro tín dụng ngân hàng vẫn còn nhiều vướng mắc, nên vẫn chỉ mớidừng lại ở việc lựa chọn một số tiêu chí đơn giản trong phiên bản thứ nhất đểvận dụng và vẫn chưa tiếp cận nhiều với phiên bản hai Điều này thực tế cũnggây khó khăn ít nhiều cho quá trình hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng củaViệt Nam

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) là 1 trong 10 ngân hàng đầu tiên đượcNHNN lựa chọn triển khai Basel II tại Việt Nam Ngân hàng TMCP Á Châu

đã chủ động phân tích và xây dưng lộ trình tổng thể triển khai Basel II Tuynhiên, với những khó khăn về việc thay đổi phương thức và cơ chế quản lýhình thành từ lâu để có thể áp dụng hiệp ước trong hoạt động của mình, ACB

Trang 11

vẫn chưa thể hoàn thiện được việc áp dụng hiệp ước Basel II trong công tácquản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng.

Xuất phát từ thực tế về yêu cầu ứng dụng hiệp ước Basel II trong hoạtđộng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng như từ thực tế hiệu quả cònhạn chế của công tác quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn của hiệp ước

Basel II tại Ngân hàng TMCP Á Châu, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – chi nhánh Đà Nẵng theo Basel II” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của NHTM theo tiêu chuẩn Basel II

- Phân tích đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵnggiai đoạn 2014-2017, trên cơ sở tham chiếu với các tiêu chuẩn của Basel II đểđánh giá những kết quả và hạn chế của quá trình quản trị RRTD tại ngân hàngnày, tạo cơ sở cho các kiến nghị

- Đưa ra kiến nghị nhằm gợi ý cho các nhà quản trị ACB Đà Nẵng trong chiến lược quản trị rủi ro tín dụng theo tiêu chuẩn Basel II

3 Đối tượng và phạm vi nghiên

cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng theo tiêu chuẩn Basel II

- Về thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2014-2017

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp này được sử dụng trong

việc thu thập các số liệu ở các báo cáo thường niên của ACB, Ngân hàng Nhànước Việt Nam để phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm

Trang 12

tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II ở ngân hàng ACB

Đà Nẵng

- Xử lý số liệu:

+ Phương pháp thống kê mô tả

+ Phương pháp thống kê so sánh: So sánh số tương đối và tuyệt đối giữacác năm nghiên cứu để có những đánh giá mức độ tăng, giảm và tốc độ pháttriển của các nhân tố, từ đó đưa ra các đánh giá, kết luận về tình hình hoạtđộng của ACB Đà Nẵng

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này được sử dụng

trong giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu đánh giá về thực trạng ứng dụngBasel II trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của ACB nói chung và ACB ĐàNẵng nói riêng

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Về mặt lý luận

- Tổng hợp, hệ thống lại các vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi

ro tín dụng, các quy định về quản trị rủi ro tín dụng của Basel II và sự cầnthiết phải đáp ứng Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng

5.2 Về mặt thực tiễn

Kết hợp việc phân tích các dữ liệu, số liệu thu thập được từ các báo cáocủa ACB với dữ liệu thu thập được thông qua khảo sát các đối tượng là nhàquản lý, nhân viên ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng, tác giả chỉ ra đượcnhững hạn chế trong việc thực hiện quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II ởACB Đà Nẵng là nội dung Basel II phức tạp, nhân viên ngân hàng chưa cónhận thức đầy đủ về lợi ích của Basel II, NHNN chưa có văn bản hướng dẫn

cụ thể về việc thực hiện Basel II, ACB chưa đáp ứng các điều kiện thực hiệntheo Basel II (hệ thống cơ sở dữ liệu, nhân lực, tổ chức xếp hạng tín nhiệmchuyên nghiệp, năng lực giám sát) Các phát hiện của nghiên cứu đưa ra gợi ýcho ACB trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách quản trị rủi ro tíndụng theo tiêu chuẩn Basel II

Trang 13

6 Tổng quan tài liệu

Quản trị rủi ro tín dụng đã có nhiều công trình, đề tài ở nước ngoài vàtrong nước dưới dạng bài nghiên cứu trên tạp chí, luận văn dưới nhữnghướng khác nhau như:

*Hướng thứ nhất là nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng ngân hàng

(Das, Abhiman & Ghosh, Saibal, "Determinants of Credit Risk in IndianState-owned Banks: An Empirical Investigation,", 2007; Funda.Y,

“Macroeconomic Modelling of Credit Risk for Banks, 2nd World Conference

on Business”, 2014; Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản, “Các yếu tố ảnh hưởngđến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, 2014).Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kếthợp với nghiên cứu định tính, phân tích dữ liệu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởngtới rủi ro tín dụng Các nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố vĩ mô (sự tăngtrưởng GDP) có ảnh hưởng tới RRTD (Das and Ghosh, 2007; Funda, 2014;

Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản, 2014) Ngoài ra nhân tố quy mô của ngânhàng, tăng trưởng tín dụng, chi phí hoạt động của ngân hàng (Das and Ghosh,2007), nhân tố rủi ro tín dụng trong quá khứ có độ trễ một năm (Võ Thị Quý

và Bùi Ngọc Toản, 2014), nhân tố tỷ lệ lạm phát, lãi suất, chỉ số ISE-100, tỷgiá ngoại tệ, cung tiền M2, tỷ lệ thất nghiệp (Funda, 2014) đều có ảnh hưởngtới RRTD của ngân hàng

Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hữu Thạch, “Các yếu tố ảnh hưởng đếnrủi ro tín dụng - bằng chứng thực nghiệm tại NHTM Việt Nam”, 2015 Xemxét các yếu tố tác động đến RRTD thông qua tỷ lệ nợ xấu của 26 NHTM ViệtNam từ năm 2003-2015 kết quả đã chỉ ra tỷ lệ nợ xấu năm trước cao có ảnhhưởng nghịch chiều tới tỷ lệ nợ xấu năm hiện tại, ROE quan hệ nghịch chiềuvới nợ xấu, ngân hàng có quy mô lớn có nguy cơ rủi ro tín dụng cao hơn.Hướng nghiên cứu này chủ yếu là sử dụng phương pháp định lượng, sửdụng số liệu sơ cấp thu thập từ khảo sát phân tích để chỉ ra các nhân tố ảnhhưởng tới RRTD của ngân hàng mà không kết hợp với số liệu thứ cấp thuthập từ thực trạng quản trị rủi ro tín dụng mà các ngân hàng đang áp dụng

Trang 14

Các nhân tố ảnh hưởng RRTD được chỉ ra ở mỗi nghiên cứu cũng có sự khácnhau và ngoài ra trên thực tế còn có các nhân tố khác ảnh hưởng tới RRTD.Mặt khác nữa mỗi ngân hàng lại có đặc thù riêng, có chính sách quản trị rủi rotín dụng riêng.

