Tương tự như các nước khác, Luật Giao thông Đường bộ Việt Nam VNA, 2008 yêu cầu tất cả những người muốn sử dụng bất kỳ xe cơ giới trừ những người có dung tích xi lanh dưới 50 cm3 cần phả
Trang 1TÌNH HÌNH GIẤY PHÉP LÁI XE MÁY Ở VIỆT NAM:
NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN CÁC SỐ LIỆU CƠ BẢN
Nguyễn Hữu ĐỨC
TS, chuyên gia tư vấn khoa học giao thông E-mail: ducnghuu@vnn.vn; ducnghuu@gmail.com
Tóm tắt: Xe máy là phương tiện chiếm đa số trong giao thông đường bộ
Việt Nam, nhưng cũng là nguyên nhân của nhiều tai nạn và vi phạm giao thông Nghiên cứu này có mục đích để làm rõ tình hình GPLX xe máy Việt Nam bằng cách đề ra phương pháp tính toán và các giá trị của những số liệu cơ bản trên phạm vi toàn quốc trong các năm 2005-2011 Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau đây:
Mức độ người sử dụng xe máy không có giấy phép lái xe phù hợp có nghiêm trọng không? Nếu có, tới mức độ nào?
Số lượng GPLX của những người lái còn sống là bao nhiêu?
Tỷ lệ người lái xe máy sở hữu GPLX so với tổng số dân
Từ khóa: Xe máy, số lương xe lưu hành, thời gian sử dụng, số người sủ dụng xe
máy
1 NHẬP ĐỀ
Ai cũng biết, xe máy1 giữ một vai trò quan trọng trong giao thông Việt Nam Với đà gia mức sống, số lượng xe máy tăng trung bình hàng năm đến 10-15% (JICA, 2009) Sự tăng trưởng này tác động mạnh mẽ tới tình hình giao thông Mặc dù đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế-xã hội, nhưng không may, có một vấn đề rất lớn: xe máy chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ tai nạn giao thông Hàng năm có khoảng 30.000-40.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ với khoảng 10.000 trường hợp tử vong và khoảng 30.000-40.000 bị thương
Tương tự như các nước khác, Luật Giao thông Đường bộ Việt Nam (VNA, 2008) yêu cầu tất cả những người muốn sử dụng bất kỳ xe cơ giới (trừ những người có dung tích xi lanh dưới 50 cm3) cần phải có một Giấy phép lái xe (GPLX) tương ứng với hạng của xe Quy định về Giấy phép lái xe có mục đích khác nhau Nhưng một trong số đó là để đảm bảo rằng người sử dụng xe ít nhất cũng có kiến thức cơ bản về các quy tắc giao thông vì một trong các điều kiện để cấp giấy phép là đã tham gia đào tạo và thi cả về lý thuyết và lái xe thực tế Vì
1 Để cho tiện, ta hiểu “xe máy” bao gồm tất cả các loại xe mô tô dưới 50 cm3lẫn các xe ứng với Giấy phép lái xe hạng A1, A2 và A3 như quy định trong điều 59, Luật Giao thông đường bộ 2008 Tương tự như vậy, "xe ô tô" được hiểu là mọi loại xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo.
Trang 2vậy, điều dễ hiểu là càng nhiều người sở hữu GPLX thì càng bớt đi nguy cơ tai nạn Vấn đề giấy phép do đó có kết nối chặt chẽ với an toàn giao thông
Bảng 1 Tai nạn giao thông đường bộ
Nguồn: NTSC (2012)
Tuy nhiên, mặc dù quy định nghiêm ngặt, nhưng không phải tất cả người
sử dụng xe đều sở hữu GPLX phù hợp Thực tế này rõ ràng tác động xấu đến an toàn giao thông, phản ánh tính chưa nghiêm minh trong việc thực hiện pháp luật
Vì vậy, các nhà chức trách và các nhà khoa học rất muốn đánh giá được mức độ nghiêm trọng của các vi phạm liên quan đến GPLX
Nghiên cứu này có mục đích để làm rõ các vấn đề liên quan đến tình hình GPLX xe máy Việt Nam bằng cách đề ra phương pháp tính toán và các giá trị của dữ liệu chính hiện tại Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau đây:
Mức độ người sử dụng xe máy không có giấy phép lái xe phù hợp có nghiêm trọng không? Nếu có, tới mức độ nào?