*Hướng nghiên cứu thứ hai là mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tín dụng với khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại (Li and Zou (2014),

Berger and DeYoung (1997), Sabeza, F., Shukla, J., Bajpai, G., (2015) …).Berger and DeYoung, "Problem loans and cost efficiency in commercialbanks", 1997 nghiên cứu ở Mỹ đã chỉ ra rằng dư nợ xấu có ảnh hưởng tới chiphí, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khi dư nợ xấu tăng thì làmcho chi phí xử lý dư nợ xấu tăng, làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng

và ngược lại khi ngân hàng dành ít chi phí cho việc kiểm tra, giám sát thu hồi

nợ thì sẽ làm dư nợ xấu tăng

Nghiên cứu của Sabeza và cộng sự, “Assessing Credit Risk ManagementPractices and Performance of Commercial Banks in Rwanda”, 2015 ởRwanda cũng cho rằng quản trị rủi ro tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp tới khảnăng sinh lời của ngân hàng Có một sự khác biệt so với nghiên cứu trướctrong nghiên cứu của Li and Zou, “The Impact of Credit Risk Management onProfitability of Commercial Banks: A Study of Europe”, 2014 là quản trị rủi

ro tín dụng không có ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng, hệ số CAR cóảnh hưởng không đáng kể với ROE và ROA

Hướng nghiên cứu này bằng việc sử dụng dữ liệu sơ cấp, thứ cấp đãphân tích dữ liệu chỉ ra có mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tín dụng và khảnăng sinh lời của ngân hàng Tuy nhiên các tiêu chí để đo lường rủi ro tíndụng, khả năng sinh lời của các ngân hàng cũng có sự khác nhau trong mỗinghiên cứu Mặt khác nữa để quản trị rủi ro hạn chế được những tổn thất vềlợi nhuận cho ngân hàng thì đòi hỏi các ngân hàng phải căn cứ vào điều kiện,đặc thù của mỗi ngân hàng để xây dựng các chính sách quản trị rủi ro tín dụngtuân thủ theo các tiêu chuẩn Basel phù hợp

*Hướng nghiên cứu thứ ba là quản trị rủi ro tín dụng của các ngân

Trang 15

hàng thương mại (Wang (2013); Lê Thị Huyền Diệu (2010); ).

Wang, “Credit risk management in rural commercial banks in China”,

2013 đánh giá quản trị rủi ro tín dụng ở Trung Quốc tiếp cận từ phía kháchhàng bằng việc phân tích chỉ tiêu tài chính, phi tài chính của khách hàng, tìmnguyên nhân dẫn tới sự thất bại trong kinh doanh của khách hàng từ đó ngânhàng đưa ra chính sách hạn chế rủi ro tín dụng

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thị Huyền Diệu, “Luận cứ khoa học về xácđịnh mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam”, 2010;Nguyễn Đức Tú, “Quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại cổ phầncông thương Việt Nam”, 2012 đã xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, từ

đó phân tích các điều kiện thực tiễn để áp dụng tại các NHTM Việt Nam

Theo hướng nghiên cứu này, các nghiên cứu chỉ dừng ở việc sử dụng các

số liệu thứ cấp phân tích các chính sách quản trị rủi ro tín dụng mà các ngânhàng đang áp dụng chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đưa ra các giải phápkhuyến nghị cho các ngân hàng về công tác quản trị rủi ro tín dụng mà chưa

đề cập tới việc các ngân hàng có áp dụng Hiệp ước Basel trong quản trị rủi rotín dụng không và việc áp dụng Basel trong quản trị rủi ro tín dụng của cácngân hàng như thế nào

*Hướng nghiên cứu thứ tư là quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II: Denis và cộng sự, “Bank Management Using Basel II‐ Data: Is the

Collection, Storage and Evaluation of Data Calculated with Internal ApproachesDispensable?”, 2007 ở Đức đã chỉ ra rằng để quản lý tốt hơn rủi ro tín dụng, đảmbảo an toàn vốn thì việc sử dụng dữ liệu theo tiêu chuẩn Basel II sẽ hiệu quả hơnvới dữ liệu của mô hình quản lý nội bộ của ngân hàng Tuy nhiên, việc thực hiệnquản lý rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel II rất tốn kémchi phí, các ngân hàng cần phải có điều kiện nhất định và để hiệu quả quản lý rủi

ro tín dụng, đảm bảo an toàn vốn và lợi nhuận là tối ưu Nghiên cứu này chỉ rarằng các ngân hàng cần có sự tích hợp sử dụng dữ liệu theo tiêu chuẩn Basel II

và hệ thống quản lý nội bộ của ngân hàng

ỞViệt Nam, có một số nghiên cứu về vấn đề này như (Nguyễn Thị Kiều

Trang 16

Minh (2015), Phan Thị Linh (2016), ).

Nguyễn Thị Kiều Minh, “Quản lý rủi ro cho ngành ngân hàng thươngmại ở Việt Nam”, 2015 trong nghiên cứu của mình đã phân tích các dữ liệuthu thập về hoạt động tín dụng, áp dụng Basel II ở NHTM Việt Nam, nghiêncứu chỉ ra rằng để tiếp tục phát triển thì các ngân hàng thương mại cần có ápdụng phương pháp quản lý rủi ro hợp lý, phải cân nhắc giữa lợi nhuận và rủi

ro để đạt được tối đa hóa lợi nhuận cùng với giảm thiểu rủi ro và cần tăngcường vai trò giám sát để tăng tính hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.Việc triển khai Basel II đối với 10 ngân hàng được NHNN lựa chọn thí điểmthì gặp không ít những khó khăn và thách thức như chi phí triển khai thựchiện, thông tin dữ liệu Việc áp dụng chuẩn mực vốn theo tiêu chuẩn vốnBasel II sẽ tạo động lực và định hướng trong việc nâng cao năng lực quản lýrủi ro và quản lý, phân bổ vốn theo tiêu chuẩn quốc tế

Phan Thị Linh, “Quản trị rủi ro trên cơ sở ứng dụng Basel II tại các Ngânhàng thương mại Nhà nước”, 2016 nghiên cứu về quản trị rủi ro trên cơ sởứng dụng Basel II tại các ngân hàng thương mại nhà nước Nghiên cứu chỉ rarằng việc thực hiện theo Basel II là bước đi cần thiết và không thể không làmnhằm bảo đảm sự ổn định cho hệ thống ngân hàng nói riêng và thị trường tàichính nói chung Tuy nhiên các NHTM triển khai và thực hiện ứng dụngBasel II đang gặp những khó khăn nhất định như chi phí thực hiện triển khai

và ứng dụng Basel II lớn, nợ xấu của ngân hàng đang có xu hướng tăng cao.Hướng nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II, các nghiêncứu đều chỉ ra rằng việc thực hiện theo Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng

là cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng và ổn định cho

hệ thống ngân hàng Việc triển khai và thực hiện quản trị rủi ro tín dụng theoBasel II các ngân hàng gặp không ít những khó khăn thách thức và để ứngdụng Basel II trong quản trị rủi ro thì các ngân hàng cần phải có điều kiện cầnthiết nhất định Các nghiên cứu nhìn chung vẫn chưa đi sâu phân tích đánhgiá thực trạng việc ứng dụng Basel II, tiến trình thực hiện, nội dung thực hiện,mức độ ứng dụng Basel II trong công tác quản trị rủi ro tín dụng và hoặc có

Trang 17

nghiên cứu nhưng là ở nước ngoài hoặc ở một chi nhánh ngân hàng ViệtNam Như vậy, qua quá trình tổng quan các nghiên cứu về vấn đề quản trị rủi

ro tín dụng cho thấy có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiềuhướng nghiên cứu khác nhau, mỗi hướng nghiên cứu có cách tiếp cận khácnhau, có ưu điểm và hạn chế

Luận văn Luận văn này của tôi nghiên cứu theo hướng quản trị rủi ro tín

dụng theo Basel II Bởi theo như tổng quan cho thấy: (1) Rủi ro tín dụng là

rủi ro quan trọng nhất, được các ngân hàng quan tâm hàng đầu (2) Các

nghiên cứu đều khẳng định quản trị rủi ro theo Basel II là cần thiết và hữuhiệu cho các ngân hàng (3) Việc triển khai và thực hiện quản trị rủi ro tíndụng theo Basel II đang gặp nhiều khó khăn và thách thức

Mặt khác, tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy: (1) ACB là ngân hàngnằm trong số 10 ngân hàng thí điểm áp dụng phương pháp quản trị vốn và rủi

ro theo tiêu chuẩn Basel II, với lộ trình áp dụng từ tháng 2/2016 và hoàn thànhviệc thí điểm vào năm 2018 (2) Việc triển khai và thực hiện quản trị rủi ro tíndụng theo Basel II ở Việt Nam trong đó có ACB đang gặp nhiều khó khăn vàthách thức như chi phí triển khai Basel II, thiếu dữ liệu lịch sử, quy định củaNHNN về tỷ lệ an toàn vốn (3) Chưa có công trình nghiên cứu nào đầy đủ vềquản trị rủi ro tín dụng theo Basel II ở NHTM Việt Nam và nhất là ACB (4)Mặc dù có những công trình nghiên cứu ở trên thế giới về quản trị rủi ro tíndụng theo Basel II nhưng đặc điểm NHTM Việt Nam cũng như ACB có điểmkhác với ngân hàng trên thế giới như về quy mô vốn, về đặc điểm kháchhàng, về ứng dụng công nghệ thông tin do đó không thể áp kết quả nghiêncứu vào Việt Nam

Do đó, “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – chi nhánh Đà Nẵng theo Basel II” được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Nội dung chính của luận văn:

Về cấu trúc, ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành bachương:

Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của

Trang 18

ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn Basel II

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng theo tiêu chuẩn Basel II

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cho quản trị rủi ro tín dụng tại ACB Đà Nẵng theo tiêu chuẩn Basel II

Trang 19

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI

RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO

TIÊU CHUẨN BASEL II1.1 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

ngân hàng, theo tác giả thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là

những tổn thất có thể xảy ra mà ngân hàng không lường trước được, trong phạm vi không gian và thời gian nhất định.

Căn cứ theo Thông tư Số 41/2016/TT-NHNN “Quy định tỷ lệ an toànvốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” ban hành ngày30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì rủi ro được phân thành cácloại sau:

- Rủi ro tín dụng:

a) Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không

có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồnghoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

b) Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không

có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặckhi đến hạn của các giao dịch

-Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường Rủi ro thị trường bao gồm:

a) Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất trên thị trườngđối với giá trị của giấy tờ có giá, công cụ tài chính có lãi suất, sản phẩm pháisinh lãi suất trên sổ kinh doanh của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;b) Rủi ro ngoại hối là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá trên thịtrường khi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trạng thái ngoại tệ;

Trang 20

c) Rủi ro giá cổ phiếu là rủi ro do biến động bất lợi của giá cổ phiếu trênthị trường đối với giá trị của cổ phiếu, giá trị chứng khoán phái sinh trên sốkinh doanh của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

d) Rủi ro giá hàng hóa là rủi ro do biến động bất lợi của giá hàng hóatrên thị trường đối với giá trị của sản phẩm phái sinh hàng hóa, giá trị của sảnphẩm trong giao dịch giao ngay chịu rủi ro giá hàng hóa của ngân hàng, chinhánh ngân hàng nước ngoài

- Rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng là rủi ro do biến động bất lợi của lãisuất đối với thu nhập, giá trị tài sản, giá trị nợ phải trả và giá trị cam kết ngoạibảng của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát sinh do:

a) Chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới hoặc kỳ xác định lại lãi suất;

b) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất của các công cụ tài chính khác nhau nhưng có cùng thời điểm đáo hạn;

c) Thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau;d) Tác động từ các sản phẩm quyền chọn lãi suất, các sản phẩm có yếu tốquyền chọn lãi suất

- Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy

đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc

do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tàichính đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ropháp lý)

- Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tưhoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của ngân hàng, chi nhánhngân hàng nước ngoài

- Rủi ro chiến lược là rủi ro do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài có hoặc không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước cácthay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinhdoanh, mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.Trong hoạt động của ngân hàng các ngân hàng phải đối mặt với nhiều

Trang 21

loại rủi ro trong đó rủi ro lớn mà các ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng,rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và việc hiểu các thành phần rủi ro cho phépcác ngân hàng có chính sách quản trị rủi ro phù hợp Trong các loại rủi ro cácngân hàng phải đối mặt thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro quan trọng nhất, đây làloại rủi ro phụ thuộc cả về phía khách hàng và ngân hàng (Wang, 2013).

1.1.2 Các nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng của NHTM

Các nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng đã được một số nghiên cứukhẳng định như chính sách kiểm soát, quản lý yếu kém, cho vay ồ ạt, nănglực thể chế hạn chế, chính sách tín dụng không phù hợp, lãi suất biến động,tình trạng lỏng lẻo trong việc đánh giá tín dụng, đánh giá nợ xấu, ngân hàngnhà nước giám sát không chặt chẽ Tổng quan cho thấy có nhiều nguyênnhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng bao gồm cảnguyên nhân thuộc về bên trong và bên ngoài ngân hàng

*Nhân tố từ bên ngoài

Rủi ro tín dụng thường được cho là hệ quả của rủi ro hệ thống có nguồngốc từ các góc độ vĩ mô Rủi ro hệ thống biểu hiện cho các vấn đề tài chínhlớn như sự thay đổi chính sách tiền tệ, hệ thống pháp luật, lạm phát… nó gây

ra sự bất lực của những người tham gia thị trường tài chính trong việc thựchiện nghĩa vụ trả nợ nới rộng tín dụng Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột,khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho kháchhàng và ngân hàng cho vay Cụ thể:

Do sự thay đổi chính sách của Chính phủ: Khi mà nền kinh tế biến động

như lạm phát, thất nghiệp thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sáchkinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tớinền kinh tế đất nước Các chính sách của chính phủ thường xuyên quan tâm

và có sự thay đổi kịp thời như là chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách đầu

tư phát triển Đây là những chính sách chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnhhưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại Các chính sách vĩ mô này cóảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng

Nhân tố từ phía môi trường pháp lý: Wang, Y., “Credit risk management

Trang 22

in rural commercial banks in China”, 2013 cho rằng nguyên nhân dẫn tới sự

vỡ nợ của khách hàng vay vốn từ sự chính sách pháp luật thiếu đồng bộ, từ sựyếu kém trong kinh doanh từ đó dẫn tới rủi ro tín dụng ngân hàng Hoạt độngkinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực củanền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lànhmạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuậnlợi Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất

dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hộikém ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, người phải trả tiềnkhông trả được nó kéo theo những người khác bị vỡ nợ không trả được ngânhàng

Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh

hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờvới thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con người Vì vậy khi có thiên taidịch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổnthất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu… Điều đó đồngnghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro với khách hàng củamình (Wang, 2013)

Môi trường kinh tế xã hội: Môi trường kinh tế xã hội trong một nước

biến động chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó lànguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế,

từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền

tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất Sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế,các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớncho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây rủi ro cho vay của ngân hàng(Wang, 2013)

Tất cả những nhân tố trên nếu không được dự báo và có biện pháp phòngngừa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh và điều kiệnkinh doanh của ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn Điều này

Trang 23

được thể hiện là khi mà một người phải trả tiền do ảnh hưởng bởi yếu tố trênkhông trả được dẫn đến những người khác liên quan cũng không trả được.Điều này lan rộng ra khắp thị trường, nó dẫn tới việc ngân hàng không thuhồi được nợ do khách hàng vỡ nợ.