Số lượng GPLX của những người lái còn sống là bao nhiêu?
Tỷ lệ người lái xe máy sở hữu GPLX so với tổng số dân
Phạm vi nêu lên trong bài là toàn quốc, chủ yếu với các số liệu 2005-2011 nhưng phương pháp đề xuất cũng có thể được sử dụng cho một địa phương riêng biệt hoặc/và những khoảng thời gian khác, tùy theo mức độ sẵn có của dữ liệu
Các số liệu tìm được trong bài này, cùng với các dữ liệu cơ bản khác về xe máy đang lưu hành được công bố trong nghiên cứu khác (xem “Đức N.H., 2014”), cho phép đưa ra một bức tranh tương đối tổng quan về giao thông xe máy Việt Nam
2 VI PHẠM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG XE MÁY VÀ VẤN ĐỀ GIẤY PHÉP LÁI XE
Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ hiện hành của Việt Nam (VNA, 2008), tất cả người lái xe cơ giới cần phải có một GPLX phù hợp Tùy thuộc vào kiểu loại, công suất động cơ, tải trọng và công dụng của xe cơ giới, giấy phép lái xe được phân loại thành các hạng khác nhau Nhưng với phạm vi
Trang 3của nghiên cứu này, các hạng GPLX sẽ được gộp lại thành hai: đó là GPLX với
xe máy (ứng với hạng A1, A2 và A3) và của xe ô tô (tất cả các loại cho xe khách
và xe tải) Các loại còn lại (như máy kéo, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc) chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và sẽ không được xem xét
Như khẳng định trong nhiều tài liệu (xem “JICA, 2009” và “NTSC, 2012”) người lái xe máy chiếm một tỷ lệ rất lớn trong vi phạm và tai nạn Nhưng tỷ lệ này thay đổi theo thời gian Vì vậy, việc tìm hiểu xu hướng của tai nạn giao thông và vi phạm giao thông do xe máy nói riêng và so với xe ô tô có thể dẫn đến những kết luận hữu ích cho việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông Đây dĩ nhiên là một trong các thông tin cần thiết và sẽ được thực hiện trong phần đầu của chương này
Tiếp theo, như đã nói trong phần giới thiệu, cần thiết phải ước tính Tỷ lệ
người lái xe máy không có GPLX phù hợp (ký hiệu là R without ) Tỷ lệ này ở một
mức độ nhất định sẽ phản ánh tình hình của một thành phần quan trọng của hệ thống giao thông: người lái xe2 Trong việc này, dữ liệu của cảnh sát giao thông
về vi phạm giao thông liên quan đến GPLX tích lũy cho đến khi cuối năm 2011 được sử dụng Cuối cùng nhưng không kém phần hữu ích, một ước lượng tổng
số GPLX cần cho nhu cầu của tất cả người sử dụng xe máy toàn quốc sẽ được đưa ra
2.1 Chiều hướng diễn biến của tai nạn và của vi phạm giao thông do xe
máy
Trong số các vụ tai nạn, tỷ lệ phần trăm của người lái xe máy khá lớn: 59% -74% và con số thường tăng qua các năm (xem bảng 2)
Mặc dù đã có các công bố khác nhau về vi phạm giao thông của người lái
xe gắn máy, ví dụ như trong NTSC (2012), nhưng các công bố này chú ý tới hành vi vi phạm nói chung chung, không đặc biệt chú ý đến giấy phép lái xe Để
bù đắp thiếu sót này, như đã nói, nghiên cứu này tập trung vào hành vi vi phạm chỉ liên quan đến GPLX
Để làm điều đó, dữ liệu của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ và đường sắt Việt Nam rất hữu ích Đó là dữ liệu này về vi phạm giao thông đã xử lý Ở Việt Nam (như ở nhiều nước khác), cảnh sát giao thông không thể phát hiện và
xử lý tất cả các hành vi vi phạm nhưng một phần mà thôi Tuy tổng số vi phạm ghi nhận thấp hơn thức tế, nhưng những dữ liệu này có thể được xem như là
2 Được biết, mỗi hệ thống giao thông bao gồm bốn thành phần: cơ sở hạ tầng, phương tiện, người lái xe và môi trường (tự nhiên và xã hội).
Trang 4ngẫu nhiên đại diện cho hiện trạng và giá trị thống kê có thể được sử dụng trong phân tích liên quan
Bảng 2 Số vụ tai nạn giao thông đường bộ theo các loại xe
lái xe máy gây ra
Nguồn: NTSC (2012)
Bảng 3 cho thấy tỷ lệ vi phạm liên quan đến xe máy là khá lớn so với vi phạm của xe ô tô nhưng giảm đáng kể trong 5 năm qua Điều này khá khác biệt với tai nạn Trong những năm qua tỷ lệ xe máy trong vụ tai nạn tăng đều đặn Hình 1 cho thấy các xu hướng của hành vi vi phạm và tai nạn bằng xe máy có diễn biến khác nhau
Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi thực tế là với tai nạn, cảnh sát giao thông xử lý với một tỷ lệ lớn hơn nhiều so với tỷ lệ cưỡng chế vi phạm Do không thể kiểm soát tất cả các hành vi vi phạm nên số vụ vi phạm được xử lý không phản ánh mức độ vi phạm giao thông nói chung Nếu cảnh sát giao thông tăng cường tuần tra và kiểm soát, tổng con số này sẽ được tăng lên và ngược lại Hình 1 cho thấy trong năm qua, cảnh sát giao thông tập trung sự chú ý vào vi phạm của người lái ô tô hơn là với xe gắn máy
Bảng 3 Số vụ vi phạm đã xử lý (theo ô tô và xe máy)
Tỷ lệ % của người lái xe máy
R mc
(*) Từ Bảng 2, để tiện so sánh
Trang 5Hình 1 Tỷ lệ % người lái xe máy (R mc ) trong tổng số hành vi vi phạm được
xử lý và trong tổng số vụ tai nạn giao thông đường bộ
2.2 Vi phạm liên quan đến GPLX của xe máy
Trong công tác của mình, cảnh sát giao thông phân ra hai loại vi phạm có liên quan đến giấy phép lái xe là:
Lái xe không có giấy phép,
Giấy phép giả
Sự khác biệt giữa hai loại là không đáng kể trong nghiên cứu này, vì chúng
có cùng ý nghĩa là người lái xe máy không có giấy phép
Bảng 4 cho thấy tỷ lệ phần trăm hàng năm các vi phạm liên quan đến GPLX trong tổng số vi phạm được xử lý Các dữ liệu từ bảng này cho phép thấy:
Tỷ lệ khai thác xe máy không có giấy phép dường như tương đối cao (ngay cả năm 2011, số lượng trung bình hàng năm của hành vi đó là thấp nhất nhưng vẫn đạt 9,87 %) Như đã nói ở trên, do tính vào ngẫu nhiên của vi phạm được xử lý, con số này có thể được coi là tỷ lệ người lái xe máy không có GPLX phù hợp (Rwithout) Giá trị cao của Rwithout nên được xem như một dấu hiệu báo động cho các nhà chức trách về giao thông vận tải
Giá trị của Rwithout thấp gần như chấp nhận được ở Hà Nội và thấp (so với mức trung bình) tại các thành phố lớn khác như thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Điều này có thể được giải thích bởi thực tế là các cư dân thành phố nhận thức được tầm quan trọng của việc sở hữu GPLX và cùng với đó, các biện pháp kiểm soát rất nghiêm ngặt tại Hà Nội và khá nghiêm ngặt ở các thành phố lớn của cảnh sát giao thông
Tỷ lệ sử dụng xe máy không có giấy phép có vẻ rất cao trong khu vực nông thôn miền núi, nơi mà sự kiểm soát của lực lượng cưỡng chế có vẻ
dễ dàng hơn và nhận thức của người dân về pháp luật giao thông dường
Trang 6như tương đối thấp Điển hình là Đắc Nông, một tỉnh nông thôn nghèo ở vùng cao miền núi Tây Nguyên, tỷ lệ này thậm chí còn trên 30% trong nhiều năm qua!