*Nhân tố từ bên trong ngân hàng

Ngoài ra, rủi ro tín dụng của ngân hàng còn do nguyên nhân từ nội bộcủa ngân hàng Một trong những nguyên nhân nội bộ của ngân hàng là thuộc

về đạo đức, trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng Nhân viên ngânhàng thiếu trách nhiệm, có trình độ năng lực yếu, đạo đức yếu kém dẫn tớicho vay với những doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện vay vốn có hoạtđộng yếu kém với những hồ sơ tín dụng có vấn đề (Wang, 2013) Điều nàyđược khẳng định trong nghiên cứu của Allen N Berger & Robert DeYoung,

"Problem loans and cost efficiency in commercial banks", 1997 khi cho rằng

nợ xấu gia tăng là do sự yếu kém trong quy trình thẩm định tín dụng trước,trong và sau khi cho vay dẫn đến việc ngân hàng lựa chọn sai khách hàng chovay (khách hàng vay không đủ điều kiện vay vốn) Ngoài ra, rủi ro tín dụngcòn xảy ra do nhân viên ngân hàng năng lực chuyên môn, hay do đạo đức yếukém trong bảo đảm tiền vay không đánh giá đúng giá trị tài sản đảm bảo hoặcgiá trị tài sản thế chấp có biến động theo chiều hướng xấu

Như vậy, nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng cho các ngân hàng gồm có nguyên nhân từ phía bên ngoài và bên trong ngân hàng Việc nghiên cứu các nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng giúp các ngân hàng cho vay đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn rủi ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh của mình tránh những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng.

1.1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với NHTM

Rủi ro tín dụng gây ra những tổn thất cho ngân hàng như làm tăng chiphí giảm lợi nhuận ngân hàng, giảm khả năng sinh lời của ngân hàng Nghiêncứu của Berger and DeYoung, "Problem loans and cost efficiency incommercial banks", 1997 cho rằng khi ngân hàng phát sinh các khoản nợ xấutrước đó thì ngân hàng phải mất nhiều các chi phí xử lý nợ có vấn đề

Trang 24

như chi phí đi lại, chi phí nhân viên, các chi phí gặp gỡ để xử lý nợ và ngoài

ra ngân hàng còn mất chi phí cơ hội như cho vay món mới, giảm uy tín, chậmvòng quay tín dụng và từ đó làm giảm hiệu quả chi phí của ngân hàng Nghiêncứu về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của Li and Zou,

“The Impact of Credit Risk Management on Profitability of CommercialBanks”, 2014 kết quả chỉ ra rằng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng tới khả năngsinh lời (ROA, ROE) của ngân hàng và làm giảm khả năng sinh lời của ngânhàng

Rủi ro trong hoạt động cho vay còn gây ra tổn thất gián tiếp cho các ngânhàng khác Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường

Nó liên quan đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cungcấp vốn cho nền kinh tế Vì vậy, ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến chính sáchtiền tệ, đến công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước Nếu có sự thất thoát lớntrong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, khôngkhắc phục kịp thời thì có thể gây nên “phản ứng dây truyền” đe doạ đến antoàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây hậu quả rất lớn đến sựphát triển của nền kinh tế

Rủi ro tín dụng gây ra hậu quả lớn cho ngân hàng, cho hệ thống ngânhàng và cho nền kinh tế Các kiến thức và việc sử dụng các phương phápthích hợp để giám sát, đo lường, quản lý, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro tíndụng là rất cần thiết đối với mỗi ngân hàng thương mại và đối với ngànhngân hàng nói chung

1.1.4 Tiêu chí cơ bản đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng

Đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng gồm có nhóm chỉ tiêu trực tiếp

và nhóm chỉ tiêu gián tiếp:

- Nhóm các chỉ tiêu trực

tiếp + Chỉ tiêu nợ quá hạn

Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:

Tổng Dư Nợ quá hạn

Tổng Dư Nợ cho vay

Trang 25

Chỉ tiêu nợ quá hạn cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh rủi ro tíndụng Chỉ tiêu này phản ánh số số dư Nợ gốc và lãi quá hạn mà chưa thu hồiđược Theo TT41/2016/TT-NHNN ban hành 30/12/2016 thì “Khoản nợ quáhạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”.Thông thường tỷ lệ này ở mức <2% được xem là rất tốt, tỷ lệ từ 2%-5%được cho là tốt, từ 5-10% là chấp nhận được và trên 10% là có vấn đề.

Số khách hàng có dư

quá hạn Tổng số khách hàngChỉ tiêu này cho biết cứ 100 khách hàng vay vốn thì có bao nhiêu kháchhàng có dư nợ quá hạn Tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ chính sách tín dụngcủa ngân hàng là không hiệu quả Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ rủi ro tíndụng của ngân hàng càng lớn

+ Chỉ tiêu nợ xấu

TT41/2016/TT-NHNN ban hành 30/12/2016 thì “Nợ xấu (NPL) là nợthuộc các nhóm 3, 4 và 5” Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn,vốn của ngân hàng không còn ở mức rủi ro thông thường mà ở mức nguy cơmất vốn Nợ xấu được phản ánh qua chỉ tiêu:

Tỷ lệ nợ xấu = Tổng Dư Nợ xấu

x 100 Tổng Dư Nợ cho vay

Đây là chỉ tiêu trực quan và chủ yếu phản ánh lượng danh mục tín dụngcủa ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao phản ánh chất lượng tín dụng càng thấp,tức rủi ro tín dụng càng cao Theo ngân hàng thế giới tỷ lệ này ở mức dưới5% là có thể chấp nhận được, từ 1-3% là tốt

+ Chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp RRTD

TT41/2016/TT-NHNN ban hành 30/12/2016 thì “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những

Trang 26

tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung” Chỉtiêu dự phòng RRTD gồm có hai chỉ tiêu sau:

- Nhóm các chỉ tiêu gián tiếp

+ Tốc độ tăng trưởng tín dụng

Tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng giá trị khoản cho vay qua các năm.Nếu chỉ tiêu này tăng trưởng quá nóng có thể dẫn tới việc ngân hàng mấtkiểm soát chất lượng tín dụng Cũng có những ngân hàng nhằm che giấu tỷ lệ

nợ xấu cao đã tăng cường cấp tín dụng trước khi thanh tra Chỉ tiêu tốc độtăng trưởng tín dụng nóng là tín hiệu về rủi ro tín dụng sẽ gia tăng trongtương lai Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở nước đang phát triển thường 10-20%, còn ở nước phát triển 5-10% (Nguyễn Văn Tiến, 2015)

+ Tỷ lệ Dư nợ tín dụng/Tổng tài sản (Hệ số rủi ro tín dụng)

Đối với các ngân hàng hiện đại, tỷ lệ này thường vào khoảng 50-60%, tức danh mục tài sản không tập trung quá mức vào tín dụng nên rủi ro được

Trang 27

phân tán Ở các nước đang phát triển (Việt Nam) thì tỷ lệ này khá cao 80% Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện mức độ tập trung rủi ro tín dụng Vìvậy, để giảm rủi ro thì các ngân hàng phải đa dạng hóa danh mục tài sản nhằmphân tán rủi ro quá mức vào tín dụng.

Dư nợ tín dụng của từng lĩnh vực

Tổng Dư nợChỉ tiêu này phản ánh quy mô của từng lĩnh vực Phản ánh danh mục đầu

tư của ngân hàng ở một thời điểm Nếu ngân hàng quá tập trung đầu tư vàolĩnh vực nào đó thì mức độ tập trung rủi ro cao Dư Nợ cho vay lĩnh vực nhạycảm không quá vốn tự có Tổng dư Nợ cho vay kinh doanh bất động sản,chứng khoán không quá 30% vốn tự có

Cơ cấu tín dụng phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngànhnghề, lĩnh vực, loại tiền… do vậy, nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vàonhững lĩnh vực mạo hiểm, sẽ phản ánh rủi ro tín dụng tiềm năng

Nhìn vào các chỉ số này có thể thấy mức độ rủi ro trong danh mục khoản

Trang 28

vay của một TCTD hoặc của cả một hệ thống tài chính Vì vậy, Chính phủ cácnước thường quy định cụ thể về mức độ rủi ro chấp nhận được của mộtTCTD thông qua việc khống chế giá trị các chỉ tiêu đo lường rủi ro này Đểđạt được mục tiêu duy trì các chỉ số đo lường rủi ro theo đúng quy địnhChính phủ, các TCTD phải thiết lập một hệ thống đo lường rủi ro của riêng

họ theo quan điểm quản lý rủi ro hiện đại

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM

1.2.1 Tổng quan quản trị rủi ro tín dụng của NHTM

a Quan niệm quản trị rủi ro tín dụng

Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các tổchức tài chính, ngân hàng đã đưa ra nhiều khái niệm quản trị RRTD Có thểthấy một số khái niệm điểm hình:

Theo tài liệu tập huấn quản trị RRTD của Trường Đào tạo Ngân hàngThụy Sĩ - Á Châu (2012): “Quản trị RRTD là quá trình độc lập kiểm soát vàgiám sát mức độ chấp nhận RRTD để đảm bảo rằng hoạt động đó nằm tronggiới hạn đã định và phù hợp với chính sách, qui trình Qua đó có thể kiểm soátđược thất thoát trong mức độ chấp nhận được và tránh những tổn thất khôngmong đợi” Theo tổ chức Moody’s Analytics (chuyên cung cấp dịch vụ tư vấnquản trị RRTD toàn cầu): “Quản trị RRTD là quá trình thực hiện các biệnpháp giảm tổn thất bằng cách hiểu một cách đầy đủ về vốn và dự phòngRRTD trong một khoảng thời gian nhất định”, theo quan điểm này, quản trịRRTD thực chất là quản lý vốn và dự phòng cho RRTD Theo quan điểm của

Ủy ban Basel, “Quản trị RRTD là việc thực hiện các biện pháp để tối đa hóa

tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo RRTD bằng cách duy trì số dư tín dụng trongphạm vi các tham số cho phép”

Như vậy có thể thấy, khái niệm quản trị RRTD có nhiều cách tiếp cận,các ý kiến, các quan điểm không hoàn toàn giống nhau, chủ yếu thiên về mô

tả quá trình thực hiện quản trị RRTD Còn khái niệm quản trị RRTD của Ủyban Basel đã làm rõ được mục tiêu cuối cùng của quản trị RRTD là tối đa hóalợi nhuận trên cơ sở đảm bảo RRTD luôn trong phạm vi ngân hàng có thể

Trang 29

chấp nhận.

Với các nội dung đã được đề cập trong các khái niệm quản trị RRTD, đểđạt mục tiêu quản trị theo cách tiếp cận của Ủy ban Basel, quản trị RRTD tạiNHTM phải tập trung vào các vấn đề cơ bản: (i) thiết lập được giới hạn chấpnhận RRTD trên cơ sở mục tiêu chiến lược về RRTD trong từng giai đoạnnhất định; (ii) thiết lập các chính sách, qui trình, thủ tục, trong đó xác lậptrách nhiệm, quyền hạn cụ thể cho các bộ phận liên quan để đảm bảo RRTDluôn trong mức độ chấp nhận đã xác định của ngân hàng; (iii) đảm bảo đủ vốn

và dự phòng cho RRTD đã xác định nhằm giảm thiểu tổn thất tín dụng

b Mô hình và bộ máy quản trị rủi ro tín dụng

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Nguyễn Văn Tiến, “Quản trị ngân hàng thương mại”, 2015 cho rằng môhình quản lý rủi ro tín dụng là mô hình tổ chức theo chức năng của các bộphận liên quan đến hoạt động tín dụng thuộc nội bộ của ngân hàng, nó baogồm tất cả các khâu liên quan gián tiếp hay trực tiếp đến hoạt động tín dụng.Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và tổ chức quản trị rủi ro mô hình quản trịrủi ro tín dụng gồm có mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hìnhphân tán

- Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung: Điểm căn bản trong mô

hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung là sự tách sự một cách độc lập giữa bakhối (3 chức năng): khối kinh doanh, khối quản lý rủi ro và khối xử lý nội bộ(Nguyễn Văn Tiến, 2015) Sự tách biệt này nhằm mục tiêu chính là tăngcường chuyên môn hóa cao ở từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng đồngthời tăng cường giám sát nghiệp vụ giữa các khâu từ đó làm giảm thiểu rủi rotín dụng cũng như rủi ro hoạt động của ngân hàng

- Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán: Mô hình này chưa có sự

tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó,phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu tráchnhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay

Mô hình quản trị rủi ro phân tán tạo cho mỗi chi nhánh ngân hàng có

Trang 30

một vị thế, có tính độc lập rất cao với hội sở như một ngân hàng con trong ngân hàng mẹ.