Một điều nữa là nói chung, xu hướng của hành vi thiếu GPLX có giảm hàng năm qua từng năm Điều này phản ánh nhận thức của người dân trong vấn đề có liên quan đang được cải thiện và sự nỗ lực của các cơ quan liên quan
Bảng 4 Tỷ lệ người lái xe máy không có GPLX phù hợp (R without ) trong tổng
số vi phạm đã xử lý hàng năm
Tỉnh/thành
TP Hồ Chí
Trung bình
toàn quốc 17.58% 11.21% 13.46% 17.87% 12.56% 10.56% 9.87%
Giá trị của Rwithout còn có một ý nghĩa quan trọng khác Nó biểu thị tỷ lệ trung bình của người lái xe máy người không có đầy đủ giấy phép Điều nhận xét này sẽ được sử dụng ở dưới đây Tỷ lệ cao vi phạm về GPLX thu hút sự chú
ý lớn của các chuyên gia giao thông và các cơ quan: nó báo hiệu có vấn đề gtồn tại trong quản lý người lái xe Đó là lý do tại sao, Rwithout có giá trị thực tiễn rất lớn
2.3 Số lượng GPLX của người lái xe máy còn sống và tình hình thực hiện quy định về GPLX
Điều 58 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định rõ điều kiện:”Người lái
xe tham gia giao thông phải … có GPLX phù hợp với loại xe được phép điều
khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp” (sau đây gọi tắt là Quy định về
GPLX) Các cơ quan liên quan đã có rất nhiều nỗ lực nhằm thực hiện quy định
này Vì vậy, rât nên đánh giá xem mức độ đạt được là đến đâu
Để làm điều đó, ta xét đến một đại lượng là Số lượng GPLX của người lái
xe máy còn sống (Number of Licenses of Living Vehicle Operators - M liv)
Trang 7Các cơ quan giao thông vận tải có công bố Số lượng giấy phép lái xe máy
mới ban hành trong năm (M new ) Trong nhiều văn bản, ví dụ, trong JICA (2011), Tổng số giấy phép của người lái xe gắn máy (M acc ) chỉ đơn giản là sự tích tụ từ
năm này sang năm khác mà không kể đến việc chủ sở hữu giấy phép này có còn sống hay không Đó là lý do tại sao, giá trị của Mlivlà cao hơn thực tế
Để khắc phục điều đó, ta cần hiệu chỉnh tỷ lệ chủ nhân GPLX đã từ trần Muốn vậy, có thể giả định hợp lý rằng tỷ lệ chết của chủ sở hữu giấy phép là không khác nhau với tỷ lệ chết của toàn bộ dân số Vì vậy, giá trị tích lũy hàng
năm của giấy phép nên chiết giảm theo giảm các Tỷ suất chết thô (CDR) Giá trị
của CDR có sẵn trong các ấn phẩm của Tổng cục Thống kê (GSO, 2012)
Hình 2 Tỷ lệ người lái xe máy sở hữu GPLX so với tổng số dân
(R license )
Trong Bảng 5, số lượng GPLX tích lũy hàng năm của những người lái xe máy còn sống (Mliv) được tính bằng cách điều chỉnh với Tỷ suất chết thô theo công thức đề xuất như sau:
Mliv, i= Mliv,i-1 (1-CDR/1000) + Mnew (1)
Trong đó,
Mliv, ivà Mliv,i-1: Số lượng GPLX của những người lái xe máy còn sống năm thứ i và i-1;
CDR: Tỷ suất chết thô;
Mnew: Số lượng giấy phép lái xe máy mới ban hành trong năm
Kết luận: Tỷ lệ người lái xe máy sở hữu GPLX so với tổng số dân trong cột cuối bảng trên và theo đồ thị ở hình 2 cho thấy tình hình thực hiện quy định về GPLX là tiến triển khả quan