Tổ chức bộ máy quản trị RRTD

Tổ chức bộ máy quản trị RRTD là cách thức tổ chức sắp xếp các bộ phậnchức năng của hệ thống quản trị RRTD của một NHTM theo những nguyêntắc nhất định, đảm bảo mối liên kết giữa các bộ phận trong hệ thống nhằm đạtmục tiêu quản trị RRTD ngân hàng đã lựa chọn

Việc xây dựng bộ máy quản trị rủi ro tín dụng các ngân hàng cần phảituân thủ một số điểm cơ bản sau: Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộphận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũngnhư trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia; Nâng cao năng lực củacán bộ quản lý rủi ro tín dụng; Xây dựng một hệ thống quản lý và cập nhậtthông tin hiệu quả để duy trì một quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thíchhợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng

Để đạt mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng đã lựa chọn thì tổchức bộ máy các NHTM thường được thiết lập thành ba tuyến kiểm soát ở tất

cả các cấp và các tuyến kiểm soát này phải độc lập với nhau và được thể hiệndưới sơ đồ sau:

Hình 1.1: Các tuyến kiểm soát RRTD ở ngân hàng

Trang 31

Chức năng quản trị của từng tuyến kiểm soát:

Tuyến kiểm soát thứ nhất: Nhận biết RRTD thường xuyên trước, trong

và sau khi quyết định cấp tín dụng; Đánh giá để các RRTD nằm trong phạm vichiến lược, chính sách và khẩu vị RRTD

Tuyến kiểm soát thứ hai: Xây dựng chiến lược, chính sách và quy trình

quản trị RRTD; Xây dựng khẩu vị RRTD cho cả hệ thống ngân hàng; Kiểmsoát sự tuân thủ các hạn mức RRTD của khối kinh doanh

Tuyến kiểm soát thứ ba: Phê duyệt và ban hành chiến lược, chính sách

quy trình RRTD và khẩu vị RRTD; Kiểm soát sự tuân thủ thông qua kiểmtoán nội bộ đối với ban điều hành và khối kinh doanh

c Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

Nội dung quản trị RRTD gồm 4 khâu: Nhận diện RRTD; Đo lườngRRTD; Kiểm soát RRTD; Tài trợ RRTD Điều quan trọng quá trình quản trịrủi ro trong hoạt động cho vay muốn đạt hiệu quả thì phải bảo đảm rằng cáccông đoạn như phát hiện kịp thời, xác định được rủi ro đang tồn tại, phân tích

và định lượng nó để từ đó có công cụ cũng như biện pháp ứng phó Quản lýrủi ro trong hoạt động cho vay hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra

mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và ngânhàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó

Nhận diện RRTD

Đây là việc nhận biết được các nguy cơ rủi ro tồn tại trong hoạt độngcho vay Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu hướng toàn cầu hoálàm cho số lượng rủi ro ngày càng gia tăng, và khả năng xảy ra rủi ro sẽthường xuyên hơn Vì vậy một hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả phải là hệthống có khả năng nhận biết hết các rủi ro hiện hữu trong cho vay

Thực tế cho thấy, sự thất bại trong kinh doanh thường là một quá trình cónhững dấu hiệu báo trước Để hạn chế và chủ động ứng phó với RRTD thì cácngân hàng phải tiến hành nhận biết được RRTD Quản trị rủi ro tín dụng trongkinh doanh của ngân hàng thường được thiết lập ở ba tuyến kiểm soát, ở tất cảcác cấp vì vậy việc nhận diện RRTD cũng được thực hiện ở tất cả các cấp

Trang 32

- Nhận diện RRTD trước khi cấp tín dụng: Một trong những điều kiện cơ

bản để cấp tín dụng cho khách hàng là khách hàng phải có tình hình tài chínhlành mạnh và có tài sản đảm bảo Để được cấp tín dụng đối với những kháchhàng không đủ điều kiện thì khách hàng phải làm giả thông tin Ngân hàngcấp tín dụng cho khách hàng dựa trên thông tin giả dối này sẽ dẫn tới rủi rocao RRTD trước khi cấp tín dụng chủ yếu tập trung vào rủi ro lựa chọn đốinghịch với dấu hiệu như khách hàng nôn nóng vay được tiền bằng mọi giáchấp nhận lãi suất cao; Không xem xét điều khoản hợp đồng một cách kỹlưỡng dễ dàng chấp nhận các điều khoản bất lợi cho người vay; Sẵn sàng lạiquả cho ngân hàng,

- Nhận diện RRTD sau khi cấp tín dụng: RRTD thường được biểu hiện

bằng nhiều dấu hiệu Tuy nhiên, những dấu hiệu có tác dụng cảnh báo sớm vềkhả năng trả nợ của khách hàng như khách hàng chậm trễ nộp các báo cáo tàichính; Khách hàng chậm trễ, né tránh, cản trở cán bộ ngân hàng kiểm tra cơ

sở sản xuất kinh doanh; Chỉ số tài chính của khách hàng: Chỉ tiêu thanh khoảngiảm, hệ số nợ tăng, các chỉ tiêu sinh lời giảm; Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàngtồn kho tăng;

Khi khách hàng có một hoặc một số những dấu hiệu trên thì RRTD chưahẳn đã xảy ra nhưng xác suất RRTD xảy ra rất cao Việc nhận biết RRTDđược xem là khâu quan trọng trong công tác quản trị RRTD của bất kể ngânhàng nào, từ đó ngân hàng có biện pháp để hạn chế RRTD

Đo lường rủi ro tín dụng

Đây là các bước tiếp theo sau khi đã phát hiện được nguy cơ rủi ro Trênthực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp chung lạitrong quá trình thực hiện tác nghiệp Mục đích của các bước này là giúp chotoàn bộ bộ máy quản lý rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đãxác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hoá mức độrủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng

Đo lường RRTD thực chất là quá trình sử dụng các công cụ, các kỹ thuật vàphương pháp để xác định mức độ RRTD Đánh giá RRTD là việc xác định,

Trang 33

mức độ tổn thất của RRTD có thể xảy ra để từ đó có thể chấp nhận hoặc từ

bỏ Đo lường RRTD giúp ngân hàng có thể xác định được phần tổn thấtngoài dự tính, là cơ sở để định giá các khoản tín dụng tương ứng với mức rủi

ro và giúp ngân hàng tính toán và trích lập mức RRTD phù hợp với mức độrủi ro từ đó xác định mức dự phòng rủi ro cho toàn bộ danh mục

Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát RRTD bao gồm 3 hoạt động:

Kiểm soát trước khi cho vay: Kiểm soát quá trình thiết lập chính sách,

thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định,các kiểm tra viên thực hiện đối chiếu với quy định để kiểm tra tính đầy đủ,hợp pháp của hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán

và thẩm định trên hồ sơ tín dụng; kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liênquan để tìm hiểu quan điểm của cán bộ tín dụng, ý kiến của phụ trách bộ phậntín dụng, xét duyệt của ban lãnh đạo và trình duyệt đối với trường hợp vượtthẩm quyền phán quyết

Kiểm soát trong khi cho vay: Kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng;

kiểm tra quá trình giải ngân bao gồm đối chiếu xác nhận của khách hàng với

số liệu tại ngân hàng để từ đó phát hiện các trường hợp vay hộ, lập hồ sơ giảingân vay vốn, kê khai khống tài sản đảm bảo, cán bộ tín dụng thu nợ, lãikhông nộp ngân hàng, điều tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúngmục đích xin vay hay không, giám sát thường xuyên khoản vay

Kiểm soát sau khi cho vay: Kiểm soát việc đôn đốc thu hồi nợ, kiểm

soát tín dụng nội bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng để rút kinhnghiệm cho những năm tới

Trang 34

Hình 1.2: Các bước của quy trình quản trị RRTD Tài trợ rủi ro tín dụng

Ứng phó rủi ro tín dụng bao gồm việc quản lý khoản vay, xây dựng cácgiới hạn rủi ro, xây dựng mức ủy quyền với chi nhánh, phân loại nợ và tríchlập dự phòng rủi ro, xử lý nợ xấu và quản lý các khoản nợ có vấn đề