Trang 8Bảng 5 Số lượng GPLX của những người lái xe máy còn sống (M liv )
Năm Tổng dân số
(*)
Số lượng GPLX (**) Tỷ suất
chết thô
0 /00(***)
Số lượng GPLX của những người lái
xe máy còn sống
Tỷ lệ người lái
xe máy sở hữu GPLX so với tổng số dân Mới cấp
trong năm Tích lũy
y pop Mnew Macc CDR Mliv, i= Mliv,i-1
(1-CDR/1000) + Mnew
R license =
Mliv/pop
Nguồn: (*) GSO, (**) NTSC năm 1994 có chuyển giao chức năng quản lý GPLX từ ngành Công an
sang ngành Giao thông vận tải, (***) Số liệu sau 2000: GSO, trước 2000: NTSC
3 KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, bằng cách lựa chọn các số liệu liên quan từ nhiều nguồn chính thức và bằng cách thiết lập công thức phù hợp, đã tìm ra nhiều số liệu chủ yếu liên quan đến xe may và cũng rút ra một số kết luận sau đây:
1 Tỷ lệ người lái xe máy người không có GPLX tương đối cao Mặc dù tỷ lệ này giảm hàng năm, nhưng giá trị cao này nên được xem như một dấu hiệu báo động cho các cơ quan giao thông vận tải
2 Số lượng GPLX của người dùng xe máy còn sống đã đư ợc tìm thấy cho giai đoạn 1994-2011
3 Các dữ liệu cho thấy những tiến bộ quan trọng trong việc thực hiện quy định về Giấy phép lái xe
Trang 9Phạm vi nêu lên trong bài là toàn quốc, chủ yếu với các số liệu 2005-2011 nhưng phương pháp đề xuất cũng có thể được sử dụng cho một địa phương riêng biệt hoặc/và những khoảng thời gian khác, tùy theo mức độ sẵn có của dữ liệu
Các số liệu tìm được trong bài này, cùng với các dữ liệu cơ bản khác về xe máy đang lưu hành được công bố trong nghiên cứu khác (xem “Đức N.H., 2014”), cho phép đưa ra một bức tranh tương đối tổng quan về giao thông xe máy Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chính phủ (GOV) (2012) Chiến lược bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường
bộ quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Quyết định No.
1586/QĐ-TTg ngày 24/10/ 2012, Hà Nội
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) (2009) Nghiên cứu Quy hoạch tổng
thể về an toàn giao thông, Final Report, Hanoi.
Đức N.H (2005) Dự báo tổng số xe ô tô và xe máy với mô hình hồi quy đa biên.
Hội thảo “Nghiên cứu Giao thông vận tải”, Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh
Đức N H (2014) Nghiên cứu tính toán một số số liệu cơ bản về xe máy đang
lưu hành ở Việt Nam, Bài gửi Hội thảo khoa học An toàn giao thông, Ủy ban An
toàn giao thông quốc gia
Quốc hội (VNA) (2008) Luật Giao thông đường bộ, Hà Nội.
CÁC ĐẠI LƯỢNG VÀ KÝ HIỆU
o Tỷ lệ người lái xe máy không có GPLX phù hợp (R without )
o Số lượng GPLX của người lái xe máy còn sống (M liv)
o Số lượng giấy phép lái xe máy mới ban hành trong năm (M new )
o Tổng số giấy phép của người lái xe gắn máy (M acc )
o Tỷ suất chết thô (CDR)