Quản lý khoản vay: Ngân hàng phải thường xuyên đánh giá lại các

khoản vay, tình hình tài chính của khách hàng, việc sử dụng vốn vay, bảo đảmtiền vay để phát hiện và có những chính sách ứng phó để hạn chế rủi ro Việcđánh giá này dựa trên số liệu báo cáo từ nhiều nguồn khác nhau có thể báocáo định kỳ hoặc báo cáo đặc biệt Kết quả của việc đánh giá lại các khoảnvay để ngân hàng có cơ sở thiết lập các biện pháp giảm thiểu RRTD

Xây dựng các giới hạn rủi ro: Giới hạn rủi ro là mức rủi ro tối đa mà

ngân hàng có thể chịu đựng được để đảm bảo đạt được mức lợi nhuận tươngứng Khi cho vay thì các NHTM phải dựa vào các quy định giới hạn tín dụngcủa NHNN và đồng thời mỗi ngân hàng xây dựng giới hạn cho vay với từngngành, từng lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro với mức lợi nhuận mong muốn

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Để giảm thiểu các

RRTD thì các NHTM đều phải phân loại nợ (theo 5 nhóm nợ) và trích lập dựphòng rủi ro (dự phòng chung, dự phòng cụ thể) theo quy định của NHNN vàđịnh kỳ phải gửi báo cáo cho NHNN

Xử lý nợ xấu và quản lý các khoản nợ có vấn đề: NHTM phải thường

Trang 35

xuyên phân tích các khoản nợ, đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để

có biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra Đồng thời khi phát hiện cáckhoản nợ xấu, nợ có vấn đề thì căn cứ vào tài sản đảm bảo để có xử lý kịpthời Việc ra quyết định xử lý này được xét duyệt của cấp có thẩm quyền

1.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II

a Tổng quan về Ủy ban Basel và Hiệp ước Basel

Quá trình hình thành và phát triển của Ủy ban Basel

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Bankingsupervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngânhàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thànhphố Basel-Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngânhàng vào thập kỷ 80 Các thành viên của Ủy ban Basel hiện nay gồm: Anh, Bỉ,Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, ThụyĐiển, Thụy Sỹ và Ý Ủy ban này được nhóm họp 4 lần trong một năm

Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel gồm 15 thành viên là những nhà giámsát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chứctín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ranhững lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả cácnước Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sáthoạt động ngân hàng của nhóm G10 Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho nhữngsáng kiến của Ủy ban Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tàichính Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảngcách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nướcngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phảitương xứng Để đạt được mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đãban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này

Ủy ban Basel thường tổ chức các cuộc thảo luận về những vấn đề xoayquanh sự hợp tác quốc tế nhằm giám bớt khoảng cách trong hoạt động giámsát ngân hàng, nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động ngân hàngtrên toàn thế giới Để đạt được mục tiêu này, Ủy ban Basel tiến hành thực

Trang 36

hiện ba hoạt động cơ bản sau: (1) Trao đổi thông tin về hoạt động giám sátcấp quốc gia (2) Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàngquốc tế (3) Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong lĩnh vực mà Ủyban thật sự quan tâm.

Cho đến nay Ủy ban đã ban hành 3 Hiệp ước về vốn bao gồm Basel I,Basel II, Basel III Các hiệp ước vốn ngày càng hoàn thiện hơn, phiên bản sauthường hướng tới việc khắc phục các hạn chế của những phiên bản trướcđồng thời thích ứng với những thay đổi của thị trường tài chính

Hiệp ước Basel I

Nguyên nhân ra đời Hiệp ước Basel I: Do mức vốn thấp ở những ngân

hàng quốc tế có nguy cơ gây bất ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu vàgây tranh cãi ở các ngân hàng có mức vốn cao về lợi thế cạnh tranh ở cácngân hàng có mức vốn thấp Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu

hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel haycòn gọi là Basel I Các quy định trong hiệp ước Basel I và quá trình thực hiện,triển khai chủ yếu là để hướng đến mục tiêu đảm bảo sự an toàn trong hệthống ngân hàng

Nội dung của Hiệp ước Basel I: Vốn của ngân hàng bao gồm vốn gốc

(vốn cấp 1) và vốn bổ sung (vốn cấp 2) Các tiêu chí để phân loại vốn đượcquy định cụ thể Để khuyến khích các ngân hàng không ngừng tăng cườngquy mô vốn cấp 1, không quá phụ thuộc vào vốn cấp 2, Ủy ban quy định ramức tối thiểu cho vốn cấp 1 và mức vốn tối đa cho vốn cấp 2

Trọng số rủi ro: Basel I mới chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng với 5 nhóm

trọng số rủi ro và Basel I tính đến cả rủi ro của các hoạt động ngoại bảng nhưtài sản đảm bảo và bảo lãnh

Hệ số an toàn vốn tối thiểu: Tháng 7/1988 đặt ra tỷ lệ tối thiểu giữa vốn

tự có so với tài sản có rủi ro ≥ 8% (trong đó phần vốn gốc phải chiếm ít nhất4%) Theo cách tính này, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR >10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếuvốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

Trang 37

Đến 1/1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới như bổ sungthêm rủi ro thị trường; Vốn tối thiểu đối với rủi ro lãi suất được xác định theohai nhóm riêng - dành cho rủi ro cụ thể và rủi ro thị trường chung; Các khoảnmục vốn đáp ứng đủ tiêu chuẩn để bù đắp rủi ro thị trường sẽ bao gồm vốn cổphần và lợi nhuận không chia (vốn cấp 1) và vốn bổ sung (vốn cấp 2) theoquy định tại Basel I Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể đưa thêm một thànhphần nữa là vốn cấp 3 bao gồm nợ thứ cấp ngắn hạn chỉ nhằm một mục đíchduy nhất là đáp ứng phần vốn cần có dành cho rủi ro thị trường.

Basel I có hạn chế đó là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càngtrở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không

có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành), không phân biệt theo loại rủi ro,không có lợi ích từ việc đa dạng hóa, …

Hiệp ước Basel II

Hiệp ước vốn Basel II được hoàn thiện vào quý 4/2003 và chính thức cóhiệu lực từ tháng 1/2010

Mục tiêu của Basel II:

Mục tiêu của Basel II là nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thốngngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngânhàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệnghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro Trong ba mục tiêu này thì haimục tiêu đầu là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I còn mụctiêu cuối được bổ sung mới

Nội dung Hiệp ước Basel II:

Hiệp ước vốn Basel II đã được xây dựng trên cơ sở vững chắc gồm batrụ cột Trụ cột I là các quy định về vốn đã kết hợp cả rủi ro hoạt động vàocông thức tính vốn tối thiểu Trụ cột 2 liên quan đến hoạt động thanh tra giámsát và trụ cột 3 là các nguyên tắc kỷ luật thị trường

Trụ cột thứ I - Yêu cầu về vốn: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc.

Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi

ro như Basel I Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân

Trang 38

hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) vàrủi ro thị trường So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng

có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàntoàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel II baogồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng

Trụ cột thứ II - Thanh tra giám sát ngân hàng: liên quan tới việc hoạch

định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chínhsách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấp mộtkhung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi

ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý

Trụ cột thứ III - Công khai thông tin theo nguyên tắc thị trường: Các

ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắcthị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàngphải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủvốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng vớirủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá củangân hàng đối với từng loại rủi ro này

Basel II

Yêu cầu vốn Quy trình rà soát, Công khai thông tin,tối thiểu giám sát nguyên tắc thị trường

Hình 1.3: Nội dung Basel II

Hiệp ước vốn Basel III

Sau cuộc họp ngày 12/9/2010 của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel, cácthành viên đã đạt được thỏa thuận về những chuẩn mới trong Basel III Hiệpước vốn Basel III có những sửa đổi căn bản so với Basel II là tăng cường yêu

Trang 39

cầu về vốn của ngân hàng và giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tínhthanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng.

Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo của các nước G20 đã thống nhất lộtrình áp dụng Basel III sẽ được triển khai sao cho không ảnh hưởng tới tốc độphục hồi kinh tế của các nước Ngoài ra, sẽ cần có thời gian để đưa nhữngtiêu chuẩn quốc tế mới vào những quy định riêng của các quốc gia Theo tinhthần như vậy, BIS đã đưa ra một lộ trình để thực hiện bắt đầu từ tháng 1/2013

và hoàn thành vào cuối năm 2018

b Các nguyên tắc về quản trị rủi ro tín dụng của Basel II

Ủy ban Basel không chỉ bó hẹp hoạt động trong phạm vi các nước thànhviên mà mở rộng mối liên hệ với các chuyên gia trên toàn cầu Ủy ban Baselban hành: những nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của ngânhàng một cách hiệu quả (hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực về biện phápthận trọng); Tài liệu hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến cáo,các hướng dẫn và tiêu chuẩn của Ủy ban Basel

Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc trong quản trị rủi ro cho vay,đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cho vay Nội dung cácnguyên tắc này tập trung vào các nhóm nội dung cơ bản sau đây:

Nhóm thứ nhất: Thiết lập môi trường RRTD phù hợp (nguyên tắc 1,2,3).

Nội dung của nhóm nguyên tắc này là các ngân hàng cần phải xây dựng chiếnlược quản trị rủi ro cho từng giai đoạn, chiến lược quản trị RRTD phải phảnánh được khẩu vị RRTD và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng Ngân hàngphải xác định nhiệm vụ của HĐQT, của Ban giám đốc trong quản trị RRTD.HĐQT chịu trách nhiệm phê duyệt, Ban điều hành chịu trách nhiệm tổ chứcthực hiện Việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo sự phân tách, độc lập giữa các

bộ phận tín dụng và bộ phận quản trị RRTD Để giảm thiểu rủi ro tín dụng cácngân hàng cần phải nhận diện và quản lý rủi ro trong mọi hoạt động của mình

Nhóm thứ hai: Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng lành mạnh

(nguyên tắc 4,5,6,7) Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phải tuân thủ cáctiêu chuẩn, giới hạn cấp tín dụng và quy trình rõ ràng lành mạnh Tiêu chuẩn

Trang 40

cấp tín dụng lành mạnh là các tiêu chuẩn phải phù hợp với thị trường mụctiêu, người được cấp tín dụng phải có năng lực, có mức tín nhiệm, có khảnăng trả nợ Ngân hàng phải thiết lập giới hạn cấp tín dụng đối với từng kháchhàng, từng nhóm khách hàng, từng lĩnh vực, từng sản phẩm, từng loại tiền.Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt cho vay và bộ phận cấpcho vay Đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro cho vay cókinh nghiệm, có kiến thức nhằm đưa ra những nhận định thận trọng trongviệc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro cho vay.

Nhóm thứ ba: Duy trì việc cấp tín dụng hiệu quả (nguyên tắc

8,9,10,11,12,13) Các ngân hàng cần phải có hệ thống theo dõi, quản lýthường xuyên các danh mục tín dụng có nguy cơ rủi ro phát sinh và tình trạngcác khoản tín dụng Ủy ban Basel khuyến khích các ngân hàng xây dựng và

sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để quản trị RRTD Các ngân hàngphải có hệ thống thông tin, kỹ thuật phân tích đánh giá thường xuyên tất cảcác hoạt động tín dụng để đo lường RRTD, hạn chế tổn thất xảy ra Các ngânhàng phải có hệ thống giám sát RRTD ở cả danh mục tín dụng và ở từngkhoản tín dụng riêng lẻ về điều kiện cấp tín dụng, quy trình, phê chuẩn, giớihạn, chất lượng tín dụng Khi đánh giá RRTD thì các ngân hàng phải xem xétđánh giá trong điều kiện thay đổi của nền kinh tế

Nhóm thứ tư: Hệ thống kiểm soát RRTD (nguyên tắc 14,15,16) Ngân

hàng phải thiết lập một hệ thống đánh giá độc lập, thường xuyên quy trìnhquản lý RRTD Ngân hàng phải đảm bảo rằng chức năng phê duyệt tín dụngđược quản lý thích hợp, RRTD ở mức tương thích với các tiêu chuẩn thậntrọng và trong giới hạn mà ngân hàng cho phép Để thực hiện điều này cácngân hàng phải thiết lập và tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát nội bộ Hệthống kiểm soát nội bộ được thực hiện thường xuyên nhằm đánh giá sự tuânthủ của chính sách, quy trình trong hoạt động tín dụng từ đó phát hiện nhữngyếu kém và báo cáo lên lãnh đạo cấp cao để có biện pháp kịp thời hạn chếnhững tổn thất xảy ra Ngân hàng phải thiết lập một bộ phận đánh giá lại vớitừng khoản tín dụng một cách độc lập để từ đó nhận diện, phát hiện sớm các

Ngày đăng: 21/09/2019, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Das, Abhiman &amp; Ghosh, Saibal. (2007), "Determinants of Credit Risk in Indian State-owned Banks: An Empirical Investigation," MPRA Paper 17301, University Library of Munich, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Credit Risk in Indian State-owned Banks: An Empirical Investigation
Tác giả: Das, Abhiman &amp; Ghosh, Saibal
Năm: 2007
[2]. Allen N. Berger &amp; Robert DeYoung (1997), "Problem loans and cost efficiency in commercial banks" Finance and Economics Discussion Series 1997-8, Board of Governors of the Federal Reserve System (U.S.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problem loans and cost efficiency in commercial banks
Tác giả: Allen N. Berger &amp; Robert DeYoung
Năm: 1997
[4]. Sabeza, F., Shukla, J., Bajpai, G. (2015), “Assessing Credit Risk Management Practices and Performance of Commercial Banks in Rwanda”, International Journal of Social Science and Humanities Research, số 3, tr.323-333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing Credit RiskManagement Practices and Performance of Commercial Banks inRwanda
Tác giả: Sabeza, F., Shukla, J., Bajpai, G
Năm: 2015
[11]. Thông tƣ 41/2016/TT-NHNN Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.Tiếng Anh Khác
[3]. Li, F. and Zou, Y. (2014), The Impact of Credit Risk Management on Profitability of Commercial Banks: A Study of Europe, Thesis Umeồ School of Business and Economics Khác
[5]. Funda. Y, (2014), Macroeconomic Modelling of Credit Risk for Banks, 2nd World Conference on Business, Economics and Management, Tập 109, Số 8, tr.784–793 Khác
[6]. Wang, Y. (2013), Credit risk management in rural commercial banks in China, Theris accounting, financial services and law Khác
[8]. Li, Z. (2015), Credit risk management in the current competitive condition in the Chinese banking industry, Thesis is submitted to the Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